|
027.
CŪḶAHATTHIPADOPAMASUTTAṂ
|
|
027.
CŪḶAHATTHIPADOPAMASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
027. TIỂU KINH VÍ DỤ DẤU
CHÂN VOI - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
288. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ
viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme.
|
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ)
tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).
|
|
Tena kho pana samayena
Jāṇussoṇi brāhmaṇo sabbasetena vaḷavābhirathena (Vaḷabhīrathena
- Sī, I) Sāvatthiyā
niyyāti divādivassa. Addasā kho Jāṇussoṇi brāhmaṇo Pilotikaṃ
paribbājakaṃ dūratova āgacchantaṃ, disvāna pilotikaṃ
paribbājakaṃ etadavoca |
Lúc bấy giờ Bà-la-môn Janussoni,
với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra
khỏi thành Savatthi. Bà-la-môn Janussoni thấy Du sĩ Pilotika từ
xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika:
|
|
“Handa kuto nu bhavaṃ Vacchāyano
āgacchati divādivassā”ti.
Ito hi kho ahaṃ bho āgacchāmi
samaṇassa Gotamassa santikāti. |
-- Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu
về sớm như vậy?
-- Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama
đến đây.
|
|
“Taṃ kiṃ maññati bhavaṃ
Vacchāyano samaṇassa Gotamassa paññāveyyattiyaṃ paṇdito
maññe”ti.
Ko cāhaṃ bho, ko ca samaṇassa Gotamassa
paññāveyyattiyaṃ jānissāmi, sopi nūnassa tādisova, yo samaṇassa
Gotamassa paññāveyyattiyaṃ jāneyyāti.
|
-- Tôn giả Vacchayana nghĩ thế
nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem
Sa-môn Gotama là bậc có trí không?
-- Tôn giả, tôi là ai mà có thể
biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Sa-môn
Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt.
|
|
“Uḷārāya khalu bhavaṃ
Vacchāyano samaṇaṃ Gotamaṃ pasaṃsāya pasaṃsatī”ti.
Ko cāhaṃ bho,
ko ca samaṇaṃ Gotamaṃ pasaṃsissāmi, pasatthapasatthova so bhavaṃ
Gotamo seṭṭho devamanussānanti. |
-- Tôn giả Vacchayana thật sự
tán thán Sa-môn Gotama với lời tán thán tối thượng.
-- Này Tôn giả, tôi là ai mà có
thể tán thán Sa-môn Gotama, bậc tối thượng được tán thán trong
các bậc được tán thán, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài
Người.
|
|
“Kaṃ pana bhavaṃ Vacchāyano
atthavasaṃ sampassamāno samaṇe Gotame evaṃ abhippasanno”ti (Abhippasanno
hotīti - Syā).
Seyyathāpi bho kusalo nāgavaniko nāgavanaṃ paviseyya, so
passeyya nāgavane mahantaṃ hatthipadaṃ dīghato ca āyataṃ
tiriyañca vitthataṃ, so niṭṭhaṃ gaccheyya “Mahā vata bho
nāgo”ti. Evameva kho ahaṃ bho yato addasaṃ samaṇe Gotame cattāri
padāni, athāhaṃ niṭṭhamagamaṃ “Sammāsambuddho Bhagavā, svākkhāto
Bhagavatā dhammo, suppaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃgho”ti.
|
-- Nhưng Tôn giả Vacchayana thấy
được lư do ǵ ở Sa-môn Gotama mà Tôn giả có ḷng tin tưởng như
vậy?
-- Này Tôn giả, như một người
săn voi thiện xảo vào một khu rừng có voi ở, và thấy một dấu
chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang. Người đó đi đến kết
luận: "Con voi này là con voi lớn". Cũng vậy, này Tôn giả, tôi
đă thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama và đi đến kết luận: "Thế
Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và
Tăng chúng khéo hành tŕ". |
|
289. Katamāni cattāri.
Idhāhaṃ bho passāmi
ekacce khattiyapaṇdite nipuṇe kataparappavāde vālavedhirūpe, te
bhindantā (Vobhindantā
- Sī, I; vi + ava + bhindantā)
maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te suṇanti “Samaṇo khalu
bho Gotamo amukaṃ nāma gāmaṃ vā nigamaṃ vā osarissatī”ti. Te
pañhaṃ abhisaṅkharonti “Imaṃ mayaṃ pañhaṃ samaṇaṃ Gotamaṃ
upasaṅkamitvā pucchissāma, evaṃ ce no puṭṭho evaṃ byākarissati,
evamassa mayaṃ vādaṃ āropessāma, evaṃ cepi no puṭṭho evaṃ
byākarissati, evaṃpissa mayaṃ vādaṃ āropessāmā”ti.
|
Thế nào là bốn? Tôi thấy ở đây có một số
Sát-đế-lị bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia
chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá
các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: "Sa-môn
Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này". Họ sắp đặt
câu hỏi: "'Chúng ta, sau khi đến, sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi
này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như
thế này, th́ chúng ta sẽ chất vấn như thế kia. Khi chúng ta hỏi
như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, th́ chúng ta sẽ
chất vấn như thế này". |
|
Te suṇanti
“Samaṇo khalu bho Gotamo amukaṃ nāma gāmaṃ vā nigamaṃ vā
osaṭo”ti. Te yena samaṇo Gotamo tenupasaṅkamanti. Te samaṇo
Gotamo dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti
sampahaṃseti. Te samaṇena Gotamena dhammiyā kathāya sandassitā
samādapitā samuttejitā sampahaṃsitā na ceva samaṇaṃ Gotamaṃ
pañhaṃ pucchanti, kutossa (Kutassa
- Sī, Syā, I)
vādaṃ āropessanti, aññadatthu samaṇasseva Gotamassa
sāvakā sampajjanti. Yadāhaṃ bho samaṇe Gotame imaṃ paṭhamaṃ
padaṃ addasaṃ, athāhaṃ niṭṭhamagamaṃ “Sammāsambuddho Bhagavā,
svākkhāto Bhagavatā dhammo, suppaṭipanno Bhagavato
Sāvakasaṃgho”ti.
|
Những vị này nghe: "Sa-môn
Gotama đă đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này". Những vị này
đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại, khích lệ,
làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Được Sa-môn
Gotama với Pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan
hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đă định trước), huống
nữa là chất vấn. Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ nhất này của Sa-môn
Gotama, Tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác,
Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành tŕ".
|
|
Puna caparāhaṃ bho passāmi. Idhekacce
brāhmaṇapaṇdite. Pa . |
Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở
đây có một số Bà-la-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài,
biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia,
như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này
nghe... (như trên)... trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn
Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ hai này của
Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng
Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành
tŕ".
|
|
Gahapatipaṇdite. Pa . |
Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở
đây có một số gia chủ bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện
bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như
muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe...
(như trên)... trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ ba này của Sa-môn Gotama,
tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được
Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành tŕ".
|
|
Samaṇapaṇdite nipuṇe
kataparappavāde vālavedhirūpe, te bhindantā maññe caranti
paññāgatena diṭṭhigatāni, te suṇanti “Samaṇo khalu bho Gotamo
amukaṃ nāma gāmaṃ vā nigamaṃ vā osarissatī”ti. Te pañhaṃ
abhisaṅkharonti “Imaṃ mayaṃ pañhaṃ samaṇaṃ Gotamaṃ upasaṅkamitvā
pucchissāma, evaṃ ce no puṭṭho evaṃ byākarissati, evamassa mayaṃ
vādaṃ āropessāma, evaṃ cepi no puṭṭho evaṃ byākarissati,
evaṃpissa mayaṃ vādaṃ āropessāmā”ti.
|
Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở
đây có một số Sa-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện
bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như
muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe:
"Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này". Họ
sắp đặt câu hỏi: "Chúng ta sau khi đến sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu
hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời
như thế này, th́ chúng ta sẽ chất vấn như thế kia. Khi bị chúng
ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, th́ chúng
ta sẽ chất vấn như thế này". |
|
Te suṇanti “Samaṇo khalu
bho Gotamo amukaṃ nāma gāmaṃ vā nigamaṃ vā osaṭo”ti. Te yena
samaṇo Gotamo tenupasaṅkamanti. Te samaṇo Gotamo dhammiyā
kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṃseti. Te
samaṇena Gotamena dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā
samuttejitā sampahaṃsitā na ceva samaṇaṃ Gotamaṃ pañhaṃ
pucchanti, kutossa vādaṃ āropessanti, aññadatthu samaṇaṃyeva
Gotamaṃ okāsaṃ yācanti agārasmā anagāriyaṃ pabbajjāya. Te samaṇo
Gotamo pabbājeti (Pabbājeti
upasampādeti - Sī).
|
Những vị này nghe: "Sa-môn Gotama
đă đến ngôi làng này hay thị trấn này". Những vị này đến chỗ
Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ, làm cho
phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Được Sa-môn Gotama với
Pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ
không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đă định sẵn), huống nữa là chất
vấn. Trái lại, họ xin phép Sa-môn Gotama được xuất gia, từ bỏ
gia đ́nh, sống không gia đ́nh. Sa-môn Gotama cho họ được xuất
gia. |
|
Te tattha pabbajitā samānā vūpakaṭṭhā appamattā
ātāpino pahitattā viharantā nacirasseva; yassatthāya kulaputtā
sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ
brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā
sacchikatvā upasampajja viharanti. |
Được xuất gia như vậy, một số các vị ấy sống một ḿnh,
không phóng dật, nỗ lực, tinh cần, và không bao lâu tự tri, tự
chứng, tự đạt và an trú, ngay trong hiện tại, mục đích tối
thượng của phạm hạnh mà những Thiện nam tử chơn chánh xuất gia,
từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh hướng đến. |
|
Te evamāhaṃsu “Manaṃ vata bho
anassāma, manaṃ vata bho panassāma, mayaṃ hi pubbe assamaṇāva
samānā samaṇamhāti paṭijānimha, abrāhmaṇāva samānā brāhmaṇamhāti
paṭijānimha, anarahantova samānā Arahantamhāti paṭijānimha,
idāni khomha samaṇā, idāni khomha brāhmaṇā, idāni khomha
Arahanto”ti, yadāhaṃ bho samaṇe Gotame imaṃ catutthaṃ padaṃ
addasaṃ, athāhaṃ niṭṭhamagamaṃ “Sammāsambuddho Bhagavā,
svākkhāto Bhagavatā dhammo, suppaṭipanno Bhagavato
Sāvakasaṃgho”ti.
|
Họ nói như sau:
"Thật sự chúng ta gần hoại vong. Thật sự chúng ta gần hoại diệt.
Xưa kia chúng ta không phải là Sa-môn lại tự xem là Sa-môn,
không phải là Bà-la-môn lại tự xem là Bà-la-môn, không phải là
bậc A-la-hán, lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật
là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới
thật là A-la-hán". |
|
Yato kho ahaṃ bho samaṇe Gotame imāni cattāri padāni
addasaṃ, athāhaṃ niṭṭhamagamaṃ “Sammāsambuddho Bhagavā,
svākkhāto Bhagavatā dhammo, suppaṭipanno Bhagavato
Sāvakasaṃgho”ti.
|
Khi tôi thấy dấu chân thứ tư của Sa-môn
Gotama, tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác,
Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành tŕ".
|
|
290. Evaṃ vutte Jāṇussoṇi brāhmaṇo sabbasetā
vaḷavābhirathā orohitvā ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ karitvā yena
Bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā tikkhattuṃ udānaṃ udānesi “Namo
tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa, namo tassa Bhagavato
Arahato Sammāsambuddhassa, namo tassa Bhagavato Arahato
Sammāsambuddhassa, appeva nāma mayaṃpi kadāci karahaci tena
bhotā Gotamena saddhiṃ samāgaccheyyāma, appeva nāma siyā
kocideva kathāsallāpo”ti. |
Khi được nói vậy, Bà-la-môn
Janussoni, từ cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, bước xuống, đắp
thượng y lên một bên vai, chấp tay hướng về Thế Tôn vái lạy, và
thốt ra ba lần cảm hứng ngữ sau đây: "Đảnh lễ Thế Tôn, bậc
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh
Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Rất
có thể, chúng ta sẽ gặp Tôn giả Gotama tại một lúc nào, một chỗ
nào đó. Rất có thể, sẽ có một cuộc đàm luận". |
|
Atha kho Jāṇussoṇi brāhmaṇo yena
Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavatā saddhiṃ sammodi,
sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi,
ekamantaṃ nisinno kho Jāṇussoṇi brāhmaṇo yāvatako ahosi
Pilotikena paribbājakena saddhiṃ kathāsallāpo, taṃ sabbaṃ
Bhagavato ārocesi. Evaṃ vutte Bhagavā Jāṇussoṇiṃ brāhmaṇaṃ
etadavoca
|
Rồi Bà-la-môn
Janussoni đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, nói lên những lời
chào đón hỏi thăm xă giao với Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Janussoni đem tất cả câu
chuyện của Du Sĩ Pilotika, thuật lại với Thế Tôn. Sau khi nghe
vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Janussoni:
|
|
“Na kho brāhmaṇa ettāvatā hatthipadopamo vitthārena
paripūro hoti, api ca brāhmaṇa yathā hatthipadopamo vitthārena
paripūro hoti, taṃ suṇāhi sādhukaṃ manasi karohi bhāsissāmī”ti.
“Evaṃ bho”ti kho Jāṇussoṇi brāhmaṇo Bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca.
|
-- Này Bà-la-môn, ví dụ dấu chân
voi như vậy chưa được đầy đủ một cách rộng răi. Này Bà-la-môn,
với tầm mức như thế nào ví dụ dấu chân voi được đầy đủ một cách
rộng răi? Hăy nghe và khéo tác ư, Ta sẽ nói:
-- Thưa vâng, Tôn giả. Bà-la-môn Janussoni vâng đáp Thế
Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
|
|
291. Seyyathāpi
brāhmaṇa nāgavaniko nāgavanaṃ paviseyya, so passeyya nāgavane
mahantaṃ hatthipadaṃ dīghato ca āyataṃ tiriyañca vitthataṃ, yo
hoti kusalo nāgavaniko, neva tāva niṭṭhaṃ gacchati “Mahā vata
bho nāgo”ti. Taṃ kissa hetu, santi hi brāhmaṇa nāgavane vāmanikā
nāma hatthiniyo mahāpadā, tāsaṃpetaṃ padaṃ assāti.
|
-- Này Bà-la-môn, ví như một
người săn voi vào một khu rừng có voi ở. Người đó thấy một dấu
chân voi lớn trong rừng voi, dài bề dài và rộng bề ngang. Nếu
người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết
luận: "Con voi này chắc chắn to lớn". V́ sao vậy? Này Bà-la-môn,
trong rừng voi, có những loại voi cái lùn thấp, có dấu chân lớn,
có thể dấu chân này thuộc loại voi này.
|
|
So tamanugacchati, tamanugacchanto passati nāgavane
mahantaṃ hatthipadaṃ dīghato ca āyataṃ tiriyañca vitthataṃ uccā
ca nisevitaṃ, yo hoti kusalo nāgavaniko, neva tāva niṭṭhaṃ
gacchati “Mahā vata bho nāgo”ti. Taṃ kissa hetu, santi hi
brāhmaṇa nāgavane uccā kāḷārikā nāma hatthiniyo mahāpadā,
tāsaṃpetaṃ padaṃ assāti.
|
Người đó đi theo dấu
chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu
chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, và những vật cao đều
bị cọ xát. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó
không đi đến kết luận: "Con voi này chắc chắn to lớn v́ sao vậy?
Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà, có
dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này.
|
|
So
tamanugacchati, tamanugacchanto passati nāgavane mahantaṃ
hatthipadaṃ dīghato ca āyataṃ tiriyañca vitthataṃ uccā ca
nisevitaṃ uccā ca dantehi ārañjitāni. Yo hoti kusalo nāgavaniko,
neva tāva niṭṭhaṃ gacchati “Mahā vata bho nāgo”ti. Taṃ kissa
hetu, santi hi brāhmaṇa nāgavane uccā kaṇerukā nāma hatthiniyo
mahāpadā, tāsaṃpetaṃ padaṃ assāti.
|
Người đó
đi theo dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng
voi, một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những
vật cao bị cọ xát, và những vật cao bị ngà voi cắt chém. Nếu
người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết
luận: "Con voi này chắc chắn to lớn". V́ sao vậy? Này Bà-la-môn,
trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà lớn, có dấu chân
lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này.
|
|
So
tamanugacchati, tamanugacchanto passati nāgavane mahantaṃ
hatthipadaṃ dīghato ca āyataṃ tiriyañca vitthataṃ uccā ca
nisevitaṃ uccā ca dantehi ārañjitāni uccā ca sākhābhaṅgaṃ, tañca
nāgaṃ passati rukkhamūlagataṃ vā abbhokāsagataṃ vā gacchantaṃ vā
tiṭṭhantaṃ vā nisinnaṃ vā nipannaṃ vā, so niṭṭhaṃ gacchati
“Ayameva so mahānāgo”ti.
|
Người đó đi theo
dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một
dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị
cọ xát, những vật cao bị ngà voi cắt chém, và những vật cao bị
găy các cành. Và người đó thấy một con voi đực dưới gốc cây hay
ở ngoài trời, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, người
đó đi đến kết luận: "Con voi này thật là con voi đực lớn".
|
|
Evameva kho brāhmaṇa idha Tathāgato loke uppajjati
Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū
Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho
Bhagavā, so imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ
sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā
sacchikatvā pavedeti, so dhammaṃ deseti ādikalyāṇaṃ
majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ
kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti,
|
Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây
Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự
thân chứng ngộ thế giới này, cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm
thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và
loài Người. Khi đă chứng ngộ, Ngài c̣n tuyên thuyết điều Ngài đă
chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện,
văn nghĩa đầy đủ. Ngài giảng dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ,
trong sạch.
|
|
taṃ dhammaṃ
suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṃ vā kule
paccājāto, so taṃ dhammaṃ sutvā Tathāgate saddhaṃ paṭilabhati,
so tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati
“Sambādho gharāvāso rajopatho, abbhokāso pabbajjā, nayidaṃ
sukaraṃ agāraṃ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṃ ekantaparisuddhaṃ
saṅkhalikhitaṃ brahmacariyaṃ carituṃ, yaṃnūnāhaṃ kesamassuṃ
ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ
pabbajeyyan”ti. So aparena samayena appaṃ vā bhogakkhandhaṃ
pahāya mahantaṃ vā bhogakkhandhaṃ pahāya appaṃ vā ñātiparivaṭṭaṃ
pahāya mahantaṃ vā ñātiparivaṭṭaṃ pahāya kesamassuṃ ohāretvā
kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajati.
|
Người gia trưởng, hay con vị gia
trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp
ấy, sau khi nghe Pháp, người ấy sanh ḷng tín ngưỡng Như Lai.
Khi có ḷng tín ngưỡng, vị này suy nghĩ: "Đời sống gia đ́nh đầy
những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất
gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở
gia đ́nh có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn
thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp
áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh". Một
thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn,
từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn,
cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống
không gia đ́nh.
|
|
292.
So evaṃ pabbajito
samāno bhikkhūnaṃ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṃ pahāya
pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇdo nihitasattho lajjī
dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
|
Khi đă xuất gia như vậy, vị ấy
thành tựu học giới và nếp sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh,
tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quư, có ḷng từ,
sống thương xót tất cả chúng sanh và các loài hữu t́nh,
|
|
Adinnādānaṃ
pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī,
athenena sucibhūtena attanā viharati.
|
từ bỏ
lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật
đă cho, chỉ mong những vật đă cho, tự sống thanh tịnh, không có
trộm cướp,
|
|
Abrahmacariyaṃ
pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā.
|
từ bỏ không phạm hạnh, sống theo phạm hạnh, sống
tránh xa (không phạm hạnh), từ bỏ dâm dục tục pháp.
|
|
Musāvādaṃ pahāya
musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto (Ṭheto
- Syā, Kaṃ) paccayiko
avisaṃvādako lokassa.
|
Từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo,
vị ấy nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn,
đáng tin cậy, không phản lại đời,
|
|
Pisuṇaṃ vācaṃ
pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra
akkhātā imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṃ akkhātā amūsaṃ
bhedāya, iti bhinnānaṃ vā sandhātā, sahitānaṃ vā anuppadātā,
samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṃ vācaṃ
bhāsitā hoti.
|
từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa
nói hai lưỡi, nghe điều ǵ ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để
sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều ǵ ở chỗ kia, không đi
nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Vị ấy
sống ḥa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ ḥa hợp,
hoan hỷ trong ḥa hợp, thoải mái trong ḥa hợp, hân hoan trong
ḥa hợp, nói những lời đưa đến ḥa hợp.
|
|
Pharusaṃ vācaṃ
pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti, yā sā vācā nelā
kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā
bahujanamanāpā, tathārūpiṃ vācaṃ bhāsitā hoti.
|
Vị ấy từ bỏ nói lời độc
ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng,
thuận tại, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhă, đẹp ḷng nhiều
người, vui ḷng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy.
|
|
Samphappalāpaṃ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti
kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṃ
vācaṃ bhāsitā kālena sāpadesaṃ pariyantavatiṃ atthasaṃhitaṃ.
|
Vị ấy
từ bỏ nói phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm, nói đúng thời,
nói những lời chân thật, nói những lời có ư nghĩa, nói những lời
về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được
ǵn giữ, những lời hợp thời, thuận lư, có mạch lạc, hệ thống, có
ích lợi.
|
|
293. So bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti.
Ekabhattiko hoti rattūparato virato vikālabhojanā.
Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti.
Mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇdanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti.
Uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti. Jātarūparajatapaṭiggahaṇā
paṭivirato hoti. Āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Āmakamaṃsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Itthikumārikapaṭiggahaṇā
paṭivirato hoti. Dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā
paṭivirato hoti.
|
Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột
giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban
đêm; từ bỏ ăn phi thời; từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, các cuộc
tŕnh diễn; từ bỏ trang sức bằng ṿng hoa hương liệu, dầu thoa,
các thời trang, các thời sức; từ bỏ dùng giường cao và giường
lớn; từ bỏ nhận các hạt sống; từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận
đàn bà, con gái; từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ nhận cừu và
dê; từ bỏ nhận gia cầm và heo;
|
|
Hatthigavāssavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti.
Kayavikkayā
paṭivirato hoti. Tulākūṭakaṃsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti.
Ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti.
Chedana vadha
bandhana viparāmosa ālopa sahasākārā (Sāhasākārā
- Ka) paṭivirato hoti
(Imassa
anantaraṃ “So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṃ
anavajjasukhaṃ paṭisaṃvedetī”ti vacanaṃ dīghanikāye āgataṃ, taṃ
idha santosakathāvasāne āgataṃ, sā ca santosakathā tattha
satisampajaññānantarameva āgatā).
|
từ bỏ nhận voi, ḅ, ngựa và ngựa
cái; từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai; từ bỏ nhận người môi
giới hoặc tự ḿnh làm môi giới; từ bỏ buôn bán; từ bỏ các sự
gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như
hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu
thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. |
|
294. So santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena
kucchiparihārikena piṇdapātena, so yena yeneva pakkamati,
samādāyeva pakkamati. Seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva
deti, sapattabhārova deti. Evameva bhikkhu santuṭṭho hoti
kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇdapātena, so
yena yeneva pakkamati, samādāyeva pakkamati. So iminā ariyena
sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṃ anavajjasukhaṃ
paṭisaṃvedeti.
|
Vị ấy bằng ḷng (tri túc) với
tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ
nào cũng mang theo (y bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng
mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo bằng ḷng với tấm y để che
thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang
theo (y bát). Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc
thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm.
|
|
295. So cakkhunā
rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī,
yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ
abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa
saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye
saṃvaraṃ āpajjati. Sotena saddaṃ sutvā. Pa . Ghānena gandhaṃ
ghāyitvā. Jivhāya rasaṃ sāyitvā.
Kāyena phoṭṭhabbaṃ
phusitvā.
Manasā dhammaṃ
viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī,
yatvādhikaraṇamenaṃ manindriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ
abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa
saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṃ, manindriye saṃvaraṃ
āpajjati. So iminā ariyena indriyasaṃvarena samannāgato
ajjhattaṃ abyāsekasukhaṃ paṭisaṃvedeti.
|
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không
nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên
nhân ǵ khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi,
các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy,
hộ tŕ con mắt, thực hành sự hộ tŕ con mắt. Khi tai nghe
tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ư nhận
thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ
tướng riêng. Những nguyên nhân ǵ khiến ư căn không được chế
ngự, khiến tham ái ưu bi và các ác bất thiện pháp khởi lên, vị
ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ tŕ ư căn, thực hành sự hộ tŕ
ư căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ tŕ các căn này, cảm giác lạc
thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.
|
|
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite
vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī
hoti, saṃghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte
khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme
sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite
tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
|
Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều
tỉnh giác, khi nh́n thẳng, khi nh́n quanh đều tỉnh giác, khi co
tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, y bát đều tỉnh
giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác, khi đi đại tiện,
tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi nằm, thức, nói, yên
lặng đều tỉnh giác.
|
|
296. So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato,
(imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato,) (Etthantare
pāṭho idha nadissati, catukkaṅguttare pana imasmiṃ ṭhāne
dissati, aṭṭhakathāṭīkāsu ca tadattho pakāsito. Tasmā so ettha
paṭipūrito) iminā ca
ariyena indriyasaṃvarena samannāgato, iminā ca ariyena
satisampajaññena samannāgato vivittaṃ senāsanaṃ bhajati araññaṃ
rukkhamūlaṃ pabbataṃ kandaraṃ giriguhaṃ susānaṃ vanapatthaṃ
abbhokāsaṃ palālapuñjaṃ, so pacchābhattaṃ piṇdapātapaṭikkanto
nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ
satiṃ upaṭṭhapetvā, so abhijjhaṃ loke pahāya vigatābhijjhena
cetasā viharati, abhijjhāya cittaṃ parisodheti. Byāpādappadosaṃ
pahāya abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī,
byāpādappadosā cittaṃ parisodheti. Thinamiddhaṃ pahāya
vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno,
thinamiddhā cittaṃ parisodheti. Uddhaccakukkuccaṃ pahāya
anuddhato viharati ajjhattaṃ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā
cittaṃ parisodheti. Vicikicchaṃ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati
akathaṃkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṃ parisodheti.
|
Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn
này, thành tựu Thánh hộ tŕ các căn này, và thành tựu Thánh
chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như
rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, băi tha ma, lùm cây, ngoài
trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi
kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm
trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham
ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm
không sân hận, ḷng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu t́nh, gột
rửa tâm hết sân hận, từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát
ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh
niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo
cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa
tâm hết trạo cử, hối quá, từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi
nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối
với thiện pháp.
|
|
297. So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese
paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi vivicca akusalehi
dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ
jhānaṃ upasampajja viharati. Idampi vuccati brāhmaṇa
tathāgatapadaṃ itipi tathāgatanisevitaṃ itipi tathāgatārañjitaṃ
itipi. Na tveva tāva ariyasāvako niṭṭhaṃ gacchati
“Sammāsambuddho Bhagavā, svākkhāto Bhagavatā dhammo,
suppaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃgho”ti.
|
Vị ấy từ bỏ năm triền cái làm
cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược, ly dục, ly pháp ác bất
thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly
dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân
của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai.
Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc
Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng
khéo hành tŕ".
|
|
Puna caparaṃ
brāhmaṇa bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ
sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ
pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Idampi vuccati
brāhmaṇa. Pa . Suppaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃghoti.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc, do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này
Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của
Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi
đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn
khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành tŕ".
|
|
Puna caparaṃ
brāhmaṇa bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca
sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā
ācikkhanti “Upekkhako satimā sukhavihārī”ti tatiyaṃ jhānaṃ
upasampajja viharati. Idampi vuccati brāhmaṇa.
Pa. Suppaṭipanno
Bhagavato Sāvakasaṃghoti.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các
bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này
Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của
Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi
đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn
khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành tŕ".
|
|
Puna caparaṃ brāhmaṇa bhikkhu sukhassa ca pahānā
dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ attaṅgamā
adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ
upasampajja viharati. Idampi vuccati brāhmaṇa tathāgatapadaṃ
itipi tathāgatanisevitaṃ itipi tathāgatārañjitaṃ itipi. Na tveva
tāva ariyasāvako niṭṭhaṃ gacchati “Sammāsambuddho Bhagavā
svākkhāto Bhagavatā dhammo, suppaṭipanno Bhagavato
Sāvakasaṃgho”ti.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, chứng và trú Thiền
thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn,
như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu
cắt chém của Như Lai, nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết
luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo
thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành tŕ".
|
|
298. So evaṃ
samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese
mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya
cittaṃ abhininnāmeti. So anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati,
seyyathidaṃ, ekampi jātiṃ dvepi jātiyo. Pa . Iti sākāraṃ
sa-uddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati. Idampi vuccati
brāhmaṇa tathāgatapadaṃ itipi tathāgatanisevitaṃ itipi
tathāgatārañjitaṃ itipi. Na tveva tāva ariyasāvako niṭṭhaṃ
gacchati “Sammāsambuddho Bhagavā, svākkhāto Bhagavatā dhammo,
suppaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃgho”ti.
|
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững
chắc, b́nh thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng
minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời,
ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời,
bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn
đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành
kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, ḍng
họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này,
tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được
sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, ḍng họ
như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi
thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh
ra ở đây". Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng
với các nét đại cương và các chi tiết. Này Bà-la-môn, như vậy
gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt
chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận:
"Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết
giảng, Chúng Tăng khéo hành tŕ".
|
|
So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte
anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
sattānaṃ cutūpapātañāṇāya cittaṃ abhininnāmeti. So dibbena
cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena. Pa . Yathākammūpage
satte pajānāti. Idampi vuccati brāhmaṇa tathāgatapadaṃ itipi
tathāgatanisevitaṃ itipi tathāgatārañjitaṃ itipi. Na tveva tāva
ariyasāvako niṭṭhaṃ gacchati “Sammāsambuddho Bhagavā, svākkhāto
Bhagavatā dhammo, suppaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃgho”ti.
|
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững
chắc, b́nh thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về
sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhăn thuần tịnh, siêu
nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rơ ràng,
chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu,
người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những
chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ư, phỉ báng các bậc
Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người
này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cơi dữ, ác thú,
đọa xứ, địa ngục. C̣n chúng sanh nào làm những thiện hạnh về
thân, lời và ư, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến,
tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân
hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cơi Trời, trên đời
này. Như vậy, vị ấy với thiên nhăn thuần tịnh, siêu nhân, thấy
sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rơ rằng chúng sanh,
người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may
mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Bà-la-môn, như
vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt
chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận:
"Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết
giảng, Chúng Tăng khéo hành tŕ".
|
|
299. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte
anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
āsavānaṃ khayañāṇāya cittaṃ abhininnāmeti. So idaṃ dukkhanti
yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dukkhasamudayoti yathābhūtaṃ
pajānāti, ayaṃ dukkhanirodhoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ
dukkhanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ pajānāti, ime āsavāti
yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ āsavasamudayoti yathābhūtaṃ pajānāti,
ayaṃ āsavanirodhoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ
āsavanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ pajānāti.
|
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững
chắc, b́nh thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận
trí. Vị ấy biết như thật: "Đây là Khổ", biết như thật: "Đây là
Nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Đây là Khổ diệt", biết như
thật: "Đây là Con đường đưa đến khổ diệt", biết như thật: "Đây
là những lậu hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu
hoặc", biết như thật: "Đây là các lậu hoặc diệt", biết như thật:
"Đây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt".
|
|
Idampi vuccati brāhmaṇa tathāgatapadaṃ itipi
tathāgatanisevitaṃ itipi tathāgatārañjitaṃ itipi. Na tveva tāva
ariyasāvako niṭṭhaṃ gato hoti. Api ca kho niṭṭhaṃ gacchati
“Sammāsambuddho Bhagavā, svākkhāto Bhagavatā dhammo,
suppaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃgho”ti. |
Này Bà-la-môn, như vậy gọi là
dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của
Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: "Thế Tôn là
bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng
Tăng khéo hành tŕ".
|
|
Tassa evaṃ
jānato evaṃ passato kāmāsavāpi cittaṃ vimuccati, bhavāsavāpi
cittaṃ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṃ vimuccati, vimuttasmiṃ
“Vimuttam”iti ñāṇaṃ hoti, “Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ,
kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti pajānāti.
|
Vị ấy nhờ biết như vậy, nhờ thấy
như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu,
thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đă giải thoát như vậy,
khởi lên sự hiểu biết: "Ta đă giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh đă
tận, phạm hạnh đă thành, việc cần làm đă làm, không có trở lui
đời sống này nữa".
|
|
Idampi vuccati
brāhmaṇa tathāgatapadaṃ itipi tathāgatanisevitaṃ itipi
tathāgatārañjitaṃ itipi. Ettāvatā kho brāhmaṇa ariyasāvako
niṭṭhaṃ gato hoti “Sammāsambuddho Bhagavā, svākkhāto Bhagavatā
dhammo, suppaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃgho”ti. Ettāvatā kho
brāhmaṇa hatthipadopamo vitthārena paripūro hotīti.
|
Này Bà-la-môn, như vậy gọi là
dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của
Như Lai. Này Bà-la-môn, tới mức độ này, vị Thánh đệ tử đi đến
kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn
khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành tŕ". Này Bà-la-môn, tới
mức độ này, ví dụ dấu chân con voi thật sự được đầy đủ một cách
rộng răi.
|
|
Evaṃ vutte
Jāṇussoṇi brāhmaṇo Bhagavantaṃ etadavoca “Abhikkantaṃ bho
Gotama, abhikkantaṃ bho Gotama, seyyathāpi bho Gotama
nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa
vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya
‘Cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti, evamevaṃ bhotā Gotamena
anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṃ bhavantaṃ Gotamaṃ
saraṇaṃ gacchāmi Dhammañca Bhikkhusaṃghañca, upāsakaṃ maṃ bhavaṃ
Gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatan”ti.
|
Được nghe nói vậy, Bà-la-môn
Jànussoni bạch Thế Tôn: -- Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng
lại những ǵ bị quăng ngă xuống, phơi bày ra những ǵ che kín,
chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng
tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đă
được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện tŕnh bày, giải
thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y chúng
Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở
đi cho đến mệnh chung, con trọn đời quy ngưỡng!
|
|
Cūḷahatthipadopamasuttaṃ
niṭṭhitaṃ sattamaṃ.
|
|
|
<Kinh số 026> |
<Kinh
số 028> |
|