Trang Chính

Majjhimanikāya & Trung Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

MAJJHIMANIKĀYA & TRUNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Tuesday, July 03, 2012

 

028. MAHĀHATTHIPADOPAMASUTTAṂ 

 

028. MAHĀHATTHIPADOPAMASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

028. ĐẠI KINH VÍ DỤ DẤU CHÂN VOI - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

300. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme. Tatra kho āyasmā Sāriputto bhikkhū āmantesi

 

“Āvuso bhikkhave”ti.

 

"Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato Sāriputtassa paccassosuṃ.

 

Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ-kheo:

 

-- Này các Hiền giả Tỷ-kheo!

 

-- Thưa vâng, Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta.

 

Āyasmā Sāriputto etadavoca–

seyyathāpi āvuso yāni kānici jaṅgalānaṃ pāṇānaṃ padajātāni, sabbāni tāni hatthipade samodhānaṃ gacchanti, hatthipadaṃ tesaṃ aggamakkhāyati yadidaṃ mahantattena. Evameva kho āvuso yekeci kusalā dhammā, sabbete catūsu ariyasaccesu saṅgahaṃ gacchanti. Katamesu catūsu. Dukkhe ariyasacce dukkhasamudaye ariyasacce dukkhanirodhe ariyasacce dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasacce.

 

Tôn giả Sariputta nói như sau:

-- Chư Hiền giả, ví như tất cả dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, v́ dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các Thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh đế. Thế nào là trong Bốn Thánh đế? Trong Khổ Thánh đế, trong Khổ tập Thánh đế, trong Khổ diệt Thánh đế, trong Khổ diệt đạo Thánh đế.

 

301. Katamañcāvuso dukkhaṃ ariyasaccaṃ. Jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, maraṇaṃpi dukkhaṃ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ, saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.

 

Chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, năo là khổ, điều ǵ cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là khổ.

 

Katame cāvuso pañcupādānakkhandhā. Seyyathidaṃ, rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho.

 

Chư Hiền, thế nào là Năm thủ uẩn? Chính là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

 

Katamo cāvuso rūpupādānakkhandho. Cattāri ca mahābhūtāni catunnañca mahābhūtānaṃ upādāya rūpaṃ. Katamā cāvuso cattāro mahābhūtā. Pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātu.

 

Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.

 

302. Katamā cāvuso pathavīdhātu. Pathavīdhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā. Katamā cāvuso ajjhattikā pathavīdhātu. Yaṃ ajjhattaṃ paccattaṃ kakkhaḷaṃ kharigataṃ upādinnaṃ, seyyathidaṃ, kesā lomā nakhā dantā taco maṃsaṃ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ vakkaṃ hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ pihakaṃ papphāsaṃ antaṃ antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ, yaṃ vā panaññaṃpi kiñci ajjhattaṃ paccattaṃ kakkhaḷaṃ kharigataṃ upādinnaṃ. Ayaṃ vuccatāvuso ajjhattikā pathavīdhātu. Yā ceva kho pana ajjhattikā pathavīdhātu, yā ca bāhirā pathavīdhātu, pathavīdhāturevesā. Taṃ “Netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā”ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ, evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā pathavīdhātuyā nibbindati, pathavīdhātuyā cittaṃ virājeti. 

(Địa giới)

Chư Hiền, thế nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái ǵ thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật ǵ khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội địa giới. Những ǵ thuộc nội địa giới và những ǵ thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi". Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.

 

Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ bāhirā āpodhātu pakuppati (Pathavīdhātu pakuppati - Ka), antarahitā tasmiṃ samaye bāhirā pathavīdhātu hoti. Tassā hi nāma āvuso bāhirāya pathavīdhātuyā tāva mahallikāya aniccatā paññāyissati, khayadhammatā paññāyissati, vayadhammatā paññāyissati, vipariṇāmadhammatā paññāyissati, kiṃ panimassa mattaṭṭhakassa kāyassa taṇhupādinnassa “Ahanti vā mamanti vā asmītivā”. Atha khvāssa notevettha hoti.

 

Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, trong thời ấy ngoại địa giới bị biến mất. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại địa giới xưa ấy có thể nêu rơ, tánh hủy hoại có thể nêu rơ, tánh đoạn diệt có thể nêu rơ, tánh biến dịch có thể nêu rơ. Như vậy c̣n nói ǵ đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có ǵ để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.

 

Tañce āvuso bhikkhuṃ pare akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti. So evaṃ pajānāti, uppannā kho me ayaṃ sotasamphassajā dukkhavedanā, sā ca kho paṭicca, no apaṭicca, kiṃ paṭicca, phassaṃ paṭicca. So (Sopikho - Syā; sopi - Ka) “Phasso anicco”ti passati, “Vedanā aniccā”ti passati, “Saññā aniccā”ti passati, “Saṅkhārā aniccā”ti passati, “Viññāṇaṃ aniccan”ti passati. Tassa dhātārammaṇameva cittaṃ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.

 

Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu năo Tỷ-kheo, vị ấy biết rơ như sau: "Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên ǵ? Do nhân duyên xúc". Vị ấy thấy xúc là vô thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô thường, thấy hành là vô thường, thấy thức là vô thường. Tâm của vị này hoan hỷ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng.

 

Tañce āvuso bhikkhuṃ pare aniṭṭhehi akantehi amanāpehi samudācaranti, pāṇisamphassenapi leddusamphassenapi daṇdasamphassenapi satthasamphassenapi. So evaṃ pajānāti “Tathābhūto kho ayaṃ kāyo yathābhūtasmiṃ kāye pāṇisamphassāpi kamanti, leddusamphassāpi kamanti, daṇdasamphassāpi kamanti, satthasamphassāpi kamanti. Vuttaṃ kho panetaṃ Bhagavatā kakacūpamovāde ‘Ubhatodaṇdakena cepi bhikkhave kakacena corā ocarakā aṅgamaṅgāni okanteyyuṃ, tatrāpi yo mano padūseyya, na me so tena sāsanakaro’ti. Āraddhaṃ kho pana me vīriyaṃ bhavissati asallīnaṃ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṃ cittaṃ ekaggaṃ. Kāmaṃ dāni imasmiṃ kāye pāṇisamphassāpi kamantu, leddusamphassāpi kamantu, daṇdasamphassāpi kamantu, satthasamphassāpi kamantu. Karīyati hidaṃ Buddhānaṃ sāsanan”ti.

 

Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỷ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: "Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm. Thế Tôn đă dạy như sau trong ví dụ cái cưa: "Chư Tỷ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ư phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy". Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đăi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành.

 

Tassa ce āvuso bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā na saṇṭhāti. So tena saṃvijjati, saṃvegaṃ āpajjati “Alābhā vata me, na vata me lābhā, dulladdhaṃ vata me, na vata me suladdhaṃ, yassa me evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā na saṇṭhātī”ti. Seyyathāpi āvuso suṇisā sasuraṃ disvā saṃvijjati, saṃvegaṃ āpajjati, evameva kho āvuso tassa ce bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā na saṇṭhāti. So tena saṃvijjati, saṃvegaṃ āpajjati “Alābhā vata me, na vata me lābhā, dulladdhaṃ vata me, na vata me suladdhaṃ, yassa me evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā na saṇṭhātī”ti. Tassa ce āvuso bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā saṇṭhāti, so tena attamano hoti. Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hoti.

 

Chư Hiền, Tỷ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú". Chư Hiền, ví như một người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh. Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỷ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú". Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú, th́ Tỷ-kheo ấy được hoan hỷ. Chư Hiền, đến mức độ này, Tỷ-kheo đă làm thật nhiều.

 

303. Katamā cāvuso āpodhātu. Āpodhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā. Katamā cāvuso ajjhattikā āpodhātu. Yaṃ ajjhattaṃ paccattaṃ āpo āpogataṃ upādinnaṃ, seyyathidaṃ, pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttaṃ, yaṃ vā panaññaṃpi kiñci ajjhattaṃ paccattaṃ āpo āpogataṃ upādinnaṃ. Ayaṃ vuccatāvuso ajjhattikā āpodhātu. Yā ceva kho pana ajjhattikā āpodhātu, yā ca bāhirā āpodhātu, āpodhāturevesā. Taṃ “Netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā”ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ, evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā āpodhātuyā nibbindati, āpodhātuyā cittaṃ virājeti.

 

(Thủy giới)

Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái ǵ thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật ǵ khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội thủy giới. Những ǵ thuộc nội thủy giới và những ǵ thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới. Cần phải như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi". Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới.

 

Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ bāhirā āpodhātu pakuppati, sā gāmaṃpi vahati, nigamaṃpi vahati, nagaraṃpi vahati, janapadaṃpi vahati, janapadapadesaṃpi vahati. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ mahāsamudde yojanasatikānipi udakāni ogacchanti, dviyojanasatikānipi udatāni ogacchanti, tiyojanasatikānipi udakāni ogacchanti, catuyojanasatikānipi udakāni ogacchanti, pañcayojanasatikānipi udakāni ogacchanti, chayojanasatikānipi udakāni ogacchanti, sattayojanasatikānipi udatāni ogacchanti. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ mahāsamudde sattatālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, chattālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, pañcatālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, catuttālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, titālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, dvitālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, tālamattaṃpi (Tālaṃpi - Sī) udakaṃ saṇṭhāti. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ mahāsamudde sattaporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, chapporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, pañcaporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, catupporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, tiporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, dviporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, porisamattaṃpi (Porisaṃpi - Sī) udakaṃ saṇṭhāti. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ mahāsamudde addhaporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, kaṭimattaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, jāṇukamattaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, gopphakamattaṃpi udakaṃ saṇṭhāti. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ mahāsamudde aṅgulipabba temanamattaṃpi udakaṃ na hoti. Tassā hi nāma āvuso bāhirāya āpodhātuyā tāva mahallikāya aniccatā paññāyissati, khayadhammatā paññāyissati, vayadhammatā paññāyissati, vipariṇāmadhammatā paññāyissati. Kiṃpanimassa mattaṭṭhakassa kāyassa taṇhupādinnassa “Ahanti vā mamanti vā asmīti vā”.

 

Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, nước cuốn trôi làng, cuốn trôi thị trấn, cuốn trôi thành phố, cuốn trôi xứ, cuốn trôi quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương hạ thấp một trăm do-tuần, hạ thấp hai trăm do-tuần, hạ thấp ba trăm do-tuần, hạ thấp bốn trăm do-tuần, hạ thấp năm trăm do-tuần, hạ thấp sáu trăm do-tuần, hạ thấp bảy trăm do-tuần. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến bảy cây ta-la, dâng cao đến sáu cây ta-la, dâng cao đến năm cây ta-la, dâng cao đến bốn cây ta-la, dâng cao đến ba cây ta-la, dâng cao đến hai cây ta-la, dâng cao chỉ đến một cây ta-la. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương cao đến bảy đầu người, dâng cao đến sáu đầu người, dâng cao đến năm đầu người, dâng cao đến bốn đầu người, dâng cao đến ba đầu người, dâng cao đến hai đầu người, dâng cao chỉ đến một đầu người. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến nửa thân người, dâng cao chỉ đến hông, dâng cao chỉ đến đầu gối, dâng cao chỉ đến gót chân. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương không có để thấm ướt đốt ngón chân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại thủy giới xưa ấy có thể nêu rơ, tánh hủy hoại có thể nêu rơ, tánh đoạn diệt có thể nêu rơ, tánh biến dịch có thể nêu rơ. Như vậy c̣n nói ǵ đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có ǵ để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.

 

Atha khvāssa notevettha hoti. Pa . Tassa ce āvuso bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā saṇṭhāti, so tena attamano hoti. Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hoti.

 

Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu năo Tỷ-kheo, vị ấy biết rơ như sau: ...(như trên)... và xả tương ứng với thiện được an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỷ-kheo đă làm thật nhiều.

 

 

304. Katamā cāvuso tejodhātu. Tejodhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā. Katamā cāvuso ajjhattikā tejodhātu, yaṃ ajjhattaṃ paccattaṃ tejo tejogataṃ upādinnaṃ, seyyathidaṃ, yena ca santappati, yena ca jīrīyati, yena ca paridayhati, yena ca asitapītakhāyitasāyitaṃ sammā pariṇāmaṃ gacchati, yaṃ vā panaññaṃpi kiñci ajjhattaṃ paccattaṃ tejo tejogataṃ upādinnaṃ. Ayaṃ vuccatāvuso ajjhattikā tejodhātu. Yā ceva kho pana ajjhattikā tejodhātu, yā ca bāhirā tejodhātu, tejodhāturevesā. Taṃ “Netaṃ mama, nesohamasmi, na me so attā”ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. Evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā tejodhātuyā nibbindati, tejodhātuyā cittaṃ virājeti.

 

(Hỏa giới)

Chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Chư Hiền, thế nào là nội hỏa giới? Cái ǵ thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái ǵ khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái ǵ khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật ǵ khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội hỏa giới. Những ǵ thuộc nội hỏa giới và những ǵ thuộc ngoại hỏa giới, đều thuộc về hỏa giới. Cần phải như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi". Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới.

 

Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ bāhirā tejodhātu pakuppati, sā gāmaṃpi dahati, nigamaṃpi dahati, nagaraṃpi dahati, janapadaṃpi dahati, janapadapadesaṃpi dahati. Sā haritantaṃ vā panthantaṃ vā selantaṃ vā udakantaṃ vā ramaṇīyaṃ vā bhūmibhāgaṃ āgamma anāhārā nibbāyati. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ kukkuṭapattenapi nhārudaddulenapi aggiṃ gavesanti. Tassā hi nāma āvuso bāhirāya tejodhātuyā tāva mahallikāya aniccatā paññāyissati, khayadhammatā paññāyissati, vayadhammatā paññāyissati, vipariṇāmadhammatā paññāyissati. Kiṃ panimassa mattaṭṭhakassa kāyassa taṇhupādinnassa “Ahanti vā mamanti vā asmīti vā”.

 

Chư Hiền, một thời xẩy ra khi hỏa giới dao động. Lửa thiêu cháy làng, thiêu cháy thị trấn, thiêu cháy thành phố, thiêu cháy xứ, thiêu cháy quốc độ. Lửa cháy cho đến cuối hàng cây cối, cho đến cuối hàng đường lớn, cho đến cuối hàng chân núi, cho đến cuối hàng thủy biên, hay cho đến cuối hàng khu đất khả ái, rồi lửa bị tắt v́ không nhiên liệu. Chư Hiền, một thời xảy ra khi loài người đi kiếm lửa phải dùng lông gà và dây gân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại hỏa giới xưa ấy có thể nêu rơ; tánh hủy hoại có thể nêu rơ, tánh đoạn diệt có thể nêu rơ, tánh biến dịch có thể nêu rơ. Như vậy c̣n nói ǵ đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có ǵ để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.

 

Atha khvāssa notevettha hoti. Pa . Tassa ce āvuso bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā saṇṭhāti, so tena attamano hoti. Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hoti.

 

Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu năo Tỷ-kheo, vị ấy biết rơ như sau: ...(như trên)... và xả tương ứng với thiện được an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỷ-kheo đă làm thật nhiều.

 

 

305. Katamā cāvuso vāyodhātu. Vāyodhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā. Katamā cāvuso ajjhattikā vāyodhātu. Yaṃ ajjhattaṃ paccattaṃ vāyo vāyogataṃ upādinnaṃ, seyyathidaṃ, uddhaṅgamā vātā, adhogamā vātā, kucchisayā vātā, koṭṭhāsayā (Koṭṭhasayā - Sī, I) vātā, aṅgamaṅgānusārino vātā, assāso passāso iti, yaṃ vā panaññaṃpi kiñci ajjhattaṃ paccattaṃ vāyo vāyogataṃ upādinnaṃ. Ayaṃ vuccatāvuso ajjhattikā vāyodhātu. Yā ceva kho pana ajjhattikā vāyodhātu, yā ca bāhirā vāyodhātu, vāyodhāturevesā. Taṃ “Netaṃ mama, nesohamasmi, na me so attā”ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. Evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā vāyodhātuyā nibbindati, vāyodhātuyā cittaṃ virājeti.

 

(Phong giới)

Chư Hiền, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Chư Hiền, thế nào là nội phong giới? Cái ǵ thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết (tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật ǵ khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội phong giới. Những ǵ thuộc nội phong giới và những ǵ thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Cần phải như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi". Sau khi thấy như thật phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới.

 

Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ bāhirā vāyodhātu pakuppati, sā gāmaṃpi vahati, nigamaṃpi vahati, nagaraṃpi vahati, janapadaṃpi vahati, janapadapadesaṃpi vahati. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ gimhānaṃ pacchime māse tālavaṇṭenapi vidhūpanenapi vātaṃ pariyesanti.

Ossavanepi tiṇāni na icchanti. Tassā hi nāma āvuso bāhirāya vāyodhātuyā tāva mahallikāya aniccatā paññāyissati, khayadhammatā paññāyissati, vayadhammatā paññāyissati, vipariṇāmadhammatā paññāyissati. Kiṃ panimassa mattaṭṭhakassa kāyassa taṇhupādinnassa “Ahanti vā mamanti vā asmīti vā”. Atha khvāssa notevettha hoti.

 

Chư Hiền, một thời xẩy ra khi ngoại phong giới dao động, gió thổi bay làng, thổi bay thị trấn, thổi bay thành phố, thổi bay xứ, thổi bay quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi trong tháng cuối mùa hạ, loài người t́m cầu gió nhờ lá cây ta-la, nhờ cây quạt, và người ta không mong t́m được cỏ tại chỗ có rạch nước chảy. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại phong giới xưa ấy có thể nêu rơ; tánh hủy hoại có thể nêu rơ; tánh đoạn diệt có thể nêu rơ; tánh biến dịch có thể nêu rơ. Như vậy c̣n nói ǵ đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có ǵ để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.

 

 Tañce āvuso bhikkhuṃ pare akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti. So evaṃ pajānāti, uppannā kho me ayaṃ sotasamphassajā dukkhā vedanā, sā ca kho paṭicca, no apaṭicca, kiṃ paṭicca, phassaṃ paṭicca. Sopi phasso aniccoti passati, vedanā aniccāti passati, saññā aniccāti passati, saṅkhārā aniccāti passati, viññāṇaṃ aniccanti passati. Tassa dhātārammaṇameva cittaṃ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.

 

Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu năo Tỷ-kheo, vị ấy biết rơ như sau: "Khổ thọ khởi lên nơi tôi này thuộc tai xúc chạm; thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên. Do nhân duyên ǵ? Do nhân duyên xúc vậy". Vị ấy thấy xúc là vô thường; vị ấy thấy thọ là vô thường; vị ấy thấy tưởng là vô thường; vị ấy thấy hành là vô thường; vị ấy thấy thức là vô thường; tâm của vị này hoan hỷ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng.

 

Tañce āvuso bhikkhuṃ pare aniṭṭhehi akantehi amanāpehi samudācaranti, pāṇisamphassenapi leddusamphassenapi daṇdasamphassenapi satthasamphassenapi. So evaṃ pajānāti “Tathābhūto kho ayaṃ kāyo yathābhūtasmiṃ kāye pāṇisamphassāpi kamanti, leddusamphassāpi kamanti, daṇdasamphassāpi kamanti, satthasamphassāpi kamanti. Vuttaṃ kho panetaṃ Bhagavatā kakacūpamovāde ‘Ubhatodaṇdakena cepi bhikkhave kakacena corā ocarakā aṅgamaṅgāni okanteyyuṃ, tatrāpi yo mano padūseyya, na me so tena sāsanakaro’ti. Āraddhaṃ kho pana me vīriyaṃ bhavissati asallīnaṃ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṃ cittaṃ ekaggaṃ. Kāmaṃ dāni imasmiṃ kāye pāṇisamphassāpi kamantu, leddusamphassāpi kamantu, daṇdasamphassāpi kamantu, satthasamphassāpi kamantu. Karīyati hidaṃ Buddhānaṃ sāsanan”ti.

 

Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỷ-kheo, không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy biết như sau: "Sự thể của thân này là như vậy nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm". Thế Tôn đă dạy như sau trong ví dụ cái cưa: "Chư Tỷ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân, nếu ai ở đây sanh ư phẫn nộ th́ người ấy không làm đúng lời Ta dạy". Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đăi, niệm được an trú, không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm, mặc cho gậy xúc chạm, mặc cho gươm xúc chạm thân này. Lời dạy chư Phật cần phải được thực hành".

 

Tassa ce āvuso bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā na saṇṭhāti. So tena saṃvijjati saṃvegaṃ āpajjati “Alābhā vata me, na vata me lābhā, dulladdhaṃ vata me, na vata me suladdhaṃ. Yassa me evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā na saṇṭhātī”ti. Seyyathāpi āvuso suṇisā sasuraṃ disvā saṃvijjati saṃvegaṃ āpajjati. Evameva kho āvuso tassa ce bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā na saṇṭhāti. So tena saṃvijjati saṃvegaṃ āpajjati “Alābhā vata me, na vata me lābhā, dulladdhaṃ vata me, na vata me suladdhaṃ. Yassa me evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā na saṇṭhātī”ti. Tassa ce āvuso bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā saṇṭhāti, so tena attamano hoti. Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hoti.

 

Chư Hiền, Tỷ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú". Chư Hiền, ví như một người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh. Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỷ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú". Chư Hiền, nếu Tỷ- Kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú. Do vậy, Tỷ-kheo ấy được hoan hỷ. Chư Hiền, cho đến mức độ này, Tỷ-kheo đă làm thật nhiều.

 

306. Seyyathāpi āvuso kaṭṭhañca paṭicca valliñca paṭicca tiṇañca paṭicca mattikañca paṭicca ākāso parivārito agāraṃtveva saṅkhaṃ gacchati. Evameva kho āvuso aṭṭhiñca paṭicca nhāruñca paṭicca maṃsañca paṭicca cammañca paṭicca ākāso parivārito rūpaṃtveva saṅkhaṃ gacchati.

 

Chư Hiền, như một khoảng trống được bao vây bởi cây gậy, bởi dây leo, bởi cỏ, bởi bùn, được biết là một nhà ở. Cũng vậy, Chư Hiền, một khoảng trống được bao vây bởi xương, bởi dây gân, bởi thịt, bởi da, được biết là một sắc pháp.

 

Ajjhattikañceva (Ajjhattikañce - Sī, Syā, I; ajjhattikañcepi - ?) āvuso cakkhuṃ aparibhinnaṃ hoti, bāhirā ca rūpā na āpāthaṃ āgacchanti, no ca tajjo samannāhāro hoti. Neva tāva tajjassa viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti. Ajjhattikañceva1 āvuso cakkhuṃ aparibhinnaṃ hoti, bāhirā ca rūpā āpāthaṃ āgacchanti, no ca tajjo samannāhāro hoti. Neva tāva tajjassa viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti. Yato ca kho āvuso ajjhattikañceva cakkhuṃ aparibhinnaṃ hoti, bāhirā ca rūpā āpāthaṃ āgacchanti, tajjo ca samannāhāro hoti. Evaṃ tajjassa viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti.

Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, nhưng ngoại sắc không vào trong tầm mắt, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, chỉ khi nào nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, có sự quy tục xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp có hiện khởi.

 

Yaṃ tathābhūtassa rūpaṃ, taṃ rūpupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchati. Yā tathābhūtassa vedanā, sā vedanupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchati. Yā tathābhūtassa saññā, sā saññupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchanti. Ye tathābhūtassa saṅkhārā, te saṅkhārupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchanti. Yaṃ tathābhūtassa viññāṇaṃ, taṃ viññāṇupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchati. So evaṃ pajānāti “Evaṃ hi kira imesaṃ pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ saṅgaho sannipāto samavāyo hoti. Vuttaṃ kho panetaṃ Bhagavatā ‘Yo paṭiccasamuppādaṃ passati, so dhammaṃ passati. Yo dhammaṃ passati, so paṭiccasamuppādaṃ passatī’ti. Paṭiccasamuppannā kho panime yadidaṃ pañcupādānakkhandhā. Yo imesu pañcasu upādānakkhandhesu chando ālayo anunayo ajjhosānaṃ, so dukkhasamudayo. Yo imesu pañcasu upādānakkhandhesu chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ, so dukkhanirodho”ti. Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hoti.

 

Bất cứ sắc pháp ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng ǵ được hiện khởi như vậy đều được quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: "Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập hợp, sự ḥa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đă nói như sau: "Ai thấy được lư duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lư duyên khởi". Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt". Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất nhiều.

 

Ajjhattikañceva āvuso sotaṃ aparibhinnaṃ hoti. Pa .

Chư Hiền, nếu nội tai không bị hư hại, nhưng ngoại thanh không vào trong tầm tai, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất nhiều.

 

Ghānaṃ aparibhinnaṃ hoti,

Chư Hiền, nếu nội lỗ mũi không bị hư hại, nhưng ngoại hương không vào trong tầm mũi, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất nhiều.

 

jivhā aparibhinnā hoti,

Chư Hiền, nếu nội lưỡi không bị hư hại, nhưng ngoại vị không vào trong tầm lưỡi, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất nhiều.

 

kāyo aparibhinno hoti, mano aparibhinno hoti, bāhirā ca dhammā na āpāthaṃ āgacchanti, no ca tajjo samannāhāro hoti. Neva tāva tajjassa viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti.

Chư Hiền, nếu nội thân không bị hư hại, nhưng ngoại xúc không vào trong tầm của thân, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất nhiều.

 

Ajjhattiko ceva āvuso mano aparibhinno hoti, bāhirā ca dhammā āpāthaṃ āgacchanti, no ca tajjo samannāhāro hoti. Neva tāva tajjassa viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti. Yato ca kho āvuso ajjhattiko ceva mano aparibhinno hoti, bāhirā ca dhammā āpāthaṃ āgacchanti, tajjo ca samannāhāro hoti. Evaṃ tajjassa viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti.

Chư Hiền, nếu nội ư căn không bị hư hại, ngoại pháp vào trong tầm của ư căn, nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, chỉ khi nào nội ư căn không bị hư hại, ngoại pháp vào trong tầm của ư căn, có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp có hiện khởi.

 

Yaṃ tathābhūtassa rūpaṃ, taṃ rūpupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchati. Yā tathābhūtassa vedanā, sā vedanupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchati. Yā tathābhūtassa saññā, sā saññupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchanti. Ye tathābhūtassa saṅkhārā, te saṅkhārupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchanti. Yaṃ tathābhūtassa viññāṇaṃ, taṃ viññāṇupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchati, so evaṃ pajānāti “Evaṃ hi kira imesaṃ pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ saṅgaho sannipāto samavāyo hoti. Vuttaṃ kho panetaṃ Bhagavatā ‘Yo paṭiccasamuppādaṃ passati, so dhammaṃ passati. Yo dhammaṃ passati, so paṭiccasamuppādaṃ passatī’ti. Paṭiccasamuppannā kho panime yadidaṃ pañcupādānakkhandhā. Yo imesu pañcasu upādānakkhandhesu chando ālayo anunayo ajjhosānaṃ, so dukkhasamudayo. Yo imesu pañcasu upādānakkhandhesu chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ, so dukkhanirodho”ti. Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hotīti.

 

Bất cứ sắc ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: "Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập họp, sự ḥa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đă nói như sau: "Ai thấy được lư duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lư duyên khởi". Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt". Cho đến mức độ này, chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất nhiều.

 

Idamavoca āyasmā Sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato Sāriputtassa bhāsitaṃ abhinandunti.

 

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta dạy.

 

Mahāhatthipadopamasuttaṃ niṭṭhitaṃ aṭṭhamaṃ.

 
 

<Kinh số 027>

<Kinh số 029>

 
| Mục lục Trung Bộ I | Mục lục Trung Bộ II | Mục lục Trung Bộ III |
 

<Đầu Trang>