|
036. MAHĀSACCAKASUTTAṂ
|
|
036. MAHĀSACCAKASUTTAṂ
- Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
036. ĐẠI KINH SACCA - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
364. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Vesāliyaṃ
viharati Mahāvane Kūṭāgārasālāyaṃ. |
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Vesali, rừng
Đại Lâm, tại giảng đường Trùng Các.
|
|
Tena kho pana samayena
Bhagavā pubbaṇhasamayaṃ sunivattho hoti pattacīvaramādāya
Vesāliṃ piṇdāya pavisitukāmo (Pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā pattacīvaramādāya ... pavisitukāmo hoti - Sī).
Atha kho Saccako Nigaṇṭhaputto jaṅghāvihāraṃ anucaṅkamamāno
anuvicaramāno yena Mahāvanaṃ Kūṭāgārasālā tenupasaṅkami. Addasā
kho āyasmā Ānando Saccakaṃ Nigaṇṭhaputtaṃ dūratova āgacchantaṃ,
disvāna Bhagavantaṃ etadavoca |
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đắp y thật
đầy đủ, cầm y bát, muốn vào Vesali để khất thực. Rồi
Niganthaputta Saccaka tánh hay ngao du thiên hạ, trong khi đi
khắp đó đây, đến tại Đại Lâm, giảng đường Trùng Các. Tôn giả
Ananda thấy Niganthaputta Saccaka từ xa đi lại, liền bạch Thế
Tôn:
|
|
“Ayaṃ bhante Saccako Nigaṇṭhaputto
āgacchati bhassappavādako paṇditavādo sādhusammato bahujanassa.
Eso kho bhante avaṇṇakāmo Buddhassa, avaṇṇakāmo Dhammassa,
avaṇṇakāmo Saṃghassa. Sādhu bhante Bhagavā muhuttaṃ nisīdatu
anukampaṃ upādāyā”ti. |
-- Bạch Thế Tôn, Niganthaputta
Saccaka đang đến, tánh ưa luận chiến, biện luận thiện xảo, được
số đông tôn kính. Bạch Thế Tôn, vị này ưa chỉ trích Phật, ưa chỉ
trích Pháp, ưa chỉ trích Tăng. Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu
Thế Tôn v́ ḷng từ mẫn ngồi lại một lát.
|
|
Nisīdi Bhagavā paññatte āsane. Atha kho
Saccako Nigaṇṭhaputto yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā
Bhagavatā saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ
vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho Saccako
Nigaṇṭhaputto Bhagavantaṃ etadavoca–
|
Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi
đă soạn sẵn. Rồi Niganthaputta Saccaka đi đến chỗ Thế Tôn ở, nói
lên những lời hỏi thăm, chúc tụng, xă giao với Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Niganthaputta Saccaka
nói với Thế Tôn:
|
|
365. Santi bho Gotama eke samaṇabrāhmaṇā
kāyabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti, no cittabhāvanaṃ. Phusanti
hi te bho Gotama sārīrikaṃ dukkhaṃ vedanaṃ. Bhūtapubbaṃ bho
Gotama sārīrikāya dukkhāya vedanāya phuṭṭhassa sato
ūrukkhambhopi nāma bhavissati, hadayaṃpi nāma phalissati,
uṇhaṃpi lohitaṃ mukhato uggamissati, ummādaṃpi pāpuṇissati (Pāpuṇissanti
- Syā, Kaṃ)
cittakkhepaṃ. Tassa
kho etaṃ bho gotama kāyanvayaṃ cittaṃ hoti, kāyassa vasena
vattati. Taṃ kissa hetu, abhāvitattā cittassa. Santi pana bho
Gotama eke samaṇabrāhmaṇā cittabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti,
no kāyabhāvanaṃ. Phusanti hi te bho Gotama cetasikaṃ dukkhaṃ
vedanaṃ. Bhūtapubbaṃ bho Gotama cetasikāya dukkhāya vedanāya
phuṭṭhassa sato ūrukkhambhopi nāma bhavissati, hadayaṃpi nāma
phalissati, uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggamissati, ummādaṃpi
pāpuṇissati cittakkhepaṃ. Tassa kho eso bho Gotama cittanvayo
kāyo hoti, cittassa vasena vattati. Taṃ kissa hetu, abhāvitattā
kāyassa. Tassa mayhaṃ bho Gotama evaṃ hoti “Addhā bhoto
Gotamassa sāvakā cittabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti, no
kāyabhāvanan”ti.
|
-- Tôn giả Gotama, có một số
Sa-môn, Bà-la-môn sống chuyên lo tu tập về thân, không tu tập về
tâm. Tôn giả Gotama, những vị này cảm khổ thọ về thân. Sự t́nh
này đă xảy ra, này Tôn giả Gotama, do cảm khổ về thân, chân sẽ
bị tê liệt, quả tim có thể tức bể, máu nóng có thể trào ra từ
miệng, có thể bị điên cuồng loạn tâm. Tôn giả Gotama, sự t́nh
này xảy ra đối với người mà tâm tùy thuộc thân, khi tâm chịu sự
điều khiển của thân. V́ sao vậy? V́ tâm không được tu tập. Tôn
giả Gotama, nhưng có một số Sa-môn, Bà-la-môn, sống chuyên lo tu
tập về tâm, không tu tập về thân. Tôn giả Gotama, những vị này
cảm khổ thọ về tâm. Sự t́nh này đă xảy ra, này Tôn giả Gotama;
do cảm khổ thọ về tâm, chân sẽ bị tê liệt, quả tim có thể tức
bể, máu có thể trào ra từ miệng, có thể bị điên cuồng loạn tâm.
Tôn giả Gotama, sự t́nh này xảy ra đối với người mà thân tùy
thuộc tâm, khi thân chịu sự điều khiển của tâm. V́ sao vậy? V́
thân không được tu tập. Này Tôn giả Gotama, rồi tôi suy nghĩ:
"Thật sự, Thanh văn đệ tử của Tôn giả Gotama sống chuyên lo tu
tập về tâm không tu tập về thân?"
|
|
366. Kinti pana te Aggivessana kāyabhāvanā
sutāti. |
-- Này Aggivessana, Ông nghe tu
tập về thân như thế nào?
|
|
Seyyathidaṃ, Nando Vaccho, Kiso Saṃkicco, Makkhali Gosālo. Etehi
bho Gotama acelakā muttācārā hatthāpalekhanā, na-ehibhaddantikā,
natiṭṭhabhaddantikā (Na-ehibhadantikā,
natiṭṭhabhadantikā - Sī, Syā, Kaṃ, I, Ka),
na abhihaṭaṃ na uddissakataṃ na nimantanaṃ sādiyanti, te na
kumbhimukhā paṭiggaṇhanti, na kaḷopimukhā paṭiggaṇhanti, na
eḷakamantaraṃ, na daṇdamantaraṃ, na musalamantaraṃ, na dvinnaṃ
bhuñjamānānaṃ, na gabbhiniyā, na pāyamānāya, na
purisantaragatāya, na saṅkittīsu, na yattha sā upaṭṭhito hoti,
na yattha makkhikā saṇdasaṇdacārinī, na macchaṃ, na maṃsaṃ, na
suraṃ, na merayaṃ, na thusodakaṃ pivanti, te ekāgārikā vā honti
ekālopikā, dvāgārikā vā honti dvālopikā. Pa . Sattāgārikā vā
honti sattālopikā, ekissāpi dattiyā yāpenti, dvīhipi dattīhi
yāpenti. Pa . Sattahipi dattīhi yāpenti, ekāhikampi āhāraṃ
āhārenti, dvīhikampi āhāraṃ āhārenti. Pa . Sattāhikampi āhāraṃ
āhārenti. Iti evarūpaṃ addhamāsikampi
pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyuttā viharantīti.
|
-- Như Nanda Vaccha, Kisa
Sankicca, Makkhàli Gosàla, những vị này, này Tôn giả Gotama,
sống lơa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho
sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang
đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho ḿnh, không nhận mời đi
ăn, không nhận đồ ăn từ nồi chảo, không nhận đồ ăn tại ngưỡng
cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn
đặt giữa những cối giă gạo, không nhận đồ ăn từ hai người, không
nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người
đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang
giao cấu, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn
tại chỗ ruồi bu, không ăn cá thịt, không uống rượu nấu, rượu
men, cháo trấu. Những vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn
một miếng, hay vị ấy chỉ nhận tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai
miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại bảy nhà, vị ấy chỉ nhận ăn bảy
miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai
bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa,
hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy các vị ấy sống theo
hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần.
|
|
Kiṃ pana te
Aggivessana tāvatakeneva yāpentīti. |
-- Này Aggivessana, họ có thể tự
nuôi sống với mức độ như vậy chăng?
|
|
No hidaṃ bho Gotama.
Appekadā bho Gotama uḷārāni uḷārāni khādanīyāni khādanti,
uḷārāni uḷārāni bhojanāni bhuñjanti, uḷārāni uḷārāni sāyanīyāni
sāyanti, uḷārāni uḷārāni pānāni pivanti. Te imaṃ kāyaṃ balaṃ
gāhenti nāma brūhenti nāma medenti nāmāti.
|
-- Không phải vậy, này Tôn giả
Gotama. Thỉnh thoảng, này Tôn giả Gotama, họ ăn những món ăn thù
thắng loại cứng, họ ăn những món ăn thù thắng loại mềm, họ nếm
những vị ăn thù thắng, họ uống những đồ uống thù thắng. Họ nhờ
các món ăn ấy gầy dựng thân lực, làm cho thân to lớn, làm cho
thân béo mập.
|
|
Yaṃ kho te Aggivessana purimaṃ pahāya pacchā
upacinanti. Evaṃ imassa kāyassa ācayāpacayo hoti. Kinti pana te
Aggivessana cittabhāvanā sutāti.
|
-- Này Aggivessana, như vậy
những ǵ ban đầu họ từ bỏ, về sau họ lại thọ dụng. Như vậy có
tụ, có tán (có được, có mất) cho thân này. Này Aggivessana, Ông
nghe tu tập về tâm như thế nào?
|
|
Cittabhāvanāya kho Saccako Nigaṇṭhaputto
Bhagavatā puṭṭho samāno na sampāyāsi.
|
Niganthaputta Saccaka, được Thế
Tôn hỏi tu tập về tâm, không có thể trả lời được. |
|
367. Atha kho Bhagavā Saccakaṃ Nigaṇṭhaputtaṃ
etadavoca “Yāpi kho te esā Aggivessana purimā kāyabhāvanā
bhāsitā, sāpi ariyassa vinaye no dhammikā kāyabhāvanā.
Kāyabhāvanampi (Kāyabhāvanaṃ
hi - Sī, I, Ka)
kho tvaṃ Aggivessana
na aññāsi, kuto pana tvaṃ cittabhāvanaṃ jānissasi. Api ca
Aggivessana yathā abhāvitakāyo ca hoti abhāvitacitto ca.
Bhāvitakāyo ca hoti bhāvitacitto ca. Taṃ suṇāhi, sādhukaṃ manasi
karohi, bhāsissāmī”ti. |
Rồi Thế Tôn
nói với Niganthaputta Saccaka: -- Này Aggivessana, thân tu tập
mà Ông vừa mới nói đầu tiên ấy không phải là thân tu tập đúng
pháp trong giới luật của bậc Thánh. Này Aggivessana, Ông c̣n
không hiểu thân tu tập, làm sao Ông có thể hiểu tâm tu tập. Và
này Aggivessana, như thế nào là thân không tu tập, tâm không tu
tập; như thế nào là thân tu tập, tâm tu tập? Hăy nghe và khéo
tác ư, Ta sẽ giảng. |
|
“Evaṃ bho”ti kho Saccako Nigaṇṭhaputto
Bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca–
|
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Niganthaputta Saccaka trả lời
Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau: |
|
368. Kathañca Aggivessana abhāvitakāyo ca hoti
abhāvitacitto ca. Idha Aggivessana assutavato puthujjanassa
uppajjati sukhā vedanā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno
sukhasārāgī ca hoti, sukhasārāgitañca āpajjati. Tassa sā sukhā
vedanā nirujjhati. Sukhāya vedanāya nirodhā uppajjati dukkhā
vedanā. So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati
paridevati urattāḷiṃ kandati sammohaṃ āpajjati. Tassa kho esā
Aggivessana uppannāpi sukhā vedanā cittaṃ pariyādāya tiṭṭhati,
abhāvitattā kāyassa. Uppannāpi dukkhā vedanā cittaṃ pariyādāya
tiṭṭhati, abhāvitattā cittassa. Yassa kassaci Aggivessana evaṃ
ubhatopakkhaṃ uppannāpi sukhā vedanā cittaṃ pariyādāya tiṭṭhati,
abhāvitattā kāyassa. Uppannāpi dukkhā vedanā cittaṃ pariyādāya
tiṭṭhati, abhāvitattā cittassa. Evaṃ kho Aggivessana
abhāvitakāyo ca hoti abhāvitacitto ca.
|
-- Này Aggivessana, thế nào là
thân không tu tập và thế nào là tâm không tu tập? Ở đây, này
Aggivessana, kẻ vô văn phàm phu khởi lên lạc thọ. Người này được
cảm giác lạc thọ, liền tham đắm lạc thọ và rơi vào sự tham đắm
lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi
lên khổ thọ. Người ấy, do cảm giác khổ thọ, nên sầu muộn, than
van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh. Này Aggivessana, lạc
thọ ấy khởi lên cho người kia, chi phối tâm và an trú, do thân
không tu tập. Khổ thọ ấy khởi lên chi phối tâm và an trú, do tâm
không tu tập. Này Aggivessana, không luận người nào mà cả hai
phương tiện đều có lạc thọ khởi lên, chi phối tâm và an trú, do
thân không tu tập; khổ thọ khởi lên, chi phối tâm và an trú, do
tâm không tu tập. Như vậy, này Aggivessana, người ấy là người có
thân không tu tập và tâm không tu tập.
|
|
369. Kathañca Aggivessana bhāvitakāyo ca hoti
bhāvitacitto ca. Idha Aggivessana sutavato ariyasāvakassa
uppajjati sukhā vedanā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno na
sukhasārāgī ca hoti, na sukhasārāgitañca āpajjati. Tassa sā
sukhā vedanā nirujjhati. Sukhāya vedanāya nirodhā uppajjati
dukkhā vedanā. So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na
kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ
āpajjati. Tassa kho esā Aggivessana uppannāpi sukhā vedanā
cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati, bhāvitattā kāyassa. Uppannāpi
dukkhā vedanā cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati, bhāvitattā
cittassa. Yassa kassaci Aggivessana evaṃ ubhatopakkhaṃ uppannāpi
sukhā vedanā cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati, bhāvitattā kāyassa.
Uppannāpi dukkhā vedanā cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati,
bhāvitattā cittassa. Evaṃ kho Aggivessana bhāvitakāyo ca hoti
bhāvitacitto cāti.
|
Và này Aggivessana, thế nào là
thân tu tập và tâm tu tập? Ở đây, này Aggivessana, lạc thọ khởi
lên cho vị Thánh đệ tử nghe nhiều. Vị này được cảm giác lạc thọ,
nhưng không tham đắm lạc thọ, không rơi vào sự tham đắm lạc thọ.
Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ
thọ, vị ấy cảm giác khổ thọ nhưng không sầu muộn, than van, khóc
lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh. Này Aggivessana, lạc thọ ấy
khởi lên cho vị kia, không chi phối tâm và không an trú, do thân
có tu tập; khổ thọ ấy khởi lên cho vị kia, không chi phối tâm và
không an trú, do tâm có tu tập. Này Aggivessana, không luận
người nào mà cả hai phương tiện đều có lạc thọ khởi lên, không
chi phối tâm và không an trú, do thân có tu tập; khổ thọ khởi
lên, không chi phối tâm và không an trú, do tâm có tu tập, như
vậy này Aggivessana, người ấy là người có thân tu tập, có tâm tu
tập.
|
|
370. Evaṃ pasanno ahaṃ bhoto Gotamassa. Bhavaṃ hi
Gotamo bhāvitakāyo ca hoti bhāvitacitto cāti. |
-- Như vậy, tôi có ḷng tin
tưởng với Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama là vị có thân tu tập và
có tâm tu tập.
|
|
Addhā kho te ayaṃ
Aggivessana āsajja upanīya vācā bhāsitā. Api ca te ahaṃ
byākarissāmi. Yato kho ahaṃ Aggivessana kesamassuṃ ohāretvā
kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajito. Taṃ
vata me uppannā vā sukhā vedanā cittaṃ pariyādāya ṭhassati,
uppannā vā dukkhā vedanā cittaṃ pariyādāya ṭhassatīti netaṃ
ṭhānaṃ (Netaṃ
kho ṭhānaṃ - Sī, I)
vijjatīti.
|
-- Này Aggivessana, dầu cho lời
nói của Ông có vẻ trịch thượng và khiêu khích, nhưng Ta sẽ trả
lời cho Ông. Này Aggivessana, v́ Ta đă cạo bỏ râu tóc, đắp áo
cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, lạc thọ
thật sự khởi lên nơi Ta, chi phối tâm và an trú, hay khổ thọ
thật sự khởi lên nơi Ta, chi phối tâm và an trú, sự t́nh như vậy
không thể xảy ra.
|
|
Na hi nūna (Na
hanūna - Sī, Syā, Kaṃ, I)
bhoto Gotamassa
uppajjati tathārūpā sukhā vedanā, yathārūpā uppannā sukhā vedanā
cittaṃ pariyādāya tiṭṭheyya. Na hi nūna bhoto Gotamassa
uppajjati tathārūpā dukkhā vedanā, yathārūpā uppannā dukkhā
vedanā cittaṃ pariyādāya tiṭṭheyyāti.
|
-- Phải chăng, một lạc thọ không
khởi lên nơi Tôn giả Gotama một cách khiến cho lạc thọ ấy không
thể chi phối tâm và an trú, phải chăng một khổ thọ khởi lên nơi
Tôn giả Gotama một cách khiến cho khổ thọ ấy không thể chi phối
tâm và an trú?
|
|
371. Kiṃ hi no siyā Aggivessana. Idha me Aggivessana
pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa Bodhisattasseva sato
etadahosi “Sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā.
Nayidaṃ sukaraṃ agāraṃ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṃ
ekantaparisuddhaṃ saṅkhalikhitaṃ brahmacariyaṃ carituṃ.
Yaṃnūnāhaṃ kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajeyyan”ti. |
-- Này Aggivessana, sao có thể
không như vậy được? Ở đây, này Aggivessana, trước khi Ta giác
ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác, khi c̣n là Bồ-tát, Ta suy nghĩ
như sau: "Đời sống gia đ́nh bị g̣ bó, con đường đầy những bụi
đời. Đời sống xuất gia như sống giữa hư không. Thật rất khó sống
tại gia đ́nh mà có thể sống hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh
tịnh đời sống phạm hạnh thuần tịnh. Hăy cạo bỏ râu tóc, đắp áo
cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh".
|
|
So kho ahaṃ Aggivessana
aparena samayena daharova samāno susukāḷakeso bhadrena yobbanena
samannāgato paṭhamena vayasā akāmakānaṃ mātāpitūnaṃ assumukhānaṃ
rudantānaṃ kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajiṃ.
|
Rồi này Aggivessana, sau một
thời gian, khi Ta c̣n trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ
huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc
dầu cha mẹ không bằng ḷng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo
bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không
gia đ́nh.
|
|
So evaṃ pabbajito samāno
kiṃkusalagavesī anuttaraṃ santivarapadaṃ pariyesamāno yena Āḷāro
Kālāmo tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Āḷāraṃ Kālāmaṃ etadavocaṃ
“Icchāmahaṃ āvuso Kālāma imasmiṃ Dhammavinaye brahmacariyaṃ
caritun”ti. Evaṃ vutte Aggivessana Āḷāro Kālāmo maṃ etadavoca
“Viharatāyasmā, tādiso ayaṃ dhammo, yattha viññū puriso
nacirasseva sakaṃ ācariyakaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja vihareyyā”ti. So kho ahaṃ Aggivessana nacirasseva
khippameva taṃ dhammaṃ pariyāpuṇiṃ. So kho ahaṃ Aggivessana
tāvatakeneva oṭṭhapahatamattena lapitalāpanamattana ñāṇavādañca
vadāmi theravādañca. Jānāmi passāmīti ca paṭijānāmi ahañceva
aññe ca.
|
Ta xuất gia như vậy, một người
đi t́m cái ǵ chí thiện, t́m cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo
lộ. Ta đến chỗ Alara Kalama ở, khi đến xong liền thưa với Alara
Kalama: "Hiền giả Kalama, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp
luật này". Này Aggivessana, được nghe nói vậy, Alara Kalama nói
với Ta: "Này Tôn giả, hăy sống (và an trú). Pháp này là như vậy,
khiến kẻ có trí, không bao lâu như vị Bổn sư của ḿnh (chỉ dạy),
tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú". Này Aggivessana, và không
bao lâu Ta đă thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này
Aggivessana, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói,
thời Ta nói giáo lư của kẻ trí và giáo lư của bậc Trưởng lăo
(Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết
và Ta thấy.
|
|
Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Na kho Āḷāro Kālāmo
imaṃ dhammaṃ kevalaṃ saddhāmattakena ‘Sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharāmī’ti pavedeti, addhā Āḷāro Kālāmo imaṃ
dhammaṃ jānaṃ passaṃ viharatī”ti.
|
Này Aggivessana, Ta suy nghĩ như
sau: "Alara Kalama tuyên bố pháp này không phải chỉ v́ ḷng tin:
"Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an trú". Chắc chắn
Alara Kalama biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú". |
|
Atha khvāhaṃ
Aggivessana yena Āḷāro Kālāmo tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā
Āḷāraṃ Kālāmaṃ etadavocaṃ “Kittāvatā no āvuso Kālāma imaṃ
dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti
pavedesī”ti. Evaṃ vutte Aggivessana Āḷāro Kālāmo
ākiñcaññāyatanaṃ pavedesi.
|
Này
các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến Ta
nói với Alara Kalama: "Hiền giả Kalama, cho đến mức độ nào, Ngài
tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố pháp này?" Này
Aggivessana, được nói vậy, Alara Kalama tuyên bố về Vô sở hữu
xứ.
|
|
Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi
“Na kho Āḷārasseva Kālāmassa atthi saddhā, mayhaṃpatthi saddhā.
Na kho Āḷārasseva Kālāmassa atthi vīriyaṃ, mayhaṃpatthi vīriyaṃ.
Na kho Āḷārasseva Kālāmassa atthi sati, mayhaṃpatthi sati. Na
kho Āḷārasseva Kālāmassa atthi samādhi, mayhaṃpatthi samādhi. Na
kho Āḷārasseva Kālāmassa atthi paññā, mayhaṃpatthi paññā.
Yaṃnūnāhaṃ ‘Yaṃ dhammaṃ Āḷāro Kālāmo sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharāmī’ti pavedeti, tassa dhammassa sacchikiriyāya
padaheyyan”ti.
|
Rồi này Aggivessana, Ta suy
nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có ḷng tin, Ta cũng có
ḷng tin. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn, Ta
cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có niệm, Ta
cũng có niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có định, Ta
cũng có định. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tuệ, Ta cũng
có tuệ. Vậy Ta hăy cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama
tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú".
|
|
So kho ahaṃ Aggivessana nacirasseva khippameva
taṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsiṃ.
|
Rồi này Aggivessana, không bao
lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng,
Ta an trú. |
|
Atha khvāhaṃ Aggivessana yena Āḷāro Kālāmo
tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Āḷāraṃ Kālāmaṃ etadavocaṃ
“Ettāvatā no āvuso Kālāma imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja pavedesī”ti. Ettāvatā kho ahaṃ āvuso imaṃ dhammaṃ
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemīti. Ahampi kho
āvuso ettāvatā imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharāmīti. Lābhā no āvuso, suladdhaṃ no āvuso, ye
mayaṃ āyasmantaṃ tādisaṃ sabrahmacāriṃ passāma. Iti yāhaṃ
dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemi, taṃ tvaṃ
dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi. Yaṃ tvaṃ
dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi, tamahaṃ
dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemi. Iti
yāhaṃ dhammaṃ jānāmi, taṃ tvaṃ dhammaṃ jānāsi. Yaṃ tvaṃ dhammaṃ
jānāsi, tamahaṃ dhammaṃ jānāmi. Iti yādiso ahaṃ, tādiso tuvaṃ.
Yādiso tuvaṃ, tādiso ahaṃ. Ehi dāni āvuso ubhova santā imaṃ
gaṇaṃ pariharāmāti.
|
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở,
sau khi đến, Ta nói với Alara Kalama: "Này Hiền giả Kalama, có
phải Hiền giả đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này
đến mức độ như vậy?" --"Vâng, Hiền giả, tôi đă tự tri, tự chứng,
tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Này Hiền
giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến
mức độ như vậy". --"Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo
lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng
phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và
tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an
trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính
pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi
biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính
pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả
như thế nào, tôi là như vậy. Nay hăy đến đây, Hiền giả, hai
chúng ta hăy chăm sóc hội chúng này!"
|
|
Iti kho
Aggivessana Āḷāro Kālāmo ācariyo me samāno (attano) (Natthi
- Sī, I)
antevāsiṃ maṃ samānaṃ
attanā samasamaṃ ṭhapesi, uḷārāya ca maṃ pūjāya pūjesi. Tassa
mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Nāyaṃ dhammo nibbidāya na virāgāya
na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na
Nibbānāya saṃvattati. Yāvadeva ākiñcaññāyatanūpapattiyā”ti. So
kho ahaṃ Aggivessana taṃ dhammaṃ analaṅkaritvā tasmā dhammā
nibbijja apakkamiṃ.
|
Như vậy, này Aggivessana, Alara
Kalama là Đạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng
với ḿnh, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này
Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm
ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không
hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến
giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt
Vô sở hữu xứ". Như vậy, này Aggivessana, Ta không tôn kính pháp
này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
|
|
372. So kho ahaṃ Aggivessana kiṃkusalagavesī
anuttaraṃ santivarapadaṃ pariyesamāno yena Udako Rāmaputto
tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Udakaṃ Rāmaputtaṃ etadavocaṃ
“Icchāmahaṃ āvuso (Passa
pāsarāsisutte (221) piṭṭhe)
imasmiṃ Dhammavinaye brahmacariyaṃ caritun”ti. Evaṃ vutte
Aggivessana Udako Rāmaputto maṃ etadavoca “Viharatāyasmā, tādiso
ayaṃ dhammo, yattha viññū puriso nacirasseva sakaṃ ācariyakaṃ
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā”ti. So kho ahaṃ
Aggivessana nacirasseva khippameva taṃ dhammaṃ pariyāpuṇiṃ. So
kho ahaṃ Aggivessana tāvatakeneva oṭṭhapahatamattena
lapitalāpanamattena ñāṇavādañca vadāmi theravādañca,
jānāmipassāmīti ca paṭijānāmi ahañceva aññe ca.
|
Rồi này Aggivessana, Ta, kẻ đi
t́m cái ǵ chí thiện, t́m cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo
lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói với
Uddaka Ramaputta: "Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp
luật này". Được nói vậy, này Aggivessana, Uddaka Ramaputta nói
với Ta: "Này Tôn giả, hăy sống (và an trú), pháp này là như vậy,
khiến người có trí không bao lâu như vị Bổn sư của ḿnh (chỉ
dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú". Này Aggivessana, Ta đă
thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Aggivessana, cho
đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo
lư của kẻ trí, và giáo lư của bậc Trưởng lăo (Thượng Tọa), và Ta
tự cho rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
|
|
Tassa mayhaṃ
Aggivessana etadahosi “Na kho Rāmo imaṃ dhammaṃ kevalaṃ
saddhāmattakena ‘Sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja
viharāmī’ti pavedesi, addhā Rāmo imaṃ dhammaṃ jānaṃ passaṃ
vihāsī”ti. Atha khvāhaṃ Aggivessana yena Udako Rāmaputto
tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Udakaṃ Rāmaputtaṃ etadavocaṃ
“Kittāvatā no āvuso Rāmo imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharāmīti pavedesī”ti. Evaṃ vutte Aggivessana Udako
Rāmaputto nevasaññānāsaññāyatanaṃ pavedesi.
|
Này Aggivessana, Ta suy nghĩ như
sau: "Rama tuyên bố pháp này không phải v́ ḷng tin: "Sau khi tự
tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú". Chắc chắn Rama thấy pháp
này, biết pháp này, rồi mới an trú". Này Aggivessana, rồi Ta đi
đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka
Ramaputta: "Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự
chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?" Này Aggivessana, được nghe
nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng
xứ.
|
|
Tassa mayhaṃ
Aggivessana etadahosi “Na kho Rāmasseva ahosi saddhā,
mayhaṃpatthi saddhā. Na kho Rāmasseva ahosi vīriyaṃ,
mayhaṃpatthi vīriyaṃ. Na kho Rāmasseva ahosi sati, mayhaṃpatthi
sati. Na kho Rāmasseva ahosi samādhi, mayhaṃpatthi samādhi. Na
kho Rāmasseva ahosi paññā, mayhaṃpatthi paññā. Yaṃnūnāhaṃ ‘Yaṃ
dhammaṃ Rāmo sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmī’ti
pavedesi. Tassa dhammassa sacchikiriyāya padaheyyan”ti. So kho
ahaṃ Aggivessana nacirasseva khippameva taṃ dhammaṃ sayaṃ
abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsiṃ.
|
Rồi này Aggivessana, Ta suy
nghĩ: "Không phải chỉ có Rama mới có ḷng tin. Ta cũng có ḷng
tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh
tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không
phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có
Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta hăy cố gắng chứng cho
được pháp mà Rama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt,
tự an trú".
|
|
Atha khvāhaṃ Aggivessana yena Udako Rāmaputto
tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Udakaṃ Rāmaputtaṃ etadavocaṃ
“Ettāvatā no āvuso Rāmo imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja pavedesī”ti. Ettāvatā kho āvuso Rāmo imaṃ dhammaṃ
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesīti. Ahampi kho
āvuso ettāvatā imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharāmīti. Lābhā no āvuso, suladdhaṃ no āvuso. Ye
mayaṃ āyasmantaṃ tādisaṃ sabrahmacāriṃ passāma. Iti yaṃ dhammaṃ
Rāmo sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesi, taṃ tvaṃ
dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi. Yaṃ tvaṃ
dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi, taṃ
dhammaṃ Rāmo sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesi. Iti
yaṃ dhammaṃ Rāmo abhiññāsi, taṃ tvaṃ dhammaṃ jānāsi. Yaṃ tvaṃ
dhammaṃ jānāsi, taṃ dhammaṃ Rāmo abhiññāsi. Iti yādiso Rāmo
ahosi, tādiso tuvaṃ. Yādiso tuvaṃ, tādiso Rāmo ahosi. Ehi dāni
āvuso tuvaṃ imaṃ gaṇaṃ pariharāti.
|
Rồi này Aggivessana, không bao
lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng,
Ta an trú. Rồi này Aggivessana, Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta
ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Này Hiền giả Rama,
có phải Hiền giả đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp
này đến mức độ như vậy?" --"Vâng Hiền giả, tôi đă tự tri, tự
chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Này
Hiền giả, tôi cũng đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp
này đến mức độ như vậy." Thật lợi ích thay cho chúng tôi! Thật
khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một
đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt
và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và
an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú,
chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà
tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết,
chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy;
Hiền giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hăy đến đây, Hiền giả,
hai chúng ta hăy chăm sóc hội chúng này!"
|
|
Iti kho Aggivessana Udako
Rāmaputto sabrahmacārī me samāno ācariyaṭṭhāne ca maṃ ṭhapesi,
uḷārāya ca maṃ pūjāya pūjesi. Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi
“Nāyaṃ dhammo nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na
abhiññāya na sambodhāya na Nibbānāya saṃvattati. Yāvadeva
nevasaññānāsaññāyatanūpapattiyā”ti. So kho ahaṃ Aggivessana taṃ
dhammaṃ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṃ.
|
Như vậy, này Aggivessana, Uddaka
Ramaputta là Đạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang
hàng với ḿnh, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này
Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly,
không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng
đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác
ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi
tưởng phi phi tưởng xứ". Như vậy, này Aggivessana, Ta không tôn
kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
|
|
373. So kho ahaṃ Aggivessana kiṃkusalagavesī
anuttaraṃ santivarapadaṃ pariyesamāno Magadhesu anupubbena
cārikaṃ caramāno yena Uruvelā Senānigamo tadavasariṃ.
Tatthaddasaṃ ramaṇīyaṃ bhūmibhāgaṃ pāsādikañca vanasaṇdaṃ
nadiñca sandantiṃ setakaṃ supatitthaṃ ramaṇīyaṃ, samantā ca
gocaragāmaṃ. Tassa mayhaṃ aggivessana etadahosi “Ramaṇīyo vata
bho bhūmibhāgo, pāsādiko ca vanasaṇdo, nadī ca sandati setakā
supatitthā ramaṇīyā, samantā ca gocaragāmo, alaṃ vatidaṃ
kulaputtassa padhānatthikassa padhānāyāti. So kho ahaṃ
Aggivessana tattheva nisīdiṃ alamidaṃ padhānāyā”ti.
|
Này Aggivessana, Ta, kẻ đi t́m
cái ǵ chí thiện, t́m cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ,
tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc
Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái,
một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với
một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao
bọc dễ dàng đi khất thực. Này Aggivessana, rồi Ta tự nghĩ: "Thật
là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông
trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung
quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ
vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn".
Và này các Tỷ-kheo, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ rằng: "Thật
đáng cố gắng tinh tấn ở nơi đây".
|
|
374. Apissumaṃ Aggivessana tisso upamā paṭibhaṃsu
anacchariyā pubbe assutapubbā. Seyyathāpi Aggivessana allaṃ
kaṭṭhaṃ sasnehaṃ udake nikkhittaṃ. Atha puriso āgaccheyya
uttarāraṇiṃ ādāya “Aggiṃ abhinibbattessāmi tejo
pātukarissāmī”ti. Taṃ kiṃ maññasi Aggivessana, api nu so puriso
amuṃ allaṃ kaṭṭhaṃ sasnehaṃ udake nikkhittaṃ uttarāraṇiṃ ādāya
abhimanthento aggiṃ abhinibbatteyya tejo pātukareyyāti.
|
Rồi này Aggivessana, ba ví dụ
khởi lên nơi Ta, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe: Này
Aggivessana, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống và
đặt trong nước. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ư
nghĩ: "Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra". Này Aggivessana,
Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống
đặt trong nước ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa th́ có thể
nhen lửa, khiến lửa nóng hiện ra được không?
|
|
No hidaṃ
bho Gotama. Taṃ kissa hetu, aduṃ hi bho Gotama allaṃ kaṭṭhaṃ
sasnehaṃ, tañca pana udake nikkhittaṃ. Yāvadeva ca pana so
puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assāti.
|
-- Thưa không, Tôn giả Gotama.
V́ sao vậy? Này Tôn giả Gotama, v́ cành cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa
sống lại bị ngâm trong nước, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực
bội.
|
|
Evameva kho
Aggivessana ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena
ca kāmehi avūpakaṭṭhā viharanti, yo ca nesaṃ kāmesu kāmacchando
kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho, so ca ajjhattaṃ na
suppahīno hoti na suppaṭippassaddho. Opakkamikā cepi te bhonto
samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti,
abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. No cepi te
bhonto samaṇabrāhmaṇā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā
vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya
sambodhāya. Ayaṃ kho maṃ Aggivessana paṭhamā upamā paṭibhāsi
anacchariyā pubbe assutapubbā.
|
-- Cũng vậy, này Aggivessana,
những Sa-môn hay những Bà-la-môn sống không xả ly các dục về
thân, những ǵ đối với chúng thuộc các dục như dục tham, dục ái,
dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt năo, về nội tâm chưa được
khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt, nếu những Tôn giả
Sa-môn hay Bà-la-môn này th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác chói
đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng
được tri kiến, vô thượng Chánh Đẳng Giác, và nếu những Tôn giả
Sa-môn hay Bà-la-môn này không th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác
chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có
thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Đẳng Giác. Này
Aggivessana, đó là ví dụ thứ nhất, vi diệu, từ trước chưa từng
được nghe, được khởi lên nơi Ta.
|
|
375. Aparāpi kho maṃ Aggivessana dutiyā upamā
paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā. Seyyathāpi Aggivessana
allaṃ kaṭṭhaṃ sasnehaṃ ārakā udakā thale nikkhittaṃ. Atha puriso
āgaccheyya uttarāraṇiṃ ādāya “Aggiṃ abhinibbattessāmi tejo
pātukarissāmī”ti. Taṃ kiṃ maññasi Aggivessana, api nu so puriso
amuṃ allaṃ kaṭṭhaṃ sasnehaṃ ārakā udakā thale nikkhittaṃ
uttarāraṇiṃ ādāya abhimanthento aggiṃ abhinibbatteyya tejo
pātukareyyāti.
|
Này Aggivessana, rồi một ví dụ
thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên
nơi Ta. Này Aggivessana, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy
nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một
người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ư nghĩ: "Ta sẽ nhen lửa, hơi
nóng sẽ hiện ra". Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy
lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được
đặt trên đất khô ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen
lửa, khiến hơi nóng hiện ra được không?
|
|
No hidaṃ bho Gotama. Taṃ kissa hetu, aduṃ hi bho
Gotama allaṃ kaṭṭhaṃ sasnehaṃ kiñcāpi ārakā udakā thale
nikkhittaṃ. Yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa
bhāgī assāti. |
-- Thưa không, Tôn giả Gotama.
V́ sao vậy? Này Tôn giả Gotama, v́ khúc cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa
sống, dầu được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, nên người
ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội.
|
|
Evameva kho Aggivessana ye hi keci samaṇā vā
brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi vūpakaṭṭhā viharanti,
yo ca nesaṃ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā
kāmapariḷāho, so ca ajjhattaṃ na suppahīno hoti na
suppaṭippassaddho. Opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā
dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya
dassanāya anuttarāya sambodhāya. No cepi te bhonto
samaṇabrāhmaṇā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā
vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya.
Ayaṃ kho maṃ Aggivessana dutiyā upamā paṭibhāsi anacchariyā
pubbe assutapubbā.
|
-- Cũng vậy, này Aggivessana,
những Sa-môn hay Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân,
những ǵ đối với các vị ấy thuộc các dục như dục tham, dục ái,
dục hôm ám, dục khát vọng, dục nhiệt năo, về nội tâm chưa được
khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt. Nếu những Tôn giả
Sa-môn, hay Bà-la-môn này th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác chói
đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng
được tri kiến, vô thượng Chánh Đẳng Giác. Và nếu những Tôn giả
Sa-môn hay Bà-la-môn này không th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác
chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có
thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Đẳng Giác. Này
Aggivessana, đó là ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng
được nghe, được khởi lên nơi Ta.
|
|
376. Aparāpi kho maṃ Aggivessana tatiyā upamā
paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā. Seyyathāpi Aggivessana
sukkhaṃ kaṭṭhaṃ koḷāpaṃ ārakā udakā thale nikkhittaṃ. Atha
puriso āgaccheyya uttarāraṇiṃ ādāya “Aggiṃ abhinibbattessāmi
tejo pātukarissāmī”ti. Taṃ kiṃ maññasi Aggivessana, api nu so
puriso amuṃ sukkhaṃ kaṭṭhaṃ koḷāpaṃ ārakā udakā thale nikkhittaṃ
uttarāraṇiṃ ādāya abhimanthento aggiṃ abhinibbatteyya tejo
pātukareyyāti.
|
Này Aggivessana, rồi một ví dụ
thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi
Ta. Này Aggivessana, ví như có một khúc cây khô, không nhựa,
được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến cầm
dụng cụ làm lửa với ư nghĩ: "Ta sẽ nhen lửa, lửa nóng sẽ hiện
ra". Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây
khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, rồi
cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến nơi nóng hiện
ra được không?
|
|
Evaṃ bho Gotama. Taṃ kissa hetu, aduṃ hi bho
Gotama sukkhaṃ kaṭṭhaṃ koḷāpaṃ, tañca pana ārakā udakā thale
nikkhittanti.
|
-- Thưa được, Tôn giả Gotama. V́
sao vậy? Này Tôn giả Gotama, v́ khúc cây ấy khô, không nhựa, lại
được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô.
|
|
Evameva kho Aggivessana ye hi keci samaṇā vā
brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi vūpakaṭṭhā viharanti,
yo ca nesaṃ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā
kāmapariḷāho, so ca ajjhattaṃ suppahīno hoti suppaṭippassaddho.
Opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā
kaṭukā vedanā vedayanti, bhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya
sambodhāya. No cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā opakkamikā dukkhā
tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, bhabbāva te ñāṇāya
dassanāya anuttarāya sambodhāya. Ayaṃ kho maṃ Aggivessana tatiyā
upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā. Imā kho maṃ
Aggivessana tisso upamā paṭibhaṃsu anacchariyā pubbe
assutapubbā.
|
-- Cũng vậy, này Aggivessana,
những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn sống xả ly các dục về thân,
những ǵ đối với các vị ấy thuộc các dục, như dục tham, dục ái,
dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt năo, về nội tâm được khéo
đoạn trừ. Nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này th́nh ĺnh
cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt,
các vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Đẳng Giác.
Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không th́nh ĺnh
cảm thọ những cảm giác khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị này
cũng có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Đẳng Giác. Này
Aggivessana, đó là ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng
được nghe, được khởi lên nơi Ta.
|
|
377. Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Yaṃnūnāhaṃ
dantebhidantamādhāya (Passa
vitakkasaṇṭhānasutte - 171) piṭṭhe)
jivhāya tāluṃ āhacca cetasā cittaṃ abhiniggaṇheyyaṃ
abhinippīḷeyyaṃ abhisantāpeyyan”ti. So kho ahaṃ Aggivessana
dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṃ āhacca cetasā cittaṃ
abhiniggaṇhāmi abhinippīḷemi abhisantāpemi. Tassa mayhaṃ
Aggivessana dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṃ āhacca cetasā
cittaṃ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato kacchehi
sedā muccanti. Seyyathāpi Aggivessana balavā puriso dubbalataraṃ
purisaṃ sīse vā gahetvā khandhe vā gahetvā abhiniggaṇheyya
abhinippīḷeyya abhisantāpeyya. Evameva kho me Aggivessana
dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṃ āhacca cetasā cittaṃ
abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato kacchehi sedā
muccanti. Āraddhaṃ kho pana me Aggivessana vīriyaṃ hoti
asallīnaṃ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā. Sāraddho ca pana me kāyo
hoti appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa
sato. Evarūpāpi kho me Aggivessana uppannā dukkhā vedanā cittaṃ
na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Này Aggivessana, rồi Ta suy
nghĩ: "Ta hăy nghiến răng, dán chặt lên lưỡi lên nóc họng, lấy
tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm!" Này Aggivessana,
rồi Ta nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự
tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Khi Ta đang nghiến răng, dán
chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm,
đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta. Này
Aggivessana, như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu
hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục và đánh bại người
ấy. Này Aggivessana, khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên
nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ
hôi thoát ra từ nơi nách của Ta, này Aggivessana, dầu cho Ta có
chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú
không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được
khinh an, v́ Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống
lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên
nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
|
|
378. Tassa
mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Yaṃnūnāhaṃ appāṇakaṃyeva jhānaṃ
jhāyeyyan”ti. So kho ahaṃ Aggivessana mukhato ca nāsato ca
assāsapassāse uparundhiṃ. Tassa mayhaṃ Aggivessana mukhato ca
nāsato ca assāsapassāsesu uparuddhesu kaṇṇasotehi vātānaṃ
nikkhamantānaṃ adhimatto saddo hoti. Seyyathāpi nāma
kammāragaggariyā dhamamānāya adhimatto saddo hoti. Evameva kho
me Aggivessana mukhato ca nāsato ca assāsapassāsesu uparuddhesu
kaṇṇasotehi vātānaṃ nikkhamantānaṃ adhimatto saddo hoti.
Āraddhaṃ kho pana me Aggivessana vīriyaṃ hoti asallīnaṃ,
upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā. Sāraddho ca pana me kāyo hoti
appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa
sato. Evarūpāpi kho me Aggivessana uppannā dukkhā vedanā cittaṃ
na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ
như sau: "Ta hăy tu Thiền nín thở". Và này Aggivessana, rồi Ta
nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi. Này
Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang
qua mũi, th́ một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua
lỗ tai. Này Aggivessana, ví như tiếng kinh khủng phát ra từ ống
thổi bệ đang thổi của người thợ rèn. Cũng vậy, này Aggivessana,
khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, thời
một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này
Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực,
dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn
bị kích động, không được khinh an, v́ Ta bị chi phối bởi sự tinh
tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana,
khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối
tâm Ta.
|
|
Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Yaṃnūnāhaṃ
appāṇakaṃyeva jhānaṃ jhāyeyyan”ti. So kho ahaṃ Aggivessana
mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṃ. Tassa
mayhaṃ Aggivessana mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca
assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā vātā muddhani ūhananti (hanti
- Sī; ohananti - Syā, Kaṃ; uhananti - Ka).
Seyyathāpi Aggivessana balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani
abhimattheyya (Muddhānaṃ
abhimantheyya - Sī, I; muddhānaṃ abhimattheyya - Syā, Kaṃ).
Evameva kho me Aggivessana mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca
assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā vātā muddhani ūhananti.
Āraddhaṃ kho pana me Aggivessana vīriyaṃ hoti asallīnaṃ,
upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā. Sāraddho ca pana me kāyo hoti
appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa
sato. Evarūpāpi kho me Aggivessana uppannā dukkhā vedanā cittaṃ
na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ
như sau: "Ta hăy tu thêm Thiền nín thở". Và này Aggivessana, rồi
Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang
qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô thở ra ngang qua
miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, th́ có ngọn gió kinh
khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Aggivessana, ví như
một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc,
cũng vậy, này Aggivessana, khi ta nín thở vô, thở ra, ngang qua
miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, th́ có ngọn gió kinh
khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Aggivessana, dầu cho
Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an
trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không
được khinh an, v́ Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn
chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi
lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
|
|
Tassa mayhaṃ
Aggivessana etadahosi “Yaṃnūnāhaṃ appāṇakaṃyeva jhānaṃ
jhāyeyyan”ti. So kho ahaṃ Aggivessana mukhato ca nāsato ca
kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṃ. Tassa mayhaṃ Aggivessana
mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu
adhimattā sīse sīsavedanā honti. Seyyathāpi Aggivessana balavā
puriso daḷhena varattakkhaṇdena (Varattakabandhanena
- Sī)
sīse sīsaveṭhaṃ dadeyya. Evameva kho me Aggivessana
mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu
adhimattā sīse sīsavedanā honti. Āraddhaṃ kho pana me
Aggivessana vīriyaṃ hoti asallīnaṃ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā.
Sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho teneva
dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato. Evarūpāpi kho me
Aggivessana uppannā dukkhā vedanā cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ
như sau : "Ta hăy tu thêm Thiền nín thở". Và này Aggivessana,
rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và
ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu, một cách kinh khủng. Này
Aggivessana, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da
cứng quấn tṛn quanh đầu rồi xiết mạnh; cũng vậy, này
Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang
qua mũi, và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu một cách kinh
khủng. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh
tấn tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân
của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, v́ Ta bị chi phối
bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này
Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng
không chi phối tâm Ta.
|
|
Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Yaṃnūnāhaṃ
appāṇakaṃyeva jhānaṃ jhāyeyyan”ti. So kho ahaṃ Aggivessana
mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṃ. Tassa
mayhaṃ Aggivessana mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca
assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā vātā kucchiṃ parikantanti.
Seyyathāpi Aggivessana dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā
tiṇhena govikantanena kucchiṃ parikanteyya. Evameva kho me
Aggivessana mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu
uparuddhesu adhimattā vātā kucchiṃ parikantanti. Āraddhaṃ kho
pana me Aggivessana vīriyaṃ hoti asallīnaṃ, upaṭṭhitā sati
asammuṭṭhā. Sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho
teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato. Evarūpāpi kho
me Aggivessana uppannā dukkhā vedanā cittaṃ na pariyādāya
tiṭṭhati.
|
Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ
như sau: "Ta hăy tu thêm Thiền nín thở". Và này Aggivessana, rồi
Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang
qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua
miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn gió kinh khủng
cắt ngang bụng của Ta. Này Aggivessana, ví như một người đồ tể
thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao
cắt thịt ḅ sắc bén. Cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở
vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một
ngọn kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Aggivessana, dầu cho
Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dẫu cho niệm được an
trú, không dao động nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không
được khinh an, v́ Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn
chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi
lên nơi Ta, được tồn tại, nhưng không chi phối tâm Ta.
|
|
Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Yaṃnūnāhaṃ
appāṇakaṃyeva jhānaṃ jhāyeyyan”ti. So kho ahaṃ Aggivessana
mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṃ. Tassa
mayhaṃ Aggivessana mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca
assāsapassāsesu uparuddhesu adhimatto kāyasmiṃ dāho hoti.
Seyyathāpi Aggivessana dve balavanto purisā dubbalataraṃ purisaṃ
nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṃ samparitāpeyyuṃ.
Evameva kho me Aggivessana mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca
assāsapassāsesu uparuddhesu adhimatto kāyasmiṃ dāho hoti.
Āraddhaṃ kho pana me Aggivessana vīriyaṃ hoti asallīnaṃ,
upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā. Sāraddho ca pana me kāyo hoti
appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa
sato. Evarūpāpi kho me Aggivessana uppannā dukkhā vedanā cittaṃ
na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ
như sau: "Ta hăy tu thêm Thiền nín thở". Và này Aggivessana, rồi
Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang
qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua
miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, th́ có một sức nóng kinh
khủng khởi lên trong thân Ta. Này Aggivessana, ví như hai người
lực sĩ sau khi nắm cánh tay một người yếu hơn, nướng người ấy,
đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Aggivessana,
khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và
ngang qua tai th́ có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân
Ta. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn,
tận lực, dầu cho niệm được an trú, không dao động, nhưng thân
của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, v́ Ta bị chi phối
bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này
Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng
không chi phối tâm Ta.
|
|
Apissu maṃ Aggivessana devatā disvā evamāhaṃsu
“Kālaṅkato samaṇo Gotamo”ti. Ekaccā devatā evamāhaṃsu
“Na kālaṅkato samaṇo Gotamo, api ca kālaṅkarotī”ti. Ekaccā
devatā evamāhaṃsu “Na kālaṅkato samaṇo Gotamo, napi kālaṅkaroti.
Arahaṃ samaṇo Gotamo, vihārotveva so (Vihārotveveso
- Sī) Arahato evarūpo
hotī”ti (Vihārotveveso
Arahato”ti - ?).
|
Lại nữa, này Aggivessana, chư
Thiên thấy vậy nói như sau: "Sa-môn Gotama đă chết rồi". Một số
chư Thiên nói như sau: "Sa-môn Gotama chưa chết, nhưng Sa-môn
Gotama sắp sửa chết". Một số chư Thiên nói như sau: "Sa-môn
Gotama chưa chết. Sa-môn Gotama, cũng không phải sắp chết.
Sa-môn Gotama là bậc A-la-hán, đời sống của một A-la-hán là như
vậy".
|
|
379. Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Yaṃnūnāhaṃ
sabbaso āhārupacchedāya paṭipajjeyyan”ti. Atha kho maṃ
Aggivessana devatā upasaṅkamitvā etadavocuṃ “Mā kho tvaṃ mārisa
sabbaso āhārupacchedāya paṭipajji. Sace kho tvaṃ mārisa sabbaso
āhārupacchedāya paṭipajjissasi, tassa te mayaṃ dibbaṃ ojaṃ
lomakūpehi ajjhohāressāma (Ajjhoharissāma
- Syā, Kaṃ, I, Ka),
tāya tvaṃ yāpessasī”ti. Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi
“Ahañceva kho pana sabbaso ajajjitaṃ (Ajaddhukaṃ
- Sī, I; jaddhukaṃ - Syā, Kaṃ)
paṭijāneyyaṃ. Imā ca me devatā dibbaṃ ojaṃ lomakūpehi
ajjhohāreyyuṃ (Ajjhohareyyuṃ
- Syā, Kaṃ, I, Ka),
tāya cāhaṃ yāpeyyaṃ, taṃ mamassa musā”ti. So kho ahaṃ
Aggivessana tā devatā paccācikkhāmi “Halan”ti vadāmi.
|
Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ
như sau: "Ta hăy hoàn toàn tuyệt thực". Rồi này Aggivessana, chư
Thiên đến Ta và nói như sau: "Này Thiện hữu, Hiền giả chớ có
hoàn toàn tuyệt thực. Này Thiện hữu, nếu Hiền giả có hoàn toàn
tuyệt thực, chúng tôi sẽ đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các
lỗ chân lông cho Hiền giả, và nhờ vậy Hiền giả vẫn sống". Rồi
này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu Ta hoàn toàn tuyệt
thực và chư Thiên này đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ
chân lông cho Ta và nhờ vậy Ta vẫn sống, thời như vậy Ta tự dối
Ta". Này Aggivessana, Ta bác bỏ chư Thiên ấy và nói: "Như vậy là
đủ".
|
|
380. Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Yaṃnūnāhaṃ
thokaṃ thokaṃ āhāraṃ āhāreyyaṃ pasataṃ pasataṃ, yadi vā
muggayūsaṃ yadi vā kulatthayūsaṃ yadi vā kaḷāyayūsaṃ yadi vā
hareṇukayūsan”ti. So kho ahaṃ Aggivessana thokaṃ thokaṃ āhāraṃ
āhāresiṃ pasataṃ pasataṃ, yadi vā muggayūsaṃ yadi vā
kulatthayūsaṃ yadi vā kaḷāyayūsaṃ yadi vā hareṇukayūsaṃ. Tassa
mayhaṃ Aggivessana thokaṃ thokaṃ āhāraṃ āhārayato pasataṃ
pasataṃ, yadi vā muggayūsaṃ yadi vā kulatthayūsaṃ yadi vā
kaḷāyayūsaṃ yadi vā hareṇukayūsaṃ, adhimattakasimānaṃ patto kāyo
hoti. Seyyathāpi nāma āsītikapabbāni vā kāḷapabbāni vā,
evamevassu me aṅgapaccaṅgāni bhavanti tāyevappāhāratāya.
Seyyathāpi nāma oṭṭhapadaṃ, evamevassu me ānisadaṃ hoti
tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma vaṭṭanāvaḷī, evamevassu me
piṭṭhikaṇṭako uṇṇatāvanato hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi
nāma jarasālāya gopāṇasiyo oluggaviluggā bhavanti, evamevassu me
phāsuḷiyo oluggaviluggā bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi
nāma gambhīre udapāne udakatārakā gambhīragatā okkhāyikā
dissanti, evamevassu me akkhikūpesu akkhitārakā gambhīragatā
okkhāyikā dissanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma
tittakālābu āmakacchinno vātātapena saṃphuṭito hoti sammilāto,
evamevassu me sīsacchavi saṃphuṭitā hoti sammilātā
tāyevappāhāratāya. So kho ahaṃ Aggivessana udaracchaviṃ
parimasissāmīti piṭṭhikaṇṭakaṃyeva pariggaṇhāmi, piṭṭhikaṇṭakaṃ
parimasissāmīti udaracchaviṃyeva pariggaṇhāmi. Yāvassu me
Aggivessana udaracchavi piṭṭhikaṇṭakaṃ allīnā hoti
tāyevappāhāratāya. So kho ahaṃ Aggivessana vaccaṃ vā muttaṃ vā
karissāmīti tattheva avakujjo papatāmi tāyevappāhāratāya. So kho
ahaṃ Aggivessana imameva kāyaṃ assāsento pāṇinā gattāni
anumajjāmi. Tassa mayhaṃ Aggivessana pāṇinā gattāni anumajjato
pūtimūlāni lomāni kāyasmā papatanti tāyevappāhāratāya.
|
Này Aggivessana, rồi Ta tự suy
nghĩ như sau: "Ta hăy giảm thiểu tối đa ăn uống, ăn ít từng giọt
một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu
nhỏ". Và này Aggivessana, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn
uống, ăn từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp
đậu hột hay xúp đậu nhỏ, thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu.
V́ Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những gọng cỏ hay
những đốt cây leo khô héo; v́ Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở
thành như móng chân con lạc đà; v́ Ta ăn quá ít, xương sống phô
bày của Ta giống như một chuỗi banh; v́ Ta ăn quá ít, các xương
sườn gầy ṃn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát; v́ Ta
ăn quá ít, nên con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ
con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một
giếng nước thâm sâu; v́ Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn
nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị
cơn gió nóng làm cho nhăn nhíu khô cằn. Này Aggivessana, nếu Ta
nghĩ: "Ta hăy rờ da bụng", th́ chính xương sống bị Ta nắm lấy.
Nếu Ta nghĩ: "Ta hăy rờ xương sống", th́ chính da bụng bị Ta nắm
lấy. V́ Ta ăn quá ít, nên này Aggivessana, da bụng của Ta đến
bám chặt xương sống. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại
tiện, hay đi tiểu tiện" th́ Ta ngă qu? úp mặt xuống đất, v́ Ta
ăn quá ít. Này Aggivessana, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay
xoa bóp chân tay, th́ này Aggivessana, trong khi Ta xoa bóp chân
tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, v́ Ta ăn quá ít.
|
|
Apissu
maṃ Aggivessana manussā disvā evamāhaṃsu “Kāḷo samaṇo Gotamo”ti.
Ekacce manussā evamāhaṃsu “Na kāḷo samaṇo Gotamo, sāmo samaṇo
Gotamo”ti. Ekacce manussā evamāhaṃsu “Na kāḷo samaṇo Gotamo napi
sāmo, maṅguracchavi samaṇo Gotamo”ti. Yāvassu me Aggivessana
tāva parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto upahato hoti
tāyevappāhāratāya.
|
Lại nữa, này Aggivessana, có
người thấy vậy nói như sau: "Sa-môn Gotama có da đen". Một số
người nói như sau: "Sa-môn Gotama, da không đen, Sa-môn Gotama
có da màu xám". Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama da
không đen, da không xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn
Gotama da không đen, da không xám, Sa-môn Gotama có da màu vàng
sẫm". Cho đến mức độ như vậy, này Aggivessana, da của Ta vốn
thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại v́ Ta ăn quá ít.
|
|
381. Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Ye kho keci
atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā opakkamikā dukkhā tibbā
kharā kaṭukā vedanā vedayiṃsu, etāvaparamaṃ nayito bhiyyo. Yepi
hi keci anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā opakkamikā dukkā
tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayissanti, etāvaparamaṃ nayito
bhiyyo. Yepi hi keci etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā opakkamikā
dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, etāvaparamaṃ nayito
bhiyyo. Na kho panāhaṃ imāya kaṭukāya dukkarakārikāya
adhigacchāmi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṃ.
Siyā nu kho añño maggo bodhāyā”ti.
|
Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ
như sau: "Thuở xưa có những Sa-môn hay Bà-la-môn th́nh ĺnh cảm
thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt.
Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có ǵ hơn nữa. Về
tương lai, có những Sa-môn hay Bà-la-môn th́nh ĺnh cảm thọ
những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự
đau khổ này là tối thượng không thể có ǵ hơn nữa. Trong hiện
tại, có những Sa-môn hay Bà-la-môn th́nh ĺnh cảm thọ những cảm
giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ
này là tối thượng, không thể có ǵ hơn nữa. Nhưng Ta, với sự khổ
hạnh khốc liệt như thế này, vẫn không chứng được pháp thượng
nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Hay là có đạo lộ
nào khác đưa đến giác ngộ?"
|
|
Tassa mayhaṃ aggivessana
etadahosi “Abhijānāmi kho panāhaṃ pitu Sakkassa kammante sītāya
jambucchāyāya nisinno vivicceva kāmehi vivicca akusalehi
dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ
jhānaṃ upasampajja viharitā. Siyā nu kho eso maggo bodhāyā”ti.
Tassa mayhaṃ Aggivessana satānusāri viññāṇaṃ ahosi “Eseva maggo
bodhāyā”ti.
|
Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ
như sau: "Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc gịng Sakka
(Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây
diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú
Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có
tứ". Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: "Đạo lộ này có thể đưa đến
giác ngộ chăng?" Và này Aggivessana, tiếp theo ư niệm ấy, ư thức
này khởi lên nơi Ta: "Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ".
|
|
Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Kiṃ nu kho ahaṃ
tassa sukhassa bhāyāmi, yaṃ taṃ sukhaṃ aññatreva kāmehi aññatra
akusalehi dhammehī”ti. Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Na
kho ahaṃ tassa sukhassa bhāyāmi, yaṃ taṃ sukhaṃ aññatreva kāmehi
aññatra akusalehi dhammehī”ti.
|
Này Aggivessana, rồi Ta suy
nghĩ: "Ta có sợ chăng lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp
bất thiện?" Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta không sợ lạc
thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện".
|
|
382. Tassa mayhaṃ Aggivessana etadahosi “Na kho taṃ
sukaraṃ sukhaṃ adhigantuṃ evaṃ adhimattakasimānaṃ pattakāyena.
Yaṃnūnāhaṃ oḷārikaṃ āhāraṃ āhāreyyaṃ odanakummāsan”ti. So kho
ahaṃ Aggivessana oḷārikaṃ āhāraṃ āhāresiṃ odanakummāsaṃ. Tena
kho pana maṃ Aggivessana samayena pañca1 bhikkhū
paccupaṭṭhitā honti “Yaṃ kho samaṇo Gotamo dhammaṃ
adhigamissati, taṃ no ārocessatī”ti. Yato kho ahaṃ Aggivessana
oḷārikaṃ āhāraṃ āhāresiṃ odanakummāsaṃ, atha me te pañca (Pañcavaggiyā
- Aññasuttesu)
bhikkhū nibbijja pakkamiṃsu “Bāhulliko (Bāhuliko
- Sī, I; saṃghabhedasikkhāpadaṭīkāya sameti)
samaṇo Gotamo
padhānavibbhanto āvatto bāhullāyā”ti.
|
Rồi này Aggivessana, Ta suy
nghĩ: "Nay thật không dễ ǵ chứng đạt lạc thọ ấy, với thân thể
ốm yếu kinh khủng như thế này. Ta hăy ăn thô thực, ăn cơm chua".
Rồi này Aggivessana, Ta ăn thô thực, ăn cơm chua. Này
Aggivessana, lúc bấy giờ, năm Tỷ-kheo đang hầu hạ Ta suy nghĩ:
"Khi nào Sa-môn Gotama chứng pháp, vị ấy sẽ nói cho chúng ta
biết". Này Aggivessana, khi thấy Ta ăn thô thực, ăn cơm chua,
các vị ấy chán ghét Ta, bỏ đi và nói: "Sa-môn Gotama nay sống
đầy đủ vật chất, từ bỏ tinh tấn, trở lui đời sống sung túc".
|
|
383. So kho ahaṃ Aggivessana oḷārikaṃ āhāraṃ
āhāretvā balaṃ gahetvā vivicceva kāmehi vivicca akusalehi
dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ
jhānaṃ upasampajja vihāsiṃ. Evarūpāpi kho me Aggivessana uppannā
sukhā vedanā cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Và này Aggivessana, sau khi ăn
thô thực và được sức lực trở lại, Ta ly dục, ly pháp bất thiện,
chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục
sanh, có tầm, có tứ. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên
nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
|
|
Vitakkavicārānaṃ
vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ
avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja
vihāsiṃ. Evarūpāpi kho me Aggivessana uppannā sukhā vedanā
cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Diệt tầm và tứ, chứng và trú
Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm,
không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ
khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
|
|
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca
vihāsiṃ sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedesiṃ, yaṃ
taṃ ariyā ācikkhanti “Upekkhako satimā sukhavihārī”ti tatiyaṃ
jhānaṃ upasampajja vihāsiṃ. Evarūpāpi kho me Aggivessana uppannā
sukhā vedanā cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh
giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc
trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ
khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
|
|
Sukhassa ca pahānā
dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā
adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ
upasampajja vihāsiṃ. Evarūpāpi kho me Aggivessana uppannā sukhā
vedanā cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm
thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả
niệm thanh tịnh. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi
Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
|
|
384. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte
anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṃ abhininnāmesiṃ. So anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarāmi. Seyyathidaṃ, ekampi jātiṃ. Pa . Iti
sākāraṃ sa-uddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarāmi. Ayaṃ
kho me Aggivessana rattiyā paṭhame yāme paṭhamā vijjā adhigatā,
avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno, yathā
taṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Evarūpāpi kho me
Aggivessana uppannā sukhā vedanā cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh
trong sáng không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử
dụng, vững chắc, b́nh tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến
Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai
đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi
đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một
trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và
thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này,
ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế
này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta
được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, ḍng
họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này,
tuổi thọ đến mức như thế này". Như vậy, Ta nhớ đến nhiều đời
sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này
Aggivessana, đó là minh thứ nhất Ta đă chứng được trong đêm canh
một, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana,
lạc thọ sanh nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
|
|
385. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte
anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
sattānaṃ cutūpapātañāṇāya cittaṃ abhininnāmesiṃ. So dibbena
cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne
upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate
yathākammūpage satte pajānāmi. Pa . Ayaṃ kho me Aggivessana
rattiyā majjhime yāme dutiyā vijjā adhigatā, avijjā vihatā,
vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno, yathā taṃ
appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Evarūpāpi kho me
Aggivessana uppannā sukhā vedanā cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh
trong sáng không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử
dụng, vững chắc, b́nh tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến
trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhăn thuần tịnh,
siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rơ rằng
chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô
xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những
chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ư, phỉ báng các bậc
Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người
này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cơi dữ, ác thú,
đọa xứ, địa ngục. C̣n những chúng sanh nào làm những thiện hạnh
về thân, lời và ư, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh
kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những vị này sau khi thân
hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cơi trời, trên đời
này. Như vậy Ta với thiên nhăn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự
sống chết của chúng sanh. Ta biết rơ rằng chúng sanh, người hạ
liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ
bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Aggivessana, đó là minh
thứ hai Ta đă chứng được trong đêm canh giữa, vô minh diệt, minh
sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta,
được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
|
|
386. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte
anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
āsavānaṃ khayañāṇāya cittaṃ abhininnāmesiṃ. So idaṃ dukkhanti
yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, ayaṃ dukkhasamudayoti yathābhūtaṃ
abbhaññāsiṃ, ayaṃ dukkhanirodhoti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, ayaṃ
dukkhanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, ime
āsavāti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, ayaṃ āsavasamudayoti
yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, ayaṃ āsavanirodhoti yathābhūtaṃ
abbhaññāsiṃ, ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ
abbhaññāsiṃ. Tassa me evaṃ jānato evaṃ passato kāmāsavāpi cittaṃ
vimuccittha, bhavāsavāpi cittaṃ vimuccittha, avijjāsavāpi cittaṃ
vimuccittha, vimuttasmiṃ “Vimuttam”iti ñāṇaṃ ahosi, “Khīṇā jāti,
vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti
abbhaññāsiṃ. Ayaṃ kho me Aggivessana rattiyā pacchime yāme
tatiyā vijjā adhigatā, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo
vihato, āloko uppanno, yathā taṃ appamattassa ātāpino
pahitattassa viharato. Evarūpāpi kho me Aggivessana uppannā
sukhā vedanā cittaṃ na pariyādāya tiṭṭhati.
|
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
trong sáng không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử
dụng, vững chắc, b́nh tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến
Lậu tận trí. Ta biết như thật: "Đây là Khổ", biết như thật: "Đây
là Nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Đây là sự Diệt khổ",
biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến diệt khổ", biết như
thật: "Đây là những lậu hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên
nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Đây là sự diệt trừ các lậu
hoặc", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các
lậu hoặc". Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát
khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối
với tự thân đă giải thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: "Ta
đă giải thoát." Ta đă biết: "Sanh đă diệt, phạm hạnh đă thành,
việc cần làm đă làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác
nữa". Này Aggivessana, đó là minh thứ ba mà Ta đă chứng được
trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng
sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy,
này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không
chi phối tâm Ta.
|
|
387. Abhijānāmi
kho panāhaṃ Aggivessana anekasatāya parisāya dhammaṃ desetā,
apissu maṃ ekameko evaṃ maññati “Mamevārabbha samaṇo Gotamo
dhammaṃ desetī”ti. Na kho panetaṃ Aggivessana evaṃ daṭṭhabbaṃ.
Yāvadeva viññāpanatthāya Tathāgato paresaṃ dhammaṃ deseti. So
kho ahaṃ Aggivessana tassāyeva kathāya pariyosāne tasmiṃyeva
purimasmiṃ samādhinimitte ajjhattameva cittaṃ saṇṭhapemi
sannisādemi, ekodiṃ karomi, samādahāmi “Yena sudaṃ niccakappaṃ
viharāmī”ti.
|
Này Aggivessana, Ta biết rằng
khi Ta thuyết pháp cho đại chúng gồm hàng trăm người, mỗi người
nghĩ như thế này về Ta: "Đặc biệt cho ta, Sa-môn Gotama thuyết
pháp". Này Aggivessana, chớ có hiểu như vậy. Khi Như Lai thuyết
pháp cho đại chúng, th́ đó chỉ v́ mục đích giảng dạy. Và Ta, này
Aggivessana, sau khi chấm dứt một buổi thuyết giảng như vậy, Ta
an trú nội tâm, làm cho tịnh chỉ, làm cho nhất tâm, làm cho định
tĩnh trên định tướng thứ nhất ấy, và như vậy Ta sống an trú,
trường cửu, vĩnh viễn.
|
|
Okappaniyametaṃ bhoto Gotamassa. Yathā taṃ Arahato
Sammāsambuddhassa. Abhijānāti kho pana bhavaṃ Gotamo “Divā
supitā”ti.
|
-- Như vậy, Tôn giả Gotama thật
đáng tin cậy, v́ Ngài là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Nhưng
không biết Tôn giả Gotama có cho phép ngủ ban ngày không?
|
|
Abhijānāmahaṃ Aggivessana gimhānaṃ pacchime māse
pacchābhattaṃ piṇdapātapaṭikkanto catugguṇaṃ saṃghāṭiṃ
paññapetvā dakkhiṇena passena sato sampajāno niddaṃ okkamitāti.
|
-- Này Aggivessana, Ta có cho
phép, vào cuối tháng hạ, sau khi khất thực về, sau khi xếp áo
sanghati (đại y) thành bốn, chánh niệm tỉnh giác, Ta nằm xuống
ngủ, nằm phía tay mặt.
|
|
Etaṃ kho bho Gotama eke samaṇabrāhmaṇā
sammohavihārasmiṃ vadantīti. |
-- Này Tôn giả Gotama, như vậy
một số Sa-môn, Bà-la-môn gọi là an trú nơi si ám.
|
|
Na kho Aggivessana ettāvatā sammūḷho vā hoti
asammūḷho vā, api ca Aggivessana yathā sammūḷho ca hoti
asammūḷho ca, taṃ suṇāhi sādhukaṃ manasi karohi bhāsissāmīti.
|
-- Này Aggivessana, như vậy
không phải là si ám hay không si ám. Này Aggivessana, như thế
nào là si ám và như thế nào là không si ám? Hăy nghe và suy
nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
|
|
Evaṃ bhoti kho Saccako Nigaṇṭhaputto Bhagavato
paccassosi. Bhagavā etadavoca– |
-- Thưa vâng, Tôn giả. Niganthaputta Saccaka trả lời
Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
|
|
388. Yassa
kassaci Aggivessana ye āsavā saṃkilesikā ponobbhavikā sadarā
dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā appahīnā, tamahaṃ
sammūḷhoti vadāmi, āsavānaṃ hi Aggivessana appahānā sammūḷho
hoti. Yassa kassaci Aggivessana ye āsavā saṃkilesikā
ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇīyā pahīnā,
tamahaṃ asammūḷhoti vadāmi, āsavānaṃ hi Aggivessana pahānā
asammūḷho hoti.
|
-- Đối với ai, các lậu hoặc chưa
được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền năo, sanh khởi
hậu hữu, đáng sợ hăi, liên hệ đến phiền năo, sanh khởi hậu hữu,
đáng sợ hăi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết
trong tương lai, vị ấy Ta gọi là c̣n si ám. Này Aggivessana, đối
với ai các lậu hoặc đă được đoạn trừ, những lậu hoặc, đưa đến
quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, vị
ấy Ta gọi là không si ám. Này Aggivessana, sự đoạn trừ lậu hoặc
là không si ám.
|
|
Tathāgatassa kho Aggivessana ye āsavā saṃkilesikā
ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā pahīnā
ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā.
Seyyathāpi Aggivessana tālo matthakacchinno abhabbo puna
virūḷhiyā. Evameva kho Aggivessana Tathāgatassa ye āsavā
saṃkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ
jātijarāmaraṇiyā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā
anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammāti.
|
Này Aggivessana, đối với Như Lai, các lậu hoặc
đă được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền năo, sanh
khởi hậu hữu, đáng sợ hăi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến
sanh, già, chết trong tương lai, chúng bị cắt tận gốc, được làm
như cây ta-la bị chặt đầu, khiến cho không thể tái sanh, không
thể sanh lại trong tương lai. Này Aggivessana, ví như cây ta-la
bị chặt đứt đầu, không lớn lên; cũng vậy, này Aggivessana, đối
với Như Lai, các lậu hoặc đă được đoạn trừ, những lậu hoặc liên
hệ đến phiền năo, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hăi, đưa đến quả
khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, chúng bị
cắt tận gốc, được làm như cây ta-la bị chặt đầu, khiến cho không
thể tái sanh, không thể sanh lại trong tương lai.
|
|
389. Evaṃ
vutte Saccako Nigaṇṭhaputto Bhagavantaṃ etadavoca |
Khi được nghe nói vậy,
Niganthaputta Saccaka bạch Thế Tôn:
|
|
“Acchariyaṃ bho
Gotama, abbhutaṃ bho Gotama, yāvañcidaṃ bhoto Gotamassa evaṃ
āsajja āsajja vuccamānassa upanītehi vacanappathehi
samudācariyamānassa chavivaṇṇo ceva pariyodāyati, mukhavaṇṇo ca
vippasīdati, yathā taṃ Arahato Sammāsambuddhassa. Abhijānāmahaṃ
bho Gotama Pūraṇaṃ Kassapaṃ vādena vādaṃ samārabhitā, sopi mayā
vādena vādaṃ samāraddho aññenaññaṃ paṭicari, bahiddhā kathaṃ
apanāmesi, kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi. Bhoto pana (Bhoto
kho pana - Sī)
Gotamassa evaṃ āsajja āsajja vuccamānassa upanītehi
vacanappathehi samudācariyamānassa chavivaṇṇo ceva pariyodāyati,
mukhavaṇṇo ca vippasīdati, yathā taṃ Arahato Sammāsambuddhassa.
Abhijānāmahaṃ bho Gotama Makkhaliṃ Gosālaṃ. Pa . Ajitaṃ
Kesakambalaṃ. Pakudhaṃ Kaccāyanaṃ. Sañjayaṃ Belaṭṭhaputtaṃ.
Nigaṇṭhaṃ Nāṭaputtaṃ vādena vādaṃ samārabhitā, sopi mayā vādena
vādaṃ samāraddho aññenaññaṃ paṭicari, bahiddhā kathaṃ apanāmesi,
kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi. Bhoto pana Gotamassa
evaṃ āsajja āsajja vuccamānassa upanītehi vacanappathehi
samudācariyamānassa chavivaṇṇo ceva pariyodāyati, mukhavaṇṇo ca
vippasīdati, yathā taṃ Arahato Sammāsambuddhassa. Handa ca dāni
mayaṃ bho Gotama gacchāma, bahukiccā mayaṃ bahukaraṇīyā”ti.
|
-- Thật kỳ diệu thay, Tôn giả
Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Dầu cho Tôn giả Gotama
bị chống đối một cách mỉa mai, dầu cho bị công kích với những
lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng
suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ, như một A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác. Này Tôn giả Gotama, tôi xác nhận tôi cùng với Purana
Kassapa biện luận, vị này khi bị tôi dùng lời nói chất vấn, liền
tránh né với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, và tỏ lộ
sự phẫn nộ, sân hận, tức tối. C̣n Tôn giả Gotama, dầu bị chống
đối một cách mỉa mai, dầu bị công kích với những lời lẽ buộc tội
trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn
giả vẫn hoan hỷ như một A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này Tôn giả
Gotama, tôi xác nhận tôi cùng với Makkhali Gosala... Ajita
Kesakambala... Pakudha Kaccayana... Sanjaya Belatthiputta...
cùng với Nigantha Nataputta biện luận, vị này khi bị tôi dùng
lời nói chất vấn liền tránh né với một vấn đề khác, trả lời ra
ngoài vấn đề và tỏ lộ sự phẫn nộ, sân hận và tức tối. C̣n Tôn
giả Gotama, dầu bị chống đối một cách mỉa mai, dầu bị công kích
với những lời lẽ buộc tội, trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả
vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ như một A-la-hán,
Chánh Đẳng Giác. Và này Tôn giả Gotama, chúng tôi nay phải đi,
chúng tôi có nhiều công việc, có nhiều việc phải làm.
|
|
Yassadāni tvaṃ Aggivessana kālaṃ maññasīti.
|
-- Này Aggivessana, Ông hăy làm
những ǵ Ông nghĩ là hợp thời.
|
|
Atha kho Saccako Nigaṇṭhaputto Bhagavato bhāsitaṃ
abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmīti. |
Rồi Niganthaputta Saccaka hoan
hỷ, tín thọ lời Thế Tôn giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.
|
|
Mahāsaccakasuttaṃ niṭṭhitaṃ
chaṭṭhaṃ.
|
|
|
<Kinh số 035> |
<Kinh
số 037> |
|