Trang Chính

Majjhimanikāya & Trung Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

MAJJHIMANIKĀYA & TRUNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Thursday, August 09, 2012

 

050. MĀRATAJJANĪYASUTTAṂ 

 

050. MĀRATAJJANĪYASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

050. KINH HÀNG MA - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

506. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ āyasmā Mahāmoggallāno Bhaggesu viharati Susumāragire Bhesakaḷāvane migadāye.

 

Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Maha Moggallana trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhessakalavana, vườn Lộc Uyển.

 

Tena kho pana samayena āyasmā Mahāmoggallāno abbhokāse caṅkamati. Tena kho pana samayena māro pāpimā āyasmato Mahāmoggallānassa kucchigato hoti koṭṭhamanupaviṭṭho. Atha kho āyasmato Mahāmoggallānassa etadahosi “Kiṃ nu kho me kucchi garugaro viya (Garu garu viya - Sī, I, Ṭīkāyaṃ pāṭhantaraṃ) māsācitaṃ maññe”ti.

 

Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Moggallana đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Maha Moggallana, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Maha Moggallana nghĩ như sau: "Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có ǵ chồng chất quá đầy?"

 

Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno caṅkamā orohitvā vihāraṃ pavisitvā paññatte āsane nisīdi, nisajja kho āyasmā Mahāmoggallāno paccattaṃ yoniso manasākāsi. Addasā kho āyasmā Mahāmoggallāno māraṃ pāpimantaṃ kucchigataṃ koṭṭhamanupaviṭṭhaṃ. Disvāna māraṃ pāpimantaṃ etadavoca

 

Rồi Tôn giả Maha Moggallana từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đă soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Maha Moggallana tự chánh niệm. Tôn giả Maha Moggallana thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma:

 

“Nikkhama pāpima, nikkhama pāpima. Mā Tathāgataṃ vihesesi mā tathāgatasāvakaṃ, mā te ahosi dīgharattaṃ ahitāya dukkhāyā”ti.

 

-- Hăy đi ra, Ác ma! Hăy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!

 

Atha kho mārassa pāpimato etadahosi “Ajānameva kho maṃ ayaṃ samaṇo apassaṃ evamāha ‘Nikkhama pāpima, nikkhama pāpima. Mā Tathāgataṃ vihesesi mā tathāgatasāvakaṃ, mā te ahosi dīgharattaṃ ahitāya dukkhāyā’ti. Yopissa so satthā, sopi maṃ neva khippaṃ jāneyya, kuto pana (Kuto ca pana - Syā) maṃ ayaṃ sāvako jānissatī”ti.

 

Rồi Ác ma suy nghĩ: "Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: "Hăy đi ra, Ác ma! Hăy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai, và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài". Chính vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?"

 

Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno māraṃ pāpimantaṃ etadavoca

 

Rồi Tôn giả Maha Moggallana lại nói với Ác ma như sau:

 

“Evaṃpi kho tāhaṃ pāpima jānāmi, mā tvaṃ maññittho ‘Na maṃ jānātī’ti, Māro tvamasi pāpima, tuyhaṃ hi pāpima evaṃ hoti ‘Ajānameva kho maṃ ayaṃ samaṇo apassaṃ evamāha nikkhama pāpima, nikkhama pāpima. Mā Tathāgataṃ vihesesi mā tathāgatasāvakaṃ, mā te ahosi dīgharattaṃ ahitāya dukkhāyāti. Yopissa so satthā, sopi maṃ neva khippaṃ jāneyya, kuto pana maṃ ayaṃ sāvako jānissatī’ti”.

 

-- Này Ác ma, ta biết Ngươi. Đừng có nghĩ rằng: "Vị ấy không biết ta". Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: "Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: "Hăy đi ra, Ác ma! hăy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!" Chính vị Bổn sư cũng không biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?"

 

Atha kho mārassa pāpimato etadahosi “Jānameva kho maṃ ayaṃ samaṇo passaṃ evamāha ‘Nikkhama pāpima, nikkhama pāpima. Mā Tathāgataṃ vihesesi mā tathāgatasāvakaṃ, mā te ahosi dīgharattaṃ ahitāya dukkhāyā’ti”. Atha kho Māro pāpimā āyasmato Mahāmoggallānassa mukhato uggantvā paccaggaḷe aṭṭhāsi.

 

Rồi Ác ma suy nghĩ như sau: "Vị Sa-môn này biết ta, thấy ta và nói như sau: "Hăy đi ra, Ác ma! Hăy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài"". Rồi Ác ma từ miệng Tôn giả Maha Moggallana bước ra, và đứng dựa nơi cửa miệng.

 

507. Addasā kho āyasmā Mahāmoggallāno māraṃ pāpimantaṃ paccaggaḷe ṭhitaṃ, disvāna māraṃ pāpimantaṃ etadavoca–

 

Tôn giả Maha Moggallana thấy Ác ma đứng dựa nơi cửa miệng, bèn nói Ác ma:

 

etthāpi kho tāhaṃ pāpima passāmi, mā tvaṃ maññittho “Na maṃ passatī”ti. Eso tvaṃ pāpima paccaggaḷe ṭhito. Bhūtapubbāhaṃ pāpima Dūsī nāma māro ahosiṃ, tassa me Kāḷī nāma bhaginī. Tassā tvaṃ putto so me tvaṃ bhāgineyyo ahosi.

 

-- Ác ma, ở đây, ta cũng thấy Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: "Vị ấy không thấy ta". Này Ác ma, nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa miệng. Này Ác ma, thuở xưa, ta là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kali. Ngươi là con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.

 

Tena kho pana pāpima samayena Kakusandho Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho loke uppanno hoti. Kakusandhassa kho pana pāpima Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa Vidhurasañjīvaṃ nāma sāvakayugaṃ ahosi aggaṃ bhaddayugaṃ. Yāvatā kho pana pāpima Kakusandhassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa sāvakā. Tesu na ca koci āyasmatā Vidhurena samasamo hoti yadidaṃ dhammadesanāya. Iminā kho evaṃ (Etaṃ - Sī, Syā, I) pāpima pariyāyena āyasmato Vidhurassa vidhuroteva (Vidhurassa vidhuro vidhurotveva - Sī, Syā, Kaṃ, I) samaññā udapādi.

 

Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ra đời. Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán,  Chánh Đẳng Giác có hai vị đệ tử tên là Vidhura, và Sanjiva, hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả. Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả Vidhura về thuyết pháp. Này Ác ma, v́ lư do này, Tôn giả Vidhura được gọi là Vidhura (Vô song). C̣n Tôn giả Sanjiva là vị đi rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng định không khó khăn ǵ.

 

Āyasmā pana pāpima Sañjīvo araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi appakasireneva saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjati. Bhūtapubbaṃ pāpima āyasmā Sañjīvo aññatarasmiṃ rukkhamūle saññāvedayitanirodhaṃ samāpanno nisinno hoti. Addasaṃsu kho pāpima gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino āyasmantaṃ Sañjīvaṃ aññatarasmiṃ rukkhamūle saññāvedayitanirodhaṃ samāpannaṃ nisinnaṃ, disvāna tesaṃ etadahosi “Acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata bho, ayaṃ samaṇo nisinnakova kālaṅkato, handa naṃ dahāmā”ti. Atha kho te pāpima gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino tiṇañca kaṭṭhañca gomayañca saṃkaddhitvā āyasmato Sañjīvassa kāye upacinitvā aggiṃ datvā pakkamiṃsu.

 

Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này Ác ma, các người chăn ḅ, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: "Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hăy hỏa táng ngài!" Rồi này Ác ma, các người chăn ḅ, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu lượm cỏ, củi và phân ḅ chồng lên thân Tôn giả Sanjiva, đốt lửa và bỏ đi.

 

Atha kho pāpima āyasmā Sañjīvo tassā rattiyā accayena tāya samāpattiyā vuṭṭhahitvā cīvarāni papphoṭetvā pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṃ piṇdāya pāvisi. Addasaṃsu kho te pāpima gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino āyasmantaṃ Sañjīvaṃ piṇdāya carantaṃ, disvāna nesaṃ etadahosi “Acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata bho, ayaṃ samaṇo nisinnakova kālaṅkato, svāyaṃ paṭisañjīvito”ti. Iminā kho evaṃ pāpima pariyāyena āyasmato Sañjīvassa Sañjīvoteva (Sañjīvo sañjīvotveva - Sī, Syā, Kaṃ, I) samaññā udapādi.

 

Này Ác ma, Tôn giả Sanjiva, sau khi đêm ấy đă tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng khất thực. Này Ác ma, các người chăn ḅ, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang đi khất thực, thấy vậy liền nghĩ: "Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi, nay được sống lại". Này Ác ma, v́ lư do này, Tôn giả Sanjiva được xưng danh là Sanjiva, Sanjiva.

 

508. Atha kho pāpima Dūsissa mārassa etadahosi “Imesaṃ kho ahaṃ bhikkhūnaṃ sīlavantānaṃ kalyāṇadhammānaṃ neva jānāmi āgatiṃ vā gatiṃ vā, yaṃnūnāhaṃ brāhmaṇagahapatike anvāviseyyaṃ, etha tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha. Appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṃ paribhāsiyamānānaṃ rosiyamānānaṃ vihesiyamānānaṃ siyā cittassa aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro labhetha otāran”ti.

 

 

Này Ác ma, rồi Ác ma Dusi nghĩ như sau: "Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hăy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hăy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ. "

 

Atha kho te pāpima Dūsī māro brāhmaṇagahapatike anvāvisi “Etha tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha. Appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṃ paribhāsiyamānānaṃ rosiyamānānaṃ vihesiyamānānaṃ siyā cittassa aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro labhetha otāran”ti.

 

 

Atha kho te pāpima brāhmaṇagahapatikā anvāvisiṭṭhā Dūsinā mārena bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti “Ime pana muṇdakā samaṇakā ibbhā kiṇhā (Kaṇhā - Syā, Kaṃ, Ka) bandhupādāpaccā ‘Jhāyinosmā jhāyinosmā’ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma ulūko rukkhasākhāyaṃ mūsikaṃ maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati. Evamevime muṇdakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā ‘Jhāyinosmā jhāyinosmā’ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma kotthu nadītīre macche maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati. Evamevime muṇdakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā ‘Jhāyinosmā jhāyinosmā’ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma biḷāro sandhisamalasaṅkaṭīre mūsikaṃ maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati. Evamevime muṇdakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā ‘Jhāyinosmā jhāyinosmā 'ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma gadrabho vahacchinno sandhisamalasaṅkaṭīre jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati. Evamevime muṇdakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā ‘Jhāyinosmā jhāyinosmā’ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyantī”ti.

 

Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau: "Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền" và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con cú đậu trên cành cây, khi đang ŕnh chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền". Và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con giả can trên bờ sông, khi đang ŕnh cá; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền" và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con mèo ngồi bên đống rác, khi đang ŕnh chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền" và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con lừa, gánh nặng được đặt xuống, đang tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền", và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền".

 

Ye kho pana pāpima tena samayena manussā kālaṅkaronti yebhuyyena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ Nirayaṃ upapajjanti.

 

Này Ác ma lúc bấy giờ, phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

 

509. Atha kho pāpima Kakusandho Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho bhikkhū āmantesi

 

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:

 

“Anvāviṭṭhā kho bhikkhave brāhmaṇagahapatikā Dūsinā mārena. Etha tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha. Appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṃ paribhāsiyamānānaṃ rosiyamānānaṃ vihesiyamānānaṃ siyā cittassa aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro labhetha otāranti.

 

"-- Này các Tỷ-kheo, những Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi nhập vào và nói: "Hăy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ".

 

Etha tumhe bhikkhave mettāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharatha. Tathā dutiyaṃ. Tathā tatiyaṃ. Tathā catutthaṃ. Iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharatha. Karuṇāsahagatena cetasā. Pa . Muditāsahagatena cetasā. Pa . Upekkhāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃpharitvā viharatha. Tathā dutiyaṃ. Tathā tatiyaṃ. Tathā catutthaṃ. Iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharathā”ti.

 

Này các Tỷ-kheo, hăy đến biến măn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến măn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ..., biến măn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến măn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân".

 

Atha kho te pāpima bhikkhū Kakusandhena Bhagavatā Arahatā Sammāsambuddhena evaṃ ovadiyamānā evaṃ anusāsiyamānā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi mettāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā vihariṃsu. Tathā dutiyaṃ. Tathā tatiyaṃ. Tathā catutthaṃ. Iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṃsu. Karuṇāsahagatena cetasā. Pa . Muditāsahagatena cetasā. Pa . Upekkhāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā vihariṃsu. Tathā dutiyaṃ. Tathā tatiyaṃ. Tathā catutthaṃ. Iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṃsu.

 

Rồi Ác ma, các Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ không vắng, biến măn một phương với tâm câu hữu với từ rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến măn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... biến măn một phương với tâm câu hữu với xả rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến măn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

 

510. Atha kho pāpima Dūsissa mārassa etadahosi “Evaṃpi kho ahaṃ karonto imesaṃ bhikkhūnaṃ sīlavantānaṃ kalyāṇadhammānaṃ neva jānāmi āgatiṃ vā gatiṃ vā, yaṃnūnāhaṃ brāhmaṇagahapatike anvāviseyyaṃ, etha tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṃ karotha mānetha pūjetha. Appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṃ garukariyamānānaṃ māniyamānānaṃ pūjiyamānānaṃ siyā cittassa aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro labhetha otāran”ti.

 

Này Ác ma, rồi Mara Dusi suy nghĩ như sau: "Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi của các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hăy nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hăy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ".

 

Atha kho te pāpima Dūsī māro brāhmaṇagahapatike anvāvisi. Etha tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṃ karotha mānetha pūjetha. Appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṃ garukariyamānānaṃ māniyamānānaṃ pūjiyamānānaṃ siyā cittassa aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro labhetha otāranti. Atha kho te pāpima brāhmaṇagahapatikā anvāviṭṭhā Dūsinā mārena bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkaronti garuṃ karonti mānenti pūjenti. Ye kho pana pāpima tena samayena manussā kālaṅkaronti. Yebhuyyena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjanti.

 

Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói: "Hăy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ", Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Dusi xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.

 

511. Atha kho pāpima Kakusandho Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho bhikkhū āmantesi

 

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusamdha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:

 

“Anvāviṭṭhā kho bhikkhave brāhmaṇagahapatikā Dūsinā mārena. Etha tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṃ karotha mānetha pūjetha. Appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṃ garukariyamānānaṃ māniyamānānaṃ pūjiyamānānaṃ siyā cittassa aññathattaṃ, yathā taṃ Dūsī māro labhetha otāranti. Etha tumhe bhikkhave asubhānupassino kāye viharatha, āhāre paṭikūlasaññino sabbaloke anabhiratisaññino (Anabhiratasaññino - Sī, Syā, Kaṃ, I) sabbasaṅkhāresu aniccānupassino”ti.

 

"-- Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi xâm nhập và nói như sau: "Các Ngươi hăy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ". Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hăy sống quán bất tịnh trên thân, quán tưởng nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành".

 

Atha kho te pāpima bhikkhū Kakusandhena Bhagavatā Arahatā Sammāsambuddhena evaṃ ovadiyamānā evaṃ anusāsiyamānā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi asubhānupassino kāye vihariṃsu, āhāre paṭikūlasaññino sabbaloke anabhiratisaññino sabbasaṅkhāresu aniccānupassino.

 

Và này Ác ma, những Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng, sống quán (tánh) bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.

 

512. Atha kho pāpima Kakusandho Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā Vidhurena pacchāsamaṇena gāmaṃ piṇdāya pāvisi.

 

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang y bát, với Tôn giả Vidhura là thị giả, đi vào làng để khất thực.

 

Atha kho pāpima Dūsī māro aññataraṃ kumārakaṃ (Kumāraṃ - Sī, I) anvāvisitvā sakkharaṃ gahetvā āyasmato Vidhurassa sīse pahāramadāsi, sīsaṃ vobhindi (Sīsaṃ te bhindissāmīti - Ka). Atha kho pāpima āyasmā Vidhuro bhinnena sīsena lohitena gaḷantena Kakusandhaṃyeva Bhagavantaṃ Arahantaṃ Sammāsambuddhaṃ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi. Atha kho pāpima Kakusandho Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho nāgāpalokitaṃ apalokesi “Na vāyaṃ Dūsī māro mattamaññāsī”ti. Sahāpalokanāya ca pana pāpima Dūsī māro tamhā ca ṭhānā cavi, mahānirayaṃ ca upapajji.

 

Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ, cầm một ḥn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nh́n xung quanh với cái nh́n con voi chúa và suy nghĩ như sau: "Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải". Này Ác ma, khi Thế Tôn nh́n xung quanh, th́ Ác ma Dusi liền từ chỗ ấy từ trần và sinh vào cơi địa ngục.

 

Tassa kho pana pāpima Mahānirayassa tayo nāmadheyyā honti Chaphassāyataniko itipi Saṅkusamāhato itipi Paccattavedaniyo itipi. Atha kho maṃ pāpima nirayapālā upasaṅkamitvā etadavocuṃ “Yadā kho te (Yato te - Ka) mārisa saṅkunā saṅku hadaye samāgaccheyya. Atha naṃ tvaṃ jāneyyāsi vassasahassaṃ me Niraye paccamānassā”ti.

 

Này Ác ma, địa ngục ấy được ba tên gọi: Sáu xúc xứ địa ngục, Thiết qua địa ngục, Biệt thọ khổ địa ngục. Rồi các người giữ địa ngục đến ta và nói như sau: "Này Tôn giả, khi cọc sắt sẽ gặp cọc sắt trong tim của Ngươi, Ngươi mới hiểu như sau: "Ta sẽ bị trụng nước sôi một ngàn năm ở địa ngục.''

 

So kho ahaṃ pāpima bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni tasmiṃ Mahāniraye apacciṃ. Dasavassasahassāni tasseva Mahānirayassa Ussade apacciṃ vuṭṭhānimaṃ nāma vedanaṃ vediyamāno. Tassa mayhaṃ pāpima evarūpo kāyo hoti seyyathāpi manussassa. Evarūpaṃ sīsaṃ hoti seyyathāpi macchassa.

 

Và ta, này Ác ma, ta bị trụng nước sôi, trải nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong địa ngục. Trải qua một vạn năm trong đại địa ngục ấy, ta bị nấu sôi và cảm thọ cảm giác gọi là Vutthanima. Do vậy, này Ác ma, thân của ta là như vậy, thân như con người, và đầu ta là như vậy, đầu như con cá.

 

513.     Kīdiso nirayo āsi, yattha Dūsī apaccatha.

Vidhuraṃ sāvakamāsajja, Kakusandhañca brāhmaṇaṃ.

1. Địa ngục ấy thế nào
Dusi bị nấu sôi
V́ đánh Vidhura,
Đệ tử Kakusandha.

 

Sataṃ āsi ayosaṅkū, sabbe paccattavedanā.

¢diso Nirayo āsi, yattha Dūsī apaccatha.

Vidhuraṃ sāvakamāsajja, Kakusandhañca brāhmaṇaṃ.

 

Có trăm loại cọc sắt,
Tự cảm thọ riêng biệt
Địa ngục là như vậy,
Dusi bị nấu sôi.
V́ đánh Vidhura,
Đệ tử Kakusandha

 

Yo etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.

Tādisaṃ bhikkhumāsajja, kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.

 

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,

 

Majjhe sarassa tiṭṭhanti, vimānā kappaṭṭhāyino.

Veḷuriyavaṇṇā rucirā, accimanto pabhassarā.

Accharā tattha naccanti, puthu nānattavaṇṇiyo.

 

2. Dựng lên giữa biển cả,
Cung điện trải nhiều kiếp,
Bằng ngọc chói lưu ly,
Huy hoàng cùng chiếu diệu.
Tiên nữ múa tại đây,
Trang sức màu dị biệt.

 

          Yo etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.

          Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.        

 

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ Thọ,

 

          Yo ve Buddhena codito, bhikkhu saṅghassa pekkhato.

          Migāramātupāsādaṃ, pādaṅguṭṭhena kampayi.

 

3. Ai Thế Tôn khuyến khích,
Được chư Tăng chứng kiến,
Với ngón chân rung chuyển,
Lâu đài Vijayanta!

 

          Yo etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.

          Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.

 

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,

 

Yo Vejayantaṃ pāsādaṃ, pādaṅguṭṭhena kampayi.

Iddhibalenupatthaddho, saṃvejesi ca devatā.

 

4. Với ngón chân rung chuyển
Lâu đài Vijayanta?
Đầy đủ thần thông lực,
Chư thiên cũng hoảng sợ.

 

Yo etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.

Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.

 

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,!

 

Yo Vejayantapāsāde, Sakkaṃ so paripucchati.

Api vāsava jānāsi, taṇhākkhayavimuttiyo.

Tassa Sakko viyākāsi, pañhaṃ puṭṭho yathātathaṃ.

5. Ai hỏi vị Sakka,
Tại lầu Vijayanta,
Hiền giả, Người có biết,
Chứng ái tận giải thoát?
Sakka đă chân thành,
Trả lời câu được hỏi.

 

Yo etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.

Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.

 

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ,

 

Yo brahmaṃ paripucchati, Sudhammāyābhito sabhaṃ.

Ajjāpi tyāvuso diṭṭhi, yā te diṭṭhi pure ahu.

Passasi vītivattantaṃ, Brahmaloke pabhassaraṃ.

 

6. Ai từng hỏi Phạm thiên,
Tại hội chúng Thiện pháp,
Hiền giả nay vẫn chấp,
Các tà kiến thuở xưa,
Có thấy cảnh huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới?
 

Tassa brahmā viyākāsi, anupubbaṃ yathātathaṃ.

Na me mārisa sā diṭṭhi, yā me diṭṭhi pure ahu.

 

Brahmà đă chân thành,
Tiếp tục đáp câu hỏi:
Tôn giả, tôi không chấp,
Các tà kiến thuở xưa!
 

Passāmi vītivattantaṃ, brahmaloke pabhassaraṃ.

Sohaṃ ajja kathaṃ vajjaṃ, ahaṃ niccomhi sassato.

 

Tôi thấy sự huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới!
Sao nay tôi nói được,
Tôi thường hằng thường tại?

 

Yo etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.

Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.

 

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ!

 

Yo Mahāmeruno kūṭaṃ, vimokkhena aphassayi.

Vanaṃ Pubbavidehānaṃ, ye ca bhūmisayā narā.

 

7. Ai với sự giải thoát,
Cảm xúc Cao sơn đảnh,
Rừng Đông Videha,
Và người nằm trên đất,

 

Yo etamabhijānāti, bhikkhu Buddhassa sāvako.

Tādisaṃ bhikkhumāsajja, Kaṇha dukkhaṃ nigacchasi.

 

Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rơ như vậy.
V́ Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha chịu khổ thọ.

 

Na ve aggi cetayati (Veṭhayati - Sī), ahaṃ bālaṃ dahāmīti.

Bālo ca jalitaṃ aggiṃ, āsajja naṃ sa dayhati.

 

8. Thật sự lửa không nghĩ:
"Ta đốt cháy kẻ ngu",
Kẻ ngu đột kích lửa,
Tự ḿnh bị thiêu cháy.
 

Evameva tuvaṃ māra, āsajja naṃ Tathāgataṃ.

Sayaṃ dahissasi attānaṃ, bālo aggiṃva saṃphusaṃ.

 

Cũng vậy, này Ác ma,
Ngươi đột kích Như Lai.

Tự ḿnh đốt cháy ḿnh
Như kẻ ngu chạm lửa,

 

Apuññaṃ pasavī māro, āsajja naṃ Tathāgataṃ.

Kinnu maññasi pāpima, na me pāpaṃ vipaccati.

 

Ác ma tạo ác nghiệp,
Do nhiễu hại Như Lai,
Ngươi nghĩ chăng, Ác ma,
"Ác quả không đến ta".

 

Karoto cīyati pāpaṃ, cirarattāya antaka.

Māra nibbinda Buddhamhā, āsaṃ mākāsi bhikkhusu.

 

Điều ác Ác ma làm,
Chất chứa đă lâu rồi,
Ác ma, hăy tránh Phật,
Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo!

 

Iti māraṃ atajjesi, bhikkhu Bhesakaḷāvane.

Tato so dummano yakkho, tatthevantaradhāyathāti.

 

Tỷ-kheo chống Ác ma,
Tại rừng Bhesakala,
Vị Dạ xoa, thất vọng,
Biến mất tại chỗ ấy.

 

Māratajjanīyasuttaṃ niṭṭhitaṃ dasamaṃ.

 

Cūḷayamakavaggo niṭṭhito pañcamo.

 
 

<Kinh số 049>

<Kinh số 051>

 
| Mục lục Trung Bộ I | Mục lục Trung Bộ II | Mục lục Trung Bộ III |
 

<Đầu Trang>