Trang Chính

Majjhimanikāya & Trung Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

MAJJHIMANIKĀYA & TRUNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Wednesday, August 08, 2012

 

041. SĀLEYYAKASUTTAṂ 

 

041. SĀLEYYAKASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

041. KINH SĀLEYYAKA - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

439. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Kosalesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṃghena saddhiṃ yena Sālā nāma Kosalānaṃ brāhmaṇagāmo tadavasari.

 

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang du hành trong nước Kosala (Kiều tất la) cùng với Đại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Sala.

 

Assosuṃ kho Sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā “Samaṇo khalu bho Gotamo Sakyaputto Sakyakulā pabbajito Kosalesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṃghena saddhiṃ Sālaṃ anuppatto. Taṃ kho pana bhavantaṃ Gotamaṃ evaṃ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato, itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā. So imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṃ deseti ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṃ Arahataṃ dassanaṃ hotī”ti.

 

Các gia chủ Bà-la-môn ở Sala nghe rằng: "Người ta nói Sa-môn Gotama, là Thích Tử, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành trong nước Kosala với Đại chúng Tỷ-kheo, và đă đến Sa-la. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: "Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Khi đă chứng ngộ, Ngài c̣n tuyên thuyết điều Ngài đă chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Lành thay, nếu được yết kiến một A-la-hán như vậy!"

 

Atha kho Sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā yena Bhagavā tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā appekacce Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce Bhagavatā saddhiṃ sammodiṃsu, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce yena Bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce Bhagavato santike nāmagottaṃ sāvetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṃ nisīdiṃsu.

 

Rồi các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên những lời chào đón, thân hữu xă giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số chấp tay vái Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên tên họ của ḿnh trước mặt Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên.

 

Ekamantaṃ nisinnā kho Sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā Bhagavantaṃ etadavocuṃ

 

Sau khi ngồi xuống một bên, các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la bạch Thế Tôn:

 

“Ko nu kho bho Gotama hetu ko paccayo, yena midhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ Nirayaṃ upapajjanti. Ko pana bho Gotama hetu ko paccayo, yena midhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjantī”ti.

 

-- Tôn giả Gotama, do nhân ǵ, do duyên ǵ, ở đây, một số hữu t́nh sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục? Này Tôn giả Gotama, do nhân ǵ, do duyên ǵ, ở đây, một số loài hữu t́nh sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này?

 

Adhammacariyāvisamacariyāhetu kho gahapatayo evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ Nirayaṃ upapajjanti. Dhammacariyāsamacariyāhetu kho gahapatayo evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjantīti.

 

-- Này các Gia chủ, do nhân hành phi pháp, hành phi pháp chánh đạo, này các Gia chủ, mà như vậy, ở đây có một số loài hữu t́nh, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, này các Gia chủ, mà như vậy, ở đây có một số loài hữu t́nh sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này.

 

Na kho mayaṃ imassa bhoto Gotamassa saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ avibhattassa vitthārena atthaṃ ājānāma. Sādhu no bhavaṃ Gotamo tathā dhammaṃ desetu, yathā mayaṃ imassa bhoto Gotamassa saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ avibhattassa vitthārena atthaṃ ājāneyyāmāti.

 

-- Chúng con không thể hiểu đầy đủ những ǵ Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt nếu không được giải thích rộng răi. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho chúng con để chúng con có thể hiểu đầy đủ những ǵ Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt!

 

Tena hi gahapatayo suṇātha sādhukaṃ manasi karotha bhāsissāmīti.

 

-- Như vậy, này các Gia chủ, hăy nghe và khéo tác ư, Ta sẽ giảng.

 

“Evaṃ bho”ti kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā Bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca–

 

-- Thưa vâng, Tôn giả. Các vị gia chủ Bà-la-môn, ở Sa-la vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

 

440. Tividhaṃ kho gahapatayo kāyena adhammacariyāvisamacariyā hoti, catubbidhaṃ vācāya adhammacariyāvisamacariyā hoti, tividhaṃ manasā adhammacariyāvisamacariyā hoti.

 

-- Này các Gia chủ, có ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo, có ba loại ư hành phi pháp, phi chánh đạo.

 

Kathañca gahapatayo tividhaṃ kāyena adhammacariyāvisamacariyā hoti. Idha gahapatayo ekacco pāṇātipātī hoti, luddo (Luddo dāruṇo - Ka; ṭīkā oloketabbā) lohitapāṇi hatappahate niviṭṭho adayāpanno pāṇabhūtesu (Sabbapāṇabhūtesu - Syā, Kaṃ, Ka).

 

Này các Gia chủ, thế nào là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu t́nh.

 

Adinnādāyī kho pana hoti, yaṃ taṃ parassa paravittūpakaraṇaṃ gāmagataṃ vā araññagataṃ vā, taṃ adinnaṃ theyyasaṅkhātaṃ ādātā hoti.

 

Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật ǵ của người khác hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy.

 

Kāmesumicchācārī kho pana hoti, yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sassāmikā saparidaṇdā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu cārittaṃ āpajjitā hoti. Evaṃ kho gahapatayo tividhaṃ kāyena adhammacariyāvisamacariyā hoti.

 

Người ấy sống tà hạnh đối với các dục lạc, giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đă có chồng, được h́nh phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng ṿng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo.

 

Kathañca gahapatayo catubbidhaṃ vācāya adhammacariyāvisamacariyā hoti. Idha gahapatayo ekacco musāvādī hoti, sabhāgato vā parisāgato vā ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā abhinīto sakkhipuṭṭho “Ehambho purisa yaṃ jānāsi, taṃ vadehī”ti so ajānaṃ vā āha “Jānāmī”ti, jānaṃ vā āha “Na jānāmī”ti, apassaṃ vā āha “Passāmī”ti, passaṃ vā āha “Na passāmī”ti (So āha ajānaṃ vā ahaṃ jānāmīti jānaṃ vā ahaṃ na jānāmīti apassaṃ vā ahaṃ passāmīti passaṃ vā ahaṃ na passāmīti - Ka). Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā sampajānamusā bhāsitā hoti.

 

Này các Gia chủ, thế nào là bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hăy nói những ǵ Ông biết"; dầu cho người ấy không biết, người ấy nói: "Tôi biết"; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: "Tôi không biết"; hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy nói: "Tôi thấy"; hay dầu cho người ấy thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy". Như vậy, lời nói của người ấy trở thành cố ư vọng ngữ, hoặc v́ nguyên nhân tự kỷ, hoặc v́ nguyên nhân tha nhân, hoặc v́ nguyên nhân một vài quyền lợi ǵ.

 

Pisuṇavāco kho pana hoti, ito sutvā amutra akkhātā imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṃ akkhātā amūsaṃ bhedāya. Iti samaggānaṃ vā bhettā (Bhedakā - Ka; bhedetā - Syā, Kaṃ; tadaṭṭhakathāyaṃ pana bhettāti dissati) bhinnānaṃ vā anuppadātā, vaggārāmo vaggarato vagganandī vaggakaraṇiṃ vācaṃ bhāsitā hoti.

 

Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều ǵ ở chỗ này, đến chỗ kia, nói đễ sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều ǵ ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ ḥa hợp hay xúi dục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại.

 

Pharusavāco kho pana hoti. Yā sā vācā aṇdakā (Kaṇdakā - Ka) kakkasā parakaṭukā parābhisajjanī kodhasāmantā asamādhisaṃvattanikā, tathārūpiṃ vācaṃ bhāsitā hoti.

 

Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời ǵ thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy.

 

Samphappalāpī kho pana hoti. Akālavādī abhūtavādī anatthavādī adhammavādī avinayavādī, anidhānavatiṃ vācaṃ bhāsitā hoti akālena anapadesaṃ apariyantavatiṃ anatthasaṃhitaṃ. Evaṃ kho gahapatayo catubbidhaṃ vācāya adhammacariyāvisamacariyā hoti.

 

Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng ǵn giữ. V́ nói phi thời, nên lời nói không có thuận lư, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo.

 

Kathañca gahapatayo tividhaṃ manasā adhammacariyāvisamacariyā hoti. Idha gahapatayo ekacco abhijjhālu hoti. Yaṃ taṃ parassa paravittūpakaraṇaṃ, taṃ abhijjhātā hoti “Aho vata yaṃ parassa, taṃ mamassā”ti.

 

Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ư hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: "Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của ḿnh!"

 

Byāpannacitto kho pana hoti, paduṭṭhamanasaṅkappo “Ime sattā haññantu vā vajjhantu vā ucchijjantu vā vinassantu vā mā vā ahesun”ti (Mā vā ahesuṃ iti vāti - Sī, I, Ka).

 

Lại có người có tâm sân, khởi lên hại ư, hại niệm như sau: "Mong rằng những loài hữu t́nh này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không c̣n tồn tại!"

 

Micchādiṭṭhiko kho pana hoti viparītadassano “Natthi dinnaṃ, natthi yiṭṭhaṃ, natthi hutaṃ, natthi sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko, natthi ayaṃ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā, ye imañca lokaṃ parañca lokaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedentī”ti. Evaṃ kho gahapatayo tividhaṃ manasā adhammacariyāvisamacariyā hoti.

 

Lại có người có tà kiến, có tưởng điên đảo như: "Không có bố thí, không có kết quả của bố thí, không có tế lễ, không có cúng dường, các hành vi thiện ác, không có kết quả dị thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chính hành tŕ, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau". Như vậy, này các Gia chủ, là ba ư hành phi pháp, phi chánh đạo.

 

Evaṃ adhammacariyāvisamacariyāhetu kho gahapatayo evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ Nirayaṃ upapajjanti.
 

 

Như vậy do nhân hành phi pháp, hành phi chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu t́nh sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

 

441. Tividhaṃ kho gahapatayo kāyena dhammacariyāsamacariyā hoti. Catubbidhaṃ vācāya dhammacariyāsamacariyā hoti. Tividhaṃ manasā dhammacariyāsamacariyā hoti.

 

Này các Gia chủ, có ba loại thân hành đúng pháp, đúng chánh đạo, có bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo, có ba loại ư hành đúng pháp, đúng chánh đạo?

 

Kathañca gahapatayo tividhaṃ kāyena dhammacariyāsamacariyā hoti. Idha gahapatayo ekacco pāṇātipātaṃ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇdo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.

 

Này các Gia chủ, thế nào là ba loại thân hành đúng pháp, đúng thánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quư, có ḷng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu t́nh;

 

Adinnādānaṃ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti, yaṃ taṃ parassa paravittūpakaraṇaṃ gāmagataṃ vā araññagataṃ vā, taṃ nādinnaṃ theyyasaṅkhātaṃ ādātā hoti.

 

từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, bất cứ tài vật ǵ của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy;

 

Kāmesumicchācāraṃ pahāya kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sassāmikā saparidaṇdā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu na cārittaṃ āpajjitā hoti. Evaṃ kho gahapatayo tividhaṃ kāyena dhammacariyāsamacariyā hoti.

 

từ bỏ sống theo tà hạnh đối với các dục, không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đă có chồng, được h́nh phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng ṿng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành đúng pháp, đúng chánh đạo.

 

Kathañca gahapatayo catubbidhaṃ vācāya dhammacariyāsamacariyā hoti. Idha gahapatayo ekacco musāvādaṃ pahāya musāvādā paṭivirato hoti, sabhāgato vā parisāgato vā ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā abhinīto sakkhipuṭṭho “Ehambho purisa yaṃ jānāsi, taṃ vadehī”ti so ajānaṃ vā āha “Na jānāmī”ti, jānaṃ vā āha “Jānāmī”ti, apassaṃ vā āha “Na passāmī”ti, passaṃ vā āha “Passāmī”ti. Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā na sampajānamusā bhāsitā hoti.

 

Và này các Gia chủ, thế nào là bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hăy nói những ǵ Ông biết", nếu biết, người ấy nói: "Tôi biết"; nếu không biết, người ấy nói: "Tôi không biết"; hay nếu không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy"; nếu thấy, người ấy nói: "Tôi thấy". Như vậy, lời nói của người ấy không trở thành cố ư vọng ngữ, hoặc v́ nguyên nhân tự kỷ, hoặc v́ nguyên nhân tha nhân, hoặc v́ nguyên nhân một vài quyền lợi ǵ.

 

Pisuṇaṃ vācaṃ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṃ akkhātā amūsaṃ bhedāya, iti bhinnānaṃ vā sandhātā sahitānaṃ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṃ vācaṃ bhāsitā hoti.

 

Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều ǵ ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều ǵ ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia; như vậy, người ấy sống ḥa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ ḥa hợp, ưa thích ḥa hợp, vui thích ḥa hợp, thích thú ḥa hợp, nói những lời đưa đến ḥa hợp.

 

Pharusaṃ vācaṃ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti, yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā, tathārūpiṃ vācaṃ bhāsitā hoti.

 

Từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói nhu ḥa, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhă, đẹp ḷng nhiều người, vui ḷng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy.

 

Samphappalāpaṃ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṃ vācaṃ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṃ pariyantavatiṃ atthasaṃhitaṃ. Evaṃ kho gahapatayo catubbidhaṃ vācāya dhammacariyāsamacariyā hoti.

 

Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, người ấy nói những lời chân thật, nói những lời có ư nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được ǵn giữ. V́ nói hợp thời, nên lời nói thuận lư, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo.

 

Kathañca gahapatayo tividhaṃ manasā dhammacariyāsamacariyā hoti. Idha gahapatayo ekacco anabhijjhālu hoti, yaṃ taṃ parassa paravittūpakaraṇaṃ, taṃ nābhijjhātā hoti “Aho vata yaṃ parassa, taṃ mamassā”ti.

 

Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ư hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người không có tham ái, không tham lam tài vật của kẻ khác, không nghĩ rằng: "Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của ḿnh!"

 

Abyāpannacitto kho pana hoti appaduṭṭhamanasaṅkappo “Ime sattā averā abyābajjhā anīghā sukhī attānaṃ pariharantū”ti.

 

Lại có người không có tâm sân, không có khởi lên hại ư, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: "Mong rằng những loài hữu t́nh này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân!"

 

Sammādiṭṭhiko kho pana hoti aviparītadassano “Atthi dinnaṃ, atthi yiṭṭhaṃ, atthi hutaṃ, atthi sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko, atthi ayaṃ loko, atthi paro loko, atthi mātā, atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā, ye imañca lokaṃ parañca lokaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedentī”ti. Evaṃ kho gahapatayo tividhaṃ manasā dhammacariyāsamacariyā hoti.

 

Người ấy có chánh kiến, không có tưởng điên đảo, nghĩ rằng: "Có bố thí, có kết quả của bố thí, có tế lễ, có cúng dường, các hành vi thiện ác có kết quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời, có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành tŕ, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau". Như vậy, này các Gia chủ, có ba loại ư hành đúng pháp, đúng chánh đạo.

 

Evaṃ dhammacariyāsamacariyāhetu kho gahapatayo evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjanti.

 

Như vậy, do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu t́nh sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này.

 

442. Ākaṅkheyya ce gahapatayo dhammacārī samacārī “Aho vatāhaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā khattiyamahāsālānaṃ sahabyataṃ upapajjeyyan”ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati, yaṃ so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā khattiyamahāsālānaṃ sahabyataṃ upapajjeyya. Taṃ kissa hetu, tathā hi so dhammacārī samacārī.

 

Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: "Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sanh vào đại phú gia, vương tộc Sát-đế-lị!" Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào đại phú gia, vương tộc Sát-đế-lị. V́ sao vậy? V́ vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.

 

Ākaṅkheyya ce gahapatayo dhammacārī samacārī “Aho vatāhaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā brāhmaṇamahāsālānaṃ. Pa . Gahapatimahāsālānaṃ sahabyataṃ upapajjeyyan”ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati, yaṃ so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā gahapatimahāsālānaṃ sahabyataṃ upapajjeyya. Taṃ kissa hetu, tathā hi so dhammacārī samacārī.

 

Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: "Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sanh vào đại phú gia Bà-la-môn... đại phú gia gia chủ!" Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào đại phú gia gia chủ. V́ sao vậy? V́ vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.

 

Ākaṅkheyya ce gahapatayo dhammacārī samacārī “Aho vatāhaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā Cātumahārājikānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyyan”ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati, yaṃ so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā Cātumahārājikānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyya. Taṃ kissa hetu, tathā hi so dhammacārī samacārī.

 

Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: "Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sanh thân hữu với chư thiên Tứ thiên vương...

 

Ākaṅkheyya ce gahapatayo dhammacārī samacārī “Aho vatāhaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā Tāvatiṃsānaṃ devānaṃ. Pa .

 

với chư thiên cơi trời Ba mươi ba...

 

Yāmānaṃ devānaṃ. Pa . Tusitānaṃ devānaṃ. Pa . Nimmānaratīnaṃ devānaṃ. Pa . Paranimmitavasavattīnaṃ devānaṃ. Pa . Brahmakāyikānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyyan”ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati, yaṃ so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā brahmakāyikānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyya. Taṃ kissa hetu, tathā hi so dhammacārī samacārī.

 

với chư thiên Dạ ma... với chư thiên Đâu-suất-đà... với chư thiên Hóa lạc... với chư thiên Tha hóa tự tại... với chư thiên Phạm chúng...

 

Ākaṅkheyya ce gahapatayo dhammacārī samacārī “Aho vatāhaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā ābhānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyyan”ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati, yaṃ so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā ābhānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyya. Taṃ kissa hetu, tathā hi so dhammacārī samacārī.

 

với chư thiên Quang thiên...

 

Ākaṅkheyya ce gahapatayo dhammacārī samacārī “Aho vatāhaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā Parittābhānaṃ devānaṃ. Pa . Appamāṇābhānaṃ devānaṃ. Pa . Ābhassarānaṃ devānaṃ. Pa . Parittasubhānaṃ devānaṃ. Pa . Appamāṇasubhānaṃ devānaṃ. Pa . Subhakiṇhānaṃ devānaṃ. Pa . Vehapphalānaṃ devānaṃ. Pa . Avihānaṃ devānaṃ. Pa . Atappānaṃ devānaṃ. Pa . Sudassānaṃ devānaṃ. Pa . Sudassīnaṃ devānaṃ. Pa . Akaniṭṭhānaṃ devānaṃ. Pa . Ākāsānañcāyatanūpagānaṃ devānaṃ. Pa . Viññāṇañcāyatanūpagānaṃ devānaṃ. Pa . Ākiñcaññāyatanūpagānaṃ devānaṃ. Pa . Nevasaññānāsaññāyatanūpagānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyyan”ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati, yaṃ so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā nevasaññānāsaññāyatanūpagānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjeyya. Taṃ kissa hetu, tathā hi so dhammacārī samacārī.

 

với chư thiên Thiểu Quang thiên... với chư thiên Vô lượng quang thiên... với chư thiên Quang âm thiên... với chư thiên Tịnh thiên... với chư thiên Thiểu tịnh thiên... với chư thiên Vô lượng tịnh thiên... với chư thiên Biến tịnh thiên... với chư thiên Quảng quả thiên... với chư thiên Vô phiền thiên... với chư thiên Vô nhiệt thiên... với chư thiên Thiện hiện thiên... với chư thiên Thiện kiến thiên... với chư thiên Sắc cứu kính thiên... với chư thiên Hư không vô biên xứ thiên... với chư thiên Thức Vô biên xứ thiên... với chư thiên Vô sở hữu xứ thiên... với chư thiên Phi tưởng Phi phi tưởng xứ thiên!" Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh thân hữu với chư thiên Phi tưởng Phi phi tưởng xứ thiên. V́ sao vậy? V́ vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.

 

Ākaṅkheyya ce gahapatayo dhammacārī samacārī “Aho vatāhaṃ āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan”ti. Ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati, yaṃ so āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya. Taṃ kissa hetu, tathā hi so dhammacārī samacārīti.

 

Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: "Ôi, mong rằng, với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí, ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu !" Sự kiện này xảy ra, vị ấy với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu. V́ sao vậy? V́ vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.

 

443. Evaṃ vutte Sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā Bhagavantaṃ etadavocuṃ

 

Khi nghe nói vậy, các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la bạch Thế Tôn:

 

“Abhikkantaṃ bho Gotama, abhikkantaṃ bho Gotama, seyyathāpi bho Gotama nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya ‘Cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti. Evamevaṃ bhotā Gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṃ bhavantaṃ Gotamaṃ saraṇaṃ gacchāma dhammañca bhikkhusaṃghañca. Upāsake no bhavaṃ Gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete (Pāṇupetaṃ - Ka) saraṇaṃ gate”ti.

 

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vị diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những ǵ bị quăng ngă xuống, phơi bày những ǵ bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đă được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện để tŕnh bày. Và nay chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng, mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng!

 

Sāleyyakasuttaṃ niṭṭhitaṃ paṭhamaṃ.

 
 

<Kinh số 040>

<Kinh số 042>

 
| Mục lục Trung Bộ I | Mục lục Trung Bộ II | Mục lục Trung Bộ III |
 

<Đầu Trang>