Trang Chính

Majjhimanikāya & Trung Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

MAJJHIMANIKĀYA & TRUNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Friday, June 29, 2012

 

026. PĀSARĀSISUTTAṂ 

 

026. PĀSARĀSISUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

026. KINH THÁNH CẦU - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

272. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme.

 

Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).

 

Atha kho Bhagavā pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya Sāvatthiṃ piṇdāya pāvisi. Atha kho sambahulā bhikkhū yenāyasmā Ānando tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ Ānandaṃ etadavocuṃ

 

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đến Savatthi để khất thực. Có một số đông Tỷ-kheo đến chỗ Tôn giả Ananda ở, sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda:

 

“Cirassutā no āvuso Ānanda Bhagavato sammukhā dhammī kathā, sādhu mayaṃ āvuso Ānanda labheyyāma Bhagavato sammukhā dhammiṃ kathaṃ savanāyā”ti.

 

Tena hāyasmanto yena Rammakassa brāhmaṇassa assamo tenupasaṅkamatha, appeva nāma labheyyātha Bhagavato sammukhā dhammiṃ kathaṃ savanāyāti.

 

Evamāvusoti kho te bhikkhū āyasmato Ānandassa paccassosuṃ.

 

-- Hiền giả, đă lâu chúng tôi chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Lành thay, Hiền giả Ananda, nếu chúng tôi được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp!

 

-- Các Tôn giả hăy đến chỗ Bà-la-môn Rammaka ở, và các Tôn giả sẽ được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.

 

-- Thưa vâng, Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda.

 

Atha kho Bhagavā Sāvatthiyaṃ piṇdāya caritvā pacchābhattaṃ piṇdapātapaṭikkanto āyasmāntaṃ Ānandaṃ āmantesi

Rồi Thế Tôn, khất thực ở Savatthi xong, sau buổi ăn trên con đường đi khất thực trở về, cho gọi Tôn giả Ananda:

 

“Āyāmānanda yena Pubbārāmo Migāramātupāsādo tenupasaṅkamissāma divāvihārāyā”ti.

 

“Evaṃ bhante”ti kho āyasmā Ānando Bhagavato paccassosi.

 

-- Này Ananda, chúng ta hăy đi đến Pubbarama (Đông viên), ngôi lầu của Migaramatu (Lộc Mẫu Giảng Đường) để nghỉ trưa.

 

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.

 

Atha kho Bhagavā āyasmatā Ānandena saddhiṃ yena Pubbārāmo Migāramātupāsādo tenupasaṅkami divāvihārāya. Atha kho Bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito āyasmantaṃ Ānandaṃ āmantesi

 

“Āyāmānanda yena Pubbakoṭṭhako tenupasaṅkamissāma gattāni parisiñcitun”ti.

 

“Evaṃ bhante”ti kho āyasmā Ānando Bhagavato paccassosi.

 

Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến vườn Pubbarama, ngôi lầu của Migaramatu để nghỉ trưa. Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, gọi Tôn giả Ananda:

 

-- Này Ananda, chúng ta hăy đi đến Pubbakotthaka để rửa tay, rửa chân.

 

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.

 

273. Atha kho Bhagavā āyasmatā Ānandena saddhiṃ yena Pubbakoṭṭhako tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṃ, Pubbakoṭṭhake gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno.  

Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến Pubbakotthaka để rửa tay, rửa chân. Sau khi rửa tay, rửa chân ở Pubbalotthaka xong, Thế Tôn leo đứng trên bờ, đắp một tấm y, phơi tay chân cho khô. Rồi Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

 

Atha kho āyasmā Ānando Bhagavantaṃ etadavoca “Ayaṃ bhante Rammakassa brāhmaṇassa assamo avidūre, ramaṇīyo bhante Rammakassa brāhmaṇassa assamo, pāsādiko bhante Rammakassa brāhmaṇassa assamo. Sādhu bhante Bhagavā yena Rammakassa brāhmaṇassa assamo, tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyā”ti. Adhivāsesi Bhagavā tuṇhībhāvena. 

-- Bạch Thế Tôn, tinh thất của Bà-la-môn Rammaka không xa; bạch Thế Tôn, tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka là khả ái; bạch Thế Tôn, tinh thất của Bà-la-môn Rammaka là khả lạc; bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn v́ ḷng từ bi đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka! Thế Tôn im lặng nhận lời.

 

Atha kho Bhagavā yena Rammakassa brāhmaṇassa assamo tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū Rammakassa brāhmaṇassa assame dhammiyā kathāya sannisinnā honti. Atha kho Bhagavā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhāsi kathāpariyosānaṃ āgamayamāno. Atha kho Bhagavā kathāpariyosānaṃ viditvā ukkāsitvā aggaḷaṃ ākoṭesi. Vivariṃsu kho te bhikkhū Bhagavato dvāraṃ. Atha kho Bhagavā Rammakassa brāhmaṇassa assamaṃ pavisitvā paññatte āsane nisīdi, nisajja kho Bhagavā bhikkhū āmantesi

 

Rồi Thế Tôn đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo đang hội họp tại tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka để thuyết pháp. Thế Tôn đứng chờ ngoài cửa cho đến khi thuyết pháp xong. Thế Tôn biết cuộc thuyết pháp đă xong, liền đằng hắng và gơ vào thanh cửa. Các Tỷ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bước vào tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka và ngồi lên chỗ đă soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

 

“Kāyanuttha bhikkhave etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti.

 

Bhagavantameva kho no bhante ārabbha dhammī kathā vippakatā, atha Bhagavā anuppattoti.

 

Sādhu bhikkhave, etaṃ kho bhikkhave tumhākaṃ patirūpaṃ kulaputtānaṃ saddhā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitānaṃ, yaṃ tumhe dhammiyā kathāya sannisīdeyyātha. Sannipatitānaṃ vo bhikkhave dvayaṃ karaṇīyaṃ dhammī vā kathā ariyo vā tuṇhībhāvo.

 

-- Này các Tỷ-kheo, các Người nay hội họp bàn vấn đề ǵ? Và câu chuyện ǵ giữa các Người bị gián đoạn?

 

-- Bạch Thế Tôn, câu chuyện giữa chúng con thuộc về Thế Tôn và câu chuyện ấy bị gián đoạn khi Thế Tôn đến.

 

-- Này các Tỷ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, v́ ḷng tin xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỷ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh.

 

 

274. Dvemā bhikkhave pariyesanā ariyā ca pariyesanā anariyā ca pariyesanā. Katamā ca bhikkhave anariyā pariyesanā. Idha bhikkhave ekacco attanā jātidhammo samāno jātidhammaṃyeva pariyesati, attanā jarādhammo samāno jarādhammaṃyeva pariyesati, attanā byādhidhammo samāno byādhidhammaṃyeva pariyesati, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhammaṃyeva pariyesati, attanā sokadhammo samāno sokadhammaṃyeva pariyesati, attanā saṃkilesadhammo samāno saṃkilesadhammaṃyeva pariyesati.

 

(Hai loại tầm cầu)

Này các Tỷ-kheo, có hai loại tầm cầu này: Thánh cầu và phi Thánh cầu. Chư Tỷ-kheo, và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự ḿnh bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự ḿnh bị già lại t́m cầu cái bị già, tự ḿnh bị bệnh... tự ḿnh bị chết... tự ḿnh bị sầu... tự ḿnh bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.

 

Kiñca bhikkhave jātidhammaṃ vadetha. Puttabhariyaṃ bhikkhave jātidhammaṃ, dāsidāsaṃ jātidhammaṃ, ajeḷakaṃ jātidhammaṃ, kukkuṭasūkaraṃ jātidhammaṃ, hatthigavāssavaḷavaṃ jātidhammaṃ, jātarūparajataṃ jātidhammaṃ. Jātidhammā hete bhikkhave upadhayo. Etthāyaṃ gathito (Gadhito - Syā, Ka) mucchito ajjhāpanno attanā jātidhammo samāno jātidhammaṃyeva pariyesati.

 

Này các Tỷ-kheo, cái ǵ theo các Người gọi là bị sanh? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị sanh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sanh; dê và cừu là bị sanh; gà và heo là bị sanh; voi, ḅ, ngựa đực, ngựa cái là bị sanh; vàng và bạc là bị sanh. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy bị sanh, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự ḿnh bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh.

 

Kiñca bhikkhave jarādhammaṃ vadetha. Puttabhariyaṃ bhikkhave jarādhammaṃ, dāsidāsaṃ jarādhammaṃ, ajeḷakaṃ jarādhammaṃ, kukkuṭasūkaraṃ jarādhammaṃ, hatthigavāssavaḷavaṃ jarādhammaṃ, jātarūparajataṃ jarādhammaṃ. Jarādhammā hete bhikkhave upadhayo. Etthāyaṃ gathito mucchito ajjhāpanno attanā jarādhammo samāno jārādhammaṃyeva pariyesati.

 

Và này các Tỷ-kheo, cái ǵ theo các Người gọi là bị già? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị già; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị già; dê và cừu là bị già; gà và heo là bị già; voi, ḅ, ngựa đực, ngựa cái là bị già; vàng và bạc là bị già. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị già, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự ḿnh bị già lại t́m cầu cái bị già.

 

Kiñca bhikkhave byādhidhammaṃ vadetha. Puttabhariyaṃ bhikkhave byādhidhammaṃ, dāsidāsaṃ byādhidhammaṃ, ajeḷakaṃ byādhidhammaṃ, kukkuṭasūkaraṃ byādhidhammaṃ, hatthigavāssavaḷavaṃ byādhidhammaṃ. Byādhidhammā hete bhikkhave upadhayo. Etthāyaṃ gathito mucchito ajjhāpanno attanā byādhidhammo samāno byādhidhammaṃyeva pariyesati.

 

Và này các Tỷ-kheo, cái ǵ theo các Người gọi là bị bệnh? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị bệnh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bi bệnh; dê và cừu là bị bệnh; gà và heo là bị bệnh; voi, ḅ, ngựa đực, ngựa cái là bị bệnh. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị bệnh, và người ấy lại nắm giữ tham đắm, mê say chúng, tự ḿnh bị bệnh lại t́m cầu cái bị bệnh.

 

Kiñca bhikkhave maraṇadhammaṃ vadetha. Puttabhariyaṃ bhikkhave maraṇadhammaṃ, dāsidāsaṃ maraṇadhammaṃ, ajeḷakaṃ maraṇadhammaṃ, kukkuṭasūkaraṃ maraṇadhammaṃ, hatthigavāssavaḷavaṃ maraṇadhammaṃ. Maraṇadhammā hete bhikkhave upadhayo. Etthāyaṃ gathito mucchito ajjhāpanno attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhammaṃyeva pariyesati.

 

Và này các Tỷ-kheo, cái ǵ các Người nói là bị chết? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bi chết; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị chết; dê và cừu là bị chết; gà và heo là bị chết; voi, ḅ, ngựa đực, ngựa cái là bị chết. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị chết, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự ḿnh bị chết lại t́m cầu cái bị chết.

 

Kiñca bhikkhave sokadhammaṃ vadetha. Puttabhariyaṃ bhikkhave sokadhammaṃ, dāsidāsaṃ sokadhammaṃ, ajeḷakaṃ sokadhammaṃ, kukkuṭasūkaraṃ sokadhammaṃ, hatthigavāssavaḷavaṃ sokadhammaṃ. Sokadhammā hete bhikkhave upadhayo. Etthāyaṃ gathito mucchito ajjhāpanno attanā sokadhammo samāno sokadhammaṃyeva pariyesati.

 

Và này các Tỷ-kheo, cái ǵ theo các Người gọi là bị sầu? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị sầu; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sầu; dê và cừu là bị sầu, gà và heo là bị sầu; voi, ḅ, ngựa đực, ngựa cái là bị sầu. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị sầu, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự ḿnh bị sầu lại t́m cầu cái bị sầu.

 

Kiñca bhikkhave saṃkilesadhammaṃ vadetha. Puttabhariyaṃ bhikkhave saṃkilesadhammaṃ, dāsidāsaṃ saṃkilesadhammaṃ, ajeḷakaṃ saṃkilesadhammaṃ, kukkuṭasūkaraṃ saṃkilesadhammaṃ, hatthigavāssavaḷavaṃ saṃkilesadhammaṃ, jātarūparajataṃ saṃkilesadhammaṃ. Saṃkilesadhammā hete bhikkhave upadhayo. Etthāyaṃ gathito mucchito ajjhāpanno attanā saṃkilesadhammo samāno saṃkilesadhammaṃyeva pariyesati. Ayaṃ bhikkhave anariyā pariyesanā.

 

Và này các Tỷ-kheo, cái ǵ theo các Người gọi là bị ô nhiễm? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị ô nhiễm; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị ô nhiễm; dê và cừu la bị ô nhiễm; gà và heo là bị ô nhiễm; voi, ḅ, ngựa đực, ngựa cái là bị ô nhiễm; vàng và bạc là bị ô nhiễm. Và này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị ô nhiễm, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự ḿnh bị ô nhiễm lại t́m cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là phi Thánh cầu.

 

275. Katamā ca bhikkhave ariyā pariyesanā. Idha bhikkhave ekacco attanā jātidhammo samāno jātidhamme ādīnavaṃ viditvā ajātaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesati, attanā jarādhammo samāno jarādhamme ādīnavaṃ viditvā ajaraṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesati, attanā byādhidhammo samāno byādhidhamme ādīnavaṃ viditvā abyādhiṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesati, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhamme ādīnavaṃ viditvā amataṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesati, attanā sokadhammo samāno sokadhamme ādīnavaṃ viditvā asokaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesati, attanā saṃkilesadhammo samāno saṃkilesadhamme ādīnavaṃ viditvā asaṃkiliṭṭhaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesati. Ayaṃ bhikkhave ariyā pariyesanā.

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự ḿnh bị sanh, sau khi biết rơ sự nguy hại của bị sanh, t́m cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị già, sau khi biết rơ sự nguy hại của bị già, t́m cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị bệnh... cái không bệnh... tự ḿnh bị chết... cái bất tử... tự ḿnh bị sầu... cái không sầu... tự ḿnh bị ô nhiễm, sau khi biết rơ sự nguy hại của ô nhiễm, t́m cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như vậy, gọi là Thánh cầu.

 

 

276. Ahampi sudaṃ bhikkhave pubbeva sambodhā anabhisambuddho Bodhisattova samāno attanā jātidhammo samāno jātidhammaṃyeva pariyesāmi, attanā jarādhammo samāno jarādhammaṃyeva pariyesāmi, attanā byādhidhammo samāno byādhidhammaṃyeva pariyesāmi, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhammaṃyeva pariyesāmi, attanā sokadhammo samāno sokadhammaṃyeva pariyesāmi, attanā saṃkilesadhammo samāno saṃkilesadhammaṃyeva pariyesāmi. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Kiṃ nu kho ahaṃ attanā jātidhammo samāno jātidhammaṃyeva pariyesāmi, attanā jarādhammo samāno, byādhidhammo samāno, maraṇadhammo samāno, sokadhammo samāno, attanā saṃkilesadhammo samāno saṃkilesadhammaṃyeva pariyesāmi. Yaṃnūnāhaṃ attanā jātidhammo samāno jātidhamme ādīnavaṃ viditvā ajātaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyeseyyaṃ, attanā jarādhammo samāno jarādhamme ādīnavaṃ viditvā ajaraṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyeseyyaṃ, attanā byādhidhammo samāno byādhidhamme ādīnavaṃ viditvā abyādhiṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyeseyyaṃ, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhamme ādīnavaṃ viditvā amataṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyeseyyaṃ, attanā sokadhammo samāno sokadhamme ādīnavaṃ viditvā asokaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyeseyyaṃ, attanā saṃkilesadhammo samāno saṃkilesadhamme ādīnavaṃ viditvā asaṃkiliṭṭhaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyeseyyan”ti.

 

(Thánh cầu Giải thoát)

Này các Tỷ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Đẳng Giác, khi c̣n là Bồ-tát, tự ḿnh bị sanh lại t́m cầu cái bị sanh, tự ḿnh bị già, lại t́m cầu cái bị già, tự ḿnh bị bệnh... tự ḿnh bị chết... tự ḿnh bị sầu"... tự ḿnh bị ô nhiễm lại t́m cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Tại sao Ta, tự ḿnh bị sanh lại t́m cầu cái bị sanh, tự ḿnh bị già... (như trên)... tự ḿnh bi ô nhiễm lại t́m cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự ḿnh bị sanh, sau khi biết rơ sự nguy hại của bị sanh, hăy t́m cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị già... cái không già... tự ḿnh bị bệnh... cái không bệnh... tự ḿnh bị chết... cái bất tử... tự ḿnh bị sầu... cái không sầu... tự ḿnh bi ô nhiễm, sau khi biết rơ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hăy t́m cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.

 

277. So kho ahaṃ bhikkhave aparena samayena daharova samāno susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā akāmakānaṃ mātāpitūnaṃ assumukhānaṃ rudantānaṃ kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajiṃ.

 

Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta c̣n trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng ḷng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh.

 

So evaṃ pabbajito samāno kiṃ kusalagavesī (Kiṃkusalaṃgavesī - Ka) anuttaraṃ santivarapadaṃ pariyesamāno yena Āḷāro Kālāmo tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Āḷāraṃ Kālāmaṃ etadavocaṃ “Icchāmahaṃ āvuso Kālāma imasmiṃ Dhammavinaye brahmacariyaṃ caritun”ti. Evaṃ vutte bhikkhave Āḷāro Kālāmo maṃ etadavoca “Viharatāyasmā tādiso ayaṃ dhammo, yattha viññū puriso nacirasseva sakaṃ ācariyakaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā”ti. So kho ahaṃ bhikkhave nacirasseva khippameva taṃ dhammaṃ pariyāpuṇiṃ. So kho ahaṃ bhikkhave tāvatakeneva oṭṭhapahatamattena lapitalāpanamattena ñāṇavādañca vadāmi theravādañca, jānāmi passāmīti ca paṭijānāmi ahañceva aññe ca.

 

Ta xuất gia như vậy, một người đi t́m cái ǵ chí thiện, t́m cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alara Kalama ở, khi đến xong liền thưa với Alara Kalama: "Hiền giả Kalama, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này". Này các Tỷ-kheo, được nghe nói vậy, Alara Kalama nói với Ta: "Này Tôn giả, hăy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có trí, không bao lâu như vị Bổn sư của ḿnh (chỉ dạy), tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú". Này các Tỷ-kheo, và không bao lâu Ta đă thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này các Tỷ-kheo, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lư của kẻ trí và giáo lư của bậc Trưởng lăo (Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.

 

Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Na kho Āḷāro Kālāmo imaṃ dhammaṃ kevalaṃ saddhāmattakena ‘Sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmī’ti pavedeti, addhā Āḷāro Kālāmo imaṃ dhammaṃ jānaṃ passaṃ viharatī”ti.

 

Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Alara Kalama tuyên bố pháp này không phải chỉ v́ ḷng tin: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an trú". Chắc chắn Alara Kalama biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú".

 

Atha khvāhaṃ bhikkhave yena Āḷāro Kālāmo tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Āḷāraṃ Kālāmaṃ etadavocaṃ “Kittāvatā no āvuso Kālāma imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesī”ti (Upasampajja pavedesīti - Sī, Syā, I). Evaṃ vutte bhikkhave Āḷāro Kālāmo ākiñcaññāyatanaṃ pavedesi.

 

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến Ta nói với Alara Kalama: "Hiền giả Kalama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố pháp này?" Này các Tỷ-kheo, được nói vậy, Alara Kalama tuyên bố về Vô sở hữu xứ.

 

Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Na kho Āḷārasseva Kālāmassa atthi saddhā, mayhaṃpatthi saddhā. Na kho Āḷārasseva Kālāmassa atthi vīriyaṃ, mayhaṃpatthi vīriyaṃ. Na kho Āḷārassava Kālāmassa atthi sati, mayhaṃpatthi sati. Na kho Āḷārasseva Kālāmassa atthi samādhi, mayhaṃpatthi samādhi. Na kho Āḷarasseva Kālāmassa atthi paññā, mayhaṃpatthi paññā. Yaṃnūnāhaṃ yaṃ dhammaṃ Āḷāro Kālāmo sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedeti. Tassa dhammassa sacchikiriyāya padaheyyan”ti. So kho ahaṃ bhikkhave nacirasseva khippameva taṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsiṃ.

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có ḷng tin, Ta cũng có ḷng tin. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hăy cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú". Rồi này các Tỷ-kheo, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú.

 

Atha khvāhaṃ bhikkhave yena Āḷāro Kālāmo tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Āḷāraṃ Kālāmaṃ etadavocaṃ “Ettāvatā no āvuso Kālāma imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesī”ti. Ettāvatā kho ahaṃ āvuso imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemīti. Ahampi kho āvuso ettāvatā imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti. Lābhā no āvuso, suladdhaṃ no āvuso. Ye mayaṃ āyasmantaṃ tādisaṃ sabrahmacāriṃ passāma. Iti yāhaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemi, taṃ tvaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi. Yaṃ tvaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi, tamahaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemi. Iti yāhaṃ dhammaṃ jānāmi, taṃ tvaṃ dhammaṃ jānāsi. Yaṃ tvaṃ dhammaṃ jānāsi, tamahaṃ dhammaṃ jānāmi. Iti yādiso ahaṃ, tādiso tuvaṃ. Yādiso tuvaṃ, tādiso ahaṃ. Ehi dāni āvuso ubhova santā imaṃ gaṇaṃ pariharāmāti.

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến, Ta nói với Alara Kalama: "Này Hiền giả Kalama, có phải Hiền giả đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?" --"Vâng, Hiền giả, tôi đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Này Hiền giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hăy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hăy chăm sóc hội chúng này!"

 

Iti kho bhikkhave Āḷāro Kālāmo ācariyo me samāno (attano) (natthi - Sī, Syā, I) antevāsiṃmaṃ samānaṃ attanā (Attano - Sī, I) samasamaṃ ṭhapesi, uḷārāya ca maṃ pūjāya pūjesi. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Nāyaṃ dhammo nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na Nibbānāya saṃvattati, yāvadeva ākiñcaññāyatanūpapattiyā”ti. So kho ahaṃ bhikkhave taṃ dhammaṃ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṃ.

 

Như vậy, này các Tỷ-kheo, Alara Kalama là Đạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với ḿnh, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.

 

278. So kho ahaṃ bhikkhave kiṃ kusalagavesī anuttaraṃ santivarapadaṃ pariyesamāno yena Udako (Uddako - Sī, Syā, I) Rāmaputto tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Udakaṃ Rāmaputtaṃ etadavocaṃ “Icchāmahaṃ āvuso (Āvuso rāma - Sī, Syā, Ka; mahāsatto rāmaputtameva avoca, na rāmaṃ, rāmo hi tattha gaṇācariyo bhaveyya, tadā ca kālaṅkato asanto. Tenevettha rāmāyattāni kriyapadāni atītakālavasena āgatāni, udako ca rāmaputto mahāsattassa sabrahmacārītveva vutto, na ācariyoti. Ṭīkāyaṃ ca “Pāḷiyaṃ rāmasseva samāpatti­lābhitā āgatā na udakassā”ti ādi pacchābhāge pakāsitā) imasmiṃ Dhammavinaye brahmacariyaṃ caritun”ti. Evaṃ vutte bhikkhave Udako (Uddako - Sī, Syā, I) Rāmaputto maṃ etadavoca “Viharatāyasmā, tādiso ayaṃ dhammo, yattha viññū puriso nacirasseva sakaṃ ācariyakaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā”ti. So kho ahaṃ bhikkhave nacirasseva khippameva taṃ dhammaṃ pariyāpuṇiṃ. So kho ahaṃ bhikkhave tāvatakeneva oṭṭhapahatamattena lapitalāpanamattena ñāṇavādañca vadāmi theravādañca, jānāmi passāmīti ca paṭijānāmi ahaṃ ceva aññe ca.

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta, kẻ đi t́m cái ǵ chí thiện, t́m cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này. Được nói vậy, này các Tỷ-kheo, Uddaka Ramaputta nói với Ta: "Này Tôn giả, hăy sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí không bao lâu như vị Bổn sư của ḿnh (chỉ dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú". Này các Tỷ-kheo, Ta đă thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này các Tỷ-kheo, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lư của kẻ trí, và giáo lư của bậc Trưởng lăo (Thượng Tọa), và Ta tự cho rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.

 

Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Na kho Rāmo imaṃ dhammaṃ kevalaṃ saddhāmattakena ‘Sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmī’ti pavedesi, addhā Rāmo imaṃ dhammaṃ jānaṃ passaṃ vihāsī”ti. Atha khvāhaṃ bhikkhave yena Udako Rāmaputto tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Udakaṃ Rāmaputtaṃ etadavocaṃ “Kittāvatā no āvuso Rāmo imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesī”ti. Evaṃ vutte bhikkhave Udako Rāmaputto nevasaññānāsaññāyatanaṃ pavedesi.

 

Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Rama tuyên bố pháp này không phải v́ ḷng tin: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú". Chắc chắn Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú". Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?" Này các Tỷ-kheo được nghe nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

 

Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Na kho Rāmasseva ahosi saddhā, mayhaṃpatthi saddhā. Na kho Rāmasseva ahosi vīriyaṃ, mayhaṃpatthi vīriyaṃ. Na kho Rāmasseva ahosi sati, mayhaṃpatthi sati. Na kho Rāmasseva ahosi samādhi, mayhaṃpatthi samādhi. Na kho Rāmasseva ahosi paññā, mayhaṃpatthi paññā. Yaṃnūnāhaṃ yaṃ dhammaṃ Rāmo sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesi. Tassa dhammassa sacchikiriyāya padaheyyan”ti. So kho ahaṃ bhikkhave nacirasseva khippameva taṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsiṃ.

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Rama mới có ḷng tin. Ta cũng có ḷng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta hăy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú". Rồi này các Tỷ-kheo, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng,

 

Atha khvāhaṃ bhikkhave yena Udako Rāmaputto tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Udakaṃ Rāmaputtaṃ etadavocaṃ “Ettāvatā no āvuso Rāmo imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesī”ti. Ettāvatā kho āvuso Rāmo imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesīti. Ahampi kho āvuso ettāvatā imaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti. Lābhā no āvuso, suladdhaṃ no āvuso. Ye mayaṃ āyasmantaṃ tādisaṃ sabrahmacāriṃ passāma. Iti yaṃ dhammaṃ Rāmo sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesi, taṃ tvaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi. Yaṃ tvaṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi, taṃ dhammaṃ Rāmo sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesi. Iti yaṃ dhammaṃ Rāmo abhiññāsi, taṃ tvaṃ dhammaṃ jānāsi. Yaṃ tvaṃ dhammaṃ jānāsi, taṃ dhammaṃ Rāmo abhiññāsi. Iti yādiso Rāmo ahosi, tādiso tuvaṃ. Yādiso tuvaṃ, tādiso Rāmo ahosi. Ehi dāni āvuso tuvaṃ imaṃ gaṇaṃ pariharāti.

 

Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Này Hiền giả Rama, có phải Hiền giả đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?" --"Vâng Hiền giả, tôi đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Này Hiền giả, tôi cũng đă tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy." Thật lợi ích thay cho chúng tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hăy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hăy chăm sóc hội chúng này!"

 

Iti kho bhikkhave Udako Rāmaputto sabrahmacārī me samāno ācariyaṭṭhāne maṃ ṭhapesi, uḷārāya ca maṃ pūjāya pūjesi. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Nāyaṃ dhammo nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na Nibbānāya saṃvattati, yāvadeva nevasaññānāsaññāyatanūpapattiyā”ti. So kho ahaṃ bhikkhave taṃ dhammaṃ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṃ.

 

Như vậy, này các Tỷ-kheo, Uddaka Ramaputta-là Đạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với ḿnh, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.

 

279. So kho ahaṃ bhikkhave kiṃkusalagavesī anuttaraṃ santivarapadaṃ pariyesamāno Magadhesu anupubbena cārikaṃ caramāno yena Uruvelā Senānigamo tadavasariṃ. Tatthaddasaṃ ramaṇīyaṃ bhūmibhāgaṃ pāsādikañca vanasaṇdaṃ, nadiñca sandantiṃ setakaṃ supatitthaṃ ramaṇīyaṃ, samantā (Sāmantā - ?) ca gocaragāmaṃ. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Ramaṇīyo vata bho bhūmibhāgo, pāsādiko ca vanasaṇdo, nadī ca sandati setakā supatitthā ramaṇīyā, samantā (Sāmantā - ?) ca gocaragāmo. Alaṃ vatidaṃ kulaputtassa padhānatthikassa padhānāyā”ti. So kho ahaṃ bhikkhave tattheva nisīdiṃ “Alamidaṃ padhānāyā”ti.

 

Này các Tỷ-kheo, Ta, kẻ đi t́m cái ǵ chí thiện, t́m cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: "Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn". Và này các Tỷ-kheo, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: "Thật là vừa đủ để tinh tấn".

 

 

280. So kho ahaṃ bhikkhave attanā jātidhammo samāno jātidhamme ādīnavaṃ viditvā ajātaanuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesamāno ajātaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ ajjhagamaṃ, attanā jarādhammo samāno jarādhamme ādīnavaṃ viditvā ajaraṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesamāno ajaraṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ ajjhagamaṃ, attanā byādhidhammo samāno byādhidhamme ādīnavaṃ viditvā abyādhiṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesamāno abyādhiṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ ajjhagamaṃ, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhamme ādīnavaṃ viditvā amataṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ ajjhagamaṃ, attanā sokadhammo samāno sokadhamme ādīnavaṃ viditvā asokaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ ajjhagamaṃ, attanā saṃkilesadhammo samāno saṃkilesadhamme ādīnavaṃ viditvā asaṃkiliṭṭhaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesamāno asaṃkiliṭṭhaṃ anuttaraṃ yogakkhamaṃ Nibbānaṃ ajjhagamaṃ. ©āṇañca pana me dassanaṃ udapādi, akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavoti.

 

(Giác Ngộ)

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta tự ḿnh bị sanh, sau khi biết rơ sự nguy hại của cái bị sanh, t́m cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị già, sau khi biết rơ sự nguy hại của cái bị già, t́m cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đă chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị bệnh, sau khi biết rơ sự nguy hại của cái bị bệnh, t́m cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị chết, sau khi biết rơ sự nguy hại của cái bị chết, t́m cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị sầu, sau khi biết rơ sự nguy hại của cái bị sầu, t́m cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị ô nhiễm, sau khi biết rơ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, t́m cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không c̣n sự tái sanh nữa.

 

281. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Adhigato kho myāyaṃ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇditavedanīyo. Ālayarāmā kho panāyaṃ pajā ālayaratā ālayasammuditā. Ālayarāmāya kho pana pajāya ālayaratāya ālayasammuditāya duddasaṃ idaṃ ṭhānaṃ, yadidaṃ idappaccayatā paṭiccasamuppādo. Idampi kho ṭhānaṃ duddasaṃ, yadidaṃ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho Nibbānaṃ. Ahaṃ ceva kho pana dhammaṃ deseyyaṃ, pare ca me na ājāneyyuṃ “So mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā”ti. Apissu maṃ bhikkhave imā anacchariyā gāthāyo paṭibhaṃsu pubbe assutapubbā.

 

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lư luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. C̣n quần chúng này th́ ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lư Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ năo cho Ta, như vậy thật bực ḿnh cho Ta!" Này các Tỷ-kheo, rồi những kệ bất khả tư ngh́, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta:

 

          “Kicchena me adhigataṃ, halaṃ dāni pakāsituṃ.

           Rāgadosaparetehi, nāyaṃ dhammo susambudho.

           Paṭisotagāmiṃ nipuṇaṃ, gambhīraṃ duddasaṃ aṇuṃ.

           Rāgarattā na dakkhanti, tamokhandhena āvuṭā”ti (Āvaṭāti - Sī; āvutā - Syā).

 

 

Sao Ta nói Chánh pháp,
Được chứng ngộ khó khăn?
Những ai c̣n tham sân,
Khó chứng ngộ pháp này.

Đi ngược ḍng, thâm diệu,
Khó thấy, thật tế nhị,
Kẻ ái nhiễm vô minh,
Không thấy được pháp này.

 

282. Itiha me bhikkhave paṭisañcikkhato appossukkatāya cittaṃ namati, no dhammadesanāya.

 

Rồi này các Tỷ-kheo, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.

 

Atha kho bhikkhave brahmuno Sahampatissa mama cetasā cetoparivitakkamaññāya etadahosi “Nassati vata bho loko, vinassati vata bho loko. Yatra hi nāma Tathāgatassa Arahato Sammāsambuddhassa appossukkatāya cittaṃ namati (Namissati - ?), no dhammadesanāyā”ti. Atha kho bhikkhave brahmā Sahampati seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya. Evameva brahmaloke antarahito mama purato pāturahosi. Atha kho bhikkhave brahmā Sahampati ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ karitvā yenāhaṃ tenañjaliṃ paṇāmetvā maṃ etadavoca “Desetu bhante Bhagavā dhammaṃ, desetu Sugato dhammaṃ. Santi sattā apparajakkhajātikā assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro”ti. Idamavoca bhikkhave brahmā Sahampati, idaṃ vatvā athāparaṃ etadavoca–

 

Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của ḿnh, liền suy nghĩ: "Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp". Rồi này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này các Tỷ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, hăy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hăy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bi nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp". Này các Tỷ-kheo, Phạm thiện Sahampati nói như vậy. Sau khi nói vậy, lại nói thêm như sau:

 

           Pāturahosi Magadhesu pubbe,

           Dhammo asuddho samalehi cintito.

           Apāpuretaṃ (Avāpuretaṃ - Sī) amatassa dvāraṃ,

           Suṇantu dhammaṃ vimalenānubuddhaṃ.

 

Xưa tại Magadha,
Hiện ra pháp bất tịnh,
Pháp do tâm cấu uế,
Do suy tư tác thành.
Hăy mỡ tung mở rộng,
Cánh cửa bất tử này.
Hăy để họ nghe Pháp,
Bậc Thanh tịnh Chứng Ngộ.

 

           Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito,

           Yathāpi passe janataṃ samantato.

           Tathūpamaṃ dhammamayaṃ sumedha,

           Pāsādamāruyha samantacakkhu.

           Sokāvatiṇṇaṃ (Sokāvakiṇṇaṃ - Syā) janatamapetasoko,

           Avekkhassu jātijarābhibhūtaṃ.

 

Như đứng trên tảng đá,
Trên đỉnh núi tột cao
Có người đứng nh́n xuống,
Đám chúng sanh quây quần.
Cũng vậy, ôi Thiện Thệ,
Bậc Biến Nhăn cùng khắp,
Leo lên ngôi lâu đài,
Xây dựng bằng Chánh pháp
Bậc Thoát Ly sầu muộn,
Nh́n xuống đám quần sanh,
Bị sầu khổ áp bức,
Bị sanh già chi phối,

 

           Uṭṭhehi Vīra vijitasaṅgāma,

           Satthavāha aṇaṇa vicara loke.

           Desassu (Desetu - Syā, Ka) Bhagavā dhammaṃ,

           Aññātāro bhavissantīti.

 

Đứng lên vị Anh Hùng,
Bậc Chiến Thắng chiến trường.
Vị trưởng đoàn lữ khách,
Bậc Thoát Ly nợ nần.
Hăy đi khắp thế giới,
Bậc Thế Tôn Chánh Giác!
Hăy thuyết vi diệu pháp,
Người nghe sẽ thâm hiểu!

 

283. Atha kho ahaṃ bhikkhave brahmuno ca ajjhesanaṃ viditvā sattesu ca kāruññataṃ paṭicca buddhacakkhunā lokaṃ volokesiṃ. Addasaṃ kho ahaṃ bhikkhave buddhacakkhunā lokaṃ volokento satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvine (Dassāvino - Syā, Kaṃ, Ka) viharante appekacce na paralokavajjabhayadassāvine (Dassāvino - Syā, Kaṃ, Ka) viharante. Seyyathāpi nāma uppaliniyaṃ vā paduminiyaṃ vā puṇdarīkiniyaṃ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇdarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaddhāni udakānuggatāni antonimuggaposīni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇdarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaddhāni udakānuggatāni samodakaṃ ṭhitāni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇdarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaddhāni udakaṃ accuggamma ṭhitāni (Tiṭṭhanti - Sī, Syā, I) anupalittāni udakena. Evameva kho ahaṃ bhikkhave buddhacakkhunā lokaṃ volokento addasaṃ satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvine viharante appekacce na paralokavajjabhayadassāvine viharante. Atha khvāhaṃ bhikkhave brahmānaṃ Sahampatiṃ gāthāya paccabhāsiṃ.

 

Này các Tỷ-kheo, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, v́ ḷng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhăn, Ta nh́n quanh thế giới. Này các Tỷ-kheo, với Phật nhăn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Phật nhăn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sahampati:

 

 

           Apārutā tesaṃ amatassa dvārā,

           Ye sotavanto pamuñcantu saddhaṃ.

           Vihiṃsasaññī paguṇaṃ na bhāsiṃ,

           Dhammaṃ paṇītaṃ manujesu brahmeti.

 

Cửa bất tử rộng mở,
Cho những ai chịu nghe.
Hăy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của ḿnh.
Tự nghĩ đến phiền toái,
Ta đă không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp,
Giữa chúng sanh loài Người.
(Ôi Phạm thiên)

 

Atha kho bhikkhave brahmā Sahampati “Katāvakāso khomhi Bhagavatā dhammadesanāyā”ti maṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyi.

 

Này các Tỷ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati tự nghĩ: "Ta đă tạo cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp", đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

 

284. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Kassa nu kho ahaṃ paṭhamaṃ dhammaṃ deseyyaṃ, ko imaṃ dhammaṃ khippameva ājānissatī”ti. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Ayaṃ kho Āḷāro Kālāmo paṇdito viyatto medhāvī dīgharattaṃ apparajakkhajātiko, yaṃnūnāhaṃ Āḷārassa Kālāmassa paṭhamaṃ dhammaṃ deseyyaṃ, so imaṃ dhammaṃ khippameva ājānissatī”ti. Atha kho maṃ bhikkhave devatā upasaṅkamitvā etadavoca “Sattāhakālaṅkato bhante Āḷāro Kālāmoti. ©āṇañca pana me dassanaṃ udapādi “Sattāhakālaṅkato Āḷāro Kālāmo”ti.

 

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên, ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?" Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: "Nay có Alara Kalama là bậc trí thức, đa văn, sáng suốt, đă từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hăy thuyết pháp đầu tiên cho Alara Kalama, vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này". Này các Tỷ-kheo, rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: "Bạch Thế Tôn, Alara Kalama đă mệnh chung bảy ngày rồi". Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: "Alara Kalama đă mệnh chung bảy ngày rồi". Này các Tỷ-kheo, Ta nghĩ: "Thật là một thiệt hại lớn cho Alara Kalama: Nếu nghe pháp này, Alara Kalama sẽ mau thâm hiểu".

 

Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Mahājāniyo kho Āḷāro Kālāmo. Sace hi so imaṃ dhammaṃ suṇeyya, khippameva ājāneyyā”ti. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Kassa nu kho ahaṃ paṭhamaṃ dhammaṃ deseyyaṃ, ko imaṃ dhammaṃ khippameva ājānissatī”ti. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Ayaṃ kho Udako Rāmaputto paṇdito viyatto medhāvī dīgharattaṃ apparajakkhajātiko, yaṃnūnāhaṃ Udakassa Rāmaputtassa paṭhamaṃ dhammaṃ deseyyaṃ, so imaṃ dhammaṃ khippameva ājānissatī”ti. Atha kho maṃ bhikkhave devatā upasaṅkamitvā etadavoca “Abhidosakālaṅkato bhante Udako Rāmaputto”ti. ©āṇañca pana me dassanaṃ udapādi “Abhidosakālaṅkato Udako Rāmaputto”ti. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Mahājāniyo kho Udako Rāmaputto, sace hi so imaṃ dhammaṃ suṇeyya, khippameva ājāneyyā”ti.

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?" Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nay có Uddaka Ramaputta-là bậc tri thức, đa văn, sáng suốt, đă từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hăy thuyết pháp đầu tiên cho Uddaka Ramaputta. Vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này." Rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: "Bạch Thế Tôn Uddaka Ramaputta đă mệnh chung ngày hôm qua". Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: "Uddaka Ramaputta đă mệnh chung hôm qua". Này các Tỷ-kheo, Ta nghĩ: "Thật là một thiệt hại lớn cho Uddaka Ramaputta. Nếu nghe pháp này, Uddaka Ramaputta sẽ mau thâm hiểu".

 

Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Kassa nu kho ahaṃ paṭhamaṃ dhammaṃ deseyyaṃ, ko imaṃ dhammaṃ khippameva ājānissatī”ti. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Bahukārā kho me pañcavaggiyā bhikkhū, ye maṃ padhānapahitattaṃ upaṭṭhahiṃsu, yaṃnūnāhaṃ pañcavaggiyānaṃ bhikkhūnaṃ paṭhamaṃ dhammaṃ deseyyan”ti. Tassa mayhaṃ bhikkhave etadahosi “Kahaṃ nu kho etarahi pañcavaggiyā bhikkhū viharantī”ti. Addasaṃ kho ahaṃ bhikkhave dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena pañcavaggiye bhikkhū Bārāṇasiyaṃ viharante Isipatane migadāye. Atha khvāhaṃ bhikkhave Uruvelāyaṃ yathābhirantaṃ viharitvā yena Bārāṇasī tena cārikaṃ pakkamiṃ (Pakkāmiṃ - Syā, I, Ka).

 

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?" Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nhóm năm Tỷ-kheo này đă hầu hạ Ta khi Ta c̣n nỗ lực tinh cần, nhóm ấy thật giúp ích nhiều. Vậy ta hăy thuyết pháp đầu tiên cho nhóm năm Tỷ-kheo!" Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nay nhóm năm Tỷ-kheo ở tại đâu?" Này các Tỷ-kheo, với thiên nhăn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy nhóm năm Tỷ-kheo hiện ở Baranasi (Ba la nại), tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi ở tại Uruvela lâu cho đến khi măn ư, Ta lên đường đi đến Baranasi.

 

 

285. Addasā kho maṃ bhikkhave Upako ājīvako (Ājīviko - Sī, I, Ka) antarā ca Gayaṃ antarā ca bodhiṃ addhānamaggappaṭipannaṃ, disvāna maṃ etadavoca “Vippasannāni kho te āvuso indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto. Kaṃsi tvaṃ āvuso uddissa pabbajito, ko vā te satthā, kassa vā tvaṃ dhammaṃ rocesī”ti. Evaṃ vutte ahaṃ bhikkhave Upakaṃ ājīvakaṃ gāthāhi ajjhabhāsiṃ.

 

(Khai giảng Chánh Pháp)

Này các Tỷ-kheo, một tà mạng ngoại đạo tên là Upaka, đă thấy Ta khi Ta c̣n đi trên con đường giữa Gaya và cây Bồ-đề. Sau khi thấy, vị ấy nói với Ta:

"-- Các căn của Hiền giả thật sáng suốt. Da sắc của Hiền giả thật thanh tịnh, thật thanh khiết. Này Hiền giả, v́ mục đích ǵ, Hiền giả xuất gia? Ai là bậc Đạo Sư của Hiền giả? Hiền giả hoan hỷ thọ tŕ pháp của ai?"

Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với tà mạng đạo Upaka bài kệ như sau:

 

 

          Sabbābhibhū sabbavidūhamasmi, sabbesu dhammesu anūpalitto.

          Sabbañjaho taṇhākkhaye vimutto, sayaṃ abhiññāya kamuddiseyyaṃ.

 

"-- Ta, bậc Thắng tất cả,
Ta, bậc Nhất thiết Trí.
Hết thảy pháp, không nhiễm,
Hết thảy pháp, xả ly.
Ta sống chân giải thoát,
Đoạn tận mọi khát ái.
Như vậy Ta tự giác,
C̣n phải y chỉ ai?

 

 

          Na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati.

          Sadevakasmiṃ lokasmiṃ, natthi me paṭipuggalo.

          Ahaṃ hi Arahā loke, ahaṃ satthā anuttaro.

          Ekomhi Sammāsambuddho, sītibhūtosmi nibbuto.

 

Ta không có Đạo Sư,
Bậc như Ta không có.
Giữa thế giới Nhơn, Thiên,
Không có ai bằng Ta.
Bậc Ứng Cúng trên đời,
Bậc Đạo Sư vô thượng.
Tự ḿnh Chánh Đẳng Giác,
Ta an tịnh, thanh thoát.

 

 

          Dhammacakkaṃ pavattetuṃ, gacchāmi Kāsinaṃ puraṃ.

          Andhībhūtasmiṃ (Andhabhūtasmiṃ - Sī, Syā, I) lokasmiṃ, āhañchaṃ amatadundubhinti.

 

Để chuyển bánh xe Pháp.
Ta đến thành Kàsi.
Gióng lên trống bất tử,
Trong thế giới mù ḷa."

 

Yathā kho tvaṃ āvuso paṭijānāsi “Arahasi anantajino”ti.

 

"-- Như Hiền giả đă tự xưng, Hiền giả xứng đáng là bậc Chiến thắng Vô tận. "

 

 

          Mādisā ve jinā honti, ye pattā āsavakkhayaṃ.

          Jitā me pāpakā dhammā, tasmāhamupaka jinoti.

 

"-- Như Ta, bậc Thắng giả,
Những ai chứng lậu tận,
Ác pháp, Ta nhiếp phục,
Do vậy, Ta vô địch".
(Này Upaka)

 

Evaṃ vutte bhikkhave Upako ājīvako hupeyyapāvusoti (Huveyyapāvuso - Sī, I; huveyyāvuso - Syā) vatvā sīsaṃ okampetvā ummaggaṃ gahetvā pakkāmi.

 

Này các Tỷ-kheo, sau khi được nói vậy, tà mạng ngoại đạo Upaka nói với Ta:

"-- Này Hiền giả, mong rằng sự việc là vậy".

Nói xong, Upaka lắc đầu rồi đi theo một ngă khác.

 

286. Atha khvāhaṃ bhikkhave anupubbena cārikaṃ caramāno yena Bārāṇasī Isipatanaṃ migadāyo, yena pañcavaggiyā bhikkhū tenupasaṅkamiṃ, addasaṃsu kho maṃ bhikkhave pañcavaggiyā bhikkhū dūrato āgacchantaṃ, disvāna aññamaññaṃ saṇṭhapessuṃ (Aññamaññaṃ katikaṃ saṇṭhapesuṃ - Vi—Mahāvagge) “Ayaṃ kho āvuso samaṇo Gotamo āgacchati bāhulliko (Bāhuliko - Sī, I; Sāratthadīpanīṭīkāya sameti) padhānavibbhanto āvatto bāhullāya, so neva abhivādetabbo, na paccuṭṭhātabbo, nāssa pattacīvaraṃ paṭiggahetabbaṃ, api ca kho āsanaṃ ṭhapetabbaṃ, sace ākaṅkhissati, nisīdissatī”ti. Yathā yathā kho ahaṃ bhikkhave upasaṅkamiṃ, tathā tathā pañcavaggiyā bhikkhū nāsakkhiṃsu sakāya katikāya saṇṭhātuṃ, appekacce maṃ paccuggantvā pattacīvaraṃ paṭiggahesuṃ, appekacce āsanaṃ paññapesuṃ, appekacce pādodakaṃ upaṭṭhapesuṃ. Api ca kho maṃ nāmena ca āvusovādena ca samudācaranti.

 

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tuần tự đi đến Baranasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển, đi đến chỗ nhóm năm Tỷ-kheo ở. Này các Tỷ-kheo, nhóm năm Tỷ-kheo khi thấy Ta từ xa đi đến, đă cùng nhau thỏa thuận như sau: "Này các Hiền giả, nay Sa-môn Gotama đang đi đến; vị này sống trong sự sung túc, đă từ bỏ tinh cần, đă trở lui đời sống đầy đủ vật chất. Chúng ta chớ có đảnh lễ, chớ có đứng dậy, chớ có lấy y bát. Hăy đặt một chỗ ngồi, và nếu vị ấy muốn, vị ấy sẽ ngồi". Này các Tỷ-kheo, nhưng khi Ta đi đến gần, năm Tỷ-kheo ấy không thể giữ đúng điều đă thỏa thuận với nhau. Có người đến đón Ta và cầm lấy y bát, có người sắp đặt chỗ ngồi, có người đem nước rửa chân đến. Nhưng các vị ấy gọi Ta bằng tên với danh từ Hiền giả (Avuso).

 

Evaṃ vutte ahaṃ bhikkhave pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṃ “Mā bhikkhave Tathāgataṃ nāmena ca āvusovādena ca samudācaratha (Samudācarittha - Sī, Syā, I), Arahaṃ bhikkhave Tathāgato Sammāsambuddho, odahatha bhikkhave sotaṃ, amatamadhigataṃ ahamanusāsāmi, ahaṃ dhammaṃ desemi, yathānusiṭṭhaṃ tathā paṭipajjamānā nacirasseva, yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.

 

Này các Tỷ-kheo khi ta nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

"-- Này các Tỷ-kheo, chớ có gọi Ta bằng tên và dùng danh từ Hiền giả. Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hăy lóng tai, Pháp bất tử đă chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử, xuất gia từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, các Ông sẽ an trú. "

 

Evaṃ vutte bhikkhave pañcavaggiyā bhikkhū maṃ etadavocuṃ “Tāyapi kho tvaṃ āvuso Gotama iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṃ, kiṃ pana tvaṃ etarahi bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan”ti.

 

Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, nhóm năm Tỷ-kheo nói Ta:

"-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này, với đạo tu này, với khổ hạnh này, Hiền giả đă không chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến, thù thắng xứng đáng bậc Thánh, th́ này làm sao Hiền giả, với nếp sống sung túc, với sự từ bỏ tinh cần, với sự trở lui đời sống vật chất đầy đủ, lại có thể chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?"

 

Evaṃ vutte ahaṃ bhikkhave pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṃ “Na bhikkhave Tathāgato bāhulliko na padhānavibbhanto na āvatto bāhullāya, Arahaṃ bhikkhave Tathāgato Sammāsambuddho, odahatha bhikkhave sotaṃ, amatamadhigataṃ ahamanusāsāmi, ahaṃ dhammaṃ desemi, yathānusiṭṭhaṃ tathā paṭipajjamānā nacirasseva, yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.

 

Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

"-- Này các Tỷ-kheo, Như Lai không sống sung túc, không từ bỏ tinh cần, không trở lui đời sống vật chất đầy đủ. Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các Tỷ-kheo, hăy lóng tai, Pháp bất tử đă chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, các Ông sẽ an trú."

 

Dutiyampi kho bhikkhave pañcavaggiyā bhikkhū maṃ etadavocuṃ “Tāyapi kho tvaṃ āvuso Gotama iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṃ, kiṃ pana tvaṃ etarahi bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan”ti. Dutiyampi kho ahaṃ bhikkhave pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṃ “Na bhikkhave Tathāgato bāhulliko. Pa . Upasampajja viharissathā”ti.

 

Này các Tỷ-kheo, lại lần thứ hai, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:

"-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này... (như trên)... tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?"

Này các Tỷ-kheo, lại lần thứ hai Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

"-- Này các Tỷ-kheo, Như Lai không sống sung túc... (như trên)... các Ông sẽ an trú."

 

Tatiyampi kho bhikkhave pañcavaggiyā bhikkhū maṃ etadavocuṃ “Tāyapi kho tvaṃ āvuso Gotama iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṃ, kiṃ pana tvaṃ etarahi bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan”ti.

 

Này các Tỷ-kheo, lại lần thứ ba, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:

"-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này... (như trên)... tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?"

 

Evaṃ vutte ahaṃ bhikkhave pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṃ “Abhijānātha me no tumhe bhikkhave ito pubbe evarūpaṃ pabhāvitametan”ti (Bhāsitametanti - Sī, Syā, Vinayepi). No hetaṃ bhante.

 

Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

"-- Này các Tỷ-kheo, từ trước đến nay, các Ông có chấp nhận là Ta chưa bao giờ nói như vậy chăng?"

"-- Bạch Thế Tôn, chưa bao giờ như vậy. "

 

Arahaṃ bhikkhave Tathāgato Sammāsambuddho, odahatha bhikkhave sotaṃ, amatamadhigataṃ ahamanusāsāmi, ahaṃ dhammaṃ desemi, yathānusiṭṭhaṃ tathā paṭipajjamānā nacirasseva, yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathāti.

 

"-- Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hăy lóng tai, Pháp bất tử đă chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tư chứng, tự đạt được ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, các Ông sẽ an trú".

 

 Asakkhiṃ kho ahaṃ bhikkhave pañcavaggiye bhikkhū saññāpetuṃ. Dvepi sudaṃ bhikkhave bhikkhū ovadāmi, tayo bhikkhū piṇdāya caranti, yaṃ tayo bhikkhū piṇdāya caritvā āharanti, tena chabbaggiyā (Chabbaggā - Sī, Syā) yāpema. Tayopi sudaṃ bhikkhave bhikkhū ovadāmi, dve bhikkhū piṇdāya caranti, yaṃ dve bhikkhū piṇdāya caritvā āharanti, tena chabbaggiyā yāpema. Atha kho bhikkhave pañcavaggiyā bhikkhū mayā evaṃ ovadiyamānā evaṃ anusāsiyamānā attanā jātidhammā samānā jātidhamme ādīnavaṃ viditvā ajātaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesamānā ajātaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ ajjhagamaṃsu, attanā jarādhammā samānā jarādhamme ādīnavaṃ viditvā ajaraṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesamānā ajaraṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ ajjhagamaṃsu, attanā byādhidhammā samānā. Pa . Attanā maraṇadhammā samānā. Pa . Attanā sokadhammā samānā. Pa . Attanā saṃkilesadhammā samānā saṃkilesadhamme ādīnavaṃ viditvā asaṃkiliṭṭhaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ pariyesamānā asaṃkiliṭṭhaṃ anuttaraṃ yogakkhemaṃ Nibbānaṃ ajjhagamaṃsu. ©āṇañca pana nesaṃ dassanaṃ udapādi “Akuppā no vimutti (Akuppā nesaṃ vimutti - Ka), ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo”ti.

 

Này các Tỷ-kheo, Ta đă làm cho nhóm năm Tỷ-kheo chấp nhận. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết giảng cho hai Tỷ-kheo. Ba Tỷ-kheo kia đi khất thực. Đồ ăn mà ba Tỷ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết giảng cho ba Tỷ-kheo. Hai Tỷ-kheo kia đi khất thực.. Đồ ăn mà hai Tỷ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này các Tỷ-kheo, chúng năm Tỷ-kheo, sau khi được Ta thuyết giảng, sau khi được Ta khuyến giáo, tự ḿnh bị sanh, sau khi biết được sự nguy hại của cái bị sanh, t́m cầu cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn và đă chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn, tự ḿnh bị già... cái không già... tự ḿnh bị bệnh... cái không bệnh... tự ḿnh bị chết... cái không chết... tự ḿnh bi sầu... cái không sầu... tự ḿnh bị ô nhiễm, sau khi biết được sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, t́m cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn, và đă chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn. Tri và kiến khởi lên nơi họ: "Sự giải thoát của chúng ta không bị dao động, đây thức ǵ được hiện khởi như vậy đều quy là đời sống cuối cùng. Nay không c̣n tái sanh nữa".

 

 

287. Pañcime bhikkhave kāmaguṇā, katame pañca, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. Sotaviññeyyā saddā. Pa . Ghānaviññeyyā gandhā. Jivhāviññeyyā rasā. Kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. Ime kho bhikkhave pañca kāmaguṇā.

 

(Năm dục)

Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ư, kích thích ḷng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... (như trên)... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân cảm xúc là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ư, kích thích ḷng dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, như vậy, là năm dục trưởng dưỡng.

 

Ye hi keci bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā ime pañca kāmaguṇe gathitā mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā paribhuñjanti, te evamassu veditabbā, “Anayamāpannā byasanamāpannā yathākāmakaraṇīyā pāpimato” (Pāpimato”ti - ?). Seyyathāpi bhikkhave āraññako mago baddho pāsarāsiṃ adhisayeyya, so evamassa veditabbo, “Anayamāpanno byasanamāpanno yathākāmakaraṇīyo luddassa, āgacchante ca pana ludde yena kāmaṃ na pakkamissatī”ti, evameva kho bhikkhave ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā ime pañca kāmaguṇe gathitā mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā paribhuñjanti, te evamassu veditabbā, “Anayamāpannā byasanamāpannā yathākāmakaraṇīyā pāpimato”.

 

Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc, bị tham đắm, bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, không thấy sự nguy hại của chúng, không biết rơ sự xuất ly khỏi chúng, mà thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là: "Các Người đă rơi vào bất hạnh, đă rơi vào tai họa, đă bị Ác ma sử dụng như ư muốn". Này các Tỷ-kheo, như một con nai sống trong rừng bị sập bẫy nằm xuống, con nai ấy cần phải được hiểu là: "Nó đă rơi vào bất hạnh, đă rơi vào tai họa, đă bị thợ săn sử dụng như ư muốn. Khi người thợ săn đến, con nai không thể bỏ đi như ư muốn. Này các Tỷ-kheo, cũng vậy, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc... (như trên)... đă bị Ác ma sử dụng như ư muốn.

 

Ye ca kho keci bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā ime pañca kāmaguṇe agathitā amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā paribhuñjanti, te evamassu veditabbā, “Na anayamāpannā na byasanamāpannā na yathākāmakaraṇīyā pāpimato”. Seyyathāpi bhikkhave āraññako mago abaddho pāsarāsiṃ adhisayeyya, so evamassa veditabbo, “Na anayamāpanno, na byasanamāpanno, na yathākāmakaraṇīyo luddassa, āgacchante ca pana ludde yena kāmaṃ pakkamissatī”ti, evameva kho bhikkhave ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā ime pañca kāmaguṇe agathitā amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā paribhuñjanti, te evamassu veditabbā, “Na anayamāpannā, na byasanamāpannā, na yathākāmakaraṇīyā pāpimato.

 

Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không bị trói buộc, không bị tham đắm, không bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, thấy sự nguy hại của chúng, biết rơ sự xuất ly khỏi chúng, và thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là: "Các Người không rơi vào bất hạnh, không rơi vào tai họa, không bị Ác ma sử dụng như ư muốn". Này các Tỷ-kheo, như một con nai sống trong rừng, không bị sập bẫy phải nằm xuống, con nai ấy cần phải được hiểu là: "Nó không rơi vào bất hạnh, nó không rơi vào tai họa, nó không bị người thợ săn sử dụng như ư muốn". Khi người thợ săn đến, con nai có thể bỏ đi như ư muốn. Này các Tỷ-kheo, cũng vậy, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không bị trói buộc... không bị Ác ma sử dụng như ư muốn.

 

Seyyathāpi bhikkhave āraññako mago araññe pavane caramāno vissattho gacchati, vissattho tiṭṭhati, vissattho nisīdati, vissattho seyyaṃ kappeti. Taṃ kissa hetu, anāpāthagato bhikkhave luddassa. Evameva kho bhikkhave bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati bhikkhave bhikkhu andhamakāsi māraṃ apadaṃ, vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato.

 

Chư Tỷ-kheo, ví như con nai sống trong rừng, đi qua đi lại trong rừng, an tâm nó đi, an tâm nó đứng, an tâm nó ngồi, an tâm nó nằm. Tại sao vậy? Này các Tỷ-kheo, v́ nó vượt khỏi tầm tay của người thợ săn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là: một vị đă làm Ác Ma mù mắt, đă diệt trừ mọi vết tích, đă vượt khỏi tầm mắt Ác ma.

 

Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati bhikkhave. Pa . Pāpimato.

 

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đă vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

 

Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti “Upekkhako satimā sukhavihārī”ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati bhikkhave. Pa . Pāpimato.

 

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các vị Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đă vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

 

Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati bhikkhave. Pa . Pāpimato.

 

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

 

Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā “Ananto ākāso”ti ākāsānañcāyatanaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati bhikkhave. Pa . Pāpimato.

 

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tướng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ư đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đă vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

 

Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma “Anantaṃ viññāṇan”ti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati bhikkhave. Pa . Pāpimato.

 

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đă vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

 

Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma “Natthi kiñcī”ti ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati bhikkhave. Pa . Pāpimato.

 

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật ǵ", chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đă vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

 

Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati bhikkhave. Pa . Pāpimato.

 

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ- kheo ấy được gọi là...đă vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

 

Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṃ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṃ upasampajja viharati. Paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti. Ayaṃ vuccati bhikkhave bhikkhu andhamakāsi māraṃ, apadaṃ vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato. Tiṇṇo loke visattikaṃ. Vissattho gacchati, vissattho tiṭṭhati, vissattho nisīdati, vissattho seyyaṃ kappeti. Taṃ kissa hetu, anāpāthagato bhikkhave pāpimatoti.

 

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định). Sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đă làm Ác ma mù mắt, đă diệt trừ mọi vết tích, đă vượt khỏi tầm mắt Ác ma. Vị ấy đă vượt khỏi mọi triền phược ở đời. An tâm vị ấy đi, an tâm vị ấy đứng, an tâm vị ấy ngồi, an tâm vị ấy nằm. V́ sao vậy? Này các Tỷ-kheo, v́ vị ấy vượt khỏi tầm tay của Ác ma.

 

Idamavoca Bhagavā. Attamanā te bhikkhū Bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti. 

 

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

 

Pāsarāsisuttaṃ niṭṭhitaṃ chaṭṭhaṃ.

 
 

<Kinh số 025>

<Kinh số 027>

 
| Mục lục Trung Bộ I | Mục lục Trung Bộ II | Mục lục Trung Bộ III |
 

<Đầu Trang>