|
038.
MAHĀTAṆHĀSAṄKHAYASUTTAṂ
|
|
038.
MAHĀTAṆHĀSAṄKHAYASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
038. ĐẠI KINH ĐOẠN TẬN ÁI - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
396. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ
viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme.
|
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ)
tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).
|
|
Tena kho pana samayena
Sātissa nāma bhikkhuno kevaṭṭaputtassa evarūpaṃ pāpakaṃ
diṭṭhigataṃ uppannaṃ hoti “Tathāhaṃ Bhagavatā dhammaṃ desitaṃ
ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ sandhāvati saṃsarati
anaññan”ti. |
Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là
Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo
như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, th́ thức này dong ruổi,
luân chuyển nhưng không đổi khác".
|
|
Assosuṃ kho sambahulā bhikkhū Sātissa kira nāma
bhikkhuno kevaṭṭaputtassa evarūpaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ
“Tathāhaṃ Bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmi, yathā tadevidaṃ
viññāṇaṃ sandhāvati saṃsarati anaññan”ti. Atha kho te bhikkhū
yena Sāti bhikkhu kevaṭṭaputto tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā
Sātiṃ bhikkhuṃ kevaṭṭaputtaṃ etadavocuṃ |
Một số đông Tỷ-kheo nghe như
sau: "Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến
như sau: 'Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, th́ thức
này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác'". Rồi những
Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi
đến xong liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá như
sau:
|
|
“Saccaṃ kira te āvuso
Sāti evarūpaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ 'tathāhaṃ Bhagavatā
dhammaṃ desitaṃ ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ sandhāvati
saṃsarati anaññan’ti”. |
-- Này Hiền giả Sati, có đúng sự
thật chăng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như tôi
hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng th́ thức này dong ruổi, luân
chuyển nhưng không đổi khác".
|
|
Evaṃbyā kho ahaṃ āvuso Bhagavatā dhammaṃ
desitaṃ ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ sandhāvati saṃsarati
anaññanti. |
-- Thật sự là vậy, chư Hiền,
theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, th́ thức này dong
ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.
|
|
Atha kho te bhikkhū Sātiṃ bhikkhuṃ kevaṭṭaputtaṃ
etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetukāmā samanuyuñjanti
samanugāhanti samanubhāsanti |
Rồi những Tỷ-kheo ấy muốn
Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền
cật vấn, nạn vấn lư do, thảo luận:
|
|
“Mā evaṃ āvuso Sāti avaca, mā
Bhagavantaṃ abbhācikkhi, na hi sādhu Bhagavato abbhakkhānaṃ, na
hi Bhagavā evaṃ vadeyya, anekapariyāyenāvuso Sāti
paṭiccasamuppannaṃ viññāṇaṃ vuttaṃ Bhagavatā ‘Aññatra paccayā
natthi viññāṇassa sambhavo’ti”. |
-- Hiền giả Sati, chớ nói như
vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế
Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đă dùng nhiều
pháp môn nói thức do duyên khởi; không có duyên th́ thức không
hiện khởi.
|
|
Evampi kho Sāti bhikkhu
kevaṭṭaputto tehi bhikkhūhi samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno
samanubhāsiyamāno tadeva pāpakaṃ diṭṭhigataṃ thāmasā parāmāsā
abhinivissa voharati |
Tỷ-kheo Sati, con của người đánh
cá, dù được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, thảo luận, vẫn nói lên ác tà
kiến ấy, cứng đầu chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy.
|
|
“Evaṃbyā kho ahaṃ āvuso Bhagavatā dhammaṃ
desitaṃ ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ sandhāvati saṃsarati
anaññan”ti.
|
-- Thật sự là vậy, chư Hiền.
Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng th́ thức này dong
ruổi, luân chuyển, nhưng không đổi khác.
|
|
397. Yato kho te bhikkhū nāsakkhiṃsu Sātiṃ bhikkhuṃ
kevaṭṭaputtaṃ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṃ. Atha kho te
bhikkhū yena Bhagavā tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, ekamantaṃ nisinnā kho te
bhikkhū Bhagavantaṃ etadavocuṃ– |
V́ các Tỷ-kheo ấy không thể làm
cho Tỷ-kheo Sati, con người đánh cá từ bỏ ác tà kiến ấy, nên các
vị ấy đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Ngài rồi ngồi
xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy bạch
Thế Tôn:
|
|
Sātissa nāma bhante bhikkhuno
kevaṭṭaputtassa evarūpaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ “Tathāhaṃ
Bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ
sandhāvati saṃsarati anaññan”ti. Assumha kho mayaṃ bhante
Sātissa kira nāma bhikkhuno kevaṭṭaputtassa evarūpaṃ pāpakaṃ
diṭṭhigataṃ uppannaṃ “Tathāhaṃ Bhagavatā dhammaṃ desitaṃ
ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ sandhāvati saṃsarati
anaññan”ti. Atha kho mayaṃ bhante yena Sāti bhikkhu kevaṭṭaputto
tenupasaṅkamimha, upasaṅkamitvā Sātiṃ bhikkhuṃ kevaṭṭaputtaṃ
etadavocumha |
-- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati,
con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo tôi
hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng th́ thức này dong ruổi, luân
chuyển, nhưng không đổi khác". Bạch Thế Tôn, chúng con nghe:
"Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá khởi lên ác tà kiến như
sau: "Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng th́ thức này dong
ruổi, luân chuyển, nhưng không đổi khác"". Bạch Thế Tôn, rồi
chúng con đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi
đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:
|
|
“Saccaṃ kira te āvuso Sāti evarūpaṃ pāpakaṃ
diṭṭhigataṃ uppannaṃ 'tathāhaṃ Bhagavatā dhammaṃ desitaṃ
ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ sandhāvati saṃsarati
anaññan’ti”. |
"-- Này Hiền giả Sati, có đúng
sự thật chăng? Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: 'Theo tôi
hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng th́ thức này dong ruổi, luân
chuyển nhưng không đổi khác'".
|
|
Evaṃ vutte bhante Sāti bhikkhu kevaṭṭaputto amhe
etadavoca |
Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy,
Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá nói với chúng con như sau:
|
|
“Evaṃbyā kho ahaṃ āvuso Bhagavatā dhammaṃ desitaṃ
ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ sandhāvati saṃsarati
anaññan”ti. |
"-- Thật sự là vậy, chư Hiền.
Theo như tôi hiểu th́ thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng
không đổi khác.
|
|
Atha kho mayaṃ bhante sātiṃ bhikkhuṃ kevaṭṭaputtaṃ
etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetukāmā samanuyuñjimha
samanugāhimha samanubhāsimha |
Bạch Thế Tôn, chúng con muốn
khiến Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy,
liền cật vấn, nạn vấn lư do, thảo luận:
|
|
“Mā evaṃ āvuso Sāti avaca, mā
Bhagavantaṃ abbhācikkhi, na hi sādhu Bhagavato abbhakkhānaṃ, na
hi Bhagavā evaṃ vadeyya, anekapariyāyenāvuso Sāti
paṭiccasamuppannaṃ viññāṇaṃ vuttaṃ Bhagavatā ‘Aññatra paccayā
natthi viññāṇassa sambhavo’ti”. |
"-- Hiền giả Sati chớ có nói như
vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt.
Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đă dùng
nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên th́ thức
không hiện khởi.
|
|
Evampi kho bhante Sāti bhikkhu
kevaṭṭaputto amhehi samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno
samanubhāsiyamāno tadeva pāpakaṃ diṭṭhigataṃ thāmasā parāmasā
abhinivissa voharati
|
"Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con
của người đánh cá dầu cho được chúng con cật vấn, nạn vấn lư do,
thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm
chặt tà kiến ấy:
|
|
“Evaṃbyā kho ahaṃ āvuso Bhagavatā dhammaṃ
desitaṃ ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ sandhāvati saṃsarati
anaññan”ti.
|
"-- Thật sự là vậy, theo tôi
hiểu, Thế Tôn thuyết giảng th́ thức này dong ruổi, luân chuyển
nhưng không đổi khác".
|
|
Yato kho mayaṃ bhante nāsakkhimha Sātiṃ bhikkhuṃ
kevaṭṭaputtaṃ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṃ. Atha mayaṃ
etamatthaṃ Bhagavato ārocemāti.
|
Bạch Thế Tôn, v́ chúng con không
thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà
kiến ấy, nên chúng con đến hỏi Thế Tôn ư nghĩa này."
|
|
398. Atha kho Bhagavā aññataraṃ bhikkhuṃ āmantesi
|
Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo
khác:
|
|
“Ehi tvaṃ bhikkhu mama vacanena Sātiṃ bhikkhuṃ kevaṭṭaputtaṃ
āmantehi ‘Satthā taṃ āvuso Sāti āmantetī’ti”.
|
-- Này Tỷ-kheo, hăy đi và nhân
danh Ta, gọi Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá: "Hiền giả
Sati, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả".
|
|
“Evaṃ bhante”ti
kho so bhikkhu Bhagavato paṭissutvā yena Sāti bhikkhu
kevaṭṭaputto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Sātiṃ bhikkhuṃ
kevaṭṭaputtaṃ etadavoca
|
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đến
chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, sau khi đến, liền nói
với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:
|
|
“Satthā taṃ āvuso Sāti āmantetī”ti.
|
-- Hiền giả Sati, bậc Đạo Sư gọi
Hiền giả.
|
|
“Evamāvuso”ti kho Sāti bhikkhu kevaṭṭaputto tassa bhikkhuno
paṭissutvā yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinnaṃ kho Sātiṃ
bhikkhuṃ kevaṭṭaputtaṃ Bhagavā etadavoca
|
-- Thưa vâng, Hiền giả. Tỷ-kheo Sati, con của người đánh
cá đáp lời Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Sati,
con của người đánh cá, đang ngồi xuống một bên:
|
|
“Saccaṃ kira te Sāti
evarūpaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ 'tathāhaṃ Bhagavatā
dhammaṃ desitaṃ ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ sandhāvati
saṃsarati anaññan’ti”.
|
-- Này Sati, có thật chăng, Ông
khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn
thuyết giảng, th́ thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không
đổi khác"?
|
|
Evaṃbyā kho ahaṃ bhante Bhagavatā dhammaṃ
desitaṃ ājānāmi, yathā tadevidaṃ viññāṇaṃ sandhāvati saṃsarati
anaññanti.
|
-- Thật sư là vậy, bạch Thế Tôn.
Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, th́ thức này dong
ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.
|
|
Katamaṃ taṃ Sāti viññāṇanti.
|
-- Này Sati, thế nào là thức ấy?
|
|
Yvāyaṃ bhante vado
vedeyyo, tatra tatra kalyāṇapāpakānaṃ kammānaṃ vipākaṃ
paṭisaṃvedetīti.
|
-- Bạch Thế Tôn, chính thức ấy
nói cảm thọ, thọ lănh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động
thiện ác.
|
|
Kassa nu kho nāma tvaṃ moghapurisa mayā evaṃ
dhammaṃ desitaṃ ājānāsi, nanu mayā moghapurisa anekapariyāyena
paṭiccasamuppannaṃ viññāṇaṃ vuttaṃ “Aññatra paccayā natthi
viññāṇassa sambhavo”ti. Atha ca pana tvaṃ moghapurisa attanā
duggahitena amhe ceva abbhācikkhasi, attānañca khaṇasi, bahuñca
apuññaṃ pasavasi. Taṃ hi te moghapurisa bhavissati dīgharattaṃ
ahitāya dukkhāyāti.
|
-- Này kẻ mê mờ kia, v́ ai mà
Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có
phải chăng, Ta đă dùng nhiều pháp môn nói là thức do duyên khởi,
không có duyên, th́ thức không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia,
không những Ông xuyên tạc Ta, v́ Ông đă tự chấp thủ sai lạc, Ông
c̣n tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia,
và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.
|
|
399. Atha kho Bhagavā bhikkhū āmantesi
|
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
|
|
“Taṃ kiṃ
maññatha bhikkhave, api nāyaṃ Sāti bhikkhu kevaṭṭaputto
usmīkatopi imasmiṃ Dhammavinaye”ti.
|
-- Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế
nào? Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, có thể khởi lên tia
lửa sáng ǵ trong Pháp, Luật này không?
|
|
Kiṃ hi siyā bhante, no hetaṃ
bhanteti.
|
-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể
có được, không thể được, bạch Thế Tôn.
|
|
Evaṃ vutte Sāti bhikkhu kevaṭṭaputto tuṇhībhūto
maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno
nisīdi. Atha kho Bhagavā Sātiṃ bhikkhuṃ kevaṭṭaputtaṃ
tuṇhībhūtaṃ maṅkubhūtaṃ pattakkhandhaṃ adhomukhaṃ pajjhāyantaṃ
appaṭibhānaṃ viditvā Sātiṃ bhikkhuṃ kevaṭṭaputtaṃ etadavoca
|
Được nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con
của người đánh cá, im lặng, hổ người, thụt vai, cúi đầu, lo âu,
câm miệng. Rồi Thế Tôn sau khi biết được Tỷ-kheo Sati, con của
người đánh cá, đang im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, lo âu,
câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:
|
|
“Paññāyissasi kho tvaṃ moghapurisa etena sakena pāpakena
diṭṭhigatena. Idhāhaṃ bhikkhū paṭipucchissāmī”ti.
|
-- Này kẻ mê mờ kia, người ta sẽ
biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các
Tỷ-kheo.
|
|
Atha kho
Bhagavā bhikkhū āmantesi
|
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
|
|
“Tumhepi me bhikkhave evaṃ dhammaṃ
desitaṃ ājānātha, yathāyaṃ Sāti bhikkhu kevaṭṭaputto attanā
duggahitena amhe ceva abbhācikkhati, attānañca khaṇati, bahuñca
apuññaṃ pasavatī”ti.
|
-- Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu
pháp Ta thuyết giảng giống như Tỷ-kheo Sati, con của người đánh
cá này, không những đă xuyên tạc Ta v́ đă tự chấp thủ sai lạc,
mà c̣n tự phá hoại ḿnh và tạo nên nhiều tổn đức?
|
|
No hetaṃ bhante. Anekapariyāyena hi no
bhante paṭiccasamuppannaṃ viññāṇaṃ vuttaṃ Bhagavatā “Aññatra
paccayā natthi viññāṇassa sambhavo”ti,
|
-- Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế
Tôn, Thế Tôn đă dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi,
không có duyên, thức không hiện khởi.
|
|
sādhu sādhu bhikkhave,
sādhu kho me tumhe bhikkhave evaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānātha,
anekapariyāyena hi vo bhikkhave paṭiccasamuppannaṃ viññāṇaṃ
vuttaṃ mayā “Aññatra paccayā natthi viññāṇassa sambhavo”ti. Atha
ca panāyaṃ Sāti bhikkhu kevaṭṭaputto attanā duggahitena amhe
ceva abbhācikkhati, attānañca khaṇati, bahuñca apuññaṃ pasavati.
Taṃ hi tassa moghapurisassa bhavissati dīgharattaṃ ahitāya
dukkhāya.
|
-- Lành thay, chư Tỷ-kheo, lành
thay, chư Tỷ-kheo, các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy!
Chư Tỷ-kheo, Ta đă dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi.
Không có duyên, thức không hiện khởi. Nhưng Tỷ-kheo Sati, con
của người đánh cá, không những xuyên tạc Ta v́ đă tự chấp thủ
sai lạc, c̣n tự pháp hoại ḿnh và tạo nên nhiều tổn đức, và như
vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ mê mờ ấy.
|
|
400. Yaṃ yadeva
bhikkhave paccayaṃ paṭicca uppajjati viññāṇaṃ, tena teneva
viññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ gacchati (Saṅkhaṃ
gacchati - Sī, I).
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati viññāṇaṃ,
cakkhuviññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ gacchati. Sotañca paṭicca sadde ca
uppajjati viññāṇaṃ, sotaviññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ gacchati.
Ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati viññāṇaṃ,
ghānaviññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ gacchati. Jivhañca paṭicca rase ca
uppajjati viññāṇaṃ, jivhāviññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ gacchati.
Kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati viññāṇaṃ,
kāyaviññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ gacchati. Manañca paṭicca dhamme ca
uppajjati viññāṇaṃ, manoviññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ gacchati.
|
(Duyên sanh Thức)
Này các Tỷ-kheo, do duyên mà
thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và
các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhăn thức. Do duyên tai
và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên
mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên là tỷ thức. Do
duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt
thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh và thức ấy có tên là
thân thức. Do duyên ư và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên
là ư thức.
|
|
Seyyathāpi bhikkhave yaṃ yadeva paccayaṃ paṭicca
aggi jalati, tena teneva saṅkhyaṃ gacchati. Kaṭṭhañca paṭicca
aggi jalati, kaṭṭhaggitveva saṅkhyaṃ gacchati. Sakalikañca
paṭicca aggi jalati, sakalikaggitveva saṅkhyaṃ gacchati. Tiṇañca
paṭicca aggi jalati, tiṇaggitveva saṅkhaṃ gacchati. Gomayañca
paṭicca aggi jalati, gomayaggitveva saṅkhyaṃ gacchati. Thusañca
paṭicca aggi jalati, thusaggitveva saṅkhyaṃ gacchati. Saṅkārañca
paṭicca aggi jalati, saṅkāraggitveva saṅkhaṃ gacchati. Evameva
kho bhikkhave yaṃ yadeva paccayaṃ paṭicca uppajjati viññāṇaṃ,
tena teneva saṅkhyaṃ gacchati. Cakkhuñca paṭicca rūpe ca
uppajjati viññāṇaṃ, cakkhuviññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ gacchati.
Sotañca paṭicca sadde ca uppajjati viññāṇaṃ, sotaviññāṇaṃtveva
saṅkhyaṃ gacchati. Ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati
viññāṇaṃ, ghānaviññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ gacchati. Jivhañca paṭicca
rase ca uppajjati viññāṇaṃ, jivhāviññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ
gacchati. Kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati viññāṇaṃ,
kāyaviññāṇaṃtveva saṅkhaṃ gacchati. Manañca paṭicca dhamme ca
uppajjati viññāṇaṃ, manoviññāṇaṃtveva saṅkhyaṃ gacchati.
|
Này các Tỷ-kheo, do duyên nào lửa sanh và lửa ấy có
tên tùy theo duyên ấy: duyên củi, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa
củi. Duyên vỏ gỗ bào, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa vỏ bào. Duyên
cỏ, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa cỏ. Duyên phân ḅ, lửa sanh, lửa
ấy gọi là lửa phân ḅ. Duyên trấu, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa
trấu. Duyên đống rác, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa đống rác. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên, thức sanh, và thức ấy có tên tùy
theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có
tên là nhăn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức
ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và
thức ấy có tên và tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh,
và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức
sanh, và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ư và các pháp,
thức sanh, và thức ấy có tên là ư thức.
|
|
401. Bhūtamidanti bhikkhave passathāti.
Evaṃ bhante.
|
(Các câu hỏi về sanh
vật)
Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy
sanh vật này không?
-- Bạch Thế Tôn, có thấy.
|
|
Tadāhārasambhavanti bhikkhave passathāti.
Evaṃ bhante.
|
- -Này các Tỷ-kheo, các Ông có
thấy sự tác thành sanh vật do món ăn ấy không?
-- Bạch Thế Tôn, có thấy.
|
|
Tadāhāranirodhā yaṃ bhūtaṃ, taṃ nirodhadhammanti bhikkhave
passathāti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có
thấy, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy cũng bị đoạn
diệt không?
-- Bạch Thế Tôn, có thấy.
|
|
Bhūtamidaṃ nossūti bhikkhave kaṅkhato
uppajjati vicikicchāti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, v́ do dự nên
nghi hoặc sanh. Sanh vật này có thể không có mặt?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Tadāhārasambhavaṃ nossūti
bhikkhave kaṅkhato uppajjati vicikicchāti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, v́ do dự nên
nghi hoặc sanh. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Tadāhāranirodhā yaṃ bhūtaṃ, taṃ nirodhadhammaṃ nossūti bhikkhave
kaṅkhato uppajjati vicikicchāti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, v́ do dự nên
nghi hoặc sanh. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có
thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Bhūtamidanti
bhikkhave yathābhūtaṃ sammappaññāya passato yā vicikicchā, sā
pahīyatīti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như
thật với chánh trí tuệ, th́ sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sanh
vật này có thể không có mặt?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Tadāhārasambhavanti bhikkhave
yathābhūtaṃ sammappaññāya passato yā vicikicchā, sā pahīyatīti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như
thật với chánh trí tuệ, th́ sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sự
tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Tadāhāranirodhā yaṃ bhūtaṃ, taṃ nirodhadhammanti
bhikkhave yathābhūtaṃ sammappaññāya passato yā vicikicchā, sā
pahīyatīti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như
thật với chánh trí tuệ, th́ sự nghi ngờ này được trừ diệt. Do sự
đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật có thể bị đoạn diệt hay không
bị đoạn diệt?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Bhūtamidanti bhikkhave itipi vo ettha
nibbicikicchāti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, sanh vật này
có mặt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có
nghi hoặc không?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Tadāhārasambhavanti bhikkhave
itipi vo ettha nibbicikicchāti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, sự tác thành
của món ăn ấy, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải
không có nghi hoặc không?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Tadāhāranirodhā yaṃ
bhūtaṃ, taṃ nirodhadhammanti bhikkhave itipi vo ettha
nibbicikicchāti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn
diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với
vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Bhūtamidanti bhikkhave yathābhūtaṃ
sammappaññāya sudiṭṭhanti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, sanh vật này
có mặt, (đối với vấn đề này) có phải các Ông khéo thấy nhờ như
thật chánh trí tuệ không?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Tadāhārasambhavanti
bhikkhave yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhanti.
Evaṃ bhante.
|
- Này các Tỷ-kheo, sự hiện hữu
của sanh vật ấy là do các món ăn ấy tác thành,... này, có phải
các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Tadāhāranirodhā yaṃ bhūtaṃ, taṃ nirodhadhammanti bhikkhave
yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhanti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn
diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với
vấn đề này), có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí
tuệ không?
-- Bạch Thế Tôn, có vậy.
|
|
Imaṃ ce
tumhe bhikkhave diṭṭhiṃ evaṃ parisuddhaṃ evaṃ pariyodātaṃ
allīyetha kelāyetha dhanāyetha mamāyetha, api nu me tumhe
bhikkhave kullūpamaṃ dhammaṃ desitaṃ ājāneyyātha
nittharaṇatthāya, no gahaṇatthāyāti.
No hetaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, đối với tri
kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như
vậy, nếu các Ông chấp trước, lấy làm hănh diện, truy cầu, xem là
của ḿnh, th́ này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ chiếc
bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để
nắm lấy?
-- Bạch Thế Tôn, không.
|
|
Imaṃ ce
tumhe bhikkhave diṭṭhiṃ evaṃ parisuddhaṃ evaṃ pariyodātaṃ na
allīyetha na kelāyetha na dhanāyetha na mamāyetha, api nu me
tumhe bhikkhave kullūpamaṃ dhammaṃ desitaṃ ājāneyyātha
nittharaṇatthāya, no gahaṇatthāyāti.
Evaṃ bhante.
|
-- Nhưng này các Tỷ-kheo, đối
với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong
sáng như vậy, nếu các Ông không chấp trước, không lấy làm hănh
diện, không truy cầu, không xem là của ḿnh, th́ này các
Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ của ḿnh, th́ này các
Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ là của ḿnh, th́ này các
Tỷ-kheo, các Ông có thể ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy
là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy?
-- Bạch Thế Tôn, có.
|
|
402. Cattārome bhikkhave āhārā bhūtānaṃ vā sattānaṃ
ṭhitiyā sambhavesīnaṃ vā anuggahāya. Katame cattāro. Kabaḷīkāro
āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā
tatiyā, viññāṇaṃ catutthaṃ.
|
(Thức ăn và Duyên
khởi)
-- Này các Tỷ-kheo, có bốn món
ăn giúp cho an trú các loài hữu t́nh đă sanh hay pḥ trợ các
loài hữu t́nh sẽ sanh. Thế nào là bốn? Đoàn thực hoặc thô hoặc
tế, thứ hai là xúc thực, thứ ba là tư niệm thực, và thứ tư là
thức thực.
|
|
Ime ca bhikkhave cattāro āhārā
kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā. Ime cattāro āhārā
taṇhānidānā taṇhāsamudayā taṇhājātikā taṇhāpabhavā. Taṇhā cāyaṃ
bhikkhave kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā. Taṇhā
vedanānidānā vedanāsamudayā vidanājātikā vedanāpabhavā. Vedanā
cāyaṃ bhikkhave kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā.
Vedanā phassanidānā phassasamudayā phassajātikā phassapabhavā.
Phasso cāyaṃ bhikkhave kiṃnidāno kiṃsamudayo kiṃjātiko
kiṃpabhavo. Phasso saḷāyatananidāno saḷāyatanasamudayo
saḷāyatanajātiko saḷāyatanapabhavo. Saḷāyatanaṃ cidaṃ bhikkhave
kiṃnidānaṃ kiṃsamudayaṃ kiṃjātikaṃ kiṃpabhavaṃ. Saḷāyatanaṃ
nāmarūpanidānaṃ nāmarūpasamudayaṃ nāmarūpajātikaṃ
nāmarūpapabhavaṃ. Nāmarūpaṃ cidaṃ bhikkhave kiṃnidānaṃ
kiṃsamudayaṃ kiṃjātikaṃ kiṃpabhavaṃ. Nāmarūpaṃ viññāṇanidānaṃ
viññāṇasamudayaṃ viññāṇajātikaṃ viññāṇapabhavaṃ. Viññāṇaṃ cidaṃ
bhikkhave kiṃnidānaṃ kiṃsamudayaṃ kiṃjātikaṃ kiṃpabhavaṃ.
Viññāṇaṃ saṅkhāranidānaṃ saṅkhārasamudayaṃ saṅkhārajātikaṃ
saṅkhārapabhavaṃ. Saṅkhārā cime bhikkhave kiṃnidānā kiṃsamudayā
kiṃjātikā kiṃpabhavā. Saṅkhārā avijjānidānā avijjāsamudayā
avijjājātikā avijjāpabhavā.
|
Và này các Tỷ-kheo bốn món ăn
này, lấy ǵ làm nhân duyên, lấy ǵ làm tập khởi, lấy ǵ làm sanh
chủng, lấy ǵ làm nguyên nhân? Bốn món ăn này lấy ái làm nhân
duyên, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm sanh chủng, lấy ái làm
nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, ái này lấy ǵ làm nhân duyên, lấy
ǵ làm tập khởi, lấy ǵ làm sanh chủng, lấy ǵ làm nguyên nhân?
Ái lấy thọ làm nhân duyên, lấy thọ làm tập khởi, lấy thọ làm
sanh chủng, lấy thọ làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, thọ này
lấy ǵ làm nguyên nhân, lấy ǵ làm tập khởi, lấy ǵ làm sanh
chủng, lấy ǵ làm nguyên nhân? Thọ lấy xúc làm nhân duyên, lấy
xúc làm tập khởi, lấy xúc làm sanh chủng, lấy xúc làm nguyên
nhân. Này các Tỷ-kheo, xúc này lấy ǵ làm nhân duyên, lấy ǵ làm
tập khởi, lấy ǵ làm sanh chủng, lấy ǵ làm nguyên nhân? Xúc lấy
sáu nhập làm nhân duyên, lấy sáu nhập làm tập khởi, lấy sáu nhập
làm sanh chủng, lấy sáu nhập làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo,
sáu nhập này lấy ǵ làm nhân duyên, lấy ǵ làm tập khởi, lấy ǵ
làm sanh chủng, lấy ǵ làm nguyên nhân? Sáu nhập lấy danh sắc
làm nhân duyên, lấy danh sắc làm tập khởi, lấy danh sắc làm sanh
chủng, lấy danh sắc làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, danh sắc
này lấy ǵ làm nhân duyên, lấy ǵ làm tập khởi, lấy ǵ làm sanh
chủng, lấy ǵ làm nguyên nhân? Danh sắc lấy thức làm nhân duyên,
lấy thức là tập khởi, lấy thức làm sanh chủng, lấy thức làm
nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, thức này lấy ǵ làm nhân duyên,
lấy ǵ làm tập khởi, lấy ǵ làm sanh chủng, lấy ǵ làm nguyên
nhân? Thức lấy hành làm nhân duyên, lấy hành làm tập khởi, lấy
hành làm sanh chủng, lấy hành làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo,
các hành này lấy ǵ làm nhân duyên, lấy ǵ làm tập khởi, lấy ǵ
làm sanh chủng, lấy ǵ làm nguyên nhân? Các hành lấy vô minh làm
nhân duyên, lấy vô minh làm tập khởi, lấy vô minh làm sanh
chủng, lấy vô minh làm nguyên nhân.
|
|
Iti kho bhikkhave avijjāpaccayā
saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ,
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso,
phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā
upādānaṃ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā
jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti,
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
|
(Duyên theo chiều
thuận)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, vô
minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc
duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái,
ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già,
chết, sầu, bi, khổ, ưu, năo được hiện hữu. Như vậy là sự tập
khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
|
|
403. “Jātipaccayā jarāmaraṇan”ti iti kho panetaṃ
vuttaṃ, jātipaccayā nu kho bhikkhave jarāmaraṇaṃ no vā, kathaṃ
vā ettha (Kathaṃ
vā vo ettha - ?)
hotīti.
|
(Duyên theo chiều
nghịch)
Trước đă nói: Sanh duyên già,
chết (Do duyên sanh nên già, chết hiện khởi). Này các Tỷ-kheo,
sanh duyên già, chết có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế
nào?
|
|
Jātipaccayā
bhante jarāmaraṇaṃ, evaṃ no ettha hoti (Evaṃ
no ettha hotīti - Ka)
“Jātipaccayā jarāmaraṇan”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, sanh duyên già,
chết. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Sanh
duyên già, chết.
|
|
“Bhavapaccayā jātī”ti iti kho
panetaṃ vuttaṃ, bhavapaccayā nu kho bhikkhave jāti no vā, kathaṃ
vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: hữu duyên sanh.
Này các Tỷ-kheo, hữu duyên sanh có phải không? Hay ở đây (nghĩa)
như thế nào?
|
|
Bhavapaccayā bhante jāti, evaṃ no ettha hoti
“Bhavapaccayā jātī”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, hữu duyên sanh.
Như vậy, đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Hữu duyên
sanh.
|
|
“Upādānapaccayā bhavo”ti iti kho panetaṃ
vuttaṃ, upādānapaccayā nu kho bhikkhave bhavo no vā, kathaṃ vā
ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Thủ duyên hữu.
Này các Tỷ-kheo, thủ duyên hữu có phải không? Hay ở đây (nghĩa)
như thế nào?
|
|
Upādānapaccayā bhante bhavo, evaṃ no ettha hoti
“Upādānapaccayā bhavo”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, thủ duyên hữu.
Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thủ duyên hữu.
|
|
“Taṇhāpaccayā upādānan”ti iti kho
panetaṃ vuttaṃ, taṇhāpaccayā nu kho bhikkhave upādānaṃ no vā,
kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Ái duyên thủ.
Này các Tỷ-kheo, ái duyên thủ có phải không? Hay ở đây, (nghĩa)
như thế nào?
|
|
Taṇhāpaccayā bhante upādānaṃ, evaṃ no
ettha hoti “Taṇhāpaccayā upādānan”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, ái duyên thủ.
Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Ái duyên thủ.
|
|
“Vedanāpaccayā taṇhā”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ, vedanāpaccayā nu
kho bhikkhave taṇhā no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Thọ duyên ái.
Này các Tỷ-kheo, thọ duyên ái có phải không? Hay ở đây (nghĩa)
như thế nào?
|
|
Vedanāpaccayā
bhante taṇhā, evaṃ no ettha hoti “Vedanāpaccayā taṇhā”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, thọ duyên ái.
Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thọ duyên ái.
|
|
“Phassapaccayā vedanā”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ, phassapaccayā
nu kho bhikkhave vedanā no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
- Trước đă nói: Xúc duyên thọ.
Này các Tỷ-kheo, xúc duyên thọ có phải không? Hay ở đây (nghĩa)
như thế nào?
|
|
Phassapaccayā bhante vedanā, evaṃ no ettha hoti “Phassapaccayā
vedanā”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, xúc duyên thọ.
Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Xúc duyên thọ.
|
|
“Saḷāyatanapaccayā phasso”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ,
saḷāyatanapaccayā nu kho bhikkhave phasso no vā, kathaṃ vā ettha
hotīti.
|
-- Trước đă nói: Sáu nhập duyên
xúc. Này các Tỷ-kheo, sáu nhập duyên xúc có phải không? Hay ở
đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Saḷāyatanapaccayā bhante phasso, evaṃ no ettha hoti
“Saḷāyatanapaccayā phasso”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, sáu nhập duyên
xúc. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Sáu nhập
duyên xúc.
|
|
“Nāmarūpapaccayā saḷāyatanan”ti
iti kho panetaṃ vuttaṃ,
nāmarūpapaccayā nu
kho bhikkhave saḷāyatanaṃ no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Danh sắc duyên
sáu nhập. Này các Tỷ-kheo, danh sắc duyên sáu nhập có phải
không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Nāmarūpapaccayā bhante saḷāyatanaṃ, evaṃ no ettha hoti
“Nāmarūpapaccayā saḷāyatanan”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, danh sắc duyên
sáu nhập. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Danh
sắc duyên sáu nhập.
|
|
“Viññāṇapaccayā nāmarūpan”ti
iti kho panetaṃ vuttaṃ, viññāṇapaccayā nu kho bhikkhave
nāmarūpaṃ no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Thức duyên danh
sắc. Này các Tỷ-kheo, thức duyên danh sắc có phải không? Hay ở
đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Viññāṇapaccayā bhante
nāmarūpaṃ, evaṃ no ettha hoti “Viññāṇapaccayā nāmarūpan”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, thức duyên danh
sắc. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thức duyên
danh sắc.
|
|
“Saṅkhārapaccayā viññāṇan”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ,
saṅkhārapaccayā nu kho bhikkhave viññāṇaṃ, no vā, kathaṃ vā
ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Hành duyên
thức. Này các Tỷ-kheo, hành duyên thức có phải không? Hay ở đây
(nghĩa) như thế nào?
|
|
Saṅkhārapaccayā bhante viññāṇaṃ, evaṃ no ettha
hoti “Saṅkhārapaccayā viññāṇan”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, hành duyên
thức. Như vậy, đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Hành
duyên thức.
|
|
“Avijjāpaccayā saṅkhārā”ti
iti kho panetaṃ vuttaṃ, avijjāpaccayā nu kho bhikkhave saṅkhārā
no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Vô minh duyên
hành. Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành có phải không? Hay ở
đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Avijjāpaccayā bhante saṅkhārā,
evaṃ no ettha hoti “Avijjāpaccayā saṅkhārā”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, vô minh duyên
hành. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Vô minh
duyên hành.
|
|
404. Sādhu bhikkhave. Iti kho bhikkhave tumhepi evaṃ
vadetha, ahampi evaṃ vadāmi, imasmiṃ sati idaṃ hoti, imassuppādā
idaṃ uppajjati. Yadidaṃ avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā
viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ,
saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā
taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā
jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparideva dukkhadomanassupāyāsā
sambhavanti, evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo
hoti.
|
(Tóm lược về Duyên)
-- Lành thay, này các Tỷ-kheo!
Các Ông nói như vậy và Ta cũng nói như vậy: "Cái này có nên cái
kia có, cái này sanh nên cái kia sanh", như vô minh duyên hành,
hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập,
sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ,
thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi,
khổ, ưu, năo cùng sanh khởi. Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ
khổ uẩn này.
|
|
Avijjāyatveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho,
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho,
nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā
phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā
taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā
bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti, evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
|
(Diệt theo chiều
thuận)
Do vô minh đoạn diệt, xả ly một
cách hoàn toàn nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức
diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu
nhập diệt. Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ
diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ
diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên
già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, năo đều diệt. Như vậy là sự đoạn
diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
|
|
405. “Jātinirodhā jarāmaraṇanirodho”ti iti kho
panetaṃ vuttaṃ, jātinirodhā nu kho bhikkhave jarāmaraṇanirodho
no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
(Diệt theo chiều
nghịch)
Trước đă nói: Do sanh diệt nên
già, chết diệt. Này các Tỷ-kheo, do sanh diệt nên già, chết diệt
có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Jātinirodhā bhante
jarāmaraṇanirodho, evaṃ no ettha hoti “Jātinirodhā
jarāmaraṇanirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do sanh diệt
nên già, chết diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là
vậy: Do sanh diệt nên già, chết diệt.
|
|
“Bhavanirodhā jātinirodho”ti iti kho
panetaṃ vuttaṃ, bhavanirodhā nu kho bhikkhave jātinirodho no vā,
kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Do hữu diệt nên
sanh diệt. Này các Tỷ-kheo, do hữu diệt nên sanh diệt có phải
không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Bhavanirodhā bhante jātinirodho, evaṃ no
ettha hoti “Bhavanirodhā jātinirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do hữu diệt nên
sanh diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do
hữu diệt nên sanh diệt.
|
|
“Upādānanirodhā
bhavanirodho”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ, upādānanirodhā nu kho
bhikkhave bhavanirodho no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Do thủ diệt nên
hữu diệt. Này các Tỷ-kheo, do thủ diệt nên hữu diệt có phải
không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Upādānanirodhā bhante bhavanirodho, evaṃ no ettha hoti
“Upādānanirodhā bhavanirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do thủ diệt nên
hữu diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do
thủ diệt nên hữu diệt.
|
|
“Taṇhānirodhā upādānanirodho”ti
iti kho panetaṃ vuttaṃ, taṇhānirodhā nu kho bhikkhave
upādānanirodho no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Do ái diệt nên
thủ diệt. Này các Tỷ-kheo, do ái diệt nên thủ diệt có phải
không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Taṇhānirodhā
bhante upādānanirodho, evaṃ no ettha hoti “Taṇhānirodhā
upādānanirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do ái diệt nên
thủ diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do ái
diệt nên thủ diệt.
|
|
“Vedanānirodhā taṇhānirodho”ti iti kho
panetaṃ vuttaṃ, vedanānirodhā nu kho bhikkhave taṇhānirodho no
vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Do thọ diệt nên
ái diệt. Này các Tỷ-kheo, do thọ diệt nên ái diệt có phải không?
Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Vedanānirodhā bhante taṇhānirodho,
evaṃ no ettha hoti “Vedanānirodhā taṇhānirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do thọ diệt nên
ái diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do thọ
diệt nên ái diệt.
|
|
“Phassanirodhā vedanānirodho”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ,
phassanirodhā nu kho bhikkhave vedanānirodho no vā kathaṃ vā
ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Do xúc diệt nên
thọ diệt. Này các Tỷ-kheo, do xúc diệt nên thọ diệt có phải
không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Phassanirodhā bhante vedanānirodho, evaṃ no ettha
hoti “Phassanirodhā vedanānirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do xúc diệt nên
thọ diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do
xúc diệt nên thọ diệt.
|
|
“Saḷāyatananirodhā
phassanirodho”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ, saḷāyatananirodhā nu
kho bhikkhave phassanirodho no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Do sáu nhập
diệt nên xúc diệt. Này các Tỷ-kheo, do sáu nhập diệt nên xúc
diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Saḷāyatananirodhā bhante phassanirodho, evaṃ no ettha hoti
“Saḷāyatananirodhā phassanirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do sáu nhập
diệt nên xúc diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là
vậy: Do sáu nhập diệt nên xúc diệt.
|
|
“Nāmarūpanirodhā
saḷāyatananirodho”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ, nāmarūpanirodhā nu
kho bhikkhave saḷāyatananirodho no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Do danh sắc
diệt nên sáu nhập diệt. Này các Tỷ-kheo, do danh sắc diệt nên
sáu nhập diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Nāmarūpanirodhā bhante saḷāyatananirodho, evaṃ no ettha hoti
“Nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do danh sắc
diệt nên sáu nhập diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây
là vậy: Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt.
|
|
“Viññāṇanirodhā
nāmarūpanirodho”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ. Viññāṇanirodhā nu kho
bhikkhave nāmarūpanirodho no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Do thức diệt
nên danh sắc diệt. Này các Tỷ-kheo, do thức diệt nên danh sắc
diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Viññāṇanirodhā bhante nāmarūpanirodho, evaṃ no ettha hoti
“Viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do thức diệt
nên danh sắc diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là
vậy: Do thức diệt nên danh sắc diệt.
|
|
“Saṅkhāranirodhā
viññāṇanirodho”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ, saṅkhāranirodhā nu kho
bhikkhave viññāṇanirodho no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Do hành diệt
nên thức diệt. Này các Tỷ-kheo, do hành diệt nên thức diệt có
phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Saṅkhāranirodhā bhante viññāṇanirodho, evaṃ no ettha hoti
“Saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do hành diệt
nên thức diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy:
Do hành diệt nên thức diệt.
|
|
“Avijjānirodhā
saṅkhāranirodho”ti iti kho panetaṃ vuttaṃ, avijjānirodhā nu kho
bhikkhave saṅkhāranirodho no vā, kathaṃ vā ettha hotīti.
|
-- Trước đă nói: Do vô minh diệt
nên hành diệt. Này các Tỷ-kheo, do vô minh diệt nên hành diệt có
phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
|
|
Avijjānirodhā bhante saṅkhāranirodho, evaṃ no ettha hoti
“Avijjānirodhā saṅkhāranirodho”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, do vô minh diệt
nên hành diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy:
Do vô minh diệt nên hành diệt.
|
|
406. Sādhu bhikkhave. Iti kho bhikkhave tumhepi evaṃ
vadetha, ahampi evaṃ vadāmi, imasmiṃ asati idaṃ na hoti, imassa
nirodhā idaṃ nirujjhati. Yadidaṃ avijjānirodhā saṅkhāranirodho,
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho,
nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā
phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā
taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā
bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti, evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
|
(Tóm lược về Diệt)
- Lành thay, này các Tỷ-kheo!
Các Ông nói như vậy và Ta cũng nói như vậy: "Cái này không có
nên cái kia không có, cái này diệt nên cái kia diệt", như vô
minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt, thức diệt nên
danh sắc diệt, danh sắc diệt nên sáu nhập diệt, sáu nhập diệt
nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên ái diệt, ái
diệt nên thủ diệt, thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh
diệt, sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu năo diệt. Như
vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
|
|
407. Api nu tumhe bhikkhave evaṃ jānantā evaṃ
passantā pubbantaṃ vā paṭidhāveyyātha, “Ahesumha nu kho mayaṃ
atītamaddhānaṃ, nanu kho ahesumha atītamaddhānaṃ, kiṃ nu kho
ahesumha atītamaddhānaṃ, kathaṃ nu kho ahesumha atītamaddhānaṃ,
kiṃ hutvā kiṃ ahesumha nu kho mayaṃ atītamaddhānan”ti.
No hetaṃ
bhante.
|
(Tri kiến về ngă)
Này các Tỷ-kheo, các Ông nên
biết như vậy, thấy như vậy, có c̣n chạy theo thời quá khứ, và
suy nghĩ: "Ta có mặt trong thời quá khứ hay không có mặt trong
thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có
mặt trong thời quá khứ, h́nh vóc như thế nào? Trước kia ta là ǵ
và ta có mặt như thế nào trong thời quá khứ"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
|
|
Api nu tumhe bhikkhave evaṃ jānantā evaṃ passantā
aparantaṃ vā paṭidhāveyyātha, “Bhavissāma nu kho mayaṃ
anāgatamaddhānaṃ, nanu kho bhavissāma anāgatamaddhānaṃ, kiṃ nu
kho bhavissāma anāgatamaddhānaṃ, kathaṃ nu kho bhavissāma
anāgatamaddhānaṃ, kiṃhutvā kiṃ bhavissāma nu kho mayaṃ
anāgatamaddhānan”ti.
No hetaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông biết
như vậy, thấy như vậy, có c̣n chạy theo thời vị lai, và suy
nghĩ: "Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt
trong thời vị lai? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào?
Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, h́nh vóc như thế nào? Trước kia
là ǵ và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
|
|
Api nu tumhe bhikkhave
evaṃ jānantā evaṃ passantā etarahi vā paccuppannamaddhānaṃ
ajjhattaṃ kathaṃkathī assatha, “Ahaṃ nu khosmi, no nu khosmi,
kiṃ nu khosmi, kathaṃ nu khosmi, ayaṃ nu kho satto kuto āgato,
so kuhiṃ gāmī bhavissatī”ti.
No hetaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông biết
như vậy, thấy như vậy, các Ông có nghi ngờ ǵ về ḿnh trong thời
hiện tại: "Ta có mặt hay ta không có mặt. Ta có mặt như thế nào?
Ta có mặt, h́nh vóc như thế nào? Hữu t́nh này từ đâu đến? Và rồi
nó sẽ đi đâu"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
|
|
Api nu tumhe
bhikkhave evaṃ jānantā evaṃ passantā evaṃ vadeyyātha “Satthā no
garu, Satthugāravena ca mayaṃ evaṃ vademā”ti.
No hetaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông biết
như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: "Bậc Đạo Sư được
chúng ta tôn trọng. Chúng ta nói v́ chúng ta tôn trọng bậc Đạo
Sư"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
|
|
Api nu tumhe bhikkhave evaṃ jānantā evaṃ passantā evaṃ
vadeyyātha “Samaṇo evamāha, samaṇā ca nāma mayaṃ evaṃ vademā”ti.
No hetaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông biết
như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: "Một Sa-môn nói
với chúng tôi như vậy, các Sa-môn khác cũng nói như vậy, và c̣n
chúng tôi không có nói như vậy"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
|
|
Api nu tumhe bhikkhave evaṃ jānantā evaṃ
passantā aññaṃ satthāraṃ uddiseyyāthāti.
No hetaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông biết
như vậy, thấy như vậy, các Ông có t́m một vị Đạo Sư khác không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
|
|
Api nu
tumhe bhikkhave evaṃ jānantā evaṃ passantā yāni tāni
puthusamaṇabrāhmaṇānaṃ vata kotūhalamaṅgalāni, tāni sārato
paccāgaccheyyāthāti.
No hetaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông biết
như vậy, thấy như vậy, các Ông có trở lui lại các giới cấm, tế
tự đàn tràng của các tục tử Sa-môn, Bà-la-môn và nghĩ rằng chúng
là căn bản không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
|
|
Nanu bhikkhave yadeva
tumhākaṃ sāmaṃ ñātaṃ sāmaṃ diṭṭhaṃ sāmaṃ viditaṃ, tadeva tumhe
vadethāti.
Evaṃ bhante.
|
-- Này các Tỷ-kheo, có phải các
Ông chỉ nói những ǵ các Ông tự biết, tự thấy, tự ư thức được?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
|
|
Sādhu bhikkhave, upanītā kho me tumhe
bhikkhave iminā sandiṭṭhikena dhammena akālikena ehipassikena
opaneyyikena paccattaṃ veditabbena viññūhi. “Sandiṭṭhiko ayaṃ
bhikkhave dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ
veditabbo viññūhi” iti yantaṃ vuttaṃ, idametaṃ paṭicca vuttanti.
|
-- Lành thay, này các Tỷ-kheo!
Này các Tỷ-kheo, các Ông đă được Ta giới thiệu Chánh Pháp, Pháp
này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có
khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu. Này các
Tỷ-kheo, Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến
để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân
giác hiểu. Tất cả những ǵ đă nói là do duyên này mà nói.
|
|
408. Tiṇṇaṃ kho pana bhikkhave sannipātā
gabbhassāvakkanti hoti. Idha mātāpitaro ca sannipatitā honti,
mātā ca na utunī hoti, gandhabbo ca na paccupaṭṭhito hoti, neva
tāva gabbhassāvakkanti hoti. Idha mātāpitaro ca sannipatitā
honti, mātā ca utunī hoti, gandhabbo ca na paccupaṭṭhito hoti,
neva tāva gabbhassāvakkanti hoti. Yato ca kho bhikkhave
mātāpitaro ca sannipatitā honti, mātā ca utunī hoti, gandhabbo
ca paccupaṭṭhito hoti. Evaṃ tiṇṇaṃ sannipātā gabbhassāvakkanti
hoti.
|
(Ṿng luân hồi: từ
sanh đến trưởng thành)
Này các Tỷ-kheo, có ba sự ḥa
hợp mà một bào thai thành h́nh: ở đây, cha mẹ có giao hợp và
người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm
(gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành
h́nh. Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có
thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như
vậy bào thai không thể thành h́nh. Và này các Tỷ-kheo, khi nào
cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và
hương ấm có hiện tiền; có ba sự ḥa hợp như vậy, th́ bào thai
mới thành h́nh.
|
|
Tamenaṃ bhikkhave mātā nava vā dasa vā māse gabbhaṃ
kucchinā pariharati mahatā saṃsayena garubhāraṃ (Garumbhāraṃ
- Sī, I), tamenaṃ
bhikkhave mātā navannaṃ vā dasannaṃ vā māsānaṃ accayena vijāyati
mahatā saṃsayena garubhāraṃ. Tamenaṃ jātaṃ samānaṃ sakena
lohitena poseti. Lohitañhetaṃ bhikkhave ariyassa vinaye, yadidaṃ
mātuthaññaṃ.
|
Rồi này các Tỷ-kheo, người mẹ
trong chín hay mười tháng mang bào thai ấy, với sự lo âu lớn đối
với gánh nặng ấy. Rồi này các Tỷ-kheo, sau chín hay mười tháng,
người mẹ sinh đẻ với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Khi đă
sinh, người mẹ nuôi hài nhi ấy với máu của ḿnh. Này các
Tỷ-kheo, trong luật của bậc Thánh, sữa của bà mẹ được xem là
máu.
|
|
Sa kho so bhikkhave kumāro vuddhimanvāya indriyānaṃ
paripākamanvāya yāni tāni kumārakānaṃ kīḷāpanakāni, tehi kīḷati,
seyyathidaṃ, vaṅkakaṃ ghaṭikaṃ mokkhacikaṃ ciṅgulakaṃ
pattāḷhakaṃ rathakaṃ dhanukaṃ.
|
Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ ấy, sau
khi lớn lên, sau khi các căn đă thuần thục, chơi với những tṛ
chơi dành cho các đứa trẻ, như với cái cày nhỏ, chơi khăn, chơi
nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ đong bằng lá, chơi
xe con, chơi cung nhỏ.
|
|
Sa kho so bhikkhave kumāro
vuddhimanvāya indriyānaṃ paripākamanvāya pañcahi kāmaguṇehi
samappito samaṅgībhūto paricāreti. Cakkhuviññeyyehi rūpehi
iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṃhitehi rajanīyehi.
Sotaviññeyyehi saddehi. Ghānaviññeyyehi gandhehi.
Jivhāviññeyyehi rasehi. Kāyaviññeyyehi phoṭṭhabbehi iṭṭhehi
kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṃhitehi rajanīyehi.
|
Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ sau khi
lớn lên, sau khi các căn do mắt nhận thức, được thuần thục, thọ
hưởng đầy đủ năm món dục lạc; các sắc do mắt nhận thức, sắc này
khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ư, kích thích ḷng dục, hấp dẫn;
các tiếng do tai nhận thức... Các hương do mũi nhận thức... Các
vị do lưỡi nhận thức... Các xúc do thân cảm xúc; các xúc này khả
ái, khả hỷ, khả lạc, khả ư, kích thích ḷng dục.
|
|
409. So cakkhunā rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe
sārajjati, appiyarūpe rūpe byāpajjati anupaṭṭhitakāyasati ca
viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ
yathābhūtaṃ nappajānāti, yatthassa te pāpakā akusalā dhammā
aparisesā nirujjhanti. So evaṃ anurodhavirodhaṃ samāpanno yaṃ
kiñci vedanaṃ vedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, so
taṃ vedanaṃ abhinandati abhivadati, ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa
taṃ vedanaṃ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati
nandī, yā vedanāsu nandī, tadupādānaṃ. Tassupādānapaccayā bhavo,
bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti, evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
|
(Tiếp tục luân hồi)
Khi thấy sắc bằng mắt, người đó
tham ái đối với sắc đẹp, người đó ghét bỏ đối với sắc xấu, người
đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn. Người
đó không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính
nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của người đó được trừ diệt,
không có dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch)
có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc
thọ, người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước thọ ấy. V́ tùy hỷ,
hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy, nên dục sanh hỷ, có tâm dục
hỷ đối với những cảm thọ ấy nên dục hỷ sanh. Có tâm dục hỷ đối
với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu
sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già,
chết, sầu, bi, khổ, ưu, năo, sanh. Như vậy là sự tập khởi của
toàn bộ khổ uẩn này.
|
|
Sotena saddaṃ sutvā.
Pa . Ghānena gandhaṃ ghāyitvā. Pa . Jivhāya rasaṃ sāyitvā. Pa .
Kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā. Pa . Manasā dhammaṃ viññāya
piyarūpe dhamme sārajjati, appiyarūpe dhamme byāpajjati,
anupaṭṭhitakāyasati ca viharati parittacetaso, tañca
cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, yatthassa te
pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti. So evaṃ
anurodhavirodhaṃ samāpanno yaṃ kiñci vedanaṃ vedeti sukhaṃ vā
dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, so taṃ vedanaṃ abhinandati
abhivadati, ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṃ vedanaṃ abhinandato
abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī, yā vedanāsu
nandī, tadupādānaṃ. Tassupādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti,
jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā
sambhavanti, evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo
hoti.
|
Khi người đó nghe tiếng với
tai... khi người đó ngửi hương với mũi... khi người đó nếm vị
với lưỡi... khi người đó cảm xúc với thân... khi người đó nhận
thức pháp với ư, người đó tham ái đối với pháp tốt, ghét bỏ đối
với pháp xấu. Người đó sống niệm không an trú trên thân, với một
tâm nhỏ mọn. Người đó không như thật tuệ tri đến tâm giải thoát,
tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của
người đó được trừ diệt, không c̣n dư tàn. Như vậy, đối diện với
thân, sơ (thuận, nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ
thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham
trước cảm thọ ấy. V́ người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước
cảm thọ ấy nên dục hỷ sanh. Có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ
ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên
sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu,
năo sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
|
|
410. Idha bhikkhave Tathāgato loke uppajjati Arahaṃ
Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro
purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā. So imaṃ
lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ
sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti, so dhammaṃ
deseti ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ
sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti.
|
(Đoạn tận luân hồi:
Sự tu tập)
Ở đời, này các Tỷ-kheo, Như Lai
xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự chứng ngộ với
thượng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên
giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn,
lại tuyên thuyết điều Như Lai đă chứng ngộ. Như Lai thuyết pháp,
sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Như Lai
truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh.
|
|
Taṃ dhammaṃ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṃ vā
kule paccājāto, so taṃ dhammaṃ sutvā Tathāgate saddhaṃ
paṭilabhati, so tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti
paṭisañcikkhati “Sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso
pabbajjā, nayidaṃ sukaraṃ agāraṃ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṃ
ekantaparisuddhaṃ saṅkhalikhitaṃ brahmacariyaṃ carituṃ,
yaṃnūnāhaṃ kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajeyyan”ti. So aparena samayena appaṃ vā
bhogakkhandhaṃ pahāya mahantaṃ vā bhogakkhandaṃ pahāya appaṃ vā
ñātiparivaṭṭaṃ pahāya mahantaṃ vā ñātiparivaṭṭaṃ pahāya
kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā
anagāriyaṃ pabbajati.
|
Người gia trưởng hay con vị gia
trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp
ấy. Sau khi nghe Pháp, người ấy sanh ḷng kính ngưỡng Như Lai.
Khi có ḷng tín ngưỡng, vị ấy suy nghĩ: "Đời sống gia đ́nh đầy
những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất
gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở
gia đ́nh có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn
thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp
áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh". Sau
một thời gian, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà
con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc,
đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh.
|
|
411. So evaṃ
pabbajito samāno bhikkhūnaṃ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṃ
pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇdo nihitasattho lajjī
dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
|
Khi đă xuất gia như vậy, vị ấy
sống thành tựu học pháp chánh hạnh, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát
sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quư, có ḷng từ, sống thương
xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu t́nh.
|
|
Adinnādānaṃ
pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī,
athenena sucibhūtena attanā viharati.
|
Vị ấy từ
bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đă cho, chỉ mong những
vật đă cho, sống thanh tịnh, không có trộm cắp,
|
|
Abrahmacariyaṃ pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato
methunā gāmadhammā.
|
từ bỏ tà hạnh,
sống theo phạm hạnh, sống hạnh viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ.
|
|
Musāvādaṃ pahāya musāvādā
paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko
avisaṃvādako lokassa.
|
Từ bỏ nói láo, nói những lời
chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không
lường gạt, không phản lại đối với đời,
|
|
Pisuṇaṃ vācaṃ
pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra
akkhātā imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṃ akkhātā amūsaṃ
bhedāya, iti bhinnānaṃ vā sandhātā, sahitānaṃ vā anuppadātā,
samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṃ vācaṃ
bhāsitā hoti.
|
từ bỏ nói hai lưỡi, tránh
xa nói hai lưỡi, nghe điều ǵ ở chỗ này, không đến chỗ kia nói
để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều ǵ ở chỗ kia, không
đến nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia.
Như vậy, vị ấy sống ḥa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những
kẻ ḥa hợp, hoan hỷ trong ḥa hợp, thoải mái trong ḥa hợp, hân
hoan trong ḥa hợp, nói những lời đưa đến ḥa hợp,
|
|
Pharusaṃ vācaṃ
pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti, yā sā vācā nelā
kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā
bahujanamanāpā, tathārūpiṃ vācaṃ bhāsitā hoti.
|
từ bỏ lời nói
độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói không lỗi
lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhă, đẹp ḷng
nhiều người,
|
|
Samphappalāpaṃ
pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī
atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṃ vācaṃ bhāsitā
kālena sāpadesaṃ pariyantavatiṃ atthasaṃhitaṃ.
|
từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù
phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có
ư nghĩa, nói những lời về Chánh Pháp, nói những lời về Luật, nói
những lời đáng được ǵn giữ, những lời hợp thời, thuận lư, có
mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
|
|
So
bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti. Ekabhattiko hoti
rattūparato virato vikālabhojanā. Naccagītavāditavisūkadassanā
paṭivirato hoti. Mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇdanavibhūsanaṭṭhānā
paṭivirato hoti. Uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti.
Jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Āmakamaṃsapaṭiggahaṇā
paṭivirato hoti. Itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Ajeḷakapaṭiggahaṇā
paṭivirato hoti. Kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Hatthigavāssavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti. Kayavikkayā
paṭivirato hoti. Tulākūṭakaṃsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti.
Ukkoṭana vañcana nikati sāciyogā paṭivirato hoti. Chedana
vadhabandhanaviparāmosa ālopa sahasākārā paṭivirato hoti (Passa
cūḷahatthipadopame (238) piṭṭhe).
|
Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột
giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban
đêm, từ bỏ ăn phi thời, từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, tŕnh diễn,
từ bỏ trang sức bằng ṿng hoa, hương liệu, dầu thơm và các thời
trang, từ bỏ dùng giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng bạc,
từ bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn
bà, con gái, từ bỏ nhận nô tỳ, gái và trai, từ bỏ nhận cừu và
dê, từ bỏ nhận gia cầm và heo, từ bỏ nhận voi, ḅ, ngựa và ngựa
cái, từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai, từ bỏ nhận người môi
giới hoặc tự ḿnh làm môi giới, từ bỏ buôn bán, từ bỏ các sự
gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường, từ bỏ các tà hạnh như hối
lộ, gian trá, lừa đảo, từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc,
bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
|
|
So santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena
kucchiparihārikena piṇdapātena, so yena yeneva pakkamati,
samādāyeva pakkamati. Seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva
deti, sapattabhārova deti. Evameva bhikkhu santuṭṭho hoti
kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇdapātena, so
yena yeneva pakkamati, samādāyeva pakkamati. So iminā ariyena
sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṃ anavajjasukhaṃ
paṭisaṃvedeti.
|
Vị ấy biết đủ với tấm y để che
thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang
theo (y và b́nh bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang
theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo biết đủ với tấm y để che thân,
với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo
(y và b́nh bát). Vị ấy nhờ thành tựu Thánh giới uẩn này nên
hưởng được lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.
|
|
So cakkhunā
rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī,
yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ
abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa
saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye
saṃvaraṃ āpajjati. Sotena saddaṃ sutvā. Pa . Ghānena gandhaṃ
ghāyitvā. Pa . Jivhāya rasaṃ sāyitvā. Pa . Kāyena phoṭṭhabbaṃ
phusitvā. Pa . Manasā dhammaṃ viññāya na nimittaggāhī hoti
nānubyañjanaggāhī, yatvādhikaraṇamenaṃ manindriyaṃ asaṃvutaṃ
viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā
anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati
manindriyaṃ, manindriye saṃvaraṃ āpajjati. So iminā ariyena
indriyasaṃvarena samannāgato ajjhattaṃ abyāsekasukhaṃ
paṭisaṃvedeti.
|
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không
nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên
nhân ǵ khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi,
các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy tự chế ngự nguyên nhân
ấy, hộ tŕ con mắt, thực hành sự hộ tŕ con mắt. Khi tai nghe
tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ư nhận
thức các pháp; vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ
tướng riêng. Những nguyên nhân ǵ khiến ư căn không được chế
ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị
ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ tŕ ư căn, thực hành sự hộ tŕ ư
căn. Vị ấy nhờ sự hộ tŕ cao quư các căn ấy, nên hưởng lạc thọ,
nội tâm không lỗi lầm.
|
|
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite
vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī
hoti, saṃghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte
khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme
sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite
tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
|
Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều
tỉnh giác, khi nh́n thẳng, khi nh́n quanh đều tỉnh giác, khi co
tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, b́nh bát,
thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác,
khi đi đại tiểu tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng,
ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác.
|
|
412. So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato,
(imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato) (Passa
cūḷahatthipadopame (239) piṭṭhe)
iminā ca ariyena
indriyasaṃvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena
samannāgato vivittaṃ senāsanaṃ bhajati araññaṃ rukkhamūlaṃ
pabbataṃ kandaraṃ giriguhaṃ susānaṃ vanapatthaṃ abbhokāsaṃ
palālapuñjaṃ. So pacchābhattaṃ piṇdapātapaṭikkanto nisīdati
pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ
upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṃ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā
viharati, abhijjhāya cittaṃ parisodheti. Byāpādapadosaṃ pahāya
abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā
cittaṃ parisodheti. Thinamiddhaṃ pahāya vigatathinamiddho
viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṃ
parisodheti. Uddhaccakukkuccaṃ pahāya anuddhato viharati
ajjhattaṃ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṃ parisodheti.
Vicikicchaṃ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṃkathī
kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṃ parisodheti.
|
Vị ấy với sự thành tựu Thành
giới uẩn này, với sự thành tựu Thánh hộ tŕ căn này, và với
Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch
mịch như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, băi tha ma, lùm
cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong,
vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng, tại chỗ nói trên, và an trú
chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm
thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy
sống với tâm không sân hận, ḷng từ mẫn thương xót tất cả chúng
hữu t́nh, gột rửa, tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị
ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh
sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên.
Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm
lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy
sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm
hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
|
|
413. So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese
paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi vivicca akusalehi
dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ
jhānaṃ upasampajja viharati. Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu
vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso
ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ
jhānaṃ. Pa . Tatiyaṃ jhānaṃ. Pa . Catutthaṃ jhānaṃ upasampajja
viharati.
|
Sau khi từ bỏ năm triền cái làm
ô nhiễm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly pháp bất
thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly
dục sanh, có tầm có tứ. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt
tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do
định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Lại nữa, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân
cảm giác sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là "xả niệm lạc trú",
chứng và trú Thiền thứ ba. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo
xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, chứng và trú Thiền
thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
|
|
414. So cakkhunā rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe na
sārajjati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyasati ca
viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ
yathābhūtaṃ pajānāti, yatthassa te pāpakā akusalā dhammā
aparisesā nirujjhanti. So evaṃ anurodhavirodhavippahīno yaṃ
kiñci vedanaṃ vedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, so
taṃ vedanaṃ nābhinandati nābhivadati, nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa
taṃ vedanaṃ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato yā
vedanāsu nandī, sā nirujjhati, tassa nandīnirodhā
upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā
jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti, evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
|
(Đoạn tận luân hồi:
Giải thoát rốt ráo)
Khi vị ấy thấy sắc bằng mắt, vị
ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu,
vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như
thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà
các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn.
Như vậy từ bỏ (thuận nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ,
khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan
nghênh, không tham trước thọ ấy. V́ vị ấy không tùy hỷ, không
hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với
các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt
nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh
diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, năo diệt.
Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
|
|
Sotena saddaṃ sutvā.
Pa . Ghānena gandhaṃ ghāyitvā. Pa . Jivhāya rasaṃ sāyitvā. Pa .
Kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā. Pa . Manasā dhammaṃ viññāya
piyarūpe dhamme na sārajjati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati,
upaṭṭhitakāyasati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ pajānāti, yatthassa te pāpakā akusalā
dhammā aparisesā nirujjhanti. So evaṃ anurodhavirodhavippahīno
yaṃ kiñci vedanaṃ vedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ
vā, so taṃ vedanaṃ nābhinandati nābhivadati, nājjhosāya
tiṭṭhati. Tassa taṃ vedanaṃ anabhinandato anabhivadato
anajjhosāya tiṭṭhato yā vedanāsu nandī, sā nirujjhati. Tassa
nandīnirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho,
bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti, evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
|
Khi vị ấy nghe tiếng bằng tai...
khi vị ngửi hương bằng mũi... Khi vị ấy nếm vị bằng lưỡi... Khi
vị ấy cảm xúc bằng thân... Khi vị ấy nhận thức pháp bằng ư, vị
ấy không tham ái đối với pháp tốt, không ghét bỏ đối với pháp
xấu. Vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy
như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ chúng
mà các ác, bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư
tàn. Như vậy, vị ấy đoạn trừ (thuận nghịch) có cảm thọ nào khởi
lên: lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy
hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. V́ vị ấy không
tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục
hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ
của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu
diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ,
ưu, năo diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
|
|
Imaṃ kho me tumhe
bhikkhave saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ dhāretha. Sātiṃ pana
bhikkhuṃ kevaṭṭaputtaṃ mahātaṇhājāla -
taṇhāsaṅghāṭappaṭimukkanti.
|
(Kết luận)
Này các Tỷ-kheo, các Ông hăy thọ
tŕ ái tận giải thoát này, được Ta nói một cách tóm tắt, nhưng
(phải nhớ là) Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đă bị mắc
trong cái lưới lớn của ái, trong sự rối loạn của ái.
|
|
Idamavoca
Bhagavā. Attamanā te bhikkhū Bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
|
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
|
|
Mahātaṇhāsaṅkhayasuttaṃ niṭṭhitaṃ
aṭṭhamaṃ.
|
|
|
<Kinh số 037> |
<Kinh
số 039> |
|