Trang Chính

Majjhimanikāya & Trung Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

MAJJHIMANIKĀYA & TRUNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Thursday, August 09, 2012

 

049. BRAHMANIMANTANIKASUTTAṂ 

 

049. BRAHMANIMANTANIKASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

049. KINH PHẠM THIÊN CẦU THỈNH - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

501. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme.

 

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn Ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).

 

Tatra kho Bhagavā bhikkhū āmantesi “Bhikkhavo”ti.

 

Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: -- Này các Tỷ-kheo.

 

“Bhadante”ti te bhikkhū Bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca–

 

-- Bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

 

Ekamidāhaṃ bhikkhave samayaṃ Ukkaṭṭhāyaṃ viharāmi Subhagavane Sālarājamūle. Tena kho pana bhikkhave samayena Bakassa brahmuno evarūpaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ hoti “Idaṃ niccaṃ idaṃ dhuvaṃ idaṃ sassataṃ idaṃ kevalaṃ idaṃ acavanadhammaṃ, idaṃ hi na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, ito ca panaññaṃ uttari nissaraṇaṃ natthī”ti.

 

-- Một thời, này các Tỷ-kheo, Ta ở tại Ukkattha trong rừng Subhagavana, dưới gốc cây Tala vương. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Baka khởi lên ác tà kiến như sau: "Cái này là thường, cái này là thường hằng, cái này là thường tại, cái này là toàn diện, cái này không bị biến hoại, cái này không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, ngoài cái này, không có một giải thoát nào khác hơn".

 

Atha khvāhaṃ bhikkhave Bakassa brahmuno cetasā cetoparivitakkamaññāya seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya, evameva Ukkaṭṭhāyaṃ Subhagavane Sālarājamūle antarahito tasmiṃ brahmaloke pāturahosiṃ. Addasā kho maṃ bhikkhave Bako brahmā dūratova āgacchantaṃ, disvāna maṃ etadavoca

 

Này các Tỷ-kheo, sau khi với tự tâm biết được tâm của Phạm thiên Baka, như người lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, Ta biến mất tại Ukkattha, rừng Sabhagavana, dưới gốc cây Tala vương, và hiện ra tại cơi Phạm thiên ấy. Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Baka thấy Ta từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Ta:

 

“Ehi kho mārisa, svāgataṃ mārisa, cirassaṃ kho mārisa imaṃ pariyāyamakāsi yadidaṃ idhāgamanāya. Idaṃ hi mārisa niccaṃ idaṃ dhuvaṃ idaṃ sassataṃ idaṃ kevalaṃ idaṃ acavanadhammaṃ, idaṃ hi na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, ito ca panaññaṃ uttari nissaraṇaṃ natthī”ti.

 

"-- Hăy đến, Tôn giả, thiện lai Tôn giả, đă lâu, nay Tôn giả mới có dịp đến đây. Này Tôn giả, cái này là toàn diện, cái này là thường hằng, cái này là thường tại, cái này là toàn diện, cái này không bị biến hoại, cái này không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, ngoài cái này không có một giải thoát nào khác hơn.

 

Evaṃ vutte ahaṃ bhikkhave Bakaṃ brahmānaṃ etadavocaṃ

 

Khi nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói với Phạm thiên Baka:

 

“Avijjāgato vata bho Bako brahmā, avijjāgato vata bho Bako brahmā. Yatra hi nāma aniccaṃyeva samānaṃ ‘Niccan’ti vakkhati, addhuvaṃyeva samānaṃ ‘Dhuvan’ti vakkhati, asassataṃyeva samānaṃ ‘Sassatan’ti vakkhati, akevalaṃyeva samānaṃ ‘Kevalan’ti vakkhati, cavanadhammaṃyeva samānaṃ ‘Acavanadhamman’ti vakkhati. Yattha ca pana jāyati jīyati mīyati cavati upapajjati, tañca vakkhati ‘Idaṃ hi na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjatī’ti, santañca panaññaṃ uttari nissaraṇaṃ ‘Natthaññaṃ uttari nissaraṇan’ti vakkhatī”ti.

 

"-- Thật sự Phạm thiên Baka bị ch́m đắm trong vô minh, thật sự Phạm thiên Baka bị ch́m đắm trong vô minh, khi cái vô thường lại nói là thường, cái không thường hằng lại nói là thường hằng, cái không thường tại lại nói là thường tại, cái không toàn diện lại nói là toàn diện, cái bị biến hoại lại nói là không biến hoại, và tại chỗ có sanh, có già, có chết, có diệt, có khởi, lại nói không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi; có một giải thoát khác hơn lại nói là không có một giải thoát nào khác hơn."

 

502. Atha kho bhikkhave māro pāpimā aññataraṃ brahmapārisajjaṃ anvāvisitvā maṃ etadavoca

 

Này các Tỷ-kheo, rồi Ác ma nhập vào một Phạm thiên quyến thuộc và nói với Ta như sau:

 

“Bhikkhu bhikkhu metamāsado, metamāsado. Eso hi bhikkhu brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā (Sajjitā - Syā, Kaṃ, Ka; sañjitā - Sī, I) vasī pitā bhūtabhabyānaṃ. Ahesuṃ kho ye bhikkhu tayā pubbe samaṇabrāhmaṇo lokasmiṃ pathavīgarahakā pathavījigucchakā āpagarahakā āpajigucchakā tejagarahakā tejajigucchakā vāyagarahakā vāyajigucchakā bhūtagarahakā bhūtajigucchakā devagarahakā devajigucchakā pajāpatigarahakā pajāpatijigucchakā brahmagarahakā brahmajigucchakā, te kāyassa bhedā pāṇupacchedā hīne kāye patiṭṭhitā. Ahesuṃ ye pana bhikkhu tayā pubbe samaṇabrāhmaṇā lokasmiṃ pathavīpasaṃsakā pathavābhinandino āpapasaṃsakā āpābhinandino tejapasaṃsakā tejābhinandino vāyapasaṃsakā vāyābhinandino bhūtapasaṃsakā bhūtābhinandino devapasaṃsakā devābhinandino pajāpatipasaṃsakā pajāpatābhinandino brahmapasaṃsakā brahmābhinandino, te kāyassa bhedā pāṇupacchedā paṇīte kāye patiṭṭhitā. Taṃ tāhaṃ bhikkhu evaṃ vadāmi–iṅgha tvaṃ mārisa yadeva te brahmā āha, tadeva tvaṃ karohi. Mā tvaṃ brahmuno vacanaṃ upātivattittho. Sace kho tvaṃ bhikkhu brahmuno vacanaṃ upātivattissasi. Seyyathāpi nāma puriso siriṃ āgacchantiṃ daṇdena paṭippaṇāmeyya, seyyathāpi vā pana bhikkhu puriso narakappapāte papatanto hatthehi ca pādehi ca pathaviṃ virādheyya, evaṃ sampadamidaṃ bhikkhu tuyhaṃ bhavissati. Iṅgha tvaṃ mārisa yadeva te brahmā āha, tadeva tvaṃ karohi. Mā tvaṃ brahmuno vacanaṃ upātivattittho. Nanu tvaṃ bhikkhu passasi brahmaparisaṃ sannipatitan”ti.

 

"-- Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chớ có can thiệp vào đây! Chớ có can thiệp vào đây! Này Tỷ-kheo, Phạm thiên này là Đại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhăn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đă và sẽ sanh. Này Tỷ-kheo, thuở xưa có những Sa-môn, Bà-la-môn, ở đời phỉ báng địa đại, ghê tởm địa đại, phỉ báng thủy đại, ghê tởm thủy đại, phỉ báng hỏa đại, ghê tởm hỏa đại, phỉ báng phong đại, ghê tởm phong đại, phỉ báng chúng sanh, ghê tởm chúng sanh, phỉ báng chư Thiên, ghê tởm chư Thiên, phỉ báng Sanh chủ, ghê tởm Sanh chủ, phỉ báng Phạm thiên, ghê tởm Phạm thiên, sau khi thân hoại, mạng sống bị cắt đứt, phải an trú vào thân ti tiện. Này các Tỷ-kheo, c̣n những Sa-môn, Bà-la-môn ở đời xưa kia, tán thán địa đại, hoan hỷ địa đại, tán thán thủy đại, hoan hỷ thủy đại, tán thán hỏa đại, hoan hỷ hỏa đại, tán thán phong đại, hoan hỷ phong đại, tán thán chúng sanh, hoan hỷ chúng sanh, tán thán chư Thiên, hoan hỷ chư Thiên, tán thán Sanh chủ, hoan hỷ Sanh chủ, tán thán Phạm thiên, hoan hỷ Phạm thiên, sau khi thân hoại, mạng sống bi cắt đứt, những vị này được an trú vào các thân vi diệu. Này các Tỷ-kheo, v́ vấn đề này, ta nói như sau: "Phàm Phạm thiên nói với Ông những ǵ, Ông hăy làm như vậy. Ông chớ có đi quá xa lời Phạm thiên nói. Này Tỷ-kheo, nếu Ông đi quá xa lời Phạm thiên nói, th́ giống như người dùng gậy đánh đập thần tài (Siri) đang đi đến; giống như một người đang rơi vào vực thẳm, tay chân lại không bám vào đất. Này Tỷ-kheo, sự việc sẽ xảy ra cho Ông như vậy. Này Tỷ-kheo, phàm Phạm thiên nói với Ông những ǵ, Ông hăy làm như vậy, Ông chớ có đi quá xa lời Phạm thiên nói. Này Tỷ-kheo, Ông có thấy chúng Phạm thiên đang ngồi chăng?"

 

Iti kho maṃ bhikkhave māro pāpimā brahmaparisaṃ upanesi. Evaṃ vutte ahaṃ bhikkhave māraṃ pāpimantaṃ etadavocaṃ

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Ác ma dắt Ta đến chúng Phạm thiên. Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với Ác ma như sau:

 

“Jānāmi kho tāhaṃ pāpima, mā tvaṃ maññittho ‘Na maṃ jānātī’ti, māro tvamasi pāpima. Yo ceva pāpima brahmā yā ca brahmaparisā ye ca brahmapārisajjā, sabbeva tava hatthagatā sabbeva tava vasaṃgatā, tuyhaṃ hi pāpima evaṃ hoti ‘Esopi me assa hatthagato, esopi me assa vasaṃgato’ti, ahaṃ kho pana pāpima neva tava hatthagato, neva tava vasaṃgato”ti.

 

"-- Này Ác ma, Ta biết Ngươi. Chớ có nghĩ rằng: "Vị ấy không biết ta". Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, phàm là Phạm thiên, phàm là Phạm thiên chúng, phàm là Phạm thiên quyến thuộc, tất cả đều nằm trong tay của Ngươi, tất cả đều nằm trong quyền lực của Ngươi. Này Ác ma, nếu Ngươi nghĩ rằng: "Mong vị này nằm trong tay ta; mong vị này nằm trong quyền lực của ta!". Này Ác ma, Ta không nằm trong tay của Ngươi. Ta không nằm trong quyền lực của Ngươi.

 

503. Evaṃ vutte bhikkhave Bako brahmā maṃ etadavoca

 

Này các Tỷ-kheo, khi được nói vậy, Phạm thiên Baka nói với Ta như sau:

 

“Ahaṃ hi mārisa niccaṃyeva samānaṃ ‘Niccan’ti vadāmi, dhuvaṃyeva samānaṃ ‘Dhuvan’ti vadāmi, sassataṃyeva samānaṃ ‘Sassatan’ti vadāmi, kevalaṃyeva samānaṃ ‘Kevalan’ti vadāmi, acavanadhammaṃyeva samānaṃ ‘Acavanadhamman’ti vadāmi. Yattha ca pana na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, tadevāhaṃ vadāmi ‘Idaṃ hi na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjatī’ti, asantañca panaññaṃ uttari nissaraṇaṃ ‘Natthaññaṃ uttari nissaraṇan’ti vadāmi. Ahesuṃ kho bhikkhu tayā pubbe samaṇabrāhmaṇā lokasmiṃ yāvatakaṃ tuyhaṃ kasiṇaṃ āyu, tāvatakaṃ tesaṃ tapokammameva ahosi. Te kho evaṃ jāneyyuṃ santañca panaññaṃ uttari nissaraṇaṃ ‘Atthaññaṃ uttari nissaraṇan’ti, asantaṃ vā aññaṃ uttari nissaraṇaṃ ‘Natthaññaṃ uttari nissaraṇan’ti. Taṃ tāhaṃ bhikkhu evaṃ vadāmi–na cevaññaṃ uttari nissaraṇaṃ dakkhissasi, yāvadeva ca pana kilamathassa vighātassa bhāgī bhavissasi. Sace kho tvaṃ bhikkhu pathaviṃ ajjhosissasi, opasāyiko me bhavissasi vatthusāyiko yathākāmakaraṇīyo bāhiteyyo. Sace āpaṃ. Tejaṃ. Vāyaṃ . Bhūte. Deve. Pajāpatiṃ. Brahmaṃ ajjhosissasi, opasāyiko me bhavissasi vatthusāyiko yathākāmakaraṇīyo bāhiteyyo”ti.

 

"-- Này Tôn giả, cái ǵ thường c̣n, ta nói là thường c̣n; cái ǵ thường hằng, ta nói là thường hằng; cái ǵ thường tại, ta nói thường tại; cái ǵ toàn diện, ta nói là toàn diện; cái ǵ không biến hoại, ta nói là không biến hoại. Ở đây, cái ǵ không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, ta nói rằng cái ấy không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, và v́ không có một sự giải thoát nào khác hơn, ta nói là không có một sự giải thoát nào khác hơn. Này Tỷ-kheo, xưa kia có những Sa-môn, Bà-la-môn ở trong những đời trước Ông; những vị này đă tu hành khổ hạnh lâu dài cho đến trọn tuổi thọ của những người đó, những vị này phải biết:" Hoặc có một sự giải thoát khác hơn, th́ biết rằng có một sự giải thoát khác hơn; hoặc không có một sự giải thoát khác hơn, th́ biết rằng không có một sự giải thoát nào khác hơn". Này Tỷ-kheo, ta nói như sau với Ông: Ông sẽ không thấy một giải thoát nào khác hơn, dầu ông có phải chịu đựng mệt nhọc và khổ cực. Này Tỷ-kheo, nếu Ông y trước địa đại, Ông sẽ gần ta, trú tại lănh địa của ta, làm theo ư ta muốn, bị đứng ngoài lề; nếu Ông y trước thủy đại... hỏa đại... phong đại... chúng sanh... Chư thiên... Sanh chủ... Nếu Ông y trước Phạm thiên, Ông sẽ gần ta, trú tại lănh địa của ta, làm theo ư ta muốn, bị đứng ra ngoài lề.

 

Ahampi kho evaṃ brahme jānāmi “Sace pathaviṃ ajjhosissāmi, opasāyiko te bhavissāmi vatthusāyiko yathākāmakaraṇīyo bāhiteyyo. Sace āpaṃ. Tejaṃ. Vāyaṃ. Bhūte. Deve. Pajāpatiṃ. Brahmaṃ ajjhosissāmi, opasāyiko te bhavissāmi vatthusāyiko yathākāmakaraṇīyo bāhiteyyo”ti. Api ca te ahaṃ brahme gatiṃ ca pajānāmi, jutiṃ ca pajānāmi “Evaṃ mahiddhiko Bako brahmā, evaṃ mahānubhāvo Bako brahmā, evaṃ mahesakkho Bako brahmā”ti.

 

"-- Này Phạm thiên, Ta biết việc này. Nếu Ta y trước địa đại... thủy đại... hỏa đại... phong đại... chúng sanh... chư Thiên... Sanh chủ... Nếu Ta y trước Phạm thiên, Ta sẽ gần Ông, trú tại lănh địa của Ông, làm theo ư Ông muốn, bị đứng ra ngoài lề. Lại nữa, này Phạm thiên, Ta biết sanh thú (gati) của Ông và Ta biết sự quang vinh của Ông. Phạm thiên Baka có thần lực như vậy; Phạm thiên Baka có quyền lực như vậy; Phạm thiên Baka có uy lực như vậy.

 

Yathākathaṃ pana me tvaṃ mārisa gatiṃ ca pajānāsi, jutiṃ ca pajānāsi “Evaṃ mahiddhiko Bako brahmā, evaṃ mahānubhāvo Bako brahmā, evaṃ mahesakkho Bako brahmā”ti.

 

"-- Này Tỷ-kheo, như Ông biết sanh thú, Ông biết sự quang vinh của ta: "Phạm thiên Baka có thần lực như vậy; Phạm thiên Baka có quyền lực như vậy; Phạm thiên Baka có uy lực như vậy".

 

“Yāvatā candimasūriyā, pariharanti disā bhanti virocanā.

Tāva sahassadhā loko, ettha te vattate (Vattatī - Sī, Syā, Kaṃ, I) vaso.

 

Paroparaṃ ca (Parovarañca - Sī, I) jānāsi, atho rāgavirāginaṃ.  

Itthabhāvaññathābhāvaṃ, sattānaṃ āgatiṃ gatin”ti.

 

"- Như nhật nguyệt lưu chuyển,
Sáng chói khắp mười phương,
Như vậy mười Thiên giới,
Dưới uy lực của Ông.
Ông biết chỗ cao thấp,
Có dục và không dục,
Hữu này và hữu kia,
Chỗ đến, đi hữu t́nh.

Evaṃ kho te ahaṃ brahme gatiṃ ca pajānāmi, jutiṃ ca pajānāmi “Evaṃ mahiddhiko Bako brahmā, evaṃ mahānubhāvo Bako brahmā, evaṃ mahesakkho Bako brahmā”ti.

 

Như vậy, này Phạm thiên, Ta biết chỗ sanh thú và sự quang vinh của Ông: "Phạm thiên Baka có thần lực như vậy; Phạm thiên Baka có quyền lực như vậy; Phạm thiên Baka có uy lực như vậy".

 

504. Atthi kho brahme añño kāyo, taṃ tvaṃ na jānāsi na passasi, tamahaṃ jānāmi passāmi. Atthi kho brahme Ābhassarā nāma kāyo yato tvaṃ cuto idhūpapanno, tassa te aticiranivāsena sā sati pamuṭṭhā. Tena taṃ tvaṃ na jānāsi na passasi, tamahaṃ jānāmi passāmi. Evaṃpi kho ahaṃ brahme neva te samasamo abhiññāya, kuto nīceyyaṃ, atha kho ahameva tayā bhiyyo.

 

Này Phạm thiên, có ba loại chư Thiên mà Ông không biết, không thấy, nhưng Ta biết, Ta thấy. Này Phạm thiên, có loại chư Thiên tên là Abhassara (Quang âm thiên), từ chư Thiên này, Ông mạng chung, và sanh ở nơi đây. Nhưng v́ Ông an trú ở đấy quá lâu, nên Ông không nhớ được. Do đó, Ông không biết, không thấy, c̣n Ta biết, Ta thấy. Như vậy, này Phạm Thiên, Ta c̣n không chịu ngang hàng Ông về thượng trí huống nữa là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông.

 

Atthi kho brahme Subhakiṇho nāma kāyo. Vehapphalo nāma kāyo. Abhibhū nāma kāyo, taṃ tvaṃ na jānāsi na passasi, tamahaṃ jānāmi passāmi. Evaṃpi kho ahaṃ brahme neva te samasamo abhiññāya, kuto nīceyyaṃ, atha kho ahameva tayā bhiyyo.

 

Này Phạm thiên, lại có một loại chư Thiên tên là Subhakinna (Biến tịnh thiên)... lại có một loại chư Thiên tên là Vehapphala (Quảng quả thiên) mà Ông không biết, không thấy, nhưng Ta biết, Ta thấy. Như vậy, này Phạm thiên, Ta c̣n không chịu ngang hàng Ông về thượng trí, huống nữa là thấp hơn. Do vậy. Ta thù thắng hơn Ông.

 

Pathaviṃ kho ahaṃ brahme pathavito abhiññāya yāvatā pathaviyā pathavattena ananubhūtaṃ, tadabhiññāya pathaviṃ nāpahosiṃ, pathaviyā nāpahosiṃ, pathavito nāpahosiṃ, pathaviṃ meti nāpahosiṃ, pathaviṃ nābhivadiṃ. Evaṃpi kho ahaṃ brahme neva te samasamo abhiññāya, kuto nīceyyaṃ, atha kho ahameva tayā bhiyyo.

 

Này Phạm thiên, Ta biết địa đại từ địa đại, cho đến giới vức địa đại, Ta không lănh thọ địa tánh; do biết địa đại, Ta không nghĩ: "Ta là địa đại. Ta ở trong địa đại, Ta từ địa đại, địa đại là của Ta, và Ta không tôn trọng địa đại". Như vậy, này Phạm thiên, Ta c̣n không chịu ngang hàng Ông về thượng trí, huống nữa là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông.

 

Āpaṃ kho ahaṃ brahme. Pa . Tejaṃ kho ahaṃ brahme. Pa . Vāyaṃ kho ahaṃ brahme. Pa . Bhūte kho ahaṃ brahme. Pa . Deve kho ahaṃ brahme. Pa . Pajāpatiṃ kho ahaṃ brahme. Pa . Brahmaṃ kho ahaṃ brahme. Pa . Ābhassare kho ahaṃ brahme. Pa . Subhakiṇhe kho ahaṃ brahme. Pa . Vehapphale kho ahaṃ brahme. Pa . Abhibhuṃ kho ahaṃ brahme. Pa . Sabbaṃ kho ahaṃ brahme sabbato abhiññāya yāvatā sabbassa sabbattena ananubhūtaṃ, tadabhiññāya sabbaṃ nāpahosiṃ, sabbasmiṃ nāpahosiṃ, sabbato nāpahosiṃ, sabbaṃ meti nāpahosiṃ, sabbaṃ nābhivadiṃ. Evaṃpi kho ahaṃ brahme neva te samasamo abhiññāya, kuto nīceyyaṃ, atha kho ahameva tayā bhiyyoti.

 

Này Phạm thiên, Ta biết thủy đại... Này Phạm thiên, Ta biết hỏa đại... Này Phạm thiên, Ta biết phong đại... Này Phạm thiên, Ta biết chúng sanh... Này Phạm thiên, Ta biết chư Thiên... Này Phạm thiên, Ta biết Sanh chủ... Này Phạm thiên, Ta biết Phạm thiên... Này Phạm thiên, Ta biết Abhassara (Quang âm thiên)... Này Phạm thiên, Ta biết Subhakinna (Biến tịnh thiên)... Này Phạm thiên, Ta biết Vahapphala (Quảng quả thiên)... Này Phạm thiên, Ta biết Abhibhu (Thắng giải)... Này Phạm thiên, Ta biết tất cả (Sabba) từ tất cả, cho đến giới vức tất cả, Ta không lănh thọ nhứt thiết tánh, Ta không nghĩ: "Ta là tất cả, Ta ở trong tất cả, Ta từ tất cả, tất cả là của Ta, và Ta không tôn trọng tất cả". Như vậy, này Phạm thiên, Ta c̣n không chịu ngang hàng Ông về thượng trí, huống nữa là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông.

 

Sace kho mārisa sabbassa sabbattena ananubhūtaṃ. Tadabhiññāya mā heva te rittakameva ahosi, tucchakameva ahosīti.

 

"-- Này Tôn giả, đối với tất cả, nếu Tôn giả không lănh thọ nhất thiết tánh, th́ đối với Tôn giả, trở thành trống không, trống rỗng,

 

Viññāṇaṃ anidassanaṃ anantaṃ sabbato pabhaṃ, taṃ pathaviyā pathavattena ananubhūtaṃ, āpassa āpattena ananubhūtaṃ, tejassa tejattena ananubhūtaṃ, vāyassa vāyattena ananubhūtaṃ, bhūtānaṃ bhūtattena ananubhūtaṃ, devānaṃ devattena ananubhūtaṃ, pajāpatissa pajāpatittena ananubhūtaṃ, brahmānaṃ brahmattena ananubhūtaṃ, Ābhassarānaṃ Ābhassarattena ananubhūtaṃ, Subhakiṇhānaṃ Subhakiṇhattena ananubhūtaṃ, Vehapphalānaṃ Vehapphalattena ananubhūtaṃ, abhibhussa abhibhuttena ananubhūtaṃ, sabbassa sabbattena ananubhūtaṃ. Handa carahi (Handa ca hi - Sī, I) te mārisa passa antaradhāyāmīti.

 

Thức là phi sở kiến, không biên tế, chói sáng tất cả, nếu không thể lănh thọ địa đại ngang qua địa tánh, không thể lănh thọ thủy đại ngang qua thủy tánh, không thể lănh thọ hỏa đại ngang qua hỏa tánh, không thể lănh thọ phong đại ngang qua phong tánh, không thể lănh thọ chúng sanh ngang qua chúng sanh tánh, không thể lănh thọ chư Thiên ngang qua chư Thiên tánh, không thể lănh thọ Sanh chủ ngang qua Sanh chủ tánh, không thể lănh thọ Phạm thiên ngang qua Phạm thiên tánh, không thể lănh thọ Quang âm thiên ngang qua Quang âm thiên tánh, không thể lănh thọ Biến tịnh thiên ngang qua Biến tịnh thiên tánh, không thể lănh thọ Quảng quả thiên ngang qua Quảng quả thiên tánh, không thể lănh thọ Abhibhu (Thắng giả) ngang qua Abhibhu tánh, không thể lănh thọ nhứt thiết ngang qua nhứt thiết tánh. Này Tôn giả, nay ta sẽ biến mất trước mặt Tôn giả.

 

Handa carahi me tvaṃ brahme antaradhāyassu, sace visahasīti.

 

"-- Này Phạm thiên, hăy biến đi trước mặt Ta, nếu Ông có thể biến được.

 

Atha kho bhikkhave Bako brahmā

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Baka nói:

 

“Antaradhāyissāmi samaṇassa Gotamassa, antaradhāyissāmi samaṇassa Gotamassā”ti nevassu me sakkoti antaradhāyituṃ.

 

"-- Ta sẽ biến mất trước mặt Sa-môn Gotama. Ta sẽ biến mất trước Sa-môn Gotama. Nhưng Phạm thiên Baka không biến mất trước mặt Ta.

 

Evaṃ vutte ahaṃ bhikkhave Bakaṃ brahmānaṃ etadavocaṃ

 

Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với Phạm thiên Baka:

 

“Handa carahi te brahme antaradhāyāmī”ti.

 

"-- Này Phạm thiên, Ta sẽ biến mất trước mặt Ông.

 

Handa carahi me tvaṃ mārisa antaradhāyassu, sace visahasīti.

 

"-- Này Tôn giả, Tôn giả hăy biến đi trước mặt Ta, nếu Tôn giả có thể biến được.

 

Atha kho ahaṃ bhikkhave tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhāsiṃ “Ettāvatā brahmā ca brahmaparisā ca brahmapārisajjā ca saddañca me sossanti (Saddameva suyyanti - Ka), na ca maṃ dakkhantī”ti antarahito imaṃ gāthaṃ abhāsiṃ–

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta thực hiện thần thông như sau: "Hăy để cho Phạm thiên, Phạm thiên chúng và Phạm thiên quyến thuộc nghe tiếng Ta chớ không thấy Ta", Ta biến mất và nói lên bài kệ như sau:

 

“Bhavevāhaṃ bhayaṃ disvā, bhavañca vibhavesinaṃ.

 Bhavaṃ nābhivadiṃ kiñci, nandiñca na upādiyin”ti.

 

"Thấy nguy hiểm trong hữu,
Từ hữu, t́m phi hữu,
Ta không tôn trọng hữu,
Không hỷ, không chấp trước".

 

Atha kho bhikkhave brahmā ca brahmaparisā ca brahmapārisajjā ca acchariyabbhutacittajātā ahesuṃ “Acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata bho samaṇassa Gotamassa mahiddhikatā mahānubhāvatā, na ca vata no ito pubbe diṭṭho vā suto vā añño samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṃ mahiddhiko evaṃ mahānubhāvo, yathāyaṃ samaṇo Gotamo Sakyaputto Sakyakulā pabbajito, bhavarāmāya vata bho pajāya bhavaratāya bhavasammuditāya samūlaṃ bhavaṃ udabbahī”ti.

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Phạm thiên, Phạm thiên chúng và Phạm thiên quyến thuộc, tâm sanh vi diệu hy hữu, nói lên như sau: "Thật vi diệu thay, chư Tôn giả! Thật hy hữu thay, chư Tôn giả! Đại thần lực, đại uy lực của Sa-môn Gotama. Thật sự từ trước đến nay chưa từng thấy, chưa từng nghe một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có được đại thần lực, đại uy lực như Sa-môn Gotama, là Thích Tử, xuất gia từ gịng họ Sakya. Đối với quần chúng ái trước hữu, lạc nhiễm, hoan hỷ đối với hữu (Sa-môn Gotama) đă nhổ hữu lên tận cả gốc rễ!"

 

505. Atha kho bhikkhave māro pāpimā aññataraṃ brahmapārisajjaṃ anvāvisitvā maṃ etadavoca

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Ác ma sau khi nhập vào một trong Phạm thiên quyến thuộc đă nói với Ta như sau:

 

“Sace kho tvaṃ mārisa evaṃ pajānāsi, sace tvaṃ evaṃ anubuddho. Mā sāvake upanesi mā pabbajite, mā sāvakānaṃ dhammaṃ desesi mā pabbajitānaṃ, mā sāvakesu gedhimakāsi mā pabbajitesu. Ahesuṃ kho bhikkhu tayā pubbe samaṇabrāhmaṇā lokasmiṃ Arahanto Sammāsambuddhā paṭijānamānā, te sāvake upanesuṃ pabbajite, sāvakānaṃ dhammaṃ desesuṃ pabbajitānaṃ, sāvakesu gedhimakaṃsu pabbajitesu. Te sāvake upanetvā pabbajite, sāvakānaṃ dhammaṃ desetvā pabbajitānaṃ, sāvakesu gedhitacittā pabbajitesu kāyassa bhedā pāṇupacchedā hīne kāye patiṭṭhitā. Ahesuṃ ye pana bhikkhu tayā pubbe samaṇabrāhmaṇā lokasmiṃ Arahanto Sammāsambuddhā paṭijānamānā, te na sāvake upanesuṃ na pabbajite, na sāvakānaṃ dhammaṃ desesuṃ na pabbajitānaṃ, na sāvakesu gedhimakaṃsu na pabbajitesu. Te na sāvake upanetvā na pabbajite, na sāvakānaṃ dhammaṃ desetvā na pabbajitānaṃ, na sāvakesu gedhitacittā na pabbajitesu kāyassa bhedā pāṇupacchedā paṇīte kāye patiṭṭhitā. Taṃ tāhaṃ bhikkhu evaṃ vadāmi iṅgha tvaṃ mārisa appossukko diṭṭhadhammasukhavihāramanuyutto viharassu. Anakkhātaṃ kusalaṃ hi mārisa mā paraṃ ovadāhī”ti.

 

"-- Này Tôn giả, nếu Ông biết như vậy, giác ngộ như vậy, chớ có hướng dẫn đệ tử, chớ có hướng dẫn các vị xuất gia, chớ có thuyết pháp cho các đệ tử, chớ có thuyết pháp cho các vị xuất gia, chớ có ái luyến đệ tử, chớ có ái luyến các vị xuất gia. Này  Tỷ-kheo, trước Ông đă có những vị Sa-môn, Bà-la-môn ở đời tự xưng là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Những vị này hướng dẫn đệ tử, hướng dẫn các vị xuất gia, thuyết pháp cho các đệ tử, thuyết pháp cho các vị xuất gia, ái luyến các đệ tử, ái luyến các vị xuất gia. Sau khi hướng dẫn các đệ tử, các vị xuất gia, sau khi thuyết pháp cho các đệ tử, các vị xuất gia, sau khi ái luyến các đệ tử, các vị xuất gia, khi thân hoại, mạng sống bị cắt đứt, những vị này bị an trú trong các thân hạ liệt. Này Tỷ-kheo, trước Ông đă có những vị Sa-môn, Bà-la-môn ở đời, tự xưng là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Những vị này không hướng dẫn đệ tử, không hướng dẫn các vị xuất gia, không thuyết pháp cho đệ tử, không thuyết pháp cho các vị xuất gia, không ái luyến các đệ tử, không ái luyến các vị xuất gia. Sau khi không hướng dẫn các đệ tử, không hướng dẫn các vị xuất gia, không thuyết pháp cho các đệ tử, không thuyết pháp cho các vị xuất gia, không ái luyến các đệ tử, không ái luyến các vị xuất gia, khi thân hoại, mạng sống bị cắt đứt, các vị này được an trú trong thân vi diệu. Này Tỷ-kheo, ta nói với Ông như sau: "Này Tôn giả, chớ có phiền lao cực nhọc, hăy sống lạc trú hiện tại. Này Tôn giả, chớ có nêu rơ việc thiện. Này Tôn giả, chớ có giảng dạy cho người khác!"

 

Evaṃ vutte ahaṃ bhikkhave māraṃ pāpimantaṃ etadavocaṃ

 

Này các Tỷ-kheo khi nghe nói vậy, Ta nói với Ác ma như sau:

 

“Jānāmi kho tāhaṃ pāpima, mā tvaṃ maññittho ‘Na maṃ jānātī’ti. Māro tvamasi pāpima, na maṃ tvaṃ pāpima hitānukampī evaṃ vadesi. Ahitānukampī maṃ tvaṃ pāpima evaṃ vadesi. Tuyhaṃ hi pāpima evaṃ hoti ‘Yesaṃ samaṇo Gotamo dhammaṃ desessati, te me visayaṃ upātivattissantī’ti. Asammāsambuddhāva pana te pāpima samānā ‘Sammāsambuddhāmhā’ti paṭijāniṃsu. Ahaṃ kho pana pāpima Sammāsambuddhova samāno ‘Sammāsambuddhomhī’ti paṭijānāmi. Desentopi hi pāpima Tathāgato sāvakānaṃ dhammaṃ tādisova, adesentopi hi pāpima Tathāgato sāvakānaṃ dhammaṃ tādisova. Upanentopi hi pāpima Tathāgato sāvake tādisova, anupanentopi hi pāpima Tathāgato sāvake tādisova. Taṃ kissa hetu, Tathāgatassa pāpima ye āsavā saṃkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā, te pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anupādadhammā. Seyyathāpi pāpima tālo matthakacchinno abhabbo puna virūḷhiyā. Evameva kho pāpima Tathāgatassa ye āsavā saṃkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā, te pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā”ti.

 

"-- Này Ác ma, Ta biết Ngươi! Ngươi chớ có nghĩ rằng: "Vị ấy không biết ta". Này Ác ma, Ngươi là Ác ma! Ngươi là Ác ma! Này Ác ma, Ngươi nói như vậy không phải v́ ḷng thương tưởng đối với Ta. Này Ác ma, Ngươi nói như vậy v́ không có ḷng thương tưởng đối với Ta. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: "Những ai được Sa-môn Gotama thuyết pháp, những người ấy sẽ thoát ra ngoài tầm tay ảnh hưởng của ta". Này Ác ma, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy không phải Chánh Đẳng Giác, nhưng tự xưng là: "Chúng ta là Chánh Đẳng Giác". Này Ác ma, Ta là Chánh Đẳng Giác và Ta tự xưng Ta là Chánh Đẳng Giác. Này Ác ma, Như Lai có thuyết pháp cho đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Này Ác ma, Như Lai không thuyết pháp cho các đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Này Ác ma, Như Lai có hướng dẫn cho các đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Này Ác ma, Như Lai không hướng dẫn cho các đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. V́ sao vậy? Này Ác ma, đối với Như Lai, các lậu hoặc tương ưng với phiền năo, đưa đến tái sanh, gây nên phiền lụy, đem đến quả khổ dị thục; đưa đến sanh, già, chết trong tương lai; các lậu hoặc ấy đă được diệt trừ, được cắt đứt tận gốc, được làm như thân cây Tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Ác ma, ví như cây tala, dầu thân cây này bị chặt dứt, khiến không thể lớn lên được; cũng vậy, này Ác ma, đối với Như Lai, các lậu hoặc tương ứng với phiền năo, đưa đến tái sanh, gây nên phiền lụy, đem đến quả khổ dị thục, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai; các lậu hoặc ấy đă được diệt trừ, được cắt đứt tận gốc, được làm như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai".

 

Iti hi daṃ mārassa ca anālapanatāya brahmuno ca abhinimantanatāya, tasmā imassa veyyākaraṇassa brahmanimantanikaṃteva adhivacananti.

 

Như vậy, v́ Ác ma đă thất bại, không thể thuyết phục (Ta), v́ có lời mời Phạm thiên, nên bài trả lời này cũng được gọi là Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh.

 

Brahmanimantanikasuttaṃ niṭṭhitaṃ navamaṃ.

 
 

<Kinh số 048>

<Kinh số 050>

 
| Mục lục Trung Bộ I | Mục lục Trung Bộ II | Mục lục Trung Bộ III |
 

<Đầu Trang>