|
046.
MAHĀDHAMMASAMĀDĀNASUTTAṂ
|
|
046.
MAHĀDHAMMASAMĀDĀNASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
046. ĐẠI KINH PHÁP HÀNH - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
473. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ
viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme.
|
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi,
Jetavana, tại tịnh xá Ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).
|
|
Tatra kho Bhagavā
bhikkhū āmantesi “Bhikkhavo”ti. |
Ở đây Thế
Tôn gọi các Tỷ-kheo: -- Này các Tỷ-kheo.
|
|
“Bhadante”ti te bhikkhū
Bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca |
-- Bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn giảng như sau: |
|
“Yebhuyyena bhikkhave
sattā evaṃkāmā evaṃchandā evaṃadhippāyā ‘Aho vata aniṭṭhā akantā
amanāpā dhammā parihāyeyyuṃ, iṭṭhā kantā manāpā dhammā
abhivaddheyyun’ti, tesaṃ bhikkhave sattānaṃ evaṃkāmānaṃ
evaṃchandānaṃ evaṃadhippāyānaṃ aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā
abhivaddhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā parihāyanti, tatra
tumhe bhikkhave kaṃ hetuṃ paccethā”ti. |
-- Này các Tỷ-kheo, phần lớn các
loài hữu t́nh có dục như thế này, có ước vọng như thế này, có
nguyện vọng như thế này: "Ôi, mong rằng các pháp bất khả ái, bất
khả lạc, bất khả ư được tiêu diệt! Mong rằng các pháp khả ái,
khả lạc, khả ư được tăng trưởng!" Này các Tỷ-kheo, dầu cho các
loài hữu t́nh ấy có dục như vậy, có ước vọng như vậy, có nguyện
vọng như vậy, nhưng các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ư
được tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ư bị tiêu diệt.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Người có biết v́ nguyên nhân ǵ
không?
|
|
Bhagavaṃmūlakā no bhante
dhammā Bhagavaṃnettikā Bhagavaṃpaṭisaraṇā, sādhu vata bhante
Bhagavantaññeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho, Bhagavato
sutvā bhikkhū dhāressantīti. |
-- Bạch Thế Tôn, đối với chúng
con, các pháp dựa Thế Tôn làm căn bản, hướng Thế Tôn làm lănh
đạo, nương tựa Thế Tôn làm y cứ. Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu
Thế Tôn thuyết giảng cho ư nghĩa này! Sau khi được nghe Thế Tôn,
các Tỷ-kheo sẽ hành tŕ.
|
|
Tena hi bhikkhave suṇātha, sādhukaṃ
manasi karotha bhāsissāmīti. |
-- Vậy này các Tỷ-kheo, hăy nghe
và khéo tác ư, Ta sẽ giảng.
|
|
“Evaṃ bhante”ti kho te bhikkhū
Bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca–
|
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn giảng như sau: |
|
474. Idha bhikkhave assutavā puthujjano ariyānaṃ
adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṃ
adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
sevitabbe dhamme na jānāti, asevitabbe dhamme na jānāti,
bhajitabbe dhamme na jānāti, abhajitabbe dhamme na jānāti. So
sevitabbe dhamme ajānanto asevitabbe dhamme ajānanto bhajitabbe
dhamme ajānanto abhajitabbe dhamme ajānanto asevitabbe dhamme
sevati, sevitabbe dhamme na sevati, abhajitabbe dhamme bhajati,
bhajitabbe dhamme na bhajati. Tassa asevitabbe dhamme sevato
sevitabbe dhamme asevato abhajitabbe dhamme bhajato bhajitabbe
dhamme abhajato aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā abhivaddhanti,
iṭṭhā kantā manāpā dhammā parihāyanti. Taṃ kissa hetu, evaṃ
hetaṃ bhikkhave hoti, yathā taṃ aviddasuno.
|
-- Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ
vô văn phàm phu, không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục
pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đi
đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân,
không tu tập pháp các bậc Chân nhân, không biết rơ các pháp nên
phục vụ, không biết rơ các pháp không nên phục vụ, không biết rơ
các pháp nên thân cận, không biết rơ các pháp không nên thân
cận. V́ không biết rơ các pháp nên phục vụ, không biết rơ các
pháp không nên phục vụ, không biết rơ các pháp nên thân cận,
không biết rơ các pháp không nên thân cận, vị này phục vụ các
pháp không nên phục vụ, không phục vụ các pháp nên phục vụ, thân
cận các pháp không nên thân cận, không thân cận các pháp nên
thân cận. Vị này v́ phục vụ các pháp không nên phục vụ, không
phục vụ các pháp nên phục vụ, v́ thân cận các pháp không nên
thân cận, không thân cận các pháp nên thân cận, cho nên các pháp
bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ư tăng trưởng; các pháp khả ái,
khả lạc, khả ư bị tiêu diệt. V́ sao vậy? Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là v́ người ấy không có trí đối với pháp này.
|
|
Taṃ kissa hetu, evaṃ hetaṃ bhikkhave hoti, yathā
taṃ aviddasuno =
V́ sao vậy? Như
vậy, này các Tỷ-kheo, là v́ người ấy không có trí đối với pháp
này = Why is that? That is what happens to one who does not see
(Bhikkhu Bodhi) = What is the reason. Bhikkhus, it so happens to
the foolish (Sister Upalavanna) = Điều ấy có nguyên nhân là ǵ?
Này các tỳ khưu, bởi v́ điều này là như vậy đối với người không
biết.
|
|
Sutavā ca kho bhikkhave ariyasāvako ariyānaṃ dassāvī
ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṃ dassāvī
sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto sevitabbe
dhamme jānāti, asevitabbe dhamme jānāti, bhajitabbe dhamme
jānāti, abhajitabbe dhamme jānāti. So sevitabbe dhamme jānanto
asevitabbe dhamme jānanto bhajitabbe dhamme jānanto abhajitabbe
dhamme jānanto asevitabbe dhamme na sevati, sevitabbe dhamme
sevati, abhajitabbe dhamme na bhajati, bhajitabbe dhamme
bhajati. Tassa asevitabbe dhamme asevato sevitabbe dhamme sevato
abhajitabbe dhamme abhajato bhajitabbe dhamme bhajato aniṭṭhā
akantā amanāpā dhammā parihāyanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā
abhivaddhanti. Taṃ kissa hetu, evaṃ hetaṃ bhikkhave hoti, yathā
taṃ viddasuno.
|
Và này các Tỷ-kheo, vị Đa văn
Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh,
tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục
pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, biết rơ
các pháp nên phục vụ, biết rơ các pháp không nên phục vụ, biết
rơ các pháp nên thân cận, biết rơ các pháp không nên thân cận.
V́ biết rơ các pháp nên phục vụ, biết rơ các pháp không nên phục
vụ, biết rơ các pháp nên thân cận, biết rơ các pháp không nên
thân cận, vị này phục vụ các pháp nên phục vụ, không phục vụ các
pháp không nên phục vụ, thân cận các pháp nên thân cận, không
thân cận các pháp không nên thân cận. Vị này v́ phục vụ các pháp
nên phục vụ, không phục vụ các pháp không nên phục vụ, thân cận
các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân
cận, cho nên các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ư bị tiêu
diệt; các pháp khả ái, khả lạc, khả ư được tăng trưởng. V́ sao
vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là v́ vị ấy có trí đối với pháp
này.
|
|
475. Cattārimāni bhikkhave dhammasamādānāni.
Katamāni cattāri, atthi bhikkhave dhammasamādānaṃ
paccuppannadukkhañceva āyatiṃ ca dukkhavipākaṃ. Atthi bhikkhave
dhammasamādānaṃ paccuppannasukhaṃ āyatiṃ dukkhavipākaṃ. Atthi
bhikkhave dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhaṃ āyatiṃ
sukhavipākaṃ. Atthi bhikkhave dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhañceva āyatiṃ ca sukhavipākaṃ.
|
Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp
hành. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, có pháp hành hiện tại
khổ, tương lai quả báo cũng khổ. Này các Tỷ-kheo, các pháp hành
hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Này các Tỷ-kheo, có pháp
hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ. Này các Tỷ-kheo, có
pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc.
|
|
476. Tatra
bhikkhave yamidaṃ (Yadidaṃ
- Sī) dhammasamādānaṃ
paccuppannadukkhañceva āyatiṃ ca dukkhavipākaṃ. Taṃ avidvā
avijjāgato yathābhūtaṃ nappajānāti “Idaṃ kho dhammasamādānaṃ
paccuppannadukkhañceva āyatiṃ ca dukkhavipākan”ti, taṃ avidvā
avijjāgato yathābhūtaṃ appajānanto taṃ sevati, taṃ na
parivajjeti, tassa taṃ sevato taṃ aparivajjayato aniṭṭhā akantā
amanāpā dhammā abhivaddhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā
parihāyanti. Taṃ kissa hetu, evaṃ hetaṃ bhikkhave hoti, yathā
taṃ aviddasuno. (1)
|
(Kẻ vô trí)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là
pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ. Do vô trí
với pháp này, do si mê, nên không tuệ tri như chân: "Đây là pháp
hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ". Do vô trí với
pháp này, do si mê, do không tuệ tri như chân, nên phục vụ pháp
này, không tránh né pháp này. V́ phục vụ pháp này, v́ không
tránh né pháp nầy, nên đối với vị này, các pháp bất khả ái, bất
khả lạc, bất khả ư tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ư
bị tiêu diệt. V́ sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là v́ vị ấy
không có trí đối với pháp này.
|
|
Tatra bhikkhave yamidaṃ dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhaṃ āyatiṃ dukkhavipākaṃ, taṃ avidvā avijjāgato
yathābhūtaṃ nappajānāti “Idaṃ kho dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhaṃ āyatiṃ dukkhavipākan”ti, taṃ avidvā avijjāgato
yathābhūtaṃ appajānanto taṃ sevati, taṃ na parivajjeti, tassa
taṃ sevato taṃ aparivajjayato aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā
abhivaddhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā parihāyanti. Taṃ kissa
hetu, evaṃ hetaṃ bhikkhave hoti, yathā taṃ aviddasuno. (2)
|
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là
pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ. Do vô trí với
pháp này, do si mê nên không biết như chân: "Đây là pháp hành
hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ". Do vô trí với pháp này, do
si mê, do không tuệ tri như chân, nên phục vụ pháp này, không
tránh né pháp này. V́ phục vụ pháp này, v́ không tránh né pháp
này, nên đối với vị này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất
khả ư tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ư bị tiêu diệt.
V́ sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là v́ vị ấy không có trí
đối với pháp này.
|
|
Tatra bhikkhave
yamidaṃ dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhaṃ āyatiṃ sukhavipākaṃ,
taṃ avidvā avijjāgato yathābhūtaṃ nappajānāti, “Idaṃ kho
dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhaṃ āyatiṃ sukhavipākan”ti, taṃ
avidvā avijjāgato yathābhūtaṃ appajānanto taṃ na sevati, taṃ
parivajjeti, tassa taṃ asevato taṃ parivajjayato aniṭṭhā akantā
amanāpā dhammā abhivaddhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā
parihāyanti. Taṃ kissa hetu, evaṃ hetaṃ bhikkhave hoti, yathā
taṃ aviddasuno. (3)
|
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là
pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Do vô trí với
pháp này, do si mê nên không tuệ tri như chân: "Đây là pháp hành
hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc". Do vô trí với pháp này, do
si mê, do không tuệ tri như chân, nên không phục vụ pháp này,
tránh né pháp này. V́ không phục vụ pháp này, tránh né pháp này,
nên đối với vị này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ư
tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ư bị tiêu diệt. V́
sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là v́ vị ấy không có trí đối
với pháp này?
|
|
Tatra bhikkhave yamidaṃ dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhañceva āyatiṃ ca sukhavipākaṃ, taṃ avidvā
avijjāgato yathābhūtaṃ nappajānāti “Idaṃ kho dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhañceva āyatiṃ ca sukhavipākan”ti, taṃ avidvā
avijjāgato yathābhūtaṃ appajānanto taṃ na sevati, taṃ
parivajjeti, tassa taṃ asevato taṃ parivajjayato aniṭṭhā akantā
amanāpā dhammā abhivaddhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā
parihāyanti. Taṃ kissa hetu, evaṃ hetaṃ bhikkhave hoti, yathā
taṃ aviddasuno. (4)
|
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đấy là
pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng lạc. Do vô trí
với pháp này, do si mê, nên không tuệ tri như chân: "Đây là pháp
hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc". Do vô trí với
pháp này, do si mê, do không tuệ tri như chân, nên không phục vụ
pháp này, tránh né pháp này. V́ không phục vụ pháp này, v́ tránh
né pháp này, nên đối với vị này, các pháp bất khả ái, bất khả
lạc, bất khả ư tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ư bị
tiêu diệt. V́ sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là v́ vị ấy
không có trí đối với pháp này.
|
|
477. Tatra
bhikkhave yamidaṃ dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhañceva āyatiṃ
ca dukkhavipākaṃ. Taṃ vidvā vijjāgato yathābhūtaṃ pajānāti “Idaṃ
kho dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhañceva āyatiṃ ca
dukkhavipākan”ti, taṃ vidvā vijjāgato yathābhūtaṃ pajānanto taṃ
na sevati, taṃ parivajjeti, tassa taṃ asevato taṃ parivajjayato
aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā parihāyanti, iṭṭhā kantā manāpā
dhammā abhivaddhanti. Taṃ kissa hetu, evaṃ hetaṃ bhikkhave hoti,
yathā taṃ viddasuno. (1)
|
(Người trí)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là
pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ. Do có trí
với pháp này, do tâm sáng suốt, vị này tuệ tri như chơn: "Pháp
hành này hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ". Do có trí
với pháp này, do tâm sáng suốt, do tuệ tri như chơn, vị này
không phục vụ pháp này, tránh né pháp này. Do không phục vụ pháp
này, do tránh né pháp này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất
khả ư bị tiêu diệt; các pháp khả ái, khả lạc, khả ư tăng trưởng.
V́ sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là v́ vị ấy có trí đối với
pháp này.
|
|
Tatra bhikkhave
yamidaṃ dhammasamādānaṃ paccuppannasukhaṃ āyatiṃ dukkhavipākaṃ,
taṃ vidvā vijjāgato yathābhūtaṃ pajānāti “Idaṃ kho
dhammasamādānaṃ paccuppannasukhaṃ āyatiṃ dukkhavipākan”ti, taṃ
vidvā vijjāgato yathābhūtaṃ pajānanto taṃ na sevati, taṃ
parivajjeti, tassa taṃ asevato taṃ parivajjayato aniṭṭhā akantā
amanāpā dhammā parihāyanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā
abhivaddhanti. Taṃ kissa hetu, evaṃ hetaṃ bhikkhave hoti, yathā
taṃ viddasuno. (2)
|
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là
pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ. Do có trí với
pháp này, do tâm sáng suốt, vị này tuệ tri như chơn: "Pháp hành
này hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ". Do có trí với pháp
này, do tâm sáng suốt, do tuệ tri như chân, vị này không phục vụ
pháp này, tránh né pháp này. Do không phục vụ pháp này, do tránh
né pháp này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ư bị tiêu
diệt; các pháp khả ái, khả lạc, khả ư tăng trưởng. V́ sao vậy?
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là v́ vị ấy có trí đối với pháp này.
|
|
Tatra bhikkhave
yamidaṃ dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhaṃ āyatiṃ sukhavipākaṃ,
taṃ vidvā vijjāgato yathābhūtaṃ pajānāti “Idaṃ kho
dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhaṃ āyatiṃ sukhavipākan”ti, taṃ
vidvā vijjāgato yathābhūtaṃ pajānanto taṃ sevati, taṃ na
parivajjeti, tassa taṃ sevato taṃ aparivajjayato aniṭṭhā akantā
amanāpā dhammā parihāyanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā
abhivaddhanti. Taṃ kissa hetu, evaṃ hetaṃ bhikkhave hoti, yathā
taṃ viddasuno. (3)
|
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là
pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Do có trí đối với
pháp này, do tâm sáng suốt, vị này tuệ tri như chân: "Pháp này
hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc". Do có trí đối với pháp
này, do tâm sáng suốt, do tuệ tri như chân, vị này phục vụ pháp
này, không tránh né pháp này. Do phục vụ pháp này, không tránh
né pháp này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ư bị tiêu
diệt; các pháp khả ái, khả lạc, khả ư tăng trưởng. V́ sao vậy?
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là v́ vị ấy có trí đối với pháp này.
|
|
Tatra bhikkhave yamidaṃ dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhañceva āyatiṃ ca sukhavipākaṃ, taṃ vidvā
vijjāgato yathābhūtaṃ pajānāti “Idaṃ kho dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhañceva āyatiṃ ca sukhavipākan”ti, taṃ vidvā
vijjāgato yathābhūtaṃ pajānanto taṃ sevati, taṃ na parivajjeti,
tassa taṃ sevato taṃ aparivajjayato aniṭṭhā akantā amanāpā
dhammā parihāyanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā abhivaddhanti. Taṃ
kissa hetu, evaṃ hetaṃ bhikkhave hoti, yathā taṃ viddasuno. (4)
|
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là
pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc. Do có trí
với pháp này, do tâm sáng suốt, vị này tuệ tri như chân: "Pháp
hành này hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc". Do có trí
với pháp này, do tâm sáng suốt, do tuệ tri như chân, vị này phục
vụ pháp này, không tránh né pháp này. Do phục vụ pháp này, do
không tránh né pháp này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất
khả ư bị tiêu diệt; các pháp khả ái, khả lạc, khả ư tăng trưởng.
V́ sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là v́ vị ấy có trí đối với
pháp này.
|
|
478. Katamañca bhikkhave dhammasamādānaṃ
paccuppannadukkhañceva āyatiṃ ca dukkhavipākaṃ. Idha bhikkhave
ekacco sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pāṇātipātī hoti,
pāṇātipātapaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
dukkhena sahāpi domanassena adinnādāyī hoti, adinnādānapaccayā
ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi dukkhena sahāpi
domanassena kāmesu micchācārī hoti, kāmesu micchācārapaccayā ca
dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi dukkhena sahāpi
domanassena musāvādī hoti, musāvādapaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ
paṭisaṃvedeti. Sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pisuṇavāco
hoti, pisuṇavācāpaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti.
Sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pharusavāco hoti,
pharusavācāpaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
dukkhena sahāpi domanassena samphappalāpī hoti,
samphappalāpapaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
dukkhena sahāpi domanassena abhijjhālu hoti, abhijjhāpaccayā ca
dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi dukkhena sahāpi
domanassena byāpannacitto hoti, byāpādapaccayā ca dukkhaṃ
domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi dukkhena sahāpi domanassena
micchādiṭṭhi hoti, micchādiṭṭhipaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ
paṭisaṃvedeti. So kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ
vinipātaṃ Nirayaṃ upapajjati. Idaṃ vuccati bhikkhave
dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhañceva āyatiṃ ca dukkhavipākaṃ.
(1)
|
(Bốn pháp)
Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp
hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, có người với khổ, với ưu, sát sanh, và do duyên sát
sanh, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu lấy của không cho, và do
duyên lấy của không cho, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu sống
theo tà hạnh trong các dục, và do duyên sống theo tà hạnh trong
các dục, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu nói lời vọng ngữ, và do
duyên nói lời vọng ngữ, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu nói lời
hai lưỡi, và do duyên nói lời hai lưỡi, cảm thọ khổ ưu; với khổ,
với ưu, nói lời ác ngữ, và do duyên nói lời ác ngữ, cảm thọ khổ
ưu; với khổ, với ưu, nói lời phù phiếm và do duyên nói lời phù
phiếm, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, có tâm tham ái, và do
duyên có tâm tham ái, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu có tâm sân
hận, và do duyên có tâm sân hận cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu
có tà kiến, và do duyên tà kiến cảm thọ khổ ưu. Vị ấy sau khi
thân hoại mạng chung, sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là pháp hành hiện tại khổ, tương
lai quả báo cũng khổ.
|
|
479. Katamañca bhikkhave dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhaṃ āyatiṃ dukkhavipākaṃ. Idha bhikkhave ekacco
sahāpi sukhena sahāpi somanassena pāṇātipātī hoti,
pāṇātipātapaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
sukhena sahāpi somanassena adinnādāyī hoti, adinnādānapaccayā ca
sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi
somanassena kāmesumicchācārī hoti, kāmesumicchācārapaccayā ca
sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi
somanassena musāvādī hoti, musāvādapaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ
paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi somanassena pisuṇavāco
hoti, pisuṇavācāpaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti.
Sahāpi sukhena sahāpi somanassena pharusavāco hoti,
pharusavācāpaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
sukhena sahāpi somanassena samphappalāpī hoti,
samphappalāpapaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
sukhena sahāpi somanassena abhijjhālu hoti, abhijjhāpaccayā ca
sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi
somanassena byāpannacitto hoti, byāpādapaccayā ca sukhaṃ
somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi somanassena
micchādiṭṭhi hoti, micchādiṭṭhipaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ
paṭisaṃvedeti. So kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ
vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati. Idaṃ vuccati bhikkhave
dhammasamādānaṃ paccuppannasukhaṃ āyatiṃ dukkhavipākaṃ. (2)
|
Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp
hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, có người với lạc, với hỷ, sát sanh và do duyên sát
sanh, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, lấy của không cho và
do duyên lấy của không cho, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ,
sống theo tà hạnh trong các dục, và do duyên sống theo tà hạnh
trong các dục, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, nói lời vọng
ngữ, và do duyên nói lời vọng ngữ, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc,
với hỷ, nói lời hai lưỡi, và do duyên nói lời hai lưỡi, cảm thọ
lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, nói lời ác ngữ và do duyên nói lời
ác ngữ, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, nói lời phù phiếm,
và do duyên nói lời phù phiếm, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với
hỷ, có tâm tham ái và do duyên có tâm tham ái, cảm thọ lạc và
hỷ, với lạc, với hỷ, có tâm sân hận, và do duyên có tâm sân hận,
cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, có tà kiến, và do duyên có
tà kiến, cảm thọ lạc và hỷ. Vị này sau khi thân hoại mạng chung,
sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, gọi là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ.
|
|
480. Katamañca bhikkhave dhammasamādānaṃ
paccuppannadukkhaṃ āyatiṃ sukhavipākaṃ. Idha bhikkhave ekacco
sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pāṇātipātā paṭivirato hoti,
pāṇātipātā veramaṇīpaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti.
Sahāpi dukkhena sahāpi domanassena adinnādānā paṭivirato hoti,
adinnādānā veramaṇīpaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti.
Sahāpi dukkhena sahāpi domanassena kāmesumicchācārā paṭivirato
hoti, kāmesumicchācārā veramaṇīpaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ
paṭisaṃvedeti. Sahāpi dukkhena sahāpi domanassena musāvādā
paṭivirato hoti, musāvādā veramaṇīpaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ
paṭisaṃvedeti. Sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pisuṇāya
vācāya paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya veramaṇīpaccayā ca
dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi dukkhena sahāpi
domanassena pharusāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya
veramaṇīpaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
dukkhena sahāpi domanassena samphappalāpā paṭivirato hoti,
samphappalāpā veramaṇī paccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ
paṭisaṃvedeti. Sahāpi dukkhena sahāpi domanassena anabhijjhālu
hoti, anabhijjhāpaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti.
Sahāpi dukkhena sahāpi domanassena abyāpannacitto hoti,
abyāpādapaccayā ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
dukkhena sahāpi domanassena sammādiṭṭhi hoti, sammādiṭṭhipaccayā
ca dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. So kāyassa bhedā paraṃ
maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati. Idaṃ vuccati bhikkhave
dhammasamādānaṃ paccuppannadukkhaṃ āyatiṃ sukhavipākaṃ. (3)
|
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, có người với khổ với ưu, từ bỏ sát sanh, và do duyên từ
bỏ sát sanh cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ lấy của không
cho, và do duyên từ bỏ lấy của không cho cảm thọ khổ ưu; với
khổ, với ưu, từ bỏ tà hạnh trong các dục, và do duyên từ bỏ tà
hạnh trong các dục, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu từ bỏ nói
lời vọng ngữ và do duyên từ bỏ nói lời vọng ngữ cảm thọ khổ ưu;
với khổ, với ưu, từ bỏ nói lời hai lưỡi, và do duyên từ bỏ nói
lời hai lưỡi, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ nói lời ác
ngữ, và do duyên từ bỏ nói lời ác ngữ, cảm thọ khổ ưu; với khổ,
với ưu, từ bỏ nói lời phù phiếm, và do duyên từ bỏ nói lời phù
phiếm, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ tâm tham ái, và do
duyên từ bỏ tâm tham ái, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ
tâm sân hận, và do duyên từ bỏ tâm sân hận, cảm thọ khổ ưu; với
khổ, với ưu, từ bỏ tà kiến, và do duyên từ bỏ tà kiến, cảm thọ
khổ ưu. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú,
Thiên giới, cơi đời này. Như vậy này các Tỷ-kheo, gọi là pháp
hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc.
|
|
481. Katamañca bhikkhave dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhañceva āyatiṃ ca sukhavipākaṃ. Idha bhikkhave
ekacco sahāpi sukhena sahāpi somanassena pāṇātipātā paṭivirato
hoti, pāṇātipātā veramaṇīpaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ
paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi somanassena adinnādānā
paṭivirato hoti, adinnādānā veramaṇīpaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ
paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi somanassena
kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā
veramaṇīpaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
sukhena sahāpi somanassena musāvādā paṭivirato hoti, musāvādā
veramaṇīpaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
sukhena sahāpi somanassena pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti,
pisuṇāya vācāya veramaṇīpaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ
paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi somanassena pharusāya
vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya veramaṇīpaccayā ca
sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi
somanassena samphappalāpā paṭivirato hoti, samphappalāpā
veramaṇīpaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi
sukhena sahāpi somanassena anabhijjhālu hoti, anabhijjhāpaccayā
ca sukhaṃ somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi
somanassena abyāpannacitto hoti, abyāpādapaccayā ca sukhaṃ
somanassaṃ paṭisaṃvedeti. Sahāpi sukhena sahāpi somanassena
sammādiṭṭhi hoti, sammādiṭṭhipaccayā ca sukhaṃ somanassaṃ
paṭisaṃvedeti. So kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ
lokaṃ upapajjati. Idaṃ vuccati bhikkhave dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhañceva āyatiṃ ca sukhavipākaṃ. Imāni kho
bhikkhave cattāri dhammasamādānāni. (4)
|
Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp
hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, có người với lạc, với hỷ, từ bỏ sát sanh và do duyên từ
bỏ sát sanh, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ lấy của
không cho, và do duyên từ bỏ lấy của không cho, cảm thọ lạc và
hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ các tà hạnh trong các dục, và do
duyên từ bỏ các tà hạnh trong các dục, cảm thọ lạc và hỷ; với
lạc, với hỷ, từ bỏ nói lời vọng ngữ, và do duyên từ bỏ nói lời
vọng ngữ, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ nói lời hai
lưỡi, và do duyên từ bỏ nói lời hai lưỡi, cảm thọ lạc và hỷ; với
lạc, với hỷ, từ bỏ ác ngữ, và do duyên từ bỏ nói lời ác ngữ, cảm
thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ nói lời phù phiếm, và do
duyên từ bỏ nói lời phù phiếm, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với
hỷ, không có tham ái, và do duyên không có tham ái, cảm thọ lạc
và hỷ; với lạc, với hỷ, không có sân tâm và do duyên không có
sân tâm, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, có chánh kiến và do
duyên chánh kiến, cảm thọ lạc và hỷ. Vị ấy, sau khi thân hoại
mạng chung, sanh lên thiện thú, Thiên giới, cơi đời này. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là pháp hành hiện tại lạc và tương lai
quả báo cũng lạc.
|
|
482. Seyyathāpi bhikkhave tittakālābu visena
saṃsaṭṭho, atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo
sukhakāmo dukkhappaṭikūlo, tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa
ayaṃ tittakālābu visena saṃsaṭṭho, sace ākaṅkhasi, piva (Pipa
- Sī, I). Tassa te
pivato (Pipato
- Sī, I) ceva
nacchādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā (Pītvā
- Sī) ca pana maraṇaṃ
vā nigacchasi maraṇamattaṃ vā dukkhan”ti. So taṃ appaṭisaṅkhāya
piveyya, nappaṭinissajjeyya, tassa taṃ pivato ceva nacchādeyya
vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana maraṇaṃ vā
nigaccheyya maraṇamattaṃ vā dukkhaṃ. Tathūpamāhaṃ bhikkhave imaṃ
dhammasamādānaṃ vadāmi, yamidaṃ dhammasamādānaṃ
paccuppannadukkhañceva āyatiṃ ca dukkhavipākaṃ. (1)
|
(Ví dụ)
Này các Tỷ-kheo, ví như trái bí
đắng có tẩm thuốc độc. Rồi một người đến muốn sống, muốn không
chết, ưa lạc, hiềm ghét khổ, và có người nói với người ấy như
sau: "Này bạn, trái bí đắng này có tẩm thuốc độc, nếu bạn muốn,
hăy ăn. Trong khi ăn, bạn không được thích thú về sắc, về hương,
về vị. Sau khi ăn, bạn có thể đi đến chết hay đau khổ gần như
chết". Người ấy có thể ăn không có suy nghĩ, không có từ bỏ.
Trong khi ăn, người ấy không được thích thú về sắc, về hương, về
vị. Sau khi ăn, người ấy bị chết, hay bị đau khổ gần như chết.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy, tức là
pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ.
|
|
483. Seyyathāpi bhikkhave āpānīyakaṃso vaṇṇasampanno
gandhasampanno rasasampanno, so ca kho visena saṃsaṭṭho, atha
puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo
dukkhappaṭikūlo, tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa ayaṃ
āpānīyakaṃso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno, so ca
kho visena saṃsaṭṭho, sace ākaṅkhasi, piva. Tassa te pivatohi (Pivatopi
- Ka)
kho chādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca
pana maraṇaṃ vā nigacchasi maraṇamattaṃ vā dukkhan”ti. So taṃ
appaṭisaṅkhāya piveyya, nappaṭinissajjeyya, tassa taṃ pivatohi
kho chādeyya vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana
maraṇaṃ vā nigaccheyya maraṇamattaṃ vā dukkhaṃ. Tathūpamāhaṃ
bhikkhave imaṃ dhammasamādānaṃ vadāmi, yamidaṃ dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhaṃ āyatiṃ dukkhavipākaṃ. (2)
|
Này các Tỷ-kheo, ví như một b́nh
đồng đựng nước uống, có sắc, có hương, có vị, và nước uống ấy có
tẩm thuốc độc. Rồi một người đến, muốn sống, muốn không chết,
muốn ưa lạc, hiềm ghét khổ. Và có người nói với người ấy như
sau: "Này bạn, b́nh đồng đựng nước uống này, có sắc, có hương,
có vị, và nước uống ấy có tẩm thuốc độc. Nếu bạn muốn, hăy uống.
Trong khi uống, bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị.
Sau khi uống, bạn có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết".
Người kia có thể uống, không suy nghĩ, không từ bỏ. Trong khi
uống, người ấy được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi
uống, người ấy có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết. Này
các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy, tức là
pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ.
|
|
484. Seyyathāpi bhikkhave pūtimuttaṃ nānābhesajjehi
saṃsaṭṭhaṃ, atha puriso āgaccheyya paṇdukarogī, tamenaṃ evaṃ
vadeyyuṃ “Ambho purisa idaṃ pūtimuttaṃ nānābhesajjehi
saṃsaṭṭhaṃ, sace ākaṅkhasi, piva. Tassa te pivatohi kho
nacchādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana
sukhī bhavissasī”ti. So taṃ paṭisaṅkhāya piveyya,
nappaṭinissajjeyya, tassa taṃ pivatohi kho nacchādeyya vaṇṇenapi
gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana sukhī assa. Tathūpamāhaṃ
bhikkhave imaṃ dhammasamādānaṃ vadāmi, yamidaṃ dhammasamādānaṃ
paccuppannadukkhaṃ āyatiṃ sukhavipākaṃ. (3)
|
Này các Tỷ-kheo, ví như nước đái
quỷ được trộn nhiều loại thuốc. Rồi có người đi đến, bị bệnh
hoàng đản, và có người nói với người đó như sau: "Này bạn, nước
đái quỷ này được trộn với nhiều loại thuốc. Nếu bạn muốn, hăy
uống. Trong khi uống, bạn không được thích thú về sắc, về hương,
về vị. Nhưng sau khi uống, bạn sẽ được an lạc". Người ấy có thể
uống, sau khi suy nghĩ, không có từ bỏ. Trong khi uống, người ấy
không được thích thú về sắc, về hương, về vị. Nhưng sau khi
uống, người ấy được an lạc. Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành
này giống như ví dụ ấy, tức là pháp hành hiện tại khổ, tương lai
quả báo lạc.
|
|
485. Seyyathāpi bhikkhave dadhi ca madhu ca sappi ca
phāṇitaṃ ca ekajjhaṃ saṃsaṭṭhaṃ, atha puriso āgaccheyya
lohitapakkhandiko, tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa idaṃ
dadhi ca madhu ca sappi ca phāṇitaṃ ca ekajjhaṃ saṃsaṭṭhaṃ, sace
ākaṅkhasi, piva. Tassa te pivato ceva chādessati vaṇṇenapi
gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana sukhī bhavissasī”ti. So taṃ
paṭisaṅkhāya piveyya, nappaṭinissajjeyya, tassa taṃ pivato ceva
chādeyya vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana sukhī
assa. Tathūpamāhaṃ bhikkhave imaṃ dhammasamādānaṃ vadāmi,
yamidaṃ dhammasamādānaṃ paccuppannasukhañceva āyatiṃ ca
sukhavipākaṃ. (4)
|
Này các Tỷ-kheo, ví như lạc, mật,
thục tô và đường trộn lẫn với nhau. Rồi có người đi đến bị bệnh
kiết lỵ. Và có người nói với người ấy như sau: "Này bạn, đây là
lạc, mật, thục tô và đường trộn lẫn với nhau. Nếu bạn muốn, hăy
uống. Trong khi uống, bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về
vị. Sau khi uống, bạn sẽ được an lạc". Người kia có thể uống,
sau khi suy nghĩ, không có từ bỏ. Trong khi uống, người kia được
thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, người kia được
an lạc. Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ
ấy, tức là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng lạc.
|
|
486. Seyyathāpi
bhikkhave vassānaṃ pacchime māse saradasamaye viddhe
vigatavalāhake deve ādicco nabhaṃ abbhussakkamāno sabbaṃ
ātāsagataṃ tamagataṃ abhivihacca bhāsate ca tapate ca virocate
ca. Evameva kho bhikkhave yamidaṃ dhammasamādānaṃ
paccuppannasukhañceva āyatiṃ ca sukhavipākaṃ, tadaññe
puthusamaṇabrāhmaṇaparappavāde abhivihacca bhāsate ca tapate ca
virocate cāti.
|
Này các Tỷ-kheo, ví như trong
tháng cuối mùa mưa, vào mùa thu, mùa gặt hái, khí bầu trời quang
đăng, không có mây, và mặt trời mọc lên giữa bầu trời, phá sạch
hắc ám khắp cả hư không, và chói sáng, hực sáng và rực sáng.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả
báo cũng lạc này, sau khi phá sạch các dị thuyết của các Sa-môn,
Bà-la-môn tầm thường, chói sáng, hực sáng và rực sáng.
|
|
Idamavoca
Bhagavā. Attamanā te bhikkhū Bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
|
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
|
|
Mahādhammasamādānasuttaṃ
niṭṭhitaṃ chaṭṭhaṃ.
|
|
|
<Kinh số 045> |
<Kinh
số 047> |
|