|
028.
MAHĀHATTHIPADOPAMASUTTAṂ
|
|
028.
MAHĀHATTHIPADOPAMASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
028. ĐẠI KINH VÍ DỤ DẤU CHÂN
VOI - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
300. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati
Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme. Tatra kho āyasmā Sāriputto
bhikkhū āmantesi
“Āvuso bhikkhave”ti.
"Āvuso”ti kho te
bhikkhū āyasmato Sāriputtassa paccassosuṃ.
|
Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi
(Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp
Cô Độc). Ở đây, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ-kheo:
-- Này các Hiền giả Tỷ-kheo!
-- Thưa vâng, Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả
Sariputta. |
|
Āyasmā Sāriputto
etadavoca–
seyyathāpi āvuso yāni kānici jaṅgalānaṃ pāṇānaṃ
padajātāni, sabbāni tāni hatthipade samodhānaṃ gacchanti,
hatthipadaṃ tesaṃ aggamakkhāyati yadidaṃ mahantattena.
Evameva kho āvuso yekeci kusalā dhammā, sabbete catūsu
ariyasaccesu saṅgahaṃ gacchanti. Katamesu catūsu. Dukkhe
ariyasacce dukkhasamudaye ariyasacce dukkhanirodhe
ariyasacce dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasacce.
|
Tôn giả Sariputta nói như sau:
-- Chư Hiền giả, ví như tất cả
dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân
voi, v́ dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân
về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các Thiện
pháp đều tập trung trong Bốn Thánh đế. Thế nào là trong Bốn
Thánh đế? Trong Khổ Thánh đế, trong Khổ tập Thánh đế, trong Khổ
diệt Thánh đế, trong Khổ diệt đạo Thánh đế.
|
|
301. Katamañcāvuso dukkhaṃ ariyasaccaṃ. Jātipi
dukkhā, jarāpi dukkhā, maraṇaṃpi dukkhaṃ,
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, yampicchaṃ na
labhati tampi dukkhaṃ, saṃkhittena pañcupādānakkhandhā
dukkhā. |
Chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh
đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, năo
là khổ, điều ǵ cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là
khổ.
|
|
Katame cāvuso pañcupādānakkhandhā. Seyyathidaṃ,
rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho,
saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho,
viññāṇupādānakkhandho. |
Chư Hiền, thế nào là Năm thủ
uẩn? Chính là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ
uẩn, thức thủ uẩn.
|
|
Katamo cāvuso rūpupādānakkhandho.
Cattāri ca mahābhūtāni catunnañca mahābhūtānaṃ upādāya
rūpaṃ. Katamā cāvuso cattāro mahābhūtā. Pathavīdhātu
āpodhātu tejodhātu vāyodhātu.
|
Chư Hiền, thế nào là sắc thủ
uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là
bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.
|
|
302. Katamā cāvuso pathavīdhātu. Pathavīdhātu
siyā ajjhattikā siyā bāhirā. Katamā cāvuso ajjhattikā
pathavīdhātu. Yaṃ ajjhattaṃ paccattaṃ kakkhaḷaṃ kharigataṃ
upādinnaṃ, seyyathidaṃ, kesā lomā nakhā dantā taco maṃsaṃ
nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ vakkaṃ hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ
pihakaṃ papphāsaṃ antaṃ antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ, yaṃ vā
panaññaṃpi kiñci ajjhattaṃ paccattaṃ kakkhaḷaṃ kharigataṃ
upādinnaṃ. Ayaṃ vuccatāvuso ajjhattikā pathavīdhātu. Yā ceva
kho pana ajjhattikā pathavīdhātu, yā ca bāhirā pathavīdhātu,
pathavīdhāturevesā. Taṃ “Netaṃ mama, nesohamasmi, na meso
attā”ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ,
evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā pathavīdhātuyā
nibbindati, pathavīdhātuyā cittaṃ virājeti. |
(Địa giới)
Chư Hiền, thế nào là địa giới?
Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa
giới? Cái ǵ thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng,
bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương,
tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng
ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật ǵ khác thuộc nội thân, thuộc
cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi
là nội địa giới. Những ǵ thuộc nội địa giới và những ǵ thuộc
ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát
địa giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi,
cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi".
Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị
ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.
|
|
Hoti kho so
āvuso samayo, yaṃ bāhirā āpodhātu pakuppati (Pathavīdhātu
pakuppati - Ka),
antarahitā tasmiṃ samaye bāhirā pathavīdhātu hoti. Tassā hi nāma
āvuso bāhirāya pathavīdhātuyā tāva mahallikāya aniccatā
paññāyissati, khayadhammatā paññāyissati, vayadhammatā
paññāyissati, vipariṇāmadhammatā paññāyissati, kiṃ panimassa
mattaṭṭhakassa kāyassa taṇhupādinnassa “Ahanti vā mamanti vā
asmītivā”. Atha khvāssa notevettha hoti.
|
Chư Hiền, một thời xảy ra khi
ngoại thủy giới dao động, trong thời ấy ngoại địa giới bị biến
mất. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại địa giới xưa ấy có thể
nêu rơ, tánh hủy hoại có thể nêu rơ, tánh đoạn diệt có thể nêu
rơ, tánh biến dịch có thể nêu rơ. Như vậy c̣n nói ǵ đến thân
thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có ǵ để có thể
nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
|
|
Tañce āvuso
bhikkhuṃ pare akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti. So evaṃ
pajānāti, uppannā kho me ayaṃ sotasamphassajā dukkhavedanā, sā
ca kho paṭicca, no apaṭicca, kiṃ paṭicca, phassaṃ paṭicca. So (Sopikho
- Syā; sopi - Ka)
“Phasso anicco”ti passati, “Vedanā aniccā”ti passati, “Saññā
aniccā”ti passati, “Saṅkhārā aniccā”ti passati, “Viññāṇaṃ
aniccan”ti passati. Tassa dhātārammaṇameva cittaṃ pakkhandati
pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
|
Chư Hiền, nếu có những người
khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu năo Tỷ-kheo, vị ấy
biết rơ như sau: "Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai
xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên,
do nhân duyên ǵ? Do nhân duyên xúc". Vị ấy thấy xúc là vô
thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô thường, thấy
hành là vô thường, thấy thức là vô thường. Tâm của vị này hoan
hỷ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng.
|
|
Tañce āvuso
bhikkhuṃ pare aniṭṭhehi akantehi amanāpehi samudācaranti,
pāṇisamphassenapi leddusamphassenapi daṇdasamphassenapi
satthasamphassenapi. So evaṃ pajānāti “Tathābhūto kho ayaṃ kāyo
yathābhūtasmiṃ kāye pāṇisamphassāpi kamanti, leddusamphassāpi
kamanti, daṇdasamphassāpi kamanti, satthasamphassāpi kamanti.
Vuttaṃ kho panetaṃ Bhagavatā kakacūpamovāde ‘Ubhatodaṇdakena
cepi bhikkhave kakacena corā ocarakā aṅgamaṅgāni okanteyyuṃ,
tatrāpi yo mano padūseyya, na me so tena sāsanakaro’ti. Āraddhaṃ
kho pana me vīriyaṃ bhavissati asallīnaṃ, upaṭṭhitā sati
asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṃ cittaṃ ekaggaṃ.
Kāmaṃ dāni imasmiṃ kāye pāṇisamphassāpi kamantu,
leddusamphassāpi kamantu, daṇdasamphassāpi kamantu,
satthasamphassāpi kamantu. Karīyati hidaṃ Buddhānaṃ sāsanan”ti.
|
Chư Hiền, nếu những người khác
xử sự với Tỷ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có
khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng
gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau:
"Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có
thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm. Thế Tôn
đă dạy như sau trong ví dụ cái cưa: "Chư Tỷ-kheo, nếu có kẻ trộm
cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu
ai ở đây sanh ư phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy". Ta
sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đăi. Niệm được an trú không có
loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định
tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc
chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc
chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành.
|
|
Tassa ce āvuso bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato
evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā
kusalanissitā na saṇṭhāti. So tena saṃvijjati, saṃvegaṃ āpajjati
“Alābhā vata me, na vata me lābhā, dulladdhaṃ vata me, na vata
me suladdhaṃ, yassa me evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ
anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā na
saṇṭhātī”ti. Seyyathāpi āvuso suṇisā sasuraṃ disvā saṃvijjati,
saṃvegaṃ āpajjati, evameva kho āvuso tassa ce bhikkhuno evaṃ
Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ
anussarato upekkhā kusalanissitā na saṇṭhāti. So tena
saṃvijjati, saṃvegaṃ āpajjati “Alābhā vata me, na vata me lābhā,
dulladdhaṃ vata me, na vata me suladdhaṃ, yassa me evaṃ Buddhaṃ
anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato
upekkhā kusalanissitā na saṇṭhātī”ti. Tassa ce āvuso bhikkhuno
evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ
anussarato upekkhā kusalanissitā saṇṭhāti, so tena attamano
hoti. Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hoti.
|
Chư Hiền, Tỷ-kheo ấy, niệm Phật
như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương
ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị
dao động mạnh: "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta,
thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm
Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả
tương ưng với thiện không được an trú". Chư Hiền, ví như một
người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh.
Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỷ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp
như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không
được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: "Thật
bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật
không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như
vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được
an trú". Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp
như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an
trú, th́ Tỷ-kheo ấy được hoan hỷ. Chư Hiền, đến mức độ này,
Tỷ-kheo đă làm thật nhiều.
|
|
303. Katamā
cāvuso āpodhātu. Āpodhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā. Katamā
cāvuso ajjhattikā āpodhātu. Yaṃ ajjhattaṃ paccattaṃ āpo āpogataṃ
upādinnaṃ, seyyathidaṃ, pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo
assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttaṃ, yaṃ vā panaññaṃpi
kiñci ajjhattaṃ paccattaṃ āpo āpogataṃ upādinnaṃ. Ayaṃ
vuccatāvuso ajjhattikā āpodhātu. Yā ceva kho pana ajjhattikā
āpodhātu, yā ca bāhirā āpodhātu, āpodhāturevesā. Taṃ “Netaṃ
mama, nesohamasmi, na meso attā”ti evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ, evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya
disvā āpodhātuyā nibbindati, āpodhātuyā cittaṃ virājeti.
|
(Thủy giới)
Chư Hiền, thế nào là thủy giới?
Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư Hiền thế nào là nội
thủy giới? Cái ǵ thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước,
thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ,
nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước
tiểu, và bất cứ vật ǵ khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc
nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội
thủy giới. Những ǵ thuộc nội thủy giới và những ǵ thuộc ngoại
thủy giới, đều thuộc về thủy giới. Cần phải như thật quán sát
thủy giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của
tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của
tôi". Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như
vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới.
|
|
Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ bāhirā āpodhātu
pakuppati, sā gāmaṃpi vahati, nigamaṃpi vahati, nagaraṃpi
vahati, janapadaṃpi vahati, janapadapadesaṃpi vahati. Hoti kho
so āvuso samayo, yaṃ mahāsamudde yojanasatikānipi udakāni
ogacchanti, dviyojanasatikānipi udatāni ogacchanti,
tiyojanasatikānipi udakāni ogacchanti, catuyojanasatikānipi
udakāni ogacchanti, pañcayojanasatikānipi udakāni ogacchanti,
chayojanasatikānipi udakāni ogacchanti, sattayojanasatikānipi
udatāni ogacchanti. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ mahāsamudde
sattatālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, chattālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti,
pañcatālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, catuttālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti,
titālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, dvitālaṃpi udakaṃ saṇṭhāti,
tālamattaṃpi (Tālaṃpi
- Sī) udakaṃ
saṇṭhāti. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ mahāsamudde
sattaporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, chapporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti,
pañcaporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, catupporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti,
tiporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, dviporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti,
porisamattaṃpi (Porisaṃpi
- Sī) udakaṃ
saṇṭhāti. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ mahāsamudde
addhaporisaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, kaṭimattaṃpi udakaṃ saṇṭhāti,
jāṇukamattaṃpi udakaṃ saṇṭhāti, gopphakamattaṃpi udakaṃ
saṇṭhāti. Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ mahāsamudde aṅgulipabba
temanamattaṃpi udakaṃ na hoti. Tassā hi nāma āvuso bāhirāya
āpodhātuyā tāva mahallikāya aniccatā paññāyissati, khayadhammatā
paññāyissati, vayadhammatā paññāyissati, vipariṇāmadhammatā
paññāyissati. Kiṃpanimassa mattaṭṭhakassa kāyassa
taṇhupādinnassa “Ahanti vā mamanti vā asmīti vā”.
|
Chư Hiền, một thời xảy ra khi
ngoại thủy giới dao động, nước cuốn trôi làng, cuốn trôi thị
trấn, cuốn trôi thành phố, cuốn trôi xứ, cuốn trôi quốc độ. Chư
Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương hạ thấp một trăm
do-tuần, hạ thấp hai trăm do-tuần, hạ thấp ba trăm do-tuần, hạ
thấp bốn trăm do-tuần, hạ thấp năm trăm do-tuần, hạ thấp sáu
trăm do-tuần, hạ thấp bảy trăm do-tuần. Chư Hiền, một thời xẩy
ra khi nước biển đại dương dâng cao đến bảy cây ta-la, dâng cao
đến sáu cây ta-la, dâng cao đến năm cây ta-la, dâng cao đến bốn
cây ta-la, dâng cao đến ba cây ta-la, dâng cao đến hai cây
ta-la, dâng cao chỉ đến một cây ta-la. Chư Hiền, một thời xẩy ra
khi nước biển đại dương cao đến bảy đầu người, dâng cao đến sáu
đầu người, dâng cao đến năm đầu người, dâng cao đến bốn đầu
người, dâng cao đến ba đầu người, dâng cao đến hai đầu người,
dâng cao chỉ đến một đầu người. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi
nước biển đại dương dâng cao đến nửa thân người, dâng cao chỉ
đến hông, dâng cao chỉ đến đầu gối, dâng cao chỉ đến gót chân.
Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương không có để
thấm ướt đốt ngón chân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại thủy
giới xưa ấy có thể nêu rơ, tánh hủy hoại có thể nêu rơ, tánh
đoạn diệt có thể nêu rơ, tánh biến dịch có thể nêu rơ. Như vậy
c̣n nói ǵ đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây
không có ǵ để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
|
|
Atha khvāssa
notevettha hoti. Pa . Tassa ce āvuso bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ
anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato
upekkhā kusalanissitā saṇṭhāti, so tena attamano hoti.
Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hoti.
|
Chư Hiền, nếu có những người
khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu năo Tỷ-kheo, vị ấy
biết rơ như sau: ...(như trên)... và xả tương ứng với thiện được
an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỷ-kheo đă làm thật
nhiều.
|
|
304. Katamā cāvuso tejodhātu. Tejodhātu siyā
ajjhattikā siyā bāhirā. Katamā cāvuso ajjhattikā tejodhātu, yaṃ
ajjhattaṃ paccattaṃ tejo tejogataṃ upādinnaṃ, seyyathidaṃ, yena
ca santappati, yena ca jīrīyati, yena ca paridayhati, yena ca
asitapītakhāyitasāyitaṃ sammā pariṇāmaṃ gacchati, yaṃ vā
panaññaṃpi kiñci ajjhattaṃ paccattaṃ tejo tejogataṃ upādinnaṃ.
Ayaṃ vuccatāvuso ajjhattikā tejodhātu. Yā ceva kho pana
ajjhattikā tejodhātu, yā ca bāhirā tejodhātu, tejodhāturevesā.
Taṃ “Netaṃ mama, nesohamasmi, na me so attā”ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. Evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya disvā tejodhātuyā nibbindati, tejodhātuyā cittaṃ
virājeti.
|
(Hỏa giới)
Chư Hiền, thế nào là hỏa giới?
Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Chư Hiền, thế nào là nội hỏa
giới? Cái ǵ thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa,
thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái ǵ khiến cho hâm nóng,
khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái ǵ khiến cho những
vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả
những vật ǵ khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa,
thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội hỏa
giới. Những ǵ thuộc nội hỏa giới và những ǵ thuộc ngoại hỏa
giới, đều thuộc về hỏa giới. Cần phải như thật quán sát hỏa giới
với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi". Sau khi
như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh
yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới.
|
|
Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ bāhirā tejodhātu
pakuppati, sā gāmaṃpi dahati, nigamaṃpi dahati, nagaraṃpi
dahati, janapadaṃpi dahati, janapadapadesaṃpi dahati. Sā
haritantaṃ vā panthantaṃ vā selantaṃ vā udakantaṃ vā ramaṇīyaṃ
vā bhūmibhāgaṃ āgamma anāhārā nibbāyati. Hoti kho so āvuso
samayo, yaṃ kukkuṭapattenapi nhārudaddulenapi aggiṃ gavesanti.
Tassā hi nāma āvuso bāhirāya tejodhātuyā tāva mahallikāya
aniccatā paññāyissati, khayadhammatā paññāyissati, vayadhammatā
paññāyissati, vipariṇāmadhammatā paññāyissati. Kiṃ panimassa
mattaṭṭhakassa kāyassa taṇhupādinnassa “Ahanti vā mamanti vā
asmīti vā”. |
Chư Hiền, một thời xẩy ra khi
hỏa giới dao động. Lửa thiêu cháy làng, thiêu cháy thị trấn,
thiêu cháy thành phố, thiêu cháy xứ, thiêu cháy quốc độ. Lửa
cháy cho đến cuối hàng cây cối, cho đến cuối hàng đường lớn, cho
đến cuối hàng chân núi, cho đến cuối hàng thủy biên, hay cho đến
cuối hàng khu đất khả ái, rồi lửa bị tắt v́ không nhiên liệu.
Chư Hiền, một thời xảy ra khi loài người đi kiếm lửa phải dùng
lông gà và dây gân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại hỏa giới
xưa ấy có thể nêu rơ; tánh hủy hoại có thể nêu rơ, tánh đoạn
diệt có thể nêu rơ, tánh biến dịch có thể nêu rơ. Như vậy c̣n
nói ǵ đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không
có ǵ để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
|
|
Atha khvāssa notevettha hoti. Pa . Tassa ce āvuso
bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ
Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā saṇṭhāti, so tena
attamano hoti. Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hoti.
|
Chư Hiền, nếu có những người
khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu năo Tỷ-kheo, vị ấy
biết rơ như sau: ...(như trên)... và xả tương ứng với thiện được
an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỷ-kheo đă làm thật
nhiều.
|
|
305. Katamā
cāvuso vāyodhātu. Vāyodhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā. Katamā
cāvuso ajjhattikā vāyodhātu. Yaṃ ajjhattaṃ paccattaṃ vāyo
vāyogataṃ upādinnaṃ, seyyathidaṃ, uddhaṅgamā vātā, adhogamā
vātā, kucchisayā vātā, koṭṭhāsayā (Koṭṭhasayā
- Sī, I) vātā,
aṅgamaṅgānusārino vātā, assāso passāso iti, yaṃ vā panaññaṃpi
kiñci ajjhattaṃ paccattaṃ vāyo vāyogataṃ upādinnaṃ. Ayaṃ
vuccatāvuso ajjhattikā vāyodhātu. Yā ceva kho pana ajjhattikā
vāyodhātu, yā ca bāhirā vāyodhātu, vāyodhāturevesā. Taṃ “Netaṃ
mama, nesohamasmi, na me so attā”ti evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. Evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya
disvā vāyodhātuyā nibbindati, vāyodhātuyā cittaṃ virājeti.
|
(Phong giới)
Chư Hiền, thế nào là phong giới?
Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Chư Hiền, thế nào là nội
phong giới? Cái ǵ thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió,
thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống,
gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết
(tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật ǵ khác thuộc
nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp
thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội phong giới. Những ǵ thuộc nội
phong giới và những ǵ thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong
giới. Cần phải như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ
như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi,
cái này không phải tự ngă của tôi". Sau khi thấy như thật phong
giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong
giới, tâm từ bỏ phong giới.
|
|
Hoti kho so āvuso samayo, yaṃ bāhirā vāyodhātu
pakuppati, sā gāmaṃpi vahati, nigamaṃpi vahati, nagaraṃpi
vahati, janapadaṃpi vahati, janapadapadesaṃpi vahati. Hoti kho
so āvuso samayo, yaṃ gimhānaṃ pacchime māse tālavaṇṭenapi
vidhūpanenapi vātaṃ pariyesanti.
Ossavanepi tiṇāni na icchanti. Tassā hi nāma āvuso bāhirāya
vāyodhātuyā tāva mahallikāya aniccatā paññāyissati,
khayadhammatā paññāyissati, vayadhammatā paññāyissati,
vipariṇāmadhammatā paññāyissati. Kiṃ panimassa mattaṭṭhakassa
kāyassa taṇhupādinnassa “Ahanti vā mamanti vā asmīti vā”. Atha
khvāssa notevettha hoti.
|
Chư Hiền, một thời xẩy ra khi
ngoại phong giới dao động, gió thổi bay làng, thổi bay thị trấn,
thổi bay thành phố, thổi bay xứ, thổi bay quốc độ. Chư Hiền, một
thời xẩy ra khi trong tháng cuối mùa hạ, loài người t́m cầu gió
nhờ lá cây ta-la, nhờ cây quạt, và người ta không mong t́m được
cỏ tại chỗ có rạch nước chảy. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại
phong giới xưa ấy có thể nêu rơ; tánh hủy hoại có thể nêu rơ;
tánh đoạn diệt có thể nêu rơ; tánh biến dịch có thể nêu rơ. Như
vậy c̣n nói ǵ đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở
đây không có ǵ để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
|
|
Tañce āvuso bhikkhuṃ pare
akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti. So evaṃ pajānāti,
uppannā kho me ayaṃ sotasamphassajā dukkhā vedanā, sā ca kho
paṭicca, no apaṭicca, kiṃ paṭicca, phassaṃ paṭicca. Sopi phasso
aniccoti passati, vedanā aniccāti passati, saññā aniccāti
passati, saṅkhārā aniccāti passati, viññāṇaṃ aniccanti passati.
Tassa dhātārammaṇameva cittaṃ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati
adhimuccati.
|
Chư Hiền, nếu có những người
khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu năo Tỷ-kheo, vị ấy
biết rơ như sau: "Khổ thọ khởi lên nơi tôi này thuộc tai xúc
chạm; thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên. Do
nhân duyên ǵ? Do nhân duyên xúc vậy". Vị ấy thấy xúc là vô
thường; vị ấy thấy thọ là vô thường; vị ấy thấy tưởng là vô
thường; vị ấy thấy hành là vô thường; vị ấy thấy thức là vô
thường; tâm của vị này hoan hỷ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định,
tùy thuộc giới đối tượng.
|
|
Tañce āvuso
bhikkhuṃ pare aniṭṭhehi akantehi amanāpehi samudācaranti,
pāṇisamphassenapi leddusamphassenapi daṇdasamphassenapi
satthasamphassenapi. So evaṃ pajānāti “Tathābhūto kho ayaṃ kāyo
yathābhūtasmiṃ kāye pāṇisamphassāpi kamanti, leddusamphassāpi
kamanti, daṇdasamphassāpi kamanti, satthasamphassāpi kamanti.
Vuttaṃ kho panetaṃ Bhagavatā kakacūpamovāde ‘Ubhatodaṇdakena
cepi bhikkhave kakacena corā ocarakā aṅgamaṅgāni okanteyyuṃ,
tatrāpi yo mano padūseyya, na me so tena sāsanakaro’ti. Āraddhaṃ
kho pana me vīriyaṃ bhavissati asallīnaṃ, upaṭṭhitā sati
asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṃ cittaṃ ekaggaṃ.
Kāmaṃ dāni imasmiṃ kāye pāṇisamphassāpi kamantu,
leddusamphassāpi kamantu, daṇdasamphassāpi kamantu,
satthasamphassāpi kamantu. Karīyati hidaṃ Buddhānaṃ sāsanan”ti.
|
Chư Hiền, nếu những người khác
xử sự với Tỷ-kheo, không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có
khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng
gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy biết như sau: "Sự
thể của thân này là như vậy nên tay có thể xúc chạm, đá có thể
xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm". Thế Tôn đă
dạy như sau trong ví dụ cái cưa: "Chư Tỷ-kheo, nếu có kẻ trộm
cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân, nếu
ai ở đây sanh ư phẫn nộ th́ người ấy không làm đúng lời Ta dạy".
Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đăi, niệm được an trú,
không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm
được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc
cho đá xúc chạm, mặc cho gậy xúc chạm, mặc cho gươm xúc chạm
thân này. Lời dạy chư Phật cần phải được thực hành".
|
|
Tassa ce āvuso bhikkhuno evaṃ Buddhaṃ anussarato
evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā
kusalanissitā na saṇṭhāti. So tena saṃvijjati saṃvegaṃ āpajjati
“Alābhā vata me, na vata me lābhā, dulladdhaṃ vata me, na vata
me suladdhaṃ. Yassa me evaṃ Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ
anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā kusalanissitā na
saṇṭhātī”ti. Seyyathāpi āvuso suṇisā sasuraṃ disvā saṃvijjati
saṃvegaṃ āpajjati. Evameva kho āvuso tassa ce bhikkhuno evaṃ
Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ
anussarato upekkhā kusalanissitā na saṇṭhāti. So tena saṃvijjati
saṃvegaṃ āpajjati “Alābhā vata me, na vata me lābhā, dulladdhaṃ
vata me, na vata me suladdhaṃ. Yassa me evaṃ Buddhaṃ anussarato
evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ anussarato upekkhā
kusalanissitā na saṇṭhātī”ti. Tassa ce āvuso bhikkhuno evaṃ
Buddhaṃ anussarato evaṃ Dhammaṃ anussarato evaṃ Saṃghaṃ
anussarato upekkhā kusalanissitā saṇṭhāti, so tena attamano
hoti. Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hoti.
|
Chư Hiền, Tỷ-kheo ấy, niệm Phật
như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương
ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị
dao động mạnh: "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta,
thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm
Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả
tương ưng với thiện không được an trú". Chư Hiền, ví như một
người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh.
Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỷ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp
như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không
được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: "Thật
bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật
không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như
vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được
an trú". Chư Hiền, nếu Tỷ- Kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp
như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an
trú. Do vậy, Tỷ-kheo ấy được hoan hỷ. Chư Hiền, cho đến mức độ
này, Tỷ-kheo đă làm thật nhiều.
|
|
306. Seyyathāpi āvuso kaṭṭhañca paṭicca valliñca
paṭicca tiṇañca paṭicca mattikañca paṭicca ākāso parivārito
agāraṃtveva saṅkhaṃ gacchati. Evameva kho āvuso aṭṭhiñca paṭicca
nhāruñca paṭicca maṃsañca paṭicca cammañca paṭicca ākāso
parivārito rūpaṃtveva saṅkhaṃ gacchati.
|
Chư Hiền, như một khoảng trống
được bao vây bởi cây gậy, bởi dây leo, bởi cỏ, bởi bùn, được
biết là một nhà ở. Cũng vậy, Chư Hiền, một khoảng trống được bao
vây bởi xương, bởi dây gân, bởi thịt, bởi da, được biết là một
sắc pháp.
|
|
Ajjhattikañceva (Ajjhattikañce
- Sī, Syā, I; ajjhattikañcepi - ?)
āvuso cakkhuṃ aparibhinnaṃ hoti, bāhirā ca rūpā na āpāthaṃ
āgacchanti, no ca tajjo samannāhāro hoti. Neva tāva tajjassa
viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti. Ajjhattikañceva1 āvuso
cakkhuṃ aparibhinnaṃ hoti, bāhirā ca rūpā āpāthaṃ āgacchanti, no
ca tajjo samannāhāro hoti. Neva tāva tajjassa viññāṇabhāgassa
pātubhāvo hoti. Yato ca kho āvuso ajjhattikañceva cakkhuṃ
aparibhinnaṃ hoti, bāhirā ca rūpā āpāthaṃ āgacchanti, tajjo ca
samannāhāro hoti. Evaṃ tajjassa viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti.
|
Chư Hiền, nếu nội mắt không bị
hư hại, nhưng ngoại sắc không vào trong tầm mắt, không có sự quy
tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện
khởi. Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong
tầm mắt, nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức
phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, chỉ khi nào nội mắt
không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, có sự quy tục xúc
chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp có hiện khởi.
|
|
Yaṃ tathābhūtassa rūpaṃ, taṃ rūpupādānakkhandhe saṅgahaṃ
gacchati. Yā tathābhūtassa vedanā, sā vedanupādānakkhandhe
saṅgahaṃ gacchati. Yā tathābhūtassa saññā, sā
saññupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchanti. Ye tathābhūtassa
saṅkhārā, te saṅkhārupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchanti. Yaṃ
tathābhūtassa viññāṇaṃ, taṃ viññāṇupādānakkhandhe saṅgahaṃ
gacchati. So evaṃ pajānāti “Evaṃ hi kira imesaṃ pañcannaṃ
upādānakkhandhānaṃ saṅgaho sannipāto samavāyo hoti. Vuttaṃ kho
panetaṃ Bhagavatā ‘Yo paṭiccasamuppādaṃ passati, so dhammaṃ
passati. Yo dhammaṃ passati, so paṭiccasamuppādaṃ passatī’ti.
Paṭiccasamuppannā kho panime yadidaṃ pañcupādānakkhandhā. Yo
imesu pañcasu upādānakkhandhesu chando ālayo anunayo ajjhosānaṃ,
so dukkhasamudayo. Yo imesu pañcasu upādānakkhandhesu
chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ, so dukkhanirodho”ti.
Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ hoti.
|
Bất cứ sắc pháp ǵ được hiện
khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ ǵ
được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ
tưởng ǵ được hiện khởi như vậy đều được quy tụ trong tưởng thủ
uẩn; bất cứ hành ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành
thủ uẩn; bất cứ thức ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong
thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: "Như vậy, như người ta nói,
có sự quy tụ, sự tập hợp, sự ḥa hợp của năm thủ uẩn này. Thế
Tôn đă nói như sau: "Ai thấy được lư duyên khởi, người ấy thấy
được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lư duyên khởi".
Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham
dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là
khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ
diệt". Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất nhiều.
|
|
Ajjhattikañceva āvuso sotaṃ aparibhinnaṃ hoti. Pa . |
Chư Hiền, nếu nội tai không bị
hư hại, nhưng ngoại thanh không vào trong tầm tai, không có sự
quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện
khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất
nhiều.
|
|
Ghānaṃ
aparibhinnaṃ hoti, |
Chư Hiền, nếu nội lỗ mũi không
bị hư hại, nhưng ngoại hương không vào trong tầm mũi, không có
sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có
hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất
nhiều.
|
|
jivhā
aparibhinnā hoti, |
Chư Hiền, nếu nội lưỡi không bị
hư hại, nhưng ngoại vị không vào trong tầm lưỡi, không có sự quy
tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện
khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất
nhiều.
|
|
kāyo
aparibhinno hoti, mano aparibhinno hoti, bāhirā ca dhammā na
āpāthaṃ āgacchanti, no ca tajjo samannāhāro hoti. Neva tāva
tajjassa viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti. |
Chư Hiền, nếu nội thân không bị
hư hại, nhưng ngoại xúc không vào trong tầm của thân, không có
sự quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có
hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất
nhiều.
|
|
Ajjhattiko
ceva āvuso mano aparibhinno hoti, bāhirā ca dhammā āpāthaṃ
āgacchanti, no ca tajjo samannāhāro hoti. Neva tāva tajjassa
viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti. Yato ca kho āvuso ajjhattiko
ceva mano aparibhinno hoti, bāhirā ca dhammā āpāthaṃ āgacchanti,
tajjo ca samannāhāro hoti. Evaṃ tajjassa viññāṇabhāgassa
pātubhāvo hoti. |
Chư Hiền, nếu nội ư căn không bị
hư hại, ngoại pháp vào trong tầm của ư căn, nhưng không có sự
quy tụ xúc chạm thích hợp, th́ thức phần thích hợp không có hiện
khởi. Chư Hiền, chỉ khi nào nội ư căn không bị hư hại, ngoại
pháp vào trong tầm của ư căn, có sự quy tụ xúc chạm thích hợp,
th́ thức phần thích hợp có hiện khởi.
|
|
Yaṃ tathābhūtassa rūpaṃ, taṃ
rūpupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchati. Yā tathābhūtassa vedanā,
sā vedanupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchati. Yā tathābhūtassa
saññā, sā saññupādānakkhandhe saṅgahaṃ gacchanti. Ye
tathābhūtassa saṅkhārā, te saṅkhārupādānakkhandhe saṅgahaṃ
gacchanti. Yaṃ tathābhūtassa viññāṇaṃ, taṃ viññāṇupādānakkhandhe
saṅgahaṃ gacchati, so evaṃ pajānāti “Evaṃ hi kira imesaṃ
pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ saṅgaho sannipāto samavāyo hoti.
Vuttaṃ kho panetaṃ Bhagavatā ‘Yo paṭiccasamuppādaṃ passati, so
dhammaṃ passati. Yo dhammaṃ passati, so paṭiccasamuppādaṃ
passatī’ti. Paṭiccasamuppannā kho panime yadidaṃ
pañcupādānakkhandhā. Yo imesu pañcasu upādānakkhandhesu chando
ālayo anunayo ajjhosānaṃ, so dukkhasamudayo. Yo imesu pañcasu
upādānakkhandhesu chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ, so
dukkhanirodho”ti. Ettāvatāpi kho āvuso bhikkhuno bahukataṃ
hotīti.
|
Bất cứ sắc ǵ được hiện khởi như
vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ ǵ được hiện
khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng ǵ được
hiện khởi như vậy đều quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành ǵ
được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ
thức ǵ được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị
ấy tuệ tri như sau: "Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự
tập họp, sự ḥa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đă nói như sau:
"Ai thấy được lư duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy
được pháp, người ấy thấy được lư duyên khởi". Những pháp này do
duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước,
tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp
phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt". Cho đến
mức độ này, chư Hiền, Tỷ-kheo đă làm rất nhiều.
|
|
Idamavoca āyasmā
Sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato Sāriputtassa bhāsitaṃ
abhinandunti.
|
Tôn giả Sariputta thuyết giảng
như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta
dạy.
|
|
Mahāhatthipadopamasuttaṃ
niṭṭhitaṃ aṭṭhamaṃ.
|
|
|
<Kinh số 027> |
<Kinh
số 029> |
|