|
037. CŪḶATAHĀSAṄKHAYASUTTAṂ
|
|
037. CŪḶATAHĀSAṄKHAYASUTTAṂ
- Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
037. TIỂU KINH ĐOAN TẬN ÁI - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
390. Evaṃ me
sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Pubbārāme
Migāramātupāsāde.
|
Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn ở tại Savatthi
(Xá-vệ), Đông Viên (Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu
(Migaramatu).
|
|
Atha kho sakko devānamindo yena Bhagavā
tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ
aṭṭhāsi, ekamantaṃ ṭhito kho sakko devānamindo Bhagavantaṃ
etadavoca
|
Rồi Thiên chủ Sakka đến tại chỗ
Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Thiên
chủ Sakka đứng một bên, bạch Thế Tôn:
|
|
“Kittāvatā nu kho bhante bhikkhu saṃkhittena
taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī
accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, nói một cách
tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh
thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh,
cứu cánh viên măn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?
|
|
Idha devānaminda
bhikkhuno sutaṃ hoti “Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā”ti, evaṃ
cetaṃ devānaminda bhikkhuno sutaṃ hoti “Sabbe dhammā nālaṃ
abhinivesāyā”ti. So sabbaṃ dhammaṃ abhijānāti, sabbaṃ dhammaṃ
abhiññāya sabbaṃ dhammaṃ parijānāti, sabbaṃ dhammaṃ pariññāya
yaṃ kiñci vedanaṃ vedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ
vā. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī
viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati.
So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto virāgānupassī viharanto
nirodhānupassī viharanto paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci
loke upādiyati, anupādiyaṃ na paritassati, aparitassaṃ
paccattaññeva parinibbāyati, “Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ,
kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti pajānāti. Ettāvatā kho
devānaminda bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti
accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī
accantapariyosāno seṭṭho devamanussānanti.
|
-- Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo
được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối
với tất cả pháp". Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe như sau:
"Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp", vị
ấy biết rơ tất cả pháp. Sau khi biết rơ tất cả pháp, vị ấy biết
một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả
pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất
lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham,
sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ
ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham,
sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ
ấy, nên không chấp trước một vật ǵ ở đời; do không chấp trước
nên không phiền năo, do không phiền năo, vị ấy chứng đạt
Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: "Sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, những
việc cần làm đă làm, không c̣n trở lại đời này nữa". Này Thiên
chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-Kheo ái tận
giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách,
cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên măn, bậc tối thắng giữa chư
Thiên và loài Người.
|
|
Atha kho sakko devānamindo Bhagavato bhāsitaṃ
abhinanditvā anumoditvā Bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ
katvā tatthevantaradhāyi.
|
Rồi Thiên chủ Sakka, sau khi
hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết giảng, đảnh lễ Thế Tôn, thân
bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ. |
|
391. Tena kho pana samayena āyasmā Mahāmoggallāno
Bhagavato avidūre nisinno hoti. Atha kho āyasmato
Mahāmoggallānassa etadahosi “Kiṃ nu kho so yakkho Bhagavato
bhāsitaṃ abhisamecca anumodi, udāhu no. Yaṃnūnāhaṃ taṃ yakkhaṃ
jāneyyaṃ yadi vā so yakkho Bhagavato bhāsitaṃ abhisamecca
anumodi, yadi vā no”ti. |
Lúc bấy giờ, Tôn giả
Maha Moggallana (Đại Mục-kiền liên) ngồi cách Thế Tôn không xa.
Rồi Tôn giả Maha Moggallana suy nghĩ: "Không hiểu Dạ-xoa
(Yakkaha) kia, sau khi hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, có tín thọ hay
không? Ta hăy t́m biết Dạ- xoa kia, sau khi hoan hỷ lời Thế Tôn
dạy, có tín thọ hay không?"
|
|
Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno
seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya,
pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya. Evameva Pubbārāme
Migāramātupāsāde antarahito devesu Tāvatiṃsesu pāturahosi.
|
Rồi Tôn giả Maha Moggallana, như
người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang
duỗi ra, biến mất ở Đông Viên Lộc Mẫu giảng đường và hiện ra ở
giữa chư thiên cơi trời Ba mươi ba.
|
|
Tena
kho pana samayena sakko devānamindo Ekapuṇdarīke uyyāne dibbehi
pañcahi tūriyasatehi (Bhoto
kho pana - Sī)
samappito
samaṅgībhūto paricāreti. Addasā kho sakko devānamindo āyasmantaṃ
Mahāmoggallānaṃ dūratova āgacchantaṃ, disvāna tāni dibbāni pañca
tūriyasatāni paṭippaṇāmetvā yenāyasmā Mahāmoggallāno
tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ Mahāmoggallānaṃ
etadavoca “Ehi kho mārisa Moggallāna, svāgataṃ mārisa
Moggallāna, cirassaṃ kho mārisa Moggallāna imaṃ pariyāyaṃ akāsi,
yadidaṃ idhāgamanāya. Nisīda mārisa Moggallāna, idamāsanaṃ
paññattan”ti. |
Lúc bấy giờ Thiên chủ Sakka, với
đầy đủ năm trăm nhạc khí chư thiên, đang vui chơi tại vườn Nhất
bạch liên. Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Maha Moggallana từ xa
đến, bảo năm trăm nhạc khí chư thiên dừng nghỉ, đi đến Tôn giả
Maha Moggallana, sau khi đến, thưa với Tôn giả Maha Moggallana:
"Hăy đến đây, Thiện hữu Moggallana; thiện lai, Thiện hữu
Moggallana! Này Thiện Hữu Moggallana, lâu lắm Thiện hữu mới có
dịp đến đây. Hăy ngồi, Thiện hữu Moggallana, trên chỗ đă soạn
sẵn".
|
|
Nisīdi kho āyasmā Mahāmoggallāno paññatte āsane.
Sakkopi kho devānamindo aññataraṃ nīcaṃ āsanaṃ gahetvā ekamantaṃ
nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho sakkaṃ devānamindaṃ āyasmā
Mahāmoggallāno etadavoca |
Tôn giả Mahamoggallana, ngồi
xuống trên chỗ đă soạn sẵn. C̣n Thiên chủ Sakka lấy một ghế thấp
khác và ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Mahamoggallana nói với
Thiên chủ Sakka đang ngồi xuống một bên:
|
|
“Yathā kathaṃ pana kho Kosiya Bhagavā
saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ abhāsi, sādhu mayampi etissā
kathāya bhāgino assāma savanāyā”ti.
|
-- Này Kosiya, về lời thuyết
giảng mà Thế Tôn đă nói cho Ông một cách tóm tắt, thật tốt lành
cho chúng tôi, nếu được nghe chỉ một phần lời thuyết giảng ấy.
|
|
392. Mayaṃ kho mārisa Moggallāna bahukiccā
bahukaraṇīyā appeva sakena karaṇīyena, api ca devānaṃyeva
tāvatiṃsānaṃ karaṇīyena. Api ca mārisa Moggallāna sussutaṃyeva
hoti suggahitaṃ sumanasikataṃ sūpadhāritaṃ, yaṃ no khippameva
antaradhāyati. Bhūtapubbaṃ mārisa Moggallāna devāsurasaṅgāmo
samupabyūḷho (Samūpabyuḷho
- Syā, Kaṃ; samūpabbūḷho - Sī)
ahosi. Tasmiṃ kho pana mārisa Moggallāna saṅgāme devā jiniṃsu
asurā parājiniṃsu. So kho ahaṃ mārisa Moggallāna taṃ saṅgāmaṃ
abhivijinitvā vijitasaṅgāmo, tato paṭinivattitvā Vejayantaṃ nāma
pāsādaṃ māpesiṃ. Vejayantassa kho mārisa Moggallāna pāsādassa
ekasataṃ niyyūhaṃ, ekekasmiṃ niyyūhe sattasatta kūṭāgārasatāni,
ekamekasmiṃ kūṭāgāre sattasatta accharāyo, ekamekissā accharāya
sattasatta paricārikāyo. Iccheyyāsi no tvaṃ mārisa Moggallāna
Vejayantassa pāsādassa rāmaṇeyyakaṃ daṭṭhunti.
|
-- Thiện hữu Moggallana, chúng
tôi bận nhiều công việc, chúng tôi có nhiều việc phải làm, việc
làm cho chúng tôi và việc làm cho chư thiên ở cơi trời Ba mươi
ba. Lại nữa, này Thiện hữu Moggallana, lời thuyết giảng ấy được
khéo nghe, khéo nắm vững , khéo suy tư, khéo thẩm lự nên không
thể mau quên được. Này Thiện hữu Moggallana, xưa kia phát khởi
chiến tranh giữa chư Thiên và chúng Asura (A-tu-la). Này Thiện
hữu Moggallana, trong trận chiến này, chư Thiên thắng, chúng
Asura bại. Này thiện hữu Moggallana, sau khi thắng trận chiến ấy
và nhân dịp thắng trận, chúng tôi, sau khi trở về, cho xây dựng
một lâu đài tên là Vejayanta (Tối Thắng Điện). Này Thiện hữu
Moggallana, lâu đài Vejayanta có đến một trăm vọng tháp, trong
mỗi vọng tháp có bảy ngôi nhà có h́nh tam giác, trong mỗi nhà
tam giác có bảy tiên nữ, và mỗi tiên nữ có đến bảy thị nữ. Này
thiện hữu Moggallana, Thiện hữu có muốn xem những điều khả ái
của lâu đài Vejayanta không?
|
|
Adhivāsesi kho
āyasmā Mahāmoggallāno tuṇhībhāvena.
|
Tôn giả Maha Moggallana im lặng
nhận lời. |
|
393. Atha kho sakko ca devānamindo Vessavaṇo ca
mahārājā āyasmantaṃ Mahāmoggallānaṃ purakkhatvā yena Vejayanto
pāsādo tenupasaṅkamiṃsu. Addasaṃsu kho sakkassa devānamindassa
paricārikāyo āyasmantaṃ Mahāmoggallānaṃ dūratova āgacchantaṃ,
disvā ottappamānā hirīyamānā sakaṃ sakaṃ ovarakaṃ pavisiṃsu,
seyyathāpi nāma suṇisā sasuraṃ disvā ottappati hirīyati. Evameva
sakkassa devānamindassa paricārikāyo āyasmantaṃ Mahāmoggallānaṃ
disvā ottappamānā hirīyamānā sakaṃ sakaṃ ovarakaṃ pavisiṃsu.
|
Rồi Thiên chủ Sakka cùng với đại vương Vessavana để
Tôn giả Maha Moggallana đi trước và đi đến lâu đài Vejayanta.
Các thị nữ của Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Maha Moggallana đi
từ xa đến, sau khi thấy, liền hổ thẹn, bẽn lẽn, rồi bước vào
pḥng của ḿnh. Ví như cô dâu khi thấy cha chồng liền hổ thẹn,
bẽn lẽn; cũng như vậy, các thị nữ của Thiên chủ Sakka, khi thấy
Tôn giả Maha Moggallana liền hổ thẹn, bẽn lẽn, vào pḥng riêng
của ḿnh.
|
|
Atha kho sakko ca devānamindo Vessavaṇo ca mahārājā āyasmantaṃ
Mahāmoggallānaṃ Vejayante pāsāde anucaṅkamāpenti anuvicarāpenti.
Idampi mārisa Moggallāna passa Vejayantassa pāsādassa
rāmaṇeyyakaṃ, idampi mārisa Moggallāna passa Vejayantassa
pāsādassa rāmaṇeyyakanti. Sobhati idaṃ āyasmato Kosiyassa, yathā
taṃ pubbe katapuññassa. Manussāpi kiñcideva rāmaṇeyyakaṃ disvā (Diṭṭhā
- Sī, I, Ka)
evamāhaṃsu “Sobhati vata bho yathā devānaṃ Tāvatiṃsānan”ti.
Tayidaṃ āyasmato Kosiyassa sobhati, yathā taṃ pubbe
katapuññassāti. Atha kho āyasmato Mahāmoggallānassa etadahosi
“Atibāḷhaṃ kho ayaṃ yakkho pamatto viharati. Yaṃnūnāhaṃ imaṃ
yakkhaṃ saṃvejeyyan”ti. |
Rồi Thiên chủ Sakka và đại vương
Vessavana đưa Tôn giả Maha Moggallana đi thăm và xem khắp lâu
đài Vejayanta: "Này Thiện hữu Moggallana, xem điều khả ái này
của lâu đài Vejayanta; xem điều khả ái này của lâu đài
Vejayanta. Cái này chói sáng nhờ các công đức do Tôn giả Kosiya
đă làm thời xưa; và loài Người, khi thấy cái ǵ khả ái liền nói:
'Thật sự, cái này chói sáng từ chư thiên cơi trời Ba mươi ba.
Cái này chói sáng nhờ các công đức do Tôn giả Kosiya đă làm thời
xưa'". Rồi Tôn giả Maha Moggallana suy nghĩ: "Dạ-xoa
này sống phóng dật một cách quá đáng. Ta hăy làm cho vị này
hoảng sợ".
|
|
Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno
tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhāsi (Abhisaṅkhāresi
- Ka; abhisaṅkhāreti - Syā, Kaṃ).
Yathā Vejayantaṃ pāsādaṃ pādaṅguṭṭhakena saṅkampesi sampakampesi
sampavedhesi. Atha kho sakko ca devānamindo Vessavaṇo ca
mahārājā devā ca Tāvatiṃsā acchariyabbhutacittajātā ahesuṃ
“Acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata bho samaṇassa mahiddhikatā
mahānubhāvatā. Yatra hi nāma dibbabhavanaṃ pādaṅguṭṭhakena
saṅkampessati sampakampessati sampavedhessatī”ti.
|
Tôn giả Maha Moggallana liền thị hiện thần
thông lực, dùng ngón chân cái làm cho lầu Vejayanta rung động,
chuyển động, chấn động mạnh. Thiên chủ Sakka, đại vương
Sessavana và chư thiên ở cơi trời Ba mươi ba, tâm cảm thấy kỳ
diệu, hy hữu: "Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay đại thần
thông lực, đại oai lực của Tôn giả Sa-môn! Với ngón chân cái, vị
này làm cho thiên cung này rung động, chuyển động, chấn động
mạnh!"
|
|
Atha kho
āyasmā Mahāmoggallāno sakkaṃ devānamindaṃ saṃviggaṃ
lomahaṭṭhajātaṃ viditvā sakkaṃ devānamindaṃ etadavoca
|
Tôn giả Mahamoggallana sau khi
biết Thiên chủ Sakka đă hoảng sợ, lông tóc dựng ngược liền nói
với Thiên chủ Sakka:
|
|
“Yathā
kathaṃ pana kho Kosiya Bhagavā saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ
abhāsi, sādhu mayampi etissā kathāya bhāgino assāma savanāyā”ti.
|
-- Này Kosiya, về lời thuyết
giảng mà Thế Tôn đă nói cho Ông một cách tóm tắt, thật tốt lành
cho chúng tôi, nếu được nghe chỉ một phần lời thuyết giảng ấy.
|
|
394. Idhāhaṃ
mārisa Moggallāna yena Bhagavā tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā
Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsiṃ, ekamantaṃ ṭhito kho
ahaṃ mārisa Moggallāna Bhagavantaṃ etadavocaṃ
|
-- Ở đây, này Thiện hữu
Moggallana, tôi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn
và đứng một bên. Này Thiện hữu Moggallana, sau khi đứng một bên,
tôi bạch với Thế Tôn như sau:
|
|
“Kittāvatā nu kho
bhante bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti
accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī
accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.
|
"-- Bạch Thế Tôn, một cách tóm
tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo là ái tận giải thoát, cứu cánh
thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh,
cứu cánh viên măn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?
|
|
Evaṃ vutte mārisa
Moggallāna Bhagavā maṃ etadavoca
|
Khi nghe nói vậy, này Thiện hữu
Moggallana, Thế Tôn nói với tôi như sau:
|
|
“Idha devānaminda bhikkhuno
sutaṃ hoti ‘Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā’ti. Evaṃ cetaṃ
devānaminda bhikkhuno sutaṃ hoti ‘Sabbe dhammā nālaṃ
abhinivesāyā’ti, so sabbaṃ dhammaṃ abhijānāti, sabbaṃ dhammaṃ
abhiññāya sabbaṃ dhammaṃ parijānāti, sabbaṃ dhammaṃ pariññāya
yaṃ kiñci vedanaṃ vedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ
vā. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī
viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati.
So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto virāgānupassī viharanto
nirodhānupassī viharanto paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci
loke upādiyati, anupādiyaṃ na paritassati, aparitassaṃ
paccattaññeva parinibbāyati, ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ,
kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāti. Ettāvatā kho
devānaminda bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti
accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī
accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.
|
"-- Ở đây, này Thiên chủ,
Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên
vị đối với tất cả pháp"". Vị ấy biết rơ tất cả pháp. Sau khi
biết rơ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp".
Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có cảm thọ nào, lạc
thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô
thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống
quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh
vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt,
sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước
một vật ǵ ở đời; do không chấp trước nên không phiền năo; do
không phiền năo, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: "Sanh
đă tận, phạm hạnh đă thành, những việc cần làm đă làm, không c̣n
trở lại đời này nữa". "Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức
độ như vậy, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu,
cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh
viên măn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người".
|
|
Evaṃ kho me mārisa
Moggallāna Bhagavā saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ abhāsīti.
|
Như vậy, này Thiện hữu
Moggallana, Thế Tôn nói một cách tóm tắt cho tôi về ái tận giải
thoát. "
|
|
Atha kho āyasmā Mahāmoggallāno sakkassa
devānamindassa bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā seyyathāpi nāma
balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ
samiñjeyya. Evameva devesu tāvatiṃsesu antarahito Pubbārāme
Migāramātupāsāde pāturahosi.
|
Rồi Tôn giả Maha Moggallana, sau
khi hoan hỷ, tín cho lời Thiên chủ Sakka nói, như một nhà lực sĩ
duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra,
biến mất giữa chư thiên ở cơi trời Ba mươi ba, và hiện ra tại
Đông Viên Lộc Mẫu giảng đường.
|
|
Atha kho sakkassa devānamindassa
paricārikāyo acirapakkante āyasmante Mahāmoggallāne sakkaṃ
devānamindaṃ etadavocuṃ
|
Sau khi Tôn giả Mahamoggallana
đi chẳng bao lâu, các thị nữ của Thiên chủ Sakka nói với Thiên
chủ Sakka như sau:
|
|
“Eso nu te mārisa so Bhagavā satthā”ti.
|
-- Thưa Thiên chủ, có phải vị ấy
là Thế Tôn, bậc Đạo sư của Thiên chủ?
|
|
Na kho me mārisa so Bhagavā satthā, sabrahmacārī me eso āyasmā
Mahāmoggallānoti.
|
-- Không, vị ấy không phải là
Thế Tôn, bậc Đạo Sư của ta. Vị ấy là đồng phạm hạnh với ta, Tôn
giả Maha Moggallana.
|
|
Lābhā te mārisa, (suladdhaṃ te mārisa ) (Natthi
- Sī, I), yassa te
sabrahmacāri evaṃmahiddhiko evaṃmahānubhāvo, aho nūna te so
Bhagavā satthāti.
|
-- Thưa Thiên chủ, thật là điều
tốt lành cho Thiên chủ, có một vị đồng phạm hạnh có đại thần
thông, có đại oai lực như vậy. Chắc chắn vị ấy là Thế Tôn, bậc
Đạo Sư của Thiên chủ.
|
|
395. Atha kho
āyasmā Mahāmoggallāno yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā
Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho
āyasmā Mahāmoggallāno Bhagavantaṃ etadavoca
|
Rồi Tôn giả Maha Moggallana đến
tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một
bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Maha Moggallana bạch
Thế Tôn:
|
|
“Abhijānāti no
bhante Bhagavā ahu (Ahunaññeva
- Sī, Syā, Kaṃ)
ñātaññatarassa
mahesakkhassa yakkhassa saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ
bhāsitā”ti (Abhāsitthāti
- Ka).
|
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết
chăng, Thế Tôn vừa mới nói về ái tận giải thoát một cách tóm tắt
cho một Dạ-xoa có đại oai lực?
|
|
Abhijānāmahaṃ
Moggallāna, idha sakko devānamindo yenāhaṃ tenupasaṅkami,
upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi, ekamantaṃ ṭhito
kho Moggallāna sakko devānamindo maṃ etadavoca
|
-- Này Moggallana, Ta biết. Ở
đây, Thiên chủ Sakka đến tại chỗ Ta ở, sau khi đến, đảnh lễ Ta
rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, này Moggallana, Thiên
chủ Sakka bạch với Ta:
|
|
“Kittāvatā nu kho
bhante bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti
accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī
accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.
|
"-- Bạch Thế Tôn, nói một cách
tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh
thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh,
cứu cánh viên măn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?
|
|
Evaṃ vutte ahaṃ
Moggallāna sakkaṃ devānamindaṃ etadavocaṃ
|
Khi nghe nói vậy, này Maha
Moggallana, Ta nói với Thiên chủ Sakka:
|
|
“Idha devānaminda
bhikkhuno sutaṃ hoti ‘Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā’ti. Evaṃ
cetaṃ devānaminda bhikkhuno sutaṃ hoti ‘Sabbe dhammā nālaṃ
abhinivesāyā’ti. So sabbaṃ dhammaṃ abhijānāti, sabbaṃ dhammaṃ
abhiññāya sabbaṃ dhammaṃ parijānāti, sabbaṃ dhammaṃ pariññāya
yaṃ kiñci vedanaṃ vedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ
vā. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī
viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati.
So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto virāgānupassī viharanto
nirodhānupassī viharanto paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci
loke upādiyati, anupādiyaṃ na paritassati, aparitassaṃ
paccattaññeva parinibbāyati, ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ,
kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāti. Ettāvatā kho
devānaminda bhikkhu saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti
accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī
accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.
|
"-- Ở đây, này Thiên chủ,
Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên
vị đối với tất cả pháp". Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe
như sau: "Thật không xứng đáng nếu có thiên vị đối với tất cả
pháp". Vị ấy biết rơ tất cả pháp. Sau khi biết rơ tất cả pháp,
vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt
ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ, hay
bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán
tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly
trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống
quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả
ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước một vật ǵ ở đời.
Do không chấp trước nên không phiền năo, do không phiền năo, vị
ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: "Sanh đă tận, phạm hạnh đă
thành, những việc cần làm đă làm, không c̣n trở lại đời này
nữa". Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một
Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn,
khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên măn, bậc tối
thắng giữa chư Thiên và loài Người".
|
|
Evaṃ kho ahaṃ
Moggallāna abhijānāmi “Sakkassa devānamindassa saṃkhittena
taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ bhāsitā”ti (Abhāsitthāti
- Ka).
|
Như vậy, này Moggallana, Ta biết
Ta vừa nói một cách tóm tắt về ái tận giải thoát cho Thiên chủ
Sakka."
|
|
Idamavoca
Bhagavā. Attamano āyasmā Mahāmoggallāno Bhagavato bhāsitaṃ
abhinandīti.
|
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
Tôn giả Maha Moggallana hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
|
|
Cūḷataṇhāsaṅkhayasuttaṃ niṭṭhitaṃ
sattamaṃ.
|
|
|
<Kinh số 036> |
<Kinh
số 038> |
|