|
048. KOSAMBIYASUTTAṂ
|
|
048. KOSAMBIYASUTTAṂ
- Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
048. KINH KOSAMBIYA - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
491. Evaṃ me
sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Kosambiyaṃ viharati Ghositārāme.
|
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại
tịnh xá Ghosita.
|
|
Tena
kho pana samayena Kosambiyaṃ bhikkhū bhaṇdanajātā kalahajātā
vivādāpannā aññamaññaṃ mukhasattīhi vitudantā viharanti. Te na
ceva aññamaññaṃ saññāpenti, na ca saññattiṃ upenti, na ca
aññamaññaṃ nijjhāpenti, na ca nijjhattiṃ upenti.
|
Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh
tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những
binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận
thông cảm; họ không tự ḥa giải, không chấp nhận ḥa giải.
|
|
Atha kho
aññataro bhikkhu yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā
Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho
so bhikkhu Bhagavantaṃ etadavoca |
Rồi một Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn
ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi
ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
|
|
“Idha bhante Kosambiyaṃ bhikkhū
bhaṇdanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṃ mukhasattīhi
vitudantā viharanti, te na ceva aññamaññaṃ saññāpenti, na ca
saññattiṃ upenti, na ca aññamaññaṃ nijjhāpenti, na ca nijjhattiṃ
upentī”ti.
|
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các
Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau,
đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông
cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự ḥa giải nhau,
không chấp nhận ḥa giải.
|
|
Atha kho
Bhagavā aññataraṃ bhikkhuṃ āmantesi |
Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỷ-kheo
và bảo như sau:
|
|
“Ehi tvaṃ bhikkhu mama
vacanena te bhikkhū āmantehi, Satthā vo āyasmante āmantetī”ti.
|
-- Này các Tỷ-kheo, hăy đi, và
nhân danh Ta, bảo các Tỷ-kheo ấy như sau: "Bậc Đạo Sư cho gọi
chư Tôn giả".
|
|
“Evaṃ bhante”ti kho so bhikkhu Bhagavato paṭissutvā yena te
bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca
|
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đến
chỗ các Tỷ-kheo ấy ở. Sau khi đến, liền thưa với các Tỷ-kheo ấy: |
|
“Satthā āyasmante āmantetī”ti.
|
-- Bậc Đạo Sư cho gọi chư Tôn
giả.
|
|
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū
tassa bhikkhuno paṭissutvā yena Bhagavā tenupasaṅkamiṃsu,
upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu,
ekamantaṃ nisinne kho te bhikkhū Bhagavā etadavoca
|
-- Hiền giả, vâng. Các Tỷ-kheo vâng đáp Tỷ-kheo ấy,
đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi xuống một bên: |
|
“Saccaṃ kira
tumhe bhikkhave bhaṇdanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṃ
mukhasattīhi vitudantā viharatha, tena ceva aññamaññaṃ
saññāpetha, na ca saññattiṃ upetha, na ca aññamaññaṃ
nijjhāpetha, na ca nijjhattiṃ upethā”ti. |
-- Này các Tỷ-kheo, có đúng sự
thật chăng, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả
thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Và các Ông không tự
thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự ḥa giải
nhau, không chấp nhận ḥa giải?
|
|
Evaṃ bhante.
|
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Taṃ kiṃ
maññatha bhikkhave, yasmiṃ tumhe samaye bhaṇdanajātā kalahajātā
vivādāpannā aññamaññaṃ mukhasattīhi vitudantā viharatha, api nu
tumhākaṃ tasmiṃ samaye mettaṃ kāyakammaṃ paccupaṭṭhitaṃ hoti
sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Mettaṃ vacīkammaṃ. Pa . Mettaṃ
manokammaṃ paccupaṭṭhitaṃ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho
cāti. |
-- Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ
thế nào? Trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu
tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi; trong khi ấy các
Ông có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả
trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ khẩu hành đối
với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các
Ông có an trú từ ư hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước
mặt lẫn sau lưng không?
|
|
No hetaṃ bhante.
|
-- Bạch Thế Tôn, không.
|
|
Iti kira bhikkhave yasmiṃ tumhe samaye
bhaṇdanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṃ mukhasattīhi
vitudantā viharatha, neva tumhākaṃ tasmiṃ samaye mettaṃ
kāyakammaṃ paccupaṭṭhitaṃ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca.
Na mettaṃ vacīkammaṃ. Pa . Na mettaṃ manokammaṃ paccupaṭṭhitaṃ
hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Atha kiñcarahi tumhe
moghapurisā kiṃ jānantā kiṃ passantā bhaṇdanajātā kalahajātā
vivādāpannā aññamaññaṃ mukhasattīhi vitudantā viharatha. Te na
ceva aññamaññaṃ saññāpetha, na ca saññattiṃ upetha, na ca
aññamaññaṃ nijjhāpetha, na ca nijjhattiṃ upetha. Taṃ hi tumhākaṃ
moghapurisā bhavissati dīgharattaṃ ahitāya dukkhāyāti.
|
-- Như vậy, này các Tỷ-kheo, các
Ông đă chấp nhận rằng, trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận
tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, trong
khi ấy, không có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm
hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an trú từ khẩu hành đối
với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an
trú từ ư hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau
lưng. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, do biết ǵ, do thấy ǵ, các
Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với
những binh khí miệng lưỡi; và các Ông không tự thông cảm nhau,
không chấp nhận thông cảm, không tự ḥa giải nhau, không chấp
nhận ḥa giải. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, các Ông sẽ phải
chịu bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài.
|
|
492. Atha kho
Bhagavā bhikkhū āmantesi,
|
Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
|
|
chayime bhikkhave dhammā sāraṇīyā
piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya
saṃvattanti. Katame cha, idha bhikkhave bhikkhuno mettaṃ
kāyakammaṃ paccupaṭṭhitaṃ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca.
Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya
sāmaggiyā ekībhāvāya saṃvattati. (1)
|
-- Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp
này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính,
đưa đến ḥa đồng, đưa đến vô tranh luận, ḥa hợp, nhất trí. Thế
nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ thân hành
đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp
này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính,
đưa đến ḥa đồng, đưa đến không tranh luận, ḥa hợp, nhất trí.
|
|
Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhuno mettaṃ vacīkammaṃ
paccupaṭṭhitaṃ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi
dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya
sāmaggiyā ekībhāvāya saṃvattati. (2)
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả
trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành
tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến ḥa đồng, đưa đến không
tranh luận, ḥa hợp, nhất trí.
|
|
Puna caparaṃ
bhikkhave bhikkhuno mettaṃ manokammaṃ paccupaṭṭhitaṃ hoti
sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo
piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya
saṃvattati. (3)
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo an trú từ ư hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước
mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái,
tạo thành tương kính, đưa đến ḥa đồng, đưa đến không tranh
luận, ḥa hợp, nhất trí.
|
|
Puna caparaṃ
bhikkhave bhikkhu ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā, antamaso
pattapariyāpannamattaṃpi, tathārūpehi lābhehi
appaṭivibhattabhogī hoti sīlavantehi sabrahmacārīhi
sādhāraṇabhogī. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo
saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṃvattati. (4)
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối
với các tài vật nhận được đúng pháp, hợp pháp, cho đến những tài
vật thâu nhận chỉ trong b́nh bát, Tỷ-kheo không phải là người
không san sẻ, các tài vật nhận được như vậy, phải là người san
sẻ dùng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức. Pháp này
cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa
đến ḥa đồng, đưa đến không tranh luận, ḥa hợp, nhất trí.
|
|
Puna caparaṃ
bhikkhave bhikkhu yāni tāni sīlāni akhaṇdāni acchiddāni
asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni
samādhisaṃvattanikāni, tathārūpesu sīlesu sīlasāmaññagato
viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo
piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṃvattati. (5)
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối
với các giới luật không có vi phạm, không có tỳ vết, không có
vẩn đục, không có uế tạp, giải thoát, được người trí tán thán,
không bị chấp trước, đưa đến thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu
trong các giới luật ấy với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt
lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo
thành tương kính, đưa đến ḥa đồng, đưa đến không tranh luận,
ḥa hợp, nhất trí.
|
|
Puna caparaṃ
bhikkhave bhikkhu yāyaṃ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyātitakkarassa
sammā dukkhakkhayāya, tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhisāmaññagato
viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca.
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối
với các tri kiến thuộc về bậc Thánh có khả năng hướng thượng,
khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo, sống
thành tựu tri kiến như vậy, cùng với các đồng phạm hạnh cả trước
mặt lẫn sau lưng.
|
|
Ayampi dhammo sāraṇīyo
piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya
saṃvattati. (6)
|
Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái,
tạo thành tương kính, đưa đến ḥa đồng, đưa đến không tranh
luận, ḥa hợp, nhất trí.
|
|
Ime kho bhikkhave cha sāraṇīyā dhammā piyakaraṇā
garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṃvattanti.
|
Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này
cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa
đến ḥa đồng, đưa đến không tranh luận, ḥa hợp, nhất trí.
|
|
Imesaṃ kho bhikkhave channaṃ sāraṇīyānaṃ dhammānaṃ etaṃ aggaṃ
etaṃ saṅgāhikaṃ (Saṅgāhakaṃ
- ?)
etaṃ saṅghāṭanikaṃ yadidaṃ yāyaṃ diṭṭhi ariyā niyyānikā
niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya. Seyyathāpi bhikkhave
kūṭāgārassa etaṃ aggaṃ etaṃ saṅgāhikaṃ etaṃ saṅghāṭanikaṃ
yadidaṃ kūṭaṃ. Evameva kho bhikkhave imesaṃ channaṃ sāraṇīyānaṃ
dhammānaṃ etaṃ aggaṃ etaṃ saṅgāhikaṃ etaṃ saṅghāṭanikaṃ yadidaṃ
yāyaṃ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā
dukkhakkhayāya.
|
Này các Tỷ-kheo, trong sáu pháp
cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả,
làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc
Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân
chánh diệt tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ví như một căn nhà có
mái nhọn như ngọn tháp, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất
cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là mái nhọn. Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp
tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính
là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng,
khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau.
|
|
493. Kathañca bhikkhave yāyaṃ diṭṭhi ariyā niyyānikā
niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya. Idha bhikkhave bhikkhu
araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti
paṭisañcikkhati “Atthi nu kho me taṃ pariyuṭṭhānaṃ ajjhattaṃ
appahīnaṃ, yenāhaṃ pariyuṭṭhānena pariyuṭṭhitacitto yathābhūtaṃ
nappajāneyyaṃ na passeyyan”ti. Sace bhikkhave bhikkhu
kāmarāgapariyuṭṭhito hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace
bhikkhave bhikkhu byāpādapariyuṭṭhito hoti, pariyuṭṭhitacittova
hoti. Sace bhikkhave bhikkhu thinamiddhapariyuṭṭhito hoti,
pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace bhikkhave bhikkhu
uddhaccakukkuccapariyuṭṭhito hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti.
Sace bhikkhave bhikkhu vicikicchāpariyuṭṭhito hoti,
pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace bhikkhave bhikkhu idhalokacintāya
pasuto hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace bhikkhave bhikkhu
paralokacintāya pasuto hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace
bhikkhave bhikkhu bhaṇdanajāto kalahajāto vivādāpanno aññamaññaṃ
mukhasattīhi vitudanto viharati, pariyuṭṭhitacittova hoti.
|
Này các Tỷ-kheo, thế nào là tri
kiến thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người
thực hành chân chánh diệt tận khổ đau? Ở đây, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến dưới gốc cây, hay đi đến
chỗ trống vắng và suy nghĩ như sau: "Không biết ta có nội triền
nào chưa đoạn trừ không? Do nội triền này nếu tâm ta bị triền
phược, th́ ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật?"
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị tham dục triền phược, cho đến
như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo bị sân triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị
triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị hôn trầm thụy miên
triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị trạo hối triền phược, cho đến
như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo bị nghi triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này)
bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có tâm bị thế sự
đời này ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền
phược. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời sau
ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược.
Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau
với những binh khí miệng lưỡi, cho đến như vậy, tâm (của vị này)
bị triền phược.
|
|
So
evaṃ pajānāti “Natthi kho me taṃ pariyuṭṭhānaṃ ajjhattaṃ
appahīnaṃ, yenāhaṃ pariyuṭṭhānena pariyuṭṭhitacitto yathābhūtaṃ
nappajāneyyaṃ na passeyyaṃ, suppaṇihitaṃ me mānasaṃ saccānaṃ
bodhāyā”ti. Idamassa paṭhamaṃ ñāṇaṃ adhigataṃ hoti ariyaṃ
lokuttaraṃ asādhāraṇaṃ puthujjanehi.
|
Vị ấy biết rơ như sau: "Ta không
có nội triền chưa được đoạn trừ, do nội triền này nếu tâm ta bị
triền phược, ta không thể biết như thật, không thể thấy như
thật. Ư của ta được khéo hướng đến sự giác ngộ các sự thật". Đó
là trí thứ nhất mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu
thế, các phàm phu không thể cọng chứng.
|
|
494. Puna
caparaṃ bhikkhave ariyasāvako iti paṭisañcikkhati “Imaṃ nu kho
ahaṃ diṭṭhiṃ āsevanto bhāvento bahulīkaronto labhāmi paccattaṃ
samathaṃ, labhāmi paccattaṃ nibbutin”ti. So evaṃ pajānāti “Imaṃ
kho ahaṃ diṭṭhiṃ āsevanto bhāvento bahulīkaronto labhāmi
paccattaṃ samathaṃ, labhāmi paccattaṃ nibbutin”ti. Idamassa
dutiyaṃ ñāṇaṃ adhigataṃ hoti ariyaṃ lokuttaraṃ asādhāraṇaṃ
puthujjanehi.
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Trong khi ta thực tập, tu tập,
luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chỉ, ta tự
đạt được tịnh chỉ". Vị này biết rơ như sau: "Trong khi ta thực
tập, tu tập, luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được
tịch chỉ, ta tự đạt được tịch chỉ". Đó là trí thứ hai mà vị này
chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không
thể cọng chứng.
|
|
495. Puna caparaṃ bhikkhave ariyasāvako iti
paṭisañcikkhati “Yathārūpāyāhaṃ diṭṭhiyā samannāgato, atthi nu
kho ito bahiddhā añño samaṇo vā bhāhmaṇo vā tathārūpāya diṭṭhiyā
samannāgato”ti. So evaṃ pajānāti “Yathārūpāyāhaṃ diṭṭhiyā
samannāgato, natthi ito bahiddhā añño samaṇo vā brāhmaṇo vā
tathārūpāya diṭṭhiyā samannāgato”ti. Idamassa tatiyaṃ ñāṇaṃ
adhigataṃ hoti ariyaṃ lokuttaraṃ asādhāraṇaṃ puthujjanehi.
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Tri kiến như ta đă thành tựu có
thể có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào ngoài tổ chức này, thành tựu
tri kiến như vậy không?" Vị ấy hiểu rơ như sau: "Tri kiến như ta
đă thành tựu không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, ngoài
tổ chức này, thành tựu tri kiến như vậy". Đó là tri thứ ba mà vị
này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu
không thể cọng chứng.
|
|
496. Puna caparaṃ bhikkhave ariyasāvako iti
paṭisañcikkhati “Yathārūpāya dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo
samannāgato, ahampi tathārūpāya dhammatāya samannāgato”ti.
Kathaṃrūpāya ca bhikkhave dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo
samannāgato. Dhammatā esā bhikkhave diṭṭhisampannassa
puggalassa, kiñcāpi tathārūpiṃ āpattiṃ āpajjati, yathārūpāya
āpattiyā vuṭṭhānaṃ paññāyati, atha kho naṃ khippameva satthari
vā viññūsu vā sabrahmacārīsu deseti vivarati uttānīkaroti,
desetvā vivaritvā uttānīkatvā āyatiṃ saṃvaraṃ āpajjati.
Seyyathāpi bhikkhave daharo kumāro mando uttānaseyyako hatthena
vā pādena vā aṅgāraṃ akkamitvā khippameva paṭisaṃharati. Evameva
kho bhikkhave dhammatā esā diṭṭhisampannassa puggalassa, kiñcāpi
tathārūpiṃ āpattiṃ āpajjati, yathārūpāya āpattiyā vuṭṭhānaṃ
paññāyati, atha kho naṃ khippameva satthari vā viññūsu vā
sabrahmacārīsu deseti vivarati uttānīkaroti, desetvā vivaritvā
uttānīkatvā āyatiṃ saṃvaraṃ āpajjati. So evaṃ pajānāti
“Yathārūpāya dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato,
ahampi tathārūpāya dhammatāya samannāgato”ti. Idamassa catutthaṃ
ñāṇaṃ adhigataṃ hoti ariyaṃ lokuttaraṃ asādhāraṇaṃ puthujjanehi.
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Pháp tánh (Dhammata) mà một vị
chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu
hay không?" Và này các Tỷ-kheo, pháp tánh ấy là ǵ mà một vị
chứng được tri kiến thành tựu? Đây là pháp tánh, này các
Tỷ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất cứ giới
tội nào vị này vi phạm, giới tội ấy liền được xuất tội. Vị này
lập tức phát lộ, tỏ bày, tŕnh bày trước bậc Đạo Sư hay trước
các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi phát lộ, tỏ bày, tŕnh
bày, vị ấy pḥng hộ ǵn giữ trong tương lai. Này các Tỷ-kheo, ví
như một đứa trẻ con, ngây thơ, nằm ngửa, lập tức rút lui tay hay
chân nếu tay hay chân của nó chạm phải than đỏ. Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến
thành tựu. Bất cứ giới tội nào vị này vi phạm, giới tội ấy liền
được xuất tội. Vị này lập tức phát lộ, tỏ bày, tŕnh bày trước
bậc Đạo Sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi phát
lộ, tỏ bày, tŕnh bày, vị ấy pḥng hộ ǵn giữ trong tương lai.
Vị ấy biết rơ như sau: "Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến
thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu". Như vậy là trí
thứ tư mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các
phàm phu không thể cọng chứng.
|
|
497. Puna caparaṃ bhikkhave ariyasāvako iti
paṭisañcikkhati “Yathārūpāya dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo
samannāgato, ahampi tathārūpāya dhammatāya samannāgato”ti.
Kathaṃrūpāya ca bhikkhave dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo
samannāgato. Dhammatā esā bhikkhave diṭṭhisampannassa
puggalassa, kiñcāpi yāni tāni sabrahmacārīnaṃ uccāvacāni
kiṃkaraṇīyāni, tattha ussukkaṃ āpanno hoti, atha khvāssa
tibbāpekkhā hoti adhisīlasikkhāya adhicittasikkhāya
adhipaññāsikkhāya. Seyyathāpi bhikkhave gāvī taruṇavacchā
thambañca ālumpati, vacchakañca apacinati. Evameva kho bhikkhave
dhammatā esā diṭṭhisampannassa puggalassa, kiñcāpi yāni tāni
sabrahmacārīnaṃ uccāvacāni kiṃkaraṇīyāni, tattha ussukkaṃ āpanno
hoti, atha khvāssa tibbāpekkhā hoti adhisīlasikkhāya
adhicittasikkhāya adhipaññāsikkhāya. So evaṃ pajānāti
“Yathārūpāya dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato,
ahampi tathārūpāya dhammatāya samannāgato”ti. Idamassa pañcamaṃ
ñāṇaṃ adhigataṃ hoti ariyaṃ lokuttaraṃ asādhāraṇaṃ puthujjanehi.
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Pháp tánh mà một vị chứng được
tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu hay
không?" Và này các Tỷ-kheo, pháp tánh ấy là ǵ mà một vị chứng
được tri kiến thành tựu? Đây là pháp tánh, này các Tỷ-kheo, mà
một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải
làm dầu lớn nhỏ ǵ, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ
lực thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học,
tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Này các Tỷ-kheo, ví
như con ḅ có các con bê, khi đang nhổ lùm cỏ lên (ăn), vẫn coi
chừng con bê. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một
vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải làm
dầu lớn nhỏ ǵ, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực
thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng
thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Vị này biết rơ như sau:
"Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh
như vậy ta có thành tựu". Như vậy là trí thứ năm mà vị này chứng
được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng
chứng.
|
|
498. Puna caparaṃ bhikkhave ariyasāvako iti
paṭisañcikkhati “Yathārūpāya balatāya diṭṭhisampanno puggalo
samannāgato, ahampi tathārūpāya balatāya samannāgato”ti.
Kathaṃrūpāya ca bhikkhave balatāya diṭṭhisampanno puggalo
samannāgato. Balatā esā bhikkhave diṭṭhisampannassa puggalassa,
yaṃ Tathāgatappavedite Dhammavinaye desiyamāne aṭṭhiṃkatvā
manasikatvā sabbacetasā (Sabbacetaso
- Sī, Syā, Kaṃ, I; sabbaṃ cetasā - Ka)
samannāharitvā ohitasoto dhammaṃ suṇāti. So evaṃ pajānāti
“Yathārūpāya balatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato, ahampi
tathārūpāya balatāya samannāgato”ti. Idamassa chaṭṭhaṃ ñāṇaṃ
adhigataṃ hoti ariyaṃ lokuttaraṃ asādhāraṇaṃ puthujjanehi.
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Sức mạnh mà một vị chứng được tri
kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu hay không?" Và
này các Tỷ-kheo, sức mạnh ấy là ǵ mà một vị chứng được tri kiến
thành tựu? Đây là sức mạnh, này các Tỷ-kheo, một vị chứng được
tri kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên
thuyết được giảng dạy, sau khi chú tâm chú ư, chuyên chú toàn
tâm trí, vị này lóng tai nghe Pháp. Vị này biết rơ như sau :
"Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như
vậy ta có thành tựu". Như vậy là trí thứ sáu mà vị này chứng
được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không có thể
cọng chứng.
|
|
499. Puna caparaṃ bhikkhave ariyasāvako iti
paṭisañcikkhati “Yathārūpāya balatāya diṭṭhisampanno puggalo
samannāgato, ahampi tathārūpāya balatāya samannāgato”ti.
Kathaṃrūpāya ca bhikkhave balatāya diṭṭhisampanno puggalo
samannāgato. Balatā esā bhikkhave diṭṭhisampannassa puggalassa
yaṃ Tathāgatappavedite Dhammavinaye desiyamāne labhati
atthavedaṃ, labhati dhammavedaṃ, labhati dhammūpasaṃhitaṃ
pāmojjaṃ. So evaṃ pajānāti “Yathārūpāya balatāya diṭṭhisampanno
puggalo samannāgato, ahampi tathārūpāya balatāya samannāgato”ti.
Idamassa sattamaṃ ñāṇaṃ adhigataṃ hoti ariyaṃ lokuttaraṃ
asādhāraṇaṃ puthujjanehi.
|
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Sức mạnh mà một vị chứng được tri
kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu hay không?" Và
này các Tỷ-kheo, sức mạnh ấy là ǵ mà một vị chứng được tri kiến
thành tựu? Đây là sức mạnh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng
được tri kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên
thuyết được giảng dạy, vị này chứng được nghĩa tín thọ
(atthaveda), Pháp tín thọ (Dhammaveda), và sự hân hoan tương ứng
với pháp; vị này hiểu rơ như sau: "Sức mạnh mà một vị chứng được
tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu". Như vậy
là trí thứ bảy mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu
thế, các phàm phu không thể cọng chứng.
|
|
500. Evaṃ sattaṅgasamannāgatassa kho bhikkhave
ariyasāvakassa dhammatā susamanniṭṭhā hoti
sotāpattiphalasacchikiriyāya. Evaṃ sattaṅgasamannāgato kho
bhikkhave ariyasāvako sotāpattiphalasamannāgato hotīti.
|
Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp
tánh được khéo an trú đối với vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi
này để chứng được quả Dự Lưu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh
đệ tử thành tựu bảy chi này tức là đă thành tựu Dự Lưu quả.
|
|
Idamavoca
Bhagavā. Attamanā te bhikkhū Bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
|
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
|
|
Kosambiyasuttaṃ niṭṭhitaṃ
aṭṭhamaṃ.
|
|
|
<Kinh số 047> |
<Kinh
số 049> |
|