Trang Chính

Majjhimanikāya & Trung Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

MAJJHIMANIKĀYA & TRUNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Monday, December 24, 2012

 

037. CŪḶATAHĀSAṄKHAYASUTTAṂ 

 

037. CŪḶATAHĀSAKHAYASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

037. TIỂU KINH ĐOAN TẬN ÁI - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

390. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Pubbārāme Migāramātupāsāde.

Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Đông Viên (Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatu).

 

Atha kho sakko devānamindo yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi, ekamantaṃ ṭhito kho sakko devānamindo Bhagavantaṃ etadavoca

 

Rồi Thiên chủ Sakka đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Thiên chủ Sakka đứng một bên, bạch Thế Tôn:

 

“Kittāvatā nu kho bhante bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.

 

-- Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên măn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?

 

Idha devānaminda bhikkhuno sutaṃ hoti “Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā”ti, evaṃ cetaṃ devānaminda bhikkhuno sutaṃ hoti “Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā”ti. So sabbaṃ dhammaṃ abhijānāti, sabbaṃ dhammaṃ abhiññāya sabbaṃ dhammaṃ parijānāti, sabbaṃ dhammaṃ pariññāya yaṃ kiñci vedanaṃ vedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto virāgānupassī viharanto nirodhānupassī viharanto paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci loke upādiyati, anupādiyaṃ na paritassati, aparitassaṃ paccattaññeva parinibbāyati, “Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti pajānāti. Ettāvatā kho devānaminda bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānanti.

 

-- Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp". Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp", vị ấy biết rơ tất cả pháp. Sau khi biết rơ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật ǵ ở đời; do không chấp trước nên không phiền năo, do không phiền năo, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: "Sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, những việc cần làm đă làm, không c̣n trở lại đời này nữa". Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-Kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên măn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người.

 

Atha kho sakko devānamindo Bhagavato bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā Bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyi.

 

Rồi Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết giảng, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

 

391. Tena kho pana samayena āyasmā Mahāmoggallāno Bhagavato avidūre nisinno hoti. Atha kho āyasmato Mahāmoggallānassa etadahosi “Kiṃ nu kho so yakkho Bhagavato bhāsitaṃ abhisamecca anumodi, udāhu no. Yaṃnūnāhaṃ taṃ yakkhaṃ jāneyyaṃ yadi vā so yakkho Bhagavato bhāsitaṃ abhisamecca anumodi, yadi vā no”ti.

 

Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Moggallana (Đại Mục-kiền liên) ngồi cách Thế Tôn không xa. Rồi Tôn giả Maha Moggallana suy nghĩ: "Không hiểu Dạ-xoa (Yakkaha) kia, sau khi hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, có tín thọ hay không? Ta hăy t́m biết Dạ- xoa kia, sau khi hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, có tín thọ hay không?"

 

Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya. Evameva Pubbārāme Migāramātupāsāde antarahito devesu Tāvatiṃsesu pāturahosi.

 

Rồi Tôn giả Maha Moggallana, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất ở Đông Viên Lộc Mẫu giảng đường và hiện ra ở giữa chư thiên cơi trời Ba mươi ba.

 

Tena kho pana samayena sakko devānamindo Ekapuṇdarīke uyyāne dibbehi pañcahi tūriyasatehi (Bhoto kho pana - Sī) samappito samaṅgībhūto paricāreti. Addasā kho sakko devānamindo āyasmantaṃ Mahāmoggallānaṃ dūratova āgacchantaṃ, disvāna tāni dibbāni pañca tūriyasatāni paṭippaṇāmetvā yenāyasmā Mahāmoggallāno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ Mahāmoggallānaṃ etadavoca “Ehi kho mārisa Moggallāna, svāgataṃ mārisa Moggallāna, cirassaṃ kho mārisa Moggallāna imaṃ pariyāyaṃ akāsi, yadidaṃ idhāgamanāya. Nisīda mārisa Moggallāna, idamāsanaṃ paññattan”ti.

 

Lúc bấy giờ Thiên chủ Sakka, với đầy đủ năm trăm nhạc khí chư thiên, đang vui chơi tại vườn Nhất bạch liên. Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Maha Moggallana từ xa đến, bảo năm trăm nhạc khí chư thiên dừng nghỉ, đi đến Tôn giả Maha Moggallana, sau khi đến, thưa với Tôn giả Maha Moggallana: "Hăy đến đây, Thiện hữu Moggallana; thiện lai, Thiện hữu Moggallana! Này Thiện Hữu Moggallana, lâu lắm Thiện hữu mới có dịp đến đây. Hăy ngồi, Thiện hữu Moggallana, trên chỗ đă soạn sẵn".

 

Nisīdi kho āyasmā Mahāmoggallāno paññatte āsane. Sakkopi kho devānamindo aññataraṃ nīcaṃ āsanaṃ gahetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho sakkaṃ devānamindaṃ āyasmā Mahāmoggallāno etadavoca

 

Tôn giả Mahamoggallana, ngồi xuống trên chỗ đă soạn sẵn. C̣n Thiên chủ Sakka lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Mahamoggallana nói với Thiên chủ Sakka đang ngồi xuống một bên:

 

“Yathā kathaṃ pana kho Kosiya Bhagavā saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ abhāsi, sādhu mayampi etissā kathāya bhāgino assāma savanāyā”ti.

 

-- Này Kosiya, về lời thuyết giảng mà Thế Tôn đă nói cho Ông một cách tóm tắt, thật tốt lành cho chúng tôi, nếu được nghe chỉ một phần lời thuyết giảng ấy.

 

392. Mayaṃ kho mārisa Moggallāna bahukiccā bahukaraṇīyā appeva sakena karaṇīyena, api ca devānaṃyeva tāvatiṃsānaṃ karaṇīyena. Api ca mārisa Moggallāna sussutaṃyeva hoti suggahitaṃ sumanasikataṃ sūpadhāritaṃ, yaṃ no khippameva antaradhāyati. Bhūtapubbaṃ mārisa Moggallāna devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho (Samūpabyuḷho - Syā, Kaṃ; samūpabbūḷho - Sī) ahosi. Tasmiṃ kho pana mārisa Moggallāna saṅgāme devā jiniṃsu asurā parājiniṃsu. So kho ahaṃ mārisa Moggallāna taṃ saṅgāmaṃ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo, tato paṭinivattitvā Vejayantaṃ nāma pāsādaṃ māpesiṃ. Vejayantassa kho mārisa Moggallāna pāsādassa ekasataṃ niyyūhaṃ, ekekasmiṃ niyyūhe sattasatta kūṭāgārasatāni, ekamekasmiṃ kūṭāgāre sattasatta accharāyo, ekamekissā accharāya sattasatta paricārikāyo. Iccheyyāsi no tvaṃ mārisa Moggallāna Vejayantassa pāsādassa rāmaṇeyyakaṃ daṭṭhunti.

 

-- Thiện hữu Moggallana, chúng tôi bận nhiều công việc, chúng tôi có nhiều việc phải làm, việc làm cho chúng tôi và việc làm cho chư thiên ở cơi trời Ba mươi ba. Lại nữa, này Thiện hữu Moggallana, lời thuyết giảng ấy được khéo nghe, khéo nắm vững , khéo suy tư, khéo thẩm lự nên không thể mau quên được. Này Thiện hữu Moggallana, xưa kia phát khởi chiến tranh giữa chư Thiên và chúng Asura (A-tu-la). Này Thiện hữu Moggallana, trong trận chiến này, chư Thiên thắng, chúng Asura bại. Này thiện hữu Moggallana, sau khi thắng trận chiến ấy và nhân dịp thắng trận, chúng tôi, sau khi trở về, cho xây dựng một lâu đài tên là Vejayanta (Tối Thắng Điện). Này Thiện hữu Moggallana, lâu đài Vejayanta có đến một trăm vọng tháp, trong mỗi vọng tháp có bảy ngôi nhà có h́nh tam giác, trong mỗi nhà tam giác có bảy tiên nữ, và mỗi tiên nữ có đến bảy thị nữ. Này thiện hữu Moggallana, Thiện hữu có muốn xem những điều khả ái của lâu đài Vejayanta không?

 

Adhivāsesi kho āyasmā Mahāmoggallāno tuṇhībhāvena.

 

Tôn giả Maha Moggallana im lặng nhận lời.

 

393. Atha kho sakko ca devānamindo Vessavaṇo ca mahārājā āyasmantaṃ Mahāmoggallānaṃ purakkhatvā yena Vejayanto pāsādo tenupasaṅkamiṃsu. Addasaṃsu kho sakkassa devānamindassa paricārikāyo āyasmantaṃ Mahāmoggallānaṃ dūratova āgacchantaṃ, disvā ottappamānā hirīyamānā sakaṃ sakaṃ ovarakaṃ pavisiṃsu, seyyathāpi nāma suṇisā sasuraṃ disvā ottappati hirīyati. Evameva sakkassa devānamindassa paricārikāyo āyasmantaṃ Mahāmoggallānaṃ disvā ottappamānā hirīyamānā sakaṃ sakaṃ ovarakaṃ pavisiṃsu.

 

Rồi Thiên chủ Sakka cùng với đại vương Vessavana để Tôn giả Maha Moggallana đi trước và đi đến lâu đài Vejayanta. Các thị nữ của Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Maha Moggallana đi từ xa đến, sau khi thấy, liền hổ thẹn, bẽn lẽn, rồi bước vào pḥng của ḿnh. Ví như cô dâu khi thấy cha chồng liền hổ thẹn, bẽn lẽn; cũng như vậy, các thị nữ của Thiên chủ Sakka, khi thấy Tôn giả Maha Moggallana liền hổ thẹn, bẽn lẽn, vào pḥng riêng của ḿnh.

 

Atha kho sakko ca devānamindo Vessavaṇo ca mahārājā āyasmantaṃ Mahāmoggallānaṃ Vejayante pāsāde anucaṅkamāpenti anuvicarāpenti. Idampi mārisa Moggallāna passa Vejayantassa pāsādassa rāmaṇeyyakaṃ, idampi mārisa Moggallāna passa Vejayantassa pāsādassa rāmaṇeyyakanti. Sobhati idaṃ āyasmato Kosiyassa, yathā taṃ pubbe katapuññassa. Manussāpi kiñcideva rāmaṇeyyakaṃ disvā (Diṭṭhā - Sī, I, Ka) evamāhaṃsu “Sobhati vata bho yathā devānaṃ Tāvatiṃsānan”ti. Tayidaṃ āyasmato Kosiyassa sobhati, yathā taṃ pubbe katapuññassāti. Atha kho āyasmato Mahāmoggallānassa etadahosi “Atibāḷhaṃ kho ayaṃ yakkho pamatto viharati. Yaṃnūnāhaṃ imaṃ yakkhaṃ saṃvejeyyan”ti.

 

Rồi Thiên chủ Sakka và đại vương Vessavana đưa Tôn giả Maha Moggallana đi thăm và xem khắp lâu đài Vejayanta: "Này Thiện hữu Moggallana, xem điều khả ái này của lâu đài Vejayanta; xem điều khả ái này của lâu đài Vejayanta. Cái này chói sáng nhờ các công đức do Tôn giả Kosiya đă làm thời xưa; và loài Người, khi thấy cái ǵ khả ái liền nói: 'Thật sự, cái này chói sáng từ chư thiên cơi trời Ba mươi ba. Cái này chói sáng nhờ các công đức do Tôn giả Kosiya đă làm thời xưa'". Rồi Tôn giả Maha Moggallana suy nghĩ: "Dạ-xoa này sống phóng dật một cách quá đáng. Ta hăy làm cho vị này hoảng sợ".

 

Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhāsi (Abhisaṅkhāresi - Ka; abhisaṅkhāreti - Syā, Kaṃ). Yathā Vejayantaṃ pāsādaṃ pādaṅguṭṭhakena saṅkampesi sampakampesi sampavedhesi. Atha kho sakko ca devānamindo Vessavaṇo ca mahārājā devā ca Tāvatiṃsā acchariyabbhutacittajātā ahesuṃ “Acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata bho samaṇassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. Yatra hi nāma dibbabhavanaṃ pādaṅguṭṭhakena saṅkampessati sampakampessati sampavedhessatī”ti.

 

Tôn giả Maha Moggallana liền thị hiện thần thông lực, dùng ngón chân cái làm cho lầu Vejayanta rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Thiên chủ Sakka, đại vương Sessavana và chư thiên ở cơi trời Ba mươi ba, tâm cảm thấy kỳ diệu, hy hữu: "Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay đại thần thông lực, đại oai lực của Tôn giả Sa-môn! Với ngón chân cái, vị này làm cho thiên cung này rung động, chuyển động, chấn động mạnh!"

 

Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno sakkaṃ devānamindaṃ saṃviggaṃ lomahaṭṭhajātaṃ viditvā sakkaṃ devānamindaṃ etadavoca

 

Tôn giả Mahamoggallana sau khi biết Thiên chủ Sakka đă hoảng sợ, lông tóc dựng ngược liền nói với Thiên chủ Sakka:

 

“Yathā kathaṃ pana kho Kosiya Bhagavā saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ abhāsi, sādhu mayampi etissā kathāya bhāgino assāma savanāyā”ti.

 

-- Này Kosiya, về lời thuyết giảng mà Thế Tôn đă nói cho Ông một cách tóm tắt, thật tốt lành cho chúng tôi, nếu được nghe chỉ một phần lời thuyết giảng ấy.

 

394. Idhāhaṃ mārisa Moggallāna yena Bhagavā tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsiṃ, ekamantaṃ ṭhito kho ahaṃ mārisa Moggallāna Bhagavantaṃ etadavocaṃ

 

-- Ở đây, này Thiện hữu Moggallana, tôi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Này Thiện hữu Moggallana, sau khi đứng một bên, tôi bạch với Thế Tôn như sau:

 

“Kittāvatā nu kho bhante bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.

 

"-- Bạch Thế Tôn, một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo là ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên măn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?

 

Evaṃ vutte mārisa Moggallāna Bhagavā maṃ etadavoca

 

Khi nghe nói vậy, này Thiện hữu Moggallana, Thế Tôn nói với tôi như sau:

 

“Idha devānaminda bhikkhuno sutaṃ hoti ‘Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā’ti. Evaṃ cetaṃ devānaminda bhikkhuno sutaṃ hoti ‘Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā’ti, so sabbaṃ dhammaṃ abhijānāti, sabbaṃ dhammaṃ abhiññāya sabbaṃ dhammaṃ parijānāti, sabbaṃ dhammaṃ pariññāya yaṃ kiñci vedanaṃ vedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto virāgānupassī viharanto nirodhānupassī viharanto paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci loke upādiyati, anupādiyaṃ na paritassati, aparitassaṃ paccattaññeva parinibbāyati, ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāti. Ettāvatā kho devānaminda bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.

 

"-- Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp"". Vị ấy biết rơ tất cả pháp. Sau khi biết rơ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp". Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước một vật ǵ ở đời; do không chấp trước nên không phiền năo; do không phiền năo, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: "Sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, những việc cần làm đă làm, không c̣n trở lại đời này nữa". "Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên măn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người".

 

Evaṃ kho me mārisa Moggallāna Bhagavā saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ abhāsīti.

 

Như vậy, này Thiện hữu Moggallana, Thế Tôn nói một cách tóm tắt cho tôi về ái tận giải thoát. "

 

Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno sakkassa devānamindassa bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya. Evameva devesu tāvatiṃsesu antarahito Pubbārāme Migāramātupāsāde pāturahosi.

 

Rồi Tôn giả Maha Moggallana, sau khi hoan hỷ, tín cho lời Thiên chủ Sakka nói, như một nhà lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất giữa chư thiên ở cơi trời Ba mươi ba, và hiện ra tại Đông Viên Lộc Mẫu giảng đường.

 

Atha kho sakkassa devānamindassa paricārikāyo acirapakkante āyasmante Mahāmoggallāne sakkaṃ devānamindaṃ etadavocuṃ

 

Sau khi Tôn giả Mahamoggallana đi chẳng bao lâu, các thị nữ của Thiên chủ Sakka nói với Thiên chủ Sakka như sau:

 

“Eso nu te mārisa so Bhagavā satthā”ti.

 

-- Thưa Thiên chủ, có phải vị ấy là Thế Tôn, bậc Đạo sư của Thiên chủ?

 

Na kho me mārisa so Bhagavā satthā, sabrahmacārī me eso āyasmā Mahāmoggallānoti.

 

-- Không, vị ấy không phải là Thế Tôn, bậc Đạo Sư của ta. Vị ấy là đồng phạm hạnh với ta, Tôn giả Maha Moggallana.

 

Lābhā te mārisa, (suladdhaṃ te mārisa ) (Natthi - Sī, I), yassa te sabrahmacāri evaṃmahiddhiko evaṃmahānubhāvo, aho nūna te so Bhagavā satthāti.

 

-- Thưa Thiên chủ, thật là điều tốt lành cho Thiên chủ, có một vị đồng phạm hạnh có đại thần thông, có đại oai lực như vậy. Chắc chắn vị ấy là Thế Tôn, bậc Đạo Sư của Thiên chủ.

 

395. Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho āyasmā Mahāmoggallāno Bhagavantaṃ etadavoca

 

Rồi Tôn giả Maha Moggallana đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Maha Moggallana bạch Thế Tôn:

 

“Abhijānāti no bhante Bhagavā ahu (Ahunaññeva - Sī, Syā, Kaṃ) ñātaññatarassa mahesakkhassa yakkhassa saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ bhāsitā”ti (Abhāsitthāti - Ka).

 

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết chăng, Thế Tôn vừa mới nói về ái tận giải thoát một cách tóm tắt cho một Dạ-xoa có đại oai lực?

 

Abhijānāmahaṃ Moggallāna, idha sakko devānamindo yenāhaṃ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi, ekamantaṃ ṭhito kho Moggallāna sakko devānamindo maṃ etadavoca

 

-- Này Moggallana, Ta biết. Ở đây, Thiên chủ Sakka đến tại chỗ Ta ở, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, này Moggallana, Thiên chủ Sakka bạch với Ta:

 

“Kittāvatā nu kho bhante bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.

 

"-- Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên măn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?

 

Evaṃ vutte ahaṃ Moggallāna sakkaṃ devānamindaṃ etadavocaṃ

 

Khi nghe nói vậy, này Maha Moggallana, Ta nói với Thiên chủ Sakka:

 

“Idha devānaminda bhikkhuno sutaṃ hoti ‘Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā’ti. Evaṃ cetaṃ devānaminda bhikkhuno sutaṃ hoti ‘Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā’ti. So sabbaṃ dhammaṃ abhijānāti, sabbaṃ dhammaṃ abhiññāya sabbaṃ dhammaṃ parijānāti, sabbaṃ dhammaṃ pariññāya yaṃ kiñci vedanaṃ vedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto virāgānupassī viharanto nirodhānupassī viharanto paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci loke upādiyati, anupādiyaṃ na paritassati, aparitassaṃ paccattaññeva parinibbāyati, ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāti. Ettāvatā kho devānaminda bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.

 

"-- Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp". Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng nếu có thiên vị đối với tất cả pháp". Vị ấy biết rơ tất cả pháp. Sau khi biết rơ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước một vật ǵ ở đời. Do không chấp trước nên không phiền năo, do không phiền năo, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: "Sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, những việc cần làm đă làm, không c̣n trở lại đời này nữa". Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn, khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên măn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người".

 

Evaṃ kho ahaṃ Moggallāna abhijānāmi “Sakkassa devānamindassa saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ bhāsitā”ti (Abhāsitthāti - Ka).

 

Như vậy, này Moggallana, Ta biết Ta vừa nói một cách tóm tắt về ái tận giải thoát cho Thiên chủ Sakka."

 

Idamavoca Bhagavā. Attamano āyasmā Mahāmoggallāno Bhagavato bhāsitaṃ abhinandīti.

 

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Maha Moggallana hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

 

Cūḷataṇhāsaṅkhayasuttaṃ niṭṭhitaṃ sattamaṃ.

 
 

<Kinh số 036>

<Kinh số 038>

 
| Mục lục Trung Bộ I | Mục lục Trung Bộ II | Mục lục Trung Bộ III |
 

<Đầu Trang>