|
050.
MĀRATAJJANĪYASUTTAṂ
|
|
050.
MĀRATAJJANĪYASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
050. KINH HÀNG MA - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
506. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ āyasmā
Mahāmoggallāno Bhaggesu viharati Susumāragire Bhesakaḷāvane
migadāye. |
Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Maha Moggallana
trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng
Bhessakalavana, vườn Lộc Uyển.
|
|
Tena kho pana samayena āyasmā Mahāmoggallāno abbhokāse
caṅkamati. Tena kho pana samayena māro pāpimā āyasmato
Mahāmoggallānassa kucchigato hoti koṭṭhamanupaviṭṭho. Atha kho
āyasmato Mahāmoggallānassa etadahosi “Kiṃ nu kho me kucchi
garugaro viya (Garu
garu viya - Sī, I, Ṭīkāyaṃ pāṭhantaraṃ)
māsācitaṃ maññe”ti. |
Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha
Moggallana đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào
bụng Tôn giả Maha Moggallana, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Maha
Moggallana nghĩ như sau: "Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như
có ǵ chồng chất quá đầy?" |
|
Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno caṅkamā
orohitvā vihāraṃ pavisitvā paññatte āsane nisīdi, nisajja kho
āyasmā Mahāmoggallāno paccattaṃ yoniso manasākāsi. Addasā kho
āyasmā Mahāmoggallāno māraṃ pāpimantaṃ kucchigataṃ
koṭṭhamanupaviṭṭhaṃ. Disvāna
māraṃ pāpimantaṃ etadavoca |
Rồi Tôn giả Maha Moggallana từ chỗ
kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đă soạn
sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Maha
Moggallana tự chánh niệm. Tôn giả Maha Moggallana thấy Ác ma,
sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn
giả liền nói với Ác ma: |
|
“Nikkhama pāpima, nikkhama pāpima. Mā
Tathāgataṃ vihesesi mā tathāgatasāvakaṃ, mā te ahosi dīgharattaṃ
ahitāya dukkhāyā”ti. |
-- Hăy đi ra, Ác ma! Hăy đi ra,
Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến
cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!
|
|
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi
“Ajānameva kho maṃ ayaṃ samaṇo apassaṃ evamāha ‘Nikkhama pāpima,
nikkhama pāpima. Mā Tathāgataṃ vihesesi mā tathāgatasāvakaṃ, mā
te ahosi dīgharattaṃ ahitāya dukkhāyā’ti. Yopissa so satthā,
sopi maṃ neva khippaṃ jāneyya, kuto pana (Kuto
ca pana - Syā) maṃ
ayaṃ sāvako jānissatī”ti. |
Rồi Ác ma suy nghĩ: "Vị Sa-môn
này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: "Hăy đi ra,
Ác ma! Hăy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai, và đệ tử Như
Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài". Chính
vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có
thể biết ta được?"
|
|
Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno māraṃ
pāpimantaṃ etadavoca |
Rồi Tôn giả Maha Moggallana lại
nói với Ác ma như sau:
|
|
“Evaṃpi kho tāhaṃ pāpima jānāmi, mā tvaṃ
maññittho ‘Na maṃ jānātī’ti, Māro tvamasi pāpima, tuyhaṃ hi
pāpima evaṃ hoti ‘Ajānameva kho maṃ ayaṃ samaṇo apassaṃ evamāha
nikkhama pāpima, nikkhama pāpima. Mā Tathāgataṃ vihesesi mā
tathāgatasāvakaṃ, mā te ahosi dīgharattaṃ ahitāya dukkhāyāti.
Yopissa so satthā, sopi maṃ neva khippaṃ jāneyya, kuto pana maṃ
ayaṃ sāvako jānissatī’ti”.
|
-- Này Ác ma, ta biết Ngươi.
Đừng có nghĩ rằng: "Vị ấy không biết ta". Ngươi là Ác ma. Này Ác
ma, Ngươi nghĩ như sau: "Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy
ta, lại nói như sau: "Hăy đi ra, Ác ma! hăy đi ra Ác ma! Chớ có
phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị
bất hạnh, đau khổ lâu dài!" Chính vị Bổn sư cũng không biết ta
mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?"
|
|
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi “Jānameva kho
maṃ ayaṃ samaṇo passaṃ evamāha ‘Nikkhama pāpima, nikkhama
pāpima. Mā Tathāgataṃ vihesesi mā tathāgatasāvakaṃ, mā te ahosi
dīgharattaṃ ahitāya dukkhāyā’ti”. Atha kho Māro pāpimā āyasmato
Mahāmoggallānassa mukhato uggantvā paccaggaḷe aṭṭhāsi.
|
Rồi Ác ma suy nghĩ như sau: "Vị
Sa-môn này biết ta, thấy ta và nói như sau: "Hăy đi ra, Ác ma!
Hăy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai.
Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài"". Rồi Ác ma
từ miệng Tôn giả Maha Moggallana bước ra, và đứng dựa nơi cửa
miệng. |
|
507. Addasā kho āyasmā Mahāmoggallāno māraṃ
pāpimantaṃ paccaggaḷe ṭhitaṃ, disvāna māraṃ pāpimantaṃ
etadavoca– |
Tôn giả Maha Moggallana thấy Ác ma đứng dựa nơi cửa
miệng, bèn nói Ác ma:
|
|
etthāpi kho tāhaṃ pāpima passāmi, mā tvaṃ maññittho
“Na maṃ passatī”ti. Eso tvaṃ pāpima paccaggaḷe ṭhito.
Bhūtapubbāhaṃ pāpima Dūsī nāma māro ahosiṃ, tassa me Kāḷī nāma
bhaginī. Tassā tvaṃ putto so me tvaṃ bhāgineyyo ahosi.
|
-- Ác ma, ở đây, ta cũng thấy
Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: "Vị ấy không thấy ta". Này Ác ma,
nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa miệng. Này Ác ma, thuở xưa, ta
là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kali. Ngươi là con trai
chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.
|
|
Tena kho
pana pāpima samayena Kakusandho Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho
loke uppanno hoti. Kakusandhassa kho pana pāpima Bhagavato
Arahato Sammāsambuddhassa Vidhurasañjīvaṃ nāma sāvakayugaṃ ahosi
aggaṃ bhaddayugaṃ. Yāvatā kho pana pāpima Kakusandhassa
Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa sāvakā. Tesu na ca koci
āyasmatā Vidhurena samasamo hoti yadidaṃ dhammadesanāya. Iminā
kho evaṃ (Etaṃ
- Sī, Syā, I) pāpima
pariyāyena āyasmato Vidhurassa vidhuroteva (Vidhurassa
vidhuro vidhurotveva - Sī, Syā, Kaṃ, I)
samaññā udapādi.
|
Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn
Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ra đời. Thế Tôn
Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có hai vị đệ tử tên
là Vidhura, và Sanjiva, hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả.
Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả
Vidhura về thuyết pháp. Này Ác ma, v́ lư do này, Tôn giả Vidhura
được gọi là Vidhura (Vô song). C̣n Tôn giả Sanjiva là vị đi
rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng
định không khó khăn ǵ.
|
|
Āyasmā pana pāpima Sañjīvo araññagatopi
rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi appakasireneva
saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjati. Bhūtapubbaṃ pāpima āyasmā
Sañjīvo aññatarasmiṃ rukkhamūle saññāvedayitanirodhaṃ samāpanno
nisinno hoti. Addasaṃsu kho pāpima gopālakā pasupālakā kassakā
pathāvino āyasmantaṃ Sañjīvaṃ aññatarasmiṃ rukkhamūle
saññāvedayitanirodhaṃ samāpannaṃ nisinnaṃ, disvāna tesaṃ
etadahosi “Acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata bho, ayaṃ samaṇo
nisinnakova kālaṅkato, handa naṃ dahāmā”ti. Atha kho te pāpima
gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino tiṇañca kaṭṭhañca
gomayañca saṃkaddhitvā āyasmato Sañjīvassa kāye upacinitvā aggiṃ
datvā pakkamiṃsu. |
Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả
Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này
Ác ma, các người chăn ḅ, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy
Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc
cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: "Thật vị diệu thay, này
các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này
chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hăy hỏa táng ngài!" Rồi này Ác ma,
các người chăn ḅ, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu
lượm cỏ, củi và phân ḅ chồng lên thân Tôn giả Sanjiva, đốt lửa
và bỏ đi.
|
|
Atha kho pāpima āyasmā Sañjīvo tassā rattiyā
accayena tāya samāpattiyā vuṭṭhahitvā cīvarāni papphoṭetvā
pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṃ piṇdāya
pāvisi. Addasaṃsu kho te pāpima gopālakā pasupālakā kassakā
pathāvino āyasmantaṃ Sañjīvaṃ piṇdāya carantaṃ, disvāna nesaṃ
etadahosi “Acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata bho, ayaṃ samaṇo
nisinnakova kālaṅkato, svāyaṃ paṭisañjīvito”ti. Iminā kho evaṃ
pāpima pariyāyena āyasmato Sañjīvassa Sañjīvoteva (Sañjīvo
sañjīvotveva - Sī, Syā, Kaṃ, I)
samaññā udapādi.
|
Này Ác ma, Tôn giả Sanjiva, sau
khi đêm ấy đă tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y,
cầm y bát vào làng khất thực. Này Ác ma, các người chăn ḅ, chăn
thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang đi khất
thực, thấy vậy liền nghĩ: "Thật vị diệu thay, này các Tôn giả!
Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn
ngồi, nay được sống lại". Này Ác ma, v́ lư do này, Tôn giả
Sanjiva được xưng danh là Sanjiva, Sanjiva.
|
|
508. Atha kho pāpima Dūsissa mārassa etadahosi
“Imesaṃ kho ahaṃ bhikkhūnaṃ sīlavantānaṃ kalyāṇadhammānaṃ neva
jānāmi āgatiṃ vā gatiṃ vā, yaṃnūnāhaṃ brāhmaṇagahapatike
anvāviseyyaṃ, etha tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme
akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha. Appeva nāma tumhehi
akkosiyamānānaṃ paribhāsiyamānānaṃ rosiyamānānaṃ vihesiyamānānaṃ
siyā cittassa aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro labhetha
otāran”ti.
|
Này Ác ma, rồi Ác ma Dusi nghĩ
như sau: "Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có
giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hăy nhập vào hàng
Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hăy đến phỉ báng, mạ lị,
thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện
tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các
Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có
dịp để chi phối họ. "
|
|
Atha kho te pāpima Dūsī māro brāhmaṇagahapatike
anvāvisi “Etha tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha
paribhāsatha rosetha vihesetha. Appeva nāma tumhehi
akkosiyamānānaṃ paribhāsiyamānānaṃ rosiyamānānaṃ vihesiyamānānaṃ
siyā cittassa aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro labhetha
otāran”ti.
|
|
|
Atha kho te
pāpima brāhmaṇagahapatikā anvāvisiṭṭhā Dūsinā mārena bhikkhū
sīlavante kalyāṇadhamme akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti
“Ime pana muṇdakā samaṇakā ibbhā kiṇhā (Kaṇhā
- Syā, Kaṃ, Ka)
bandhupādāpaccā ‘Jhāyinosmā jhāyinosmā’ti pattakkhandhā
adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti
apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma ulūko rukkhasākhāyaṃ mūsikaṃ
maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati. Evamevime
muṇdakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā ‘Jhāyinosmā
jhāyinosmā’ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti
pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma kotthu
nadītīre macche maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati
apajjhāyati. Evamevime muṇdakā samaṇakā ibbhā kiṇhā
bandhupādāpaccā ‘Jhāyinosmā jhāyinosmā’ti pattakkhandhā
adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti
apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma biḷāro sandhisamalasaṅkaṭīre
mūsikaṃ maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati.
Evamevime muṇdakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā
‘Jhāyinosmā jhāyinosmā 'ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā
jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma
gadrabho vahacchinno sandhisamalasaṅkaṭīre jhāyati pajjhāyati
nijjhāyati apajjhāyati. Evamevime muṇdakā samaṇakā ibbhā kiṇhā
bandhupādāpaccā ‘Jhāyinosmā jhāyinosmā’ti pattakkhandhā
adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti
apajjhāyantī”ti.
|
Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập
vào hàng Bà-la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lị, thống trách và
nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau:
"Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự
gót chân này. Họ nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền"
và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu
thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con cú đậu trên
cành cây, khi đang ŕnh chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại
thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô,
hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: "Chúng tôi tu thiền,
chúng tôi tu thiền". Và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi
xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền.
Ví như con giả can trên bờ sông, khi đang ŕnh cá; tu thiền, mê
thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn
giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: "Chúng
tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền" và với hai vai thụt xuống, với
mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại
thiền. Ví như con mèo ngồi bên đống rác, khi đang ŕnh chuột; tu
thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc
đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ
nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền" và với hai vai
thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê
thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con lừa, gánh nặng được đặt
xuống, đang tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy,
những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót
chân này. Chúng nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền",
và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu
thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền". |
|
Ye kho pana pāpima tena samayena manussā
kālaṅkaronti yebhuyyena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ
duggatiṃ vinipātaṃ Nirayaṃ upapajjanti.
|
Này Ác ma lúc bấy giờ,
phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh
vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
|
|
509. Atha kho
pāpima Kakusandho Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho bhikkhū āmantesi
|
Rồi này Ác ma, Thế Tôn
Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
|
|
“Anvāviṭṭhā kho bhikkhave brāhmaṇagahapatikā Dūsinā mārena. Etha
tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha
rosetha vihesetha. Appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṃ
paribhāsiyamānānaṃ rosiyamānānaṃ vihesiyamānānaṃ siyā cittassa
aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro labhetha otāranti.
|
"-- Này các Tỷ-kheo, những
Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi nhập vào và nói: "Hăy đến phỉ
báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các Tỷ-kheo có giới hạnh
và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại
bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi
mới có dịp để chi phối họ".
|
|
Etha tumhe
bhikkhave mettāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharatha.
Tathā dutiyaṃ. Tathā tatiyaṃ. Tathā catutthaṃ. Iti uddhamadho
tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ mettāsahagatena
cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena
pharitvā viharatha. Karuṇāsahagatena cetasā. Pa .
Muditāsahagatena cetasā. Pa . Upekkhāsahagatena cetasā ekaṃ
disaṃpharitvā viharatha. Tathā dutiyaṃ. Tathā tatiyaṃ. Tathā
catutthaṃ. Iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya
sabbāvantaṃ lokaṃ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena
appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharathā”ti.
|
Này các Tỷ-kheo, hăy đến biến
măn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy
phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư.
Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy
phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến măn với tâm câu
hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm
câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ..., biến măn một phương
với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai,
cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng
khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng
khắp vô biên giới, an trú biến măn với tâm câu hữu với xả, quảng
đại, vô biên, không hận, không sân".
|
|
Atha kho te pāpima bhikkhū Kakusandhena Bhagavatā
Arahatā Sammāsambuddhena evaṃ ovadiyamānā evaṃ anusāsiyamānā
araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi mettāsahagatena
cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā vihariṃsu. Tathā dutiyaṃ. Tathā
tatiyaṃ. Tathā catutthaṃ. Iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi
sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ mettāsahagatena cetasā vipulena
mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṃsu.
Karuṇāsahagatena cetasā. Pa . Muditāsahagatena cetasā. Pa .
Upekkhāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā vihariṃsu. Tathā
dutiyaṃ. Tathā tatiyaṃ. Tathā catutthaṃ. Iti uddhamadho tiriyaṃ
sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ upekkhāsahagatena cetasā
vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā
vihariṃsu.
|
Rồi Ác ma, các Tỷ-kheo ấy được
Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác khuyến khích
như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây,
đi đến các chỗ không vắng, biến măn một phương với tâm câu hữu
với từ rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ
ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên,
dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an
trú biến măn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không
hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với
hỷ... biến măn một phương với tâm câu hữu với xả rồi an trú;
cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương
thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết
thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến măn với tâm
câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
|
|
510. Atha kho pāpima Dūsissa mārassa etadahosi
“Evaṃpi kho ahaṃ karonto imesaṃ bhikkhūnaṃ sīlavantānaṃ
kalyāṇadhammānaṃ neva jānāmi āgatiṃ vā gatiṃ vā, yaṃnūnāhaṃ
brāhmaṇagahapatike anvāviseyyaṃ, etha tumhe bhikkhū sīlavante
kalyāṇadhamme sakkarotha garuṃ karotha mānetha pūjetha. Appeva
nāma tumhehi sakkariyamānānaṃ garukariyamānānaṃ māniyamānānaṃ
pūjiyamānānaṃ siyā cittassa aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro
labhetha otāran”ti.
|
Này Ác ma, rồi Mara Dusi suy
nghĩ như sau: "Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi
của các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hăy nhập vào
các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hăy đến tán thán, tôn
trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện
tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các
vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi
phối họ".
|
|
Atha kho te pāpima Dūsī māro
brāhmaṇagahapatike anvāvisi. Etha tumhe bhikkhū sīlavante
kalyāṇadhamme sakkarotha garuṃ karotha mānetha pūjetha. Appeva
nāma tumhehi sakkariyamānānaṃ garukariyamānānaṃ māniyamānānaṃ
pūjiyamānānaṃ siyā cittassa aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro
labhetha otāranti. Atha kho te pāpima brāhmaṇagahapatikā
anvāviṭṭhā Dūsinā mārena bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme
sakkaronti garuṃ karonti mānenti pūjenti. Ye kho pana pāpima tena samayena manussā
kālaṅkaronti. Yebhuyyena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ
saggaṃ lokaṃ upapajjanti.
|
Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập
vào các Bà-la-môn gia chủ và nói: "Hăy đến tán thán, tôn trọng,
đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh.
Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng
dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi
phối họ", Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Dusi
xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo
có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những
vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được
sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.
|
|
511. Atha kho
pāpima Kakusandho Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho bhikkhū āmantesi
|
Rồi này Ác ma, Thế Tôn
Kakusamdha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
|
|
“Anvāviṭṭhā kho bhikkhave brāhmaṇagahapatikā Dūsinā mārena. Etha
tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṃ karotha
mānetha pūjetha. Appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṃ
garukariyamānānaṃ māniyamānānaṃ pūjiyamānānaṃ siyā cittassa
aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro labhetha otāranti. Etha tumhe
bhikkhave asubhānupassino kāye viharatha, āhāre paṭikūlasaññino
sabbaloke anabhiratisaññino (Anabhiratasaññino
- Sī, Syā, Kaṃ, I)
sabbasaṅkhāresu aniccānupassino”ti.
|
"-- Này các Tỷ-kheo, các
Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi xâm nhập và nói như sau: "Các
Ngươi hăy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các
Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi
tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm và như
vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ". Này các Tỷ-kheo, các
Ngươi hăy sống quán bất tịnh trên thân, quán tưởng nhàm chán đối
với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian,
quán tánh vô thường đối với tất cả hành".
|
|
Atha kho te
pāpima bhikkhū Kakusandhena Bhagavatā Arahatā Sammāsambuddhena
evaṃ ovadiyamānā evaṃ anusāsiyamānā araññagatāpi
rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi asubhānupassino kāye vihariṃsu,
āhāre paṭikūlasaññino sabbaloke anabhiratisaññino
sabbasaṅkhāresu aniccānupassino.
|
Và này Ác ma, những Tỷ-kheo ấy
được Thế Tôn Kakusandha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như
vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng,
sống quán (tánh) bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối
với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế
gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.
|
|
512. Atha kho pāpima Kakusandho Bhagavā Arahaṃ
Sammāsambuddho pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya
āyasmatā Vidhurena pacchāsamaṇena gāmaṃ piṇdāya pāvisi.
|
Rồi này Ác ma, Thế Tôn
Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang
y bát, với Tôn giả Vidhura là thị giả, đi vào làng để khất thực.
|
|
Atha kho
pāpima Dūsī māro aññataraṃ kumārakaṃ (Kumāraṃ
- Sī, I) anvāvisitvā
sakkharaṃ gahetvā āyasmato Vidhurassa sīse pahāramadāsi, sīsaṃ
vobhindi (Sīsaṃ
te bhindissāmīti - Ka).
Atha kho pāpima āyasmā Vidhuro bhinnena sīsena lohitena
gaḷantena Kakusandhaṃyeva Bhagavantaṃ Arahantaṃ Sammāsambuddhaṃ
piṭṭhito piṭṭhito anubandhi. Atha kho pāpima Kakusandho Bhagavā
Arahaṃ Sammāsambuddho nāgāpalokitaṃ apalokesi “Na vāyaṃ Dūsī
māro mattamaññāsī”ti. Sahāpalokanāya ca pana pāpima Dūsī māro
tamhā ca ṭhānā cavi, mahānirayaṃ ca upapajji.
|
Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập
vào một đứa trẻ, cầm một ḥn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura
khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và
với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán,
Chánh Đẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán,
Chánh Đẳng Giác nh́n xung quanh với cái nh́n con voi chúa và suy
nghĩ như sau: "Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải". Này
Ác ma, khi Thế Tôn nh́n xung quanh, th́ Ác ma Dusi liền từ chỗ
ấy từ trần và sinh vào cơi địa ngục.
|
|
Tassa kho pana pāpima Mahānirayassa tayo nāmadheyyā
honti Chaphassāyataniko itipi Saṅkusamāhato itipi
Paccattavedaniyo itipi. Atha kho maṃ pāpima nirayapālā
upasaṅkamitvā etadavocuṃ “Yadā kho te (Yato
te - Ka) mārisa
saṅkunā saṅku hadaye samāgaccheyya. Atha naṃ tvaṃ jāneyyāsi
vassasahassaṃ me Niraye paccamānassā”ti.
|
Này Ác ma, địa ngục ấy được ba
tên gọi: Sáu xúc xứ địa ngục, Thiết qua địa ngục, Biệt thọ khổ
địa ngục. Rồi các người giữ địa ngục đến ta và nói như sau: "Này
Tôn giả, khi cọc sắt sẽ gặp cọc sắt trong tim của Ngươi, Ngươi
mới hiểu như sau: "Ta sẽ bị trụng nước sôi một ngàn năm ở địa
ngục.''
|
|
So kho ahaṃ pāpima
bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni tasmiṃ
Mahāniraye apacciṃ. Dasavassasahassāni tasseva Mahānirayassa
Ussade apacciṃ vuṭṭhānimaṃ nāma vedanaṃ vediyamāno. Tassa mayhaṃ
pāpima evarūpo kāyo hoti seyyathāpi manussassa. Evarūpaṃ sīsaṃ
hoti seyyathāpi macchassa.
|
Và ta, này Ác ma, ta bị trụng
nước sôi, trải nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong
địa ngục. Trải qua một vạn năm trong đại địa ngục ấy, ta bị nấu
sôi và cảm thọ cảm giác gọi là Vutthanima. Do vậy, này Ác ma,
thân của ta là như vậy, thân như con người, và đầu ta là như
vậy, đầu như con cá.
|
|
513. Kīdiso nirayo āsi, yattha Dūsī
apaccatha.
Vidhuraṃ sāvakamāsajja, Kakusandhañca brāhmaṇaṃ. |
1. Địa ngục ấy thế nào
Dusi bị nấu sôi
V́ đánh Vidhura,
Đệ tử Kakusandha.
|
|
Sataṃ āsi ayosaṅkū, sabbe paccattavedanā.
¢diso Nirayo āsi, yattha Dūsī apaccatha.
Vidhuraṃ sāvakamāsajja, Kakusandhañca brāhmaṇaṃ.
|
Có trăm loại cọc sắt,
Tự cảm thọ riêng biệt
Địa ngục là như vậy,
Dusi bị nấu sôi.
V́ đánh Vidhura,
Đệ tử Kakusandha
|
|
Yo
etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.
Tādisaṃ bhikkhumāsajja, kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.
|
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,
|
|
Majjhe sarassa tiṭṭhanti, vimānā kappaṭṭhāyino.
Veḷuriyavaṇṇā rucirā, accimanto pabhassarā.
Accharā tattha naccanti, puthu nānattavaṇṇiyo.
|
2. Dựng lên giữa biển cả,
Cung điện trải nhiều kiếp,
Bằng ngọc chói lưu ly,
Huy hoàng cùng chiếu diệu.
Tiên nữ múa tại đây,
Trang sức màu dị biệt.
|
|
Yo
etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.
Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ
nigacchasi.
|
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ Thọ,
|
|
Yo ve Buddhena
codito, bhikkhu saṅghassa pekkhato.
Migāramātupāsādaṃ, pādaṅguṭṭhena
kampayi.
|
3. Ai Thế Tôn khuyến khích,
Được chư Tăng chứng kiến,
Với ngón chân rung chuyển,
Lâu đài Vijayanta!
|
|
Yo
etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.
Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.
|
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,
|
|
Yo
Vejayantaṃ pāsādaṃ, pādaṅguṭṭhena kampayi.
Iddhibalenupatthaddho, saṃvejesi ca devatā.
|
4. Với ngón chân rung chuyển
Lâu đài Vijayanta?
Đầy đủ thần thông lực,
Chư thiên cũng hoảng sợ.
|
|
Yo
etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.
Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.
|
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,!
|
|
Yo
Vejayantapāsāde, Sakkaṃ so paripucchati.
Api
vāsava jānāsi, taṇhākkhayavimuttiyo.
Tassa Sakko viyākāsi, pañhaṃ puṭṭho yathātathaṃ. |
5. Ai hỏi vị Sakka,
Tại lầu Vijayanta,
Hiền giả, Người có biết,
Chứng ái tận giải thoát?
Sakka đă chân thành,
Trả lời câu được hỏi.
|
|
Yo
etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.
Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.
|
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,
|
|
Yo
brahmaṃ paripucchati, Sudhammāyābhito sabhaṃ.
Ajjāpi tyāvuso diṭṭhi, yā te diṭṭhi pure ahu.
Passasi vītivattantaṃ, Brahmaloke pabhassaraṃ.
|
6. Ai từng hỏi Phạm thiên,
Tại hội chúng Thiện pháp,
Hiền giả nay vẫn chấp,
Các tà kiến thuở xưa,
Có thấy cảnh huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới?
|
|
Tassa brahmā viyākāsi, anupubbaṃ yathātathaṃ.
Na
me mārisa sā diṭṭhi, yā me diṭṭhi pure ahu.
|
Brahmà đă chân thành,
Tiếp tục đáp câu hỏi:
Tôn giả, tôi không chấp,
Các tà kiến thuở xưa!
|
|
Passāmi vītivattantaṃ, brahmaloke pabhassaraṃ.
Sohaṃ ajja kathaṃ vajjaṃ, ahaṃ niccomhi sassato.
|
Tôi thấy sự huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới!
Sao nay tôi nói được,
Tôi thường hằng thường tại?
|
|
Yo
etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.
Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.
|
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ!
|
|
Yo
Mahāmeruno kūṭaṃ, vimokkhena aphassayi.
Vanaṃ Pubbavidehānaṃ, ye ca bhūmisayā narā.
|
7. Ai với sự giải thoát,
Cảm xúc Cao sơn đảnh,
Rừng Đông Videha,
Và người nằm trên đất,
|
|
Yo
etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.
Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.
|
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ.
|
|
Na
ve aggi cetayati (Veṭhayati
- Sī), ahaṃ bālaṃ
dahāmīti.
Bālo ca jalitaṃ
aggiṃ, āsajja naṃ sa dayhati.
|
8. Thật sự lửa không nghĩ:
"Ta đốt cháy kẻ ngu",
Kẻ ngu đột kích lửa,
Tự ḿnh bị thiêu cháy.
|
|
Evameva tuvaṃ māra, āsajja naṃ Tathāgataṃ.
Sayaṃ dahissasi attānaṃ, bālo aggiṃva saṃphusaṃ.
|
Cũng vậy, này Ác ma,
Ngươi đột kích Như Lai.
Tự ḿnh đốt cháy ḿnh
Như kẻ ngu chạm lửa,
|
|
Apuññaṃ pasavī māro, āsajja naṃ Tathāgataṃ.
Kinnu maññasi pāpima, na me pāpaṃ vipaccati.
|
Ác ma tạo ác nghiệp,
Do nhiễu hại Như Lai,
Ngươi nghĩ chăng, Ác ma,
"Ác quả không đến ta".
|
|
Karoto cīyati pāpaṃ, cirarattāya antaka.
Māra
nibbinda Buddhamhā, āsaṃ mākāsi bhikkhusu.
|
Điều ác Ác ma làm,
Chất chứa đă lâu rồi,
Ác ma, hăy tránh Phật,
Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo!
|
|
Iti
māraṃ atajjesi, bhikkhu Bhesakaḷāvane.
Tato
so dummano yakkho, tatthevantaradhāyathāti.
|
Tỷ-kheo chống Ác ma,
Tại rừng Bhesakala,
Vị Dạ xoa, thất vọng,
Biến mất tại chỗ ấy.
|
|
Māratajjanīyasuttaṃ niṭṭhitaṃ
dasamaṃ.
Cūḷayamakavaggo niṭṭhito pañcamo.
|
|
|
<Kinh số 049> |
<Kinh
số 051> |
|