Trang Chính

Majjhimanikāya & Trung Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

MAJJHIMANIKĀYA & TRUNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Wednesday, June 27, 2012

 

023. VAMMIKASUTTAṂ 

 

023. VAMMIKASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

023. KINH G̉ MỐI - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

249. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme. Tena kho pana samayena āyasmā Kumārakassapo Andhavane viharati.

 

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kumara Kassapa trú tại Andhavana.

 

Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ Andhavanaṃ obhāsetvā yenāyasmā Kumārakassapo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā āyasmantaṃ Kumārakassapaṃ etadavoca–

 

Rồi một vị Thiên, đêm đă gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ Tôn giả Kumara Kassapa ở, sau khi đến, bèn đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Kumara Kassapa:

 

Bhikkhu bhikkhu ayaṃ vammiko (Vammīko - Katthaci; sakkatānurūpaṃ) rattiṃ dhūmāyati, divā pajjalati.

 

"Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! G̣ mối này ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng.

 

Brāhmaṇo evamāha “Abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyā”ti. Abhikkhaṇanto sumedho satthaṃ ādāya addasa laṅgiṃ. Laṅgī bhadanteti.

 

"Một Bà-la-môn nói như sau: "Này kẻ trí, hăy cầm gươm và đào lên". Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một then cửa: "Thưa Tôn giả, một then cửa".

 

Brāhmaṇo evamāha “Ukkhipa laṅgiṃ abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyā”ti. Abhikkhaṇanto sumedho satthaṃ ādāya addasa uddhumāyikaṃ. Uddhumāyikā bhadanteti.

 

"Vị Bà-la-môn nói: "Này kẻ trí, hăy lấy then cửa lên, cầm gươm đào thêm". Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con nhái: "Thưa Tôn giả, một con nhái".

 

Brāhmaṇo evamāha “Ukkhipa uddhumāyikaṃ abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyā”ti. Abhikkhaṇanto sumedho satthaṃ ādāya addasa dvidhāpathaṃ. Dvidhāpatho bhadanteti.

 

"Vị Bà-la-môn nói: "Này kẻ trí, hăy đem con nhái lên, cầm gươm đào thêm". Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con đường hai ngă: "Thưa Tôn giả, một con đường hai ngă".

 

Brāhmaṇo evamāha “Ukkhipa dvidhāpathaṃ abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyā”ti. Abhikkhaṇanto sumedho satthaṃ ādāya addasa caṅgavāraṃ (Paṅkavāraṃ - Syā), caṅkavāraṃ - Ka). Caṅgavāro bhadanteti.

 

"Vị Bà-la-môn nói: "Này kẻ trí hăy lấy con đường hai ngă lên, cầm gươm đào thêm". Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một đồ lọc sữa: "Thưa Tôn giả, một đồ lọc sữa".

 

Brāhmaṇo evamāha “Ukkhipa caṅgavāraṃ abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyā”ti. Abhikkhaṇanto sumedho satthaṃ ādāya addasa kummaṃ. Kummo bhadanteti.

 

"Vị Bà-la-môn nói: "Hăy lấy đồ lọc sữa lên, cầm gươm đào thêm". Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con rùa: "Thưa Tôn giả, một con rùa".

 

Brāhmaṇo evamāha “Ukkhipa kummaṃ abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyā”ti. Abhikkhaṇanto sumedho satthaṃ ādāya addasa asisūnaṃ. Asisūnā bhadanteti.

 

"Vị Bà-la-môn nói: "Này kẻ trí, hăy lấy con rùa lên, cầm gươm đào thêm". Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con dao phay: "Thưa Tôn giả, một con dao phay".

 

Brāhmaṇo evamāha “Ukkhipa asisūnaṃ abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyā”ti. Abhikkhaṇanto sumedho satthaṃ ādāya addasa maṃsapesiṃ. Maṃsapesi bhadanteti.

 

"Vị Bà-la-môn nói: "Này kẻ trí, hăy lấy con dao phay lên, cầm gươm đào thêm". Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một miếng thịt: "Thưa Tôn giả một miếng thịt".

 

Brāhmaṇo evamāha “Ukkhipa maṃsapesiṃ abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyā”ti. Abhikkhaṇanto sumedho satthaṃ ādāya addasa nāgaṃ. Nāgo bhadanteti.

 

"Vị Bà-la-môn nói: "Này kẻ trí, hăy lấy miếng thịt lên, cầm gươm đào thêm". Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con rắn hổ: "Thưa Tôn giả, con rắn hổ".

 

Brāhmaṇo evamāha “Tiṭṭhatu nāgo, mā nāgaṃ ghaṭṭesi, namo karohi nāgassā”ti.

 

"Vị Bà-la-môn nói: "Hăy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hăy đảnh lễ con rắn hổ".

 

Ime kho tvaṃ bhikkhu pañhe Bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pucchoyyāsi. Yathā ca te Bhagavā byākaroti, tathā naṃ dhāreyyāsi. Nāhaṃ taṃ bhikkhu passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo imesaṃ pañhānaṃ veyyākaraṇena cittaṃ ārādheyya aññatra Tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā ito vā pana sutvāti.

 

"Này Tỷ-kheo, hăy đến chỗ Thế Tôn ở và hỏi những câu hỏi ấy. Thế Tôn trả lời Tôn giả như thế nào, hăy như vậy thọ tŕ. Này Tỷ-kheo, Ta không thấy ai trên cơi đời, với chư Thiên, các Ma vương, với Phạm thiên, các chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể hướng tâm để trả lời những câu hỏi ấy, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai hay những ai đă được nghe hai vị này".

 

Idamavoca sā devatā idaṃ vatvā tatthevantaradhāyi.

Vị Thiên ấy nói như vậy. Sau khi nói xong như vậy, vị ấy biến mất ở nơi đây.

 

250. Atha kho āyasmā Kumārakassapo tassā rattiyā accayena yena Bhagavātenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā Kumārakassapo Bhagavantaṃ etadavoca

 

Rồi Tôn giả Kumara Kassapa, sau khi đêm ấy đă măn, đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Kumara Kassapa bạch Thế Tôn:

 

“Imaṃ bhante rattiṃ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ Andhavanaṃ obhāsetvā yenāhaṃ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhitā kho bhante sā devatā maṃ etadavoca ‘Bhikkhu bhikkhu ayaṃ vammiko rattiṃ dhūmāyati, divā pajjalati. Brāhmaṇo evamāha abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyāti. Abhikkhaṇanto sumedho satthaṃ ādāya. Pa . Ito vā pana sutvā’ti. Idamavoca bhante sā devatā idaṃ vatvā tatthevantaradhāyi.

 

-- Bạch Thế Tôn, đêm nay, một vị Thiên, đêm đă gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ con ở, sau khi đến liền đứng một bên. Khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với con: "Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! G̣ mối này, ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng. Một vị Bà-la-môn nói như sau: "Này kẻ trí, hăy cầm gươm đào lên". Người có trí cầm gươm, đào lên thấy một then cửa... (như trên)... đệ tử Như Lai hay những ai đă được nghe hai vị này". Bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói như vậy, nói xong liền biến mất tại chỗ ấy.

 

Ko nu kho bhante vammiko, kā rattiṃ dhūmāyanā, kā divā pajjalanā, ko brāhmaṇo, ko sumedho, kiṃ satthaṃ, kiṃ abhikkhaṇaṃ, kā laṅgī, kā uddhumāyikā, ko dvidhāpatho, kiṃ caṅgavāraṃ, ko kummo, kā asisūnā, kā maṃsapesi, ko nāgo”ti.

 

Bạch Thế Tôn, g̣ mối là ǵ, cái ǵ phun khói ban đêm, cái ǵ chiếu sáng ban ngày, ai là Bà-la-môn, ai là người có trí, cái ǵ là cây gươm, cái ǵ là đào lên, cái ǵ là then cửa, cái ǵ là con nhái, cái ǵ là con đường hai ngă, cái ǵ là đồ lọc sữa, cái ǵ là con rùa, cái ǵ là con dao phay, cái ǵ là miếng thịt, cái ǵ là con rắn hổ?

 

251. “Vammiko”ti kho bhikkhu imassetaṃ cātumahābhūtikassa (Cātummahābhūtikassa - Sī, Syā, I) kāyassa adhivacanaṃ mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādana parimaddana bhedana viddhaṃsana dhammassa. (1)

 

-- Này Tỷ-kheo, g̣ mối là đồng nghĩa với cái thân do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt.

 

Yaṃ kho bhikkhu divā kammante (Kammantaṃ - Ka) ārabbha rattiṃ anuvitakketi anuvicāreti, ayaṃ rattiṃ dhūmāyanā.

 

Này Tỷ-kheo, cái ǵ thuộc về công việc ban ngày, ban đêm suy tầm, suy nghĩ, như vậy là ban đêm phun khói.

 

Yaṃ kho bhikkhu rattiṃ anuvitakketvā anuvicāretvā divā kammante payojeti kāyena vācāya (manasā) (natthi - Sī, Syā). Ayaṃ divā pajjalanā. (2-3)

 

Này Tỷ-kheo, cái ǵ sau khi suy tầm, suy tư ban đêm, ban ngày đem ra thực hành, về thân, về lời nói, về ư, như vậy là ban ngày chói sáng.

 

“Brāhmaṇo”ti kho bhikkhu Tathāgatassetaṃ adhivacanaṃ Arahato Sammāsambuddhassa. “Sumedho”ti kho bhikkhu sekkhassetaṃ bhikkhuno adhivacanaṃ. (4-5)

 

Này Tỷ-kheo, Bà-la-môn là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này Tỷ-kheo, người có trí là đồng nghĩa với Tỷ-kheo hữu học.

 

“Satthan”ti kho bhikkhu ariyāyetaṃ paññāya adhivacanaṃ. “Abhikkhaṇan”ti kho bhikkhu vīriyārambha ssetaṃ adhivacanaṃ. (6-7)

 

Này Tỷ-kheo, cái gươm là đồng nghĩa với trí tuệ của bậc Thánh. Này Tỷ-kheo, đào lên là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.

 

“Laṅgī”ti kho bhikkhu avijjāyetaṃ adhivacanaṃ. Ukkhipa laṅgiṃ pajaha avijjaṃ, abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyāti ayametassa attho. (8)

 

Này Tỷ-kheo, cái then cửa là đồng nghĩa với vô minh; đem then cửa lên là từ bỏ vô minh này; kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ư nghĩa này.

 

“Uddhumāyikā”ti kho bhikkhu kodhūpāyāsassetaṃ adhivacanaṃ. Ukkhipa uddhumāyikaṃ pajaha kodhūpāyāsaṃ, abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyāti ayametassa attho. (9)

 

Này Tỷ-kheo, con nhái là đồng nghĩa với phẫn nộ hiềm hận; đem con nhái lên là từ bỏ phẫn nộ hiềm hận này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ư nghĩa này.

 

“Dvidhāpatho”ti kho bhikkhu vicikicchāyetaṃ adhivacanaṃ. Ukkhipa dvidhāpathaṃ pajaha vicikicchaṃ, abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyāti ayametassa attho. (10)

 

Này Tỷ-kheo, con đường hai ngă là đồng nghĩa với nghi hoặc; đem con đường hai ngă lên là từ bỏ nghi hoặc này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ư nghĩa này.

 

“Caṅgavāran”ti kho bhikkhu pañcannetaṃ nīvaraṇānaṃ adhivacanaṃ. Seyyathidaṃ, kāmacchandanīvaraṇassa byāpādanīvaraṇassa thinamiddhanīvaraṇassa uddhaccakukkuccanīvaraṇassa vicikicchānīvaraṇassa. Ukkhipa caṅgavāraṃ pajaha pañca nīvaraṇe, abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyāti ayametassa attho. (11)

 

Này Tỷ-kheo, đồ lọc sữa là đồng nghĩa với năm triền cái: dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi hoặc triền cái; đem  đồ lọc sữa lên là từ bỏ năm triền cái này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ư nghĩa này.

 

“Kummo”ti kho bhikkhu pañcannetaṃ upādānakkhandhānaṃ adhivacanaṃ. Seyyathidaṃ, rūpupādānakkhandhassa vedanupādānakkhandhassa saññupādānakkhandhassa saṅkhārupādānakkhandhassa viññāṇupādānakkhandhassa. Ukkhipa kummaṃ pajaha pañcupādānakkhandhe, abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyāti ayametassa attho. (12)

 

Này Tỷ-kheo, con rùa là đồng nghĩa với năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn; đem con rùa lên là từ bỏ năm thủ uẩn này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ư nghĩa này.

 

“Asisūnā”ti kho bhikkhu pañcannetaṃ kāmaguṇānaṃ adhivacanaṃ. Cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ piyarūpānaṃ kāmūpasaṃhitānaṃ rajanīyānaṃ. Sotaviññeyyānaṃ saddānaṃ. Pa . Ghānaviññeyyānaṃ gandhānaṃ. Pa . Jivhāviññeyyānaṃ rasānaṃ. Pa . Kāyaviññeyyānaṃ phoṭṭhabbānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ piyarūpānaṃ kāmūpasaṃhitānaṃ rajanīyānaṃ. Ukkhipa asisūnaṃ pajaha pañca kāmaguṇe, abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyāti ayametassa attho. (13)

 

Này Tỷ-kheo, con dao phay là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng, tức là các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ư, kích thích ḷng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... Các hương do mũi nhận thức... Các vị do lưỡi nhận thức... Các xúc do thân cảm xúc, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ư, kích thích ḷng dục, hấp dẫn; lấy con dao phay lên là từ bỏ năm dục trưởng dưỡng này, kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ư nghĩa này.

 

“Maṃsapesī”ti kho bhikkhu nandīrāgassetaṃ adhivacanaṃ. Ukkhipa maṃsapesiṃ pajaha nandīrāgaṃ, abhikkhaṇa sumedha satthaṃ ādāyāti ayametassa attho. (14)

 

Này Tỷ-kheo, miếng thịt là đồng nghĩa với hỷ tham; lấy miếng thịt lên là từ bỏ hỷ tham này; kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ư nghĩa này.

 

“Nāgo”ti kho bhikkhu khīṇāsavassetaṃ bhikkhuno adhivacanaṃ. Tiṭṭhatu nāgo, mā nāgaṃ ghaṭṭesi, namo karohi nāgassāti ayametassa atthoti. (15)

 

Này Tỷ-kheo, con rắn hổ là đồng nghĩa với vị Tỷ-kheo đă diệt trừ các lậu hoặc; hăy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hăy đảnh lễ con rắn hổ, là ư nghĩa này.

 

Idamavoca Bhagavā. Attamano āyasmā Kumārakassapo Bhagavato bhāsitaṃ abhinandīti.  

 

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

 

Vammikasuttaṃ niṭṭhitaṃ tatiyaṃ.

 
 

<Kinh số 022>

<Kinh số 024>

 
| Mục lục Trung Bộ I | Mục lục Trung Bộ II | Mục lục Trung Bộ III |
 

<Đầu Trang>