|
018. MADHUPIṆḌIKASUTTAṂ
|
|
018. MADHUPIṆḌIKASUTTAṂ
- Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
018. KINH MẬT HOÀN - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
199. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ
samayaṃ Bhagavā Sakkesu viharati Kapilavatthusmiṃ Nigrodhārāme.
|
Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn sống giữa các vị
dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn
Nigrodharama.
|
|
Atha kho Bhagavā pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā pattacīvaramādāya Kapilavatthuṃ piṇdāya pāvisi.
Kapilavatthusmiṃ piṇdāya caritvā pacchābhattaṃ
piṇdapātapaṭikkanto yena Mahāvanaṃ tenupasaṅkami divāvihārāya.
Mahāvanaṃ ajjhogāhetvā Beluvalaṭṭhikāya mūle divāvihāraṃ nisīdi.
|
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp
y, cầm y bát vào thành Kapilavatthu để khất thực. Sau khi khất
thực ở Kapilavatthu, khi ăn xong, trên đường khất thực trở về,
Thế Tôn đi đến Ðại Lâm để nghỉ trưa. Sau khi vào rừng Ðại Lâm,
Ngài ngồi nghỉ trưa dưới gốc cây beluvalatthika.
|
|
Daṇdapāṇipi kho Sakko
jaṅghāvihāraṃ (Jaṅghavihāraṃ
- Ka) anucaṅkamamāno
anuvicaramāno yena Mahāvanaṃ tenupasaṅkami, Mahāvanaṃ
ajjhogāhetvā yena Beluvalaṭṭhikā yena Bhagavā tenupasaṅkami,
upasaṅkamitvā Bhagavatā saddhiṃ sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ
sāraṇīyaṃ vītisāretvā daṇdamolubbha ekamantaṃ aṭṭhāsi, ekamantaṃ
ṭhito kho Daṇdapāṇi Sakko Bhagavantaṃ etadavoca “Kiṃvādī samaṇo
kimakkhāyī”ti.
|
Có vị Gậy cầm tay (Dandapani)
Sakka (Thích-ca), kéo bộ khắp nơi, ngao du thiên hạ, đến tại
rừng Ðại Lâm, đi sâu vào ngôi rừng, đến tại Beluvalatthika chỗ
Thế Tôn ở, khi đến xong nói lên những lời hỏi thăm xã giao thân
hữu, rồi đứng một bên, dựa trên cây gậy, đứng một bên. Gậy cầm
tay Sakka nói với Thế Tôn: "Sa-môn có quan điểm thế nào, giảng
thuyết những gì?" |
|
Yathāvādī kho āvuso
sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya na kenaci loke viggayha tiṭṭhati, yathā ca pana
kāmehi visaṃyuttaṃ viharantaṃ taṃ brāhmaṇaṃ akathaṃkathiṃ
chinnakukkuccaṃ bhavābhave vītataṇhaṃ saññā nānusenti, evaṃvādī
kho ahaṃ āvuso evamakkhāyī”ti. |
--"Này Hiền giả, theo lời dạy
của Ta, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với
các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có
tranh luận một ai ở đời; các tưởng sẽ không ám ảnh vị Bà-la-môn
sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi
hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu. Này
Hiền giả, như vậy là quan điểm của Ta, như vậy là lời Ta giảng
dạy".
|
|
Evaṃ vutte Daṇdapāṇi Sakko sīsaṃ okampetvā
jivhaṃ nillāḷetvā tivisākhaṃ nalāṭikaṃ nalāṭe vuṭṭhāpetvā
daṇdamolubbha pakkāmi.
|
Khi nghe nói vậy, Gậy cầm tay
Sakka lắc đầu, liếm lưỡi, với trán nổi lên ba đường nhăn, chống
gậy rồi đi. |
|
200. Atha kho Bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yena
Nigrodhārāmo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi,
nisajja kho Bhagavā bhikkhū āmantesi |
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ
Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến vườn Nigrodha, khi đến xong,
ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các
Tỷ-kheo:
|
|
“Idhāhaṃ bhikkhave pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya
Kapilavatthuṃ piṇdāya pāvisiṃ. Kapilavatthusmiṃ piṇdāya caritvā
pacchābhattaṃ piṇdapātapaṭikkanto yena Mahāvanaṃ tenupasaṅkamiṃ
divāvihārāya. Mahāvanaṃ ajjhogāhetvā Beluvalaṭṭhikāya mūle
divāvihāraṃ nisīdiṃ. Daṇdapāṇipi kho bhikkhave Sakko
jaṅghāvihāraṃ anucaṅkamamāno anuvicaramāno yena Mahāvanaṃ
tenupasaṅkami. Mahāvanaṃ ajjhogāhetvā yena Beluvalaṭṭhikā
yenāhaṃ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā mayā saddhiṃ sammodi,
sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā daṇdamolubbha
ekamantaṃ aṭṭhāsi, ekamantaṃ ṭhito kho bhikkhave Daṇdapāṇi Sakko
maṃ etadavoca ‘Kiṃvādī samaṇo kimakkhāyī’ti. Evaṃ vutte ahaṃ
bhikkhave Daṇdapāṇiṃ Sakkaṃ etadavocaṃ ‘Yathāvādī kho āvuso
sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya na kenaci loke viggayha tiṭṭhati, yathā ca pana
kāmehi visaṃyuttaṃ viharantaṃ taṃ brāhmaṇaṃ akathaṃkathiṃ
chinnakukkuccaṃ bhavābhave vītataṇhaṃ saññā nānusenti, evaṃvādī
kho ahaṃ āvuso evamakkhāyī”ti. Evaṃ vutte bhikkhave Daṇdapāṇi
Sakko sīsaṃ okampetvā jivhaṃ nillāḷetvā tivisākhaṃ nalāṭikaṃ
nalāṭe vuṭṭhāpetvā daṇdamolubbha pakkāmī”ti. |
-- Chư Tỷ-kheo, ở đây, Ta vào
buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Kapilavatthu để khất thực.
Sau khi khất thực ở Kapilavatthu, ăn xong, trên đường khất thực
trở về, Ta đi đến Ðại Lâm để nghỉ trưa. Sau khi vào rừng Ðại
Lâm, Ta ngồi nghỉ trưa dưới gốc cây beluvalatthika. Có vị Gậy
cầm tay Sakka kéo bộ khắp nơi, ngao du thiên hạ, đến tại rừng
Ðại Lâm, đi sâu vào ngôi rừng, đến tại Beluvalatthika chỗ Ta ở,
khi đến xong, nói lên những lời hỏi thăm xã giao thân hữu, rồi
đứng một bên, dựa trên cây gậy. Ðứng một bên, Gậy cầm tay Sakka
nói với Ta như sau: "Sa-môn có quan điểm thế nào, giảng thuyết
những gì?" Chư Tỷ-kheo, được nói vậy, Ta trả lời Gậy cầm tay
Sakka: "Này Hiền giả, theo lời Ta dạy trong thế giới với chư
Thiên, Mara, và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư
Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời. Các tưởng
sẽ không ám ảnh vị Bà-la-môn sống không bị dục triền phược,
không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có
tham ái đối với hữu và phi hữu. Này Hiền giả, như vậy là quan
điểm của Ta, như vậy là lời Ta giảng dạy". Khi nghe nói vậy, Gậy
cầm tay Sakka lắc đầu, liếm lưỡi, với trán nổi lên ba đường
nhăn, chống gậy rồi đi.
|
|
201. Evaṃ vutte aññataro
bhikkhu Bhagavantaṃ etadavoca |
Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo
bạch Thế Tôn:
|
|
“Kiṃvādī pana bhante Bhagavā sadevake loke samārake
sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya na kenaci
loke viggayha tiṭṭhati. Kathañca pana bhante Bhagavantaṃ kāmehi
visaṃyuttaṃ viharantaṃ taṃ brāhmaṇaṃ akathaṃkathiṃ
chinnakukkuccaṃ bhavābhave vītataṇhaṃ saññā nānusentī”ti.
|
-- Nhưng bạch Thế Tôn, lời dạy
ấy là gì mà Thế Tôn, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm
thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người,
không có tranh luận một ai ở đời? Các tưởng sẽ không ám ảnh Thế
Tôn, vị đã sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do
dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và
phi hữu?
|
|
Yatonidānaṃ bhikkhu purisaṃ
papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti, ettha ce natthi
abhinanditabbaṃ abhivaditabbaṃ ajjhositabbaṃ, esevanto
rāgānusayānaṃ, esevanto paṭighānusayānaṃ, esevanto
diṭṭhānusayānaṃ, esevanto vicikicchānusayānaṃ, esevanto
mānānusayānaṃ, esevanto bhavarāgānusayānaṃ, esevanto
avijjānusayānaṃ, esevanto daṇdādānasatthādāna kalaha viggaha
vivāda tuvaṃtuvaṃ pesuñña musāvādānaṃ. Etthete pāpakā akusalā
dhammā aparisesā nirujjhantīti.
|
-- Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân
duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. Nếu ở đây
không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như
vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự
đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận
mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh
tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh
tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở
đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn
dư tàn.
|
|
Idamavoca
Bhagavā, idaṃ vatvāna Sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṃ pāvisi.
|
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
Sau khi nói vậy, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy bước vào tịnh
xá. |
|
202. Atha kho
tesaṃ bhikkhūnaṃ acirapakkantassa Bhagavato etadahosi “Idaṃ kho
no āvuso Bhagavā saṃkhittena uddesaṃ uddisitvā vitthārena atthaṃ
avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṃ paviṭṭho, ‘Yatonidānaṃ bhikkhu
purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti. Ettha ce natthi
abhinanditabbaṃ abhivaditabbaṃ ajjhositabbaṃ, esevanto
rāgānusayānaṃ. Pa . Etthete pāpakā akusalā dhammā aparisesā
nirujjhantī’ti. Ko nu kho imassa Bhagavatā saṃkhittena uddesassa
uddiṭṭhassa vitthārena atthaṃ avibhattassa vitthārena atthaṃ
vibhajeyyā”ti. Atha kho tesaṃ bhikkhūnaṃ etadahosi “Ayaṃ kho
āyasmā Mahākaccāno satthu ceva saṃvaṇṇito, sambhāvito ca
viññūnaṃ sabrahmacārīnaṃ, pahoti cāyasmā Mahākaccāno imassa
Bhagavatā saṃkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṃ
avibhattassa vitthārena atthaṃ vibhajituṃ. Yaṃnūna mayaṃ
yenāyasmā Mahākaccāno tenupasaṅkameyyāma, upasaṅkamitvā
āyasmantaṃ Mahākaccānaṃ etamatthaṃ paṭipuccheyyāmā”ti. |
Sau khi Thế Tôn đi chẳng bao
lâu, các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: "Chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên
lời dạy tóm tắt này cho chúng ta, không giải thích rộng rãi ý
nghĩa, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ-kheo,
do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn". Nay ai có thể giải
thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng được Thế Tôn nói lên một cách
vắn tắt, và không giải thích rõ ràng ý nghĩa". Rồi những Tỷ-kheo
ấy suy nghĩ: "Nay có Tôn giả Mahakaccana (Ðại Ca-chiên-diên) là
vị được Thế Tôn tán dương và được các vị đồng phạm hạnh có trí
kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý
nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt,
và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ
Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Mahakaccana ý
nghĩa này". |
|
Atha kho te bhikkhū yenāyasmā Mahākaccāno
tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā āyasmatā Mahākaccānena saddhiṃ
sammodiṃsu, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ
nisīdiṃsu, ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṃ
Mahākaccānaṃ etadavocuṃ– |
Rồi những Tỷ-kheo ấy đến chỗ Tôn
giả Mahakaccana ở, sau khi đến, nói lên những lời chúc tụng, hỏi
thăm xã giao với Tôn giả Mahakaccana rồi ngồi xuống một bên. Sau
khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy thưa với Tôn giả
Mahakaccana: |
|
Idaṃ kho no āvuso Kaccāna Bhagavā
saṃkhittena uddesaṃ uddisitvā vitthārena atthaṃ avibhajitvā
uṭṭhāyāsanā vihāraṃ paviṭṭho, “Yatonidānaṃ bhikkhu purisaṃ
papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti. Ettha ce natthi
abhinanditabbaṃ abhivaditabbaṃ ajjhositabbaṃ, esevanto
rāgānusayānaṃ. Pa . Etthete pāpakā akusalā dhammā
aparisesānirujjhantī”ti. Tesaṃ no āvuso Kaccāna amhākaṃ
acirapakkantassa Bhagavato etadahosi “Idaṃ kho no āvuso Bhagavā
saṃkhittena uddesaṃ uddisitvā vitthārena atthaṃ avibhajitvā
uṭṭhāyāsanā vihāraṃ paviṭṭho, ‘Yatonidānaṃ bhikkhu purisaṃ
papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti. Ettha ce natthi
abhinanditabbaṃ abhivaditabbaṃ ajjhositabbaṃ, esevanto
rāgānusayānaṃ. Pa . Etthete pāpakā akusalā dhammā aparisesā
nirujjhantī’ti. Ko nu kho imassa Bhagavatā saṃkhittena uddesassa
uddiṭṭhassa vitthārena atthaṃ avibhattassa vitthārena atthaṃ
vibhajeyyā”ti. Tesaṃ no āvuso Kaccāna amhākaṃ etadahosi “Ayaṃ
kho āyasmā Mahākaccāno satthu ceva saṃvaṇṇito, sambhāvito ca
viññūnaṃ sabrahmacārīnaṃ, pahoti cāyasmā Mahākaccāno imassa
Bhagavatā saṃkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṃ
avibhattassa vitthārena atthaṃ vibhajituṃ. Yaṃnūna mayaṃ
yenāyasmā Mahākaccāno tenupasaṅkameyyāma, upasaṅkamitvā
āyasmantaṃ Mahākaccānaṃ etamatthaṃ paṭipuccheyyāmā”ti.
Vibhajatāyasmā Mahākaccānoti.
|
-- "Này Hiền giả, Thế Tôn sau
khi nói lên lời dạy tóm tắt này và không giải thích rõ ràng ý
nghĩa, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ-kheo,
do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn".
Này Hiền giả Mahakaccana, khi
Thế Tôn đi chưa bao lâu, chúng tôi suy nghĩ: "Chư Hiền, Thế Tôn
sau khi nói lên lời dạy vắn tắt này cho chúng ta... đã đi vào
tịnh xá:" Do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn". Ai có
thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy mà Thế Tôn nói lên
một cách vắn tắt... không giải thích rõ ràng ý nghĩa?" Này Hiền
giả Mahakaccana, rồi chúng tôi suy nghĩ: "Nay Tôn giả
Mahakaccana được Thế Tôn tán thán và được các vị đồng phạm hạnh
có trí kính trọng, Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng
rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt
và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ
Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, chúng ta hỏi Tôn giả
Mahakaccana ý nghĩa này. Tôn giả Mahakaccana sẽ giải thích cho". |
|
203. Seyyathāpi āvuso puriso sāratthiko sāragavesī
sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato
atikkammeva mūlaṃ atikkamma khandhaṃ sākhāpalāse sāraṃ
pariyesitabbaṃ maññeyya, evaṃsampadamidaṃ āyasmantānaṃ, Satthari
sammukhībhūte taṃ Bhagavantaṃ atisitvā amhe etamatthaṃ
paṭipucchitabbaṃ maññatha. So hāvuso Bhagavā jānaṃ jānāti passaṃ
passati cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā
pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī Tathāgato. So
ceva panetassa kālo ahosi, yaṃ Bhagavantaṃyeva etamatthaṃ
paṭipuccheyyātha. Yathā vo Bhagavā byākareyya, tathā naṃ
dhāreyyāthāti. |
-- Chư Hiền, cũng như một người
ưa thích lõi cây, tìm tòi lõi cây, đi khắp mọi nơi tìm lõi cây,
đến một cây to lớn, đứng thẳng và có lõi cây. Người này bỏ qua
rễ, bỏ qua thân cây, nghĩ rằng phải tìm lõi cây ở nơi cành lá.
Cũng vậy là hành động của chư Tôn giả, đứng trước mặt Thế Tôn,
quý vị bỏ qua Thế Tôn, nghĩ rằng phải hỏi tôi về ý nghĩa này.
Chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần
phải thấy, Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở
thành Chánh pháp, trở thành Brahma, vị thuyết giả, vị diễn giả,
vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp Chủ, Như Lai.
Quý vị phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế Tôn
giải thích cho quý vị, quý vị hãy như vậy thọ trì. |
|
Addhāvuso Kaccāna Bhagavā jānaṃ jānāti passaṃ
passati cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā
pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī Tathāgato. So
ceva panetassa kālo ahosi, yaṃ Bhagavantaṃyeva etamatthaṃ
paṭipuccheyyāma. Yathā no Bhagavā byākareyya, tathā naṃ
dhāreyyāma. Api cāyasmā Mahākaccāno Satthu ceva saṃvaṇṇito,
sambhāvito ca viññūnaṃ sabrahmacārīnaṃ, pahoti cāyasmā
Mahākaccāno imassa Bhagavatā saṃkhittena uddesassa uddiṭṭhassa
vitthārena atthaṃ avibhattassa vitthārena atthaṃ vibhajituṃ.
Vibhajatāyasmā Mahākaccāno agaruṃ katvā (Agarukatvā
- Sī; agarukaritvā - Syā, I)
ti. |
-- Hiền giả Mahakaccana, chắc
chắn Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải
thấy, Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở
thành Chánh pháp, trở thành Brahma, vị thuyết giả, vị diễn giả,
vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp Chủ, Như Lai.
Chúng tôi phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế
Tôn giải thích cho chúng tôi, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì.
Nhưng Tôn giả Mahakaccana được Thế Tôn tán thán, được các vị
đồng phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể
giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên
một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Mong Tôn
giả Mahakaccana hãy giải thích không có sự gì bất kính.
|
|
Tena hāvuso
suṇātha sādhukaṃ manasikarotha bhāsissāmīti.
“Evamāvuso”ti kho
te bhikkhū āyasmato Mahākaccānassa paccassosuṃ.
Āyasmā
Mahākaccāno etadavoca– |
-- Vậy chư Hiền hãy nghe và khéo
tác ý, tôi sẽ giảng.
-- Thưa vâng, Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả
Mahakaccana.
Tôn giả Mahakaccana giảng như sau: |
|
204. Yaṃ kho no
āvuso Bhagavā saṃkhittena uddesaṃ uddisitvā vitthārena atthaṃ
avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṃ paviṭṭho, “Yatonidānaṃ bhikkhu
purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti. Ettha ce natthi
abhinanditabbaṃ abhivaditabbaṃ ajjhositabbaṃ, esevanto
rāgānusayānaṃ. Pa . Etthete pāpakā akusalā dhammā aparisesā
nirujjhantī”ti. Imassa kho ahaṃ āvuso Bhagavatā saṃkhittena
uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṃ avibhattassa evaṃ
vitthārena atthaṃ ājānāmi. |
-- Chư Hiền, Thế Tôn nói lên một
cách vắn tắt lời dạy này... và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ-kheo
bất cứ vì nhân duyên gì... không còn dư tàn". Chư Hiền, với lời
dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, và không giải thích
rõ ràng ý nghĩa. Tôi hiểu ý nghĩa một cách đầy đủ như sau: |
|
Cakkhuñcāvuso
paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso,
phassapaccayā vedanā, yaṃ vedeti taṃ sañjānāti, yaṃ sañjānāti
taṃ vitakketi, yaṃ vitakketi taṃ papañceti, yaṃ papañceti
tatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti
atītānāgatapaccuppannesu cakkhuviññeyyesu rūpesu.
|
Chư Hiền, do nhơn con mắt và các
sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc.
Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng,
những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý
luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh
một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ,
tương lai và hiện tại. |
|
Sotañcāvuso
paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṃ. Pa . Ghānañcāvuso
paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṃ. Pa . Jivhañcāvuso
paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṃ. Pa . Kāyañcāvuso
paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṃ. Pa . Manañcāvuso
paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso,
phassapaccayā vedanā, yaṃ vedeti taṃ sañjānāti, yaṃ sañjānāti
taṃ vitakketi, yaṃ vitakketi taṃ papañceti, yaṃ papañceti
tatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti
atītānāgatapaccuppannesu manoviññeyyesu dhammesu.
|
Chư Hiền, do nhơn lỗ tai và các
tiếng, nhĩ thức khởi lên, do nhơn lỗ mũi và các hương, tỷ thức
khởi lên, do nhơn lưỡi và các vị, thiệt thức khởi lên, do nhơn
thân và xúc, thân thức khởi lên; do nhơn ý và các pháp, ý thức
khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có
các cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng. Những gì có
tưởng thời có suy tầm. Những gì có suy tầm thời có hý luận. Do
hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người,
đối với các pháp do ý thức nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện
tại. |
|
So vatāvuso cakkhusmiṃ sati rūpe sati cakkhuviññāṇe
sati phassapaññattiṃ paññāpessatīti ṭhānametaṃ vijjati,
phassapaññattiyā sati vedanāpaññattiṃ paññāpessatīti ṭhānametaṃ
vijjati, vedanāpaññattiyā sati saññāpaññattiṃ paññāpessatīti
ṭhānametaṃ vijjati, saññāpaññattiyā sati vitakkapaññattiṃ
paññāpessatīti ṭhānametaṃ vijjati, vitakkapaññattiyā sati
papañcasaññāsaṅkhāsamudācaraṇapaññattiṃ paññāpessatīti
ṭhānametaṃ vijjati. So vatāvuso sotasmiṃ sati sadde sati. Pa .
Ghānasmiṃ sati gandhe sati. Pa . Jivhāya sati rase sati. Pa .
Kāyasmiṃ sati phoṭṭhabbe sati. Pa . Manasmiṃ sati dhamme sati
manoviññāṇe sati phassapaññattiṃ paññāpessatīti ṭhānametaṃ
vijjati. Phassapaññattiyā sati vedanāpaññattiṃ paññāpessatīti
ṭhānametaṃ vijjati. Vedanāpaññattiyā sati saññāpaññattiṃ
paññāpessatīti ṭhānametaṃ vijjati. Saññāpaññattiyā sati
vitakkapaññattiṃ paññāpessatīti ṭhānametaṃ vijjati.
Vitakkapaññattiyā sati papañcasaññāsaṅkhāsamudācaraṇapaññattiṃ
paññāpessatīti ṭhānametaṃ vijjati.
|
Chư Hiền, sự kiện này xảy ra:
khi nào có mắt, khi nào có sắc pháp, khi nào có nhãn thức, thời
sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào
có sự thi thiết của xúc thời sự thi thiết của thọ được hiển lộ.
Sự kiện này xảy ra: khi nào có thi thiết của thọ thời sự thi
thiết của tưởng được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự
thi thiết của tưởng, thời sự thi thiết của suy tầm được hiển lộ.
Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự thi thiết của suy tầm thời sự
thi thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ.
Sự kiện này xảy ra: khi nào có
tai, khi nào có các tiếng, khi nào có nhĩ thức... Sự kiện này
xảy ra: khi nào có lỗ mũi, khi nào có các hương, khi nào có tỷ
thức... Sự kiện này xảy ra, khi nào có lưỡi, khi nào có các vị,
khi nào có thiệt thức... Sự kiện này xảy ra: khi nào có thân,
khi nào có các xúc, khi nào có thân thức... Sự kiện này xảy ra:
khi nào có ý, khi nào có các pháp, khi nào có ý thức thời sự thi
thiết của xúc được hiển lộ.
|
|
So vatāvuso
cakkhusmiṃ asati rūpe asati cakkhuviññāṇe asati phassapaññattiṃ
paññāpessatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Phassapaññattiyā asati
vedanāpaññattiṃ paññāpessatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
Vedanāpaññattiyā asati saññāpaññattiṃ paññāpessatīti netaṃ
ṭhānaṃ vijjati. Saññāpaññattiyā asati vitakkapaññattiṃ
paññāpessatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Vitakkapaññattiyā asati
papañcasaññāsaṅkhāsamudācaraṇapaññattiṃ paññāpessatīti netaṃ
ṭhānaṃ vijjati. |
Chư Hiền, sự kiện này không xảy
ra: khi nào không có mắt, khi nào không có các sắc, khi nào
không có nhãn thức, sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự kiện
này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của xúc, sự thi
thiết của thọ được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào
không có sự thi thiết của thọ, sự thi thiết của tưởng được hiển
lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của
tưởng, sự thi thiết của suy tầm được hiển lộ. Sự kiện này không
xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của suy tầm, thời sự thi
thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ.
|
|
So vatāvuso sotasmiṃ asati sadde asati. Pa .
Ghānasmiṃ asati gandhe asati. Pa . Jivhāya asati rase asati. Pa
. Kāyasmiṃ asati phoṭṭhabbe asati. Pa . Manasmiṃ asati dhamme
asati manoviññāṇe asati phassapaññattiṃ paññāpessatīti netaṃ
ṭhānaṃ vijjati. Phassapaññattiyā asati vedanāpaññattiṃ
paññāpessatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Vedanāpaññattiyā asati
saññāpaññattiṃ paññāpessatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
Saññāpaññattiyā asati vitakkapaññattiṃ paññāpessatīti netaṃ
ṭhānaṃ vijjati. Vitakkapaññattiyā asati
papañcasaññāsaṅkhāsamudācaraṇapaññattiṃ paññāpessatīti netaṃ
ṭhānaṃ vijjati. |
Chư Hiền, sự kiện này không xảy
ra: khi nào không có tai, khi nào không có các tiếng... khi nào
không có mũi, khi nào không có các hương... khi nào không có
lưỡi, khi nào không có các vị... khi nào không có thân, khi nào
không có các xúc ... Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có
ý, khi nào không có các pháp, khi nào không có ý thức, sự thi
thiết của xúc được hiển lộ... |
|
Yaṃ kho no āvuso Bhagavā saṃkhittena uddesaṃ
uddisitvā vitthārena atthaṃ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṃ
paviṭṭho, “Yatonidānaṃ bhikkhu purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā
samudācaranti. Ettha ce natthi abhinanditabbaṃ abhivaditabbaṃ
ajjhositabbaṃ, esevanto rāgānusayānaṃ. Pa . Etthete pāpakā
akusalā dhammā aparisesā nirujjhantī”ti. Imassa kho ahaṃ āvuso
Bhagavatā saṃkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṃ
avibhattassa evaṃ vitthārena atthaṃ ājānāmi. Ākaṅkhamānā ca pana
tumhe āyasmanto Bhagavantaṃyeva upasaṅkamitvā etamatthaṃ
paṭipuccheyyātha. Yathā vo Bhagavā byākaroti, tathā naṃ
dhāreyyāthāti.
|
Chư Hiền, Thế Tôn, sau khi nói
lên lời dạy một cách vắn tắt... đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ-kheo,
do bất cứ nhân duyên gì... không dư tàn". Chư Hiền, đối với lời
dạy Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt này, và nghĩa lý không được
giải thích một cách rộng rãi, tôi đã hiểu ý nghĩa một cách rộng
rãi như vậy. Nếu quý vị muốn, hãy đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi
đến, hãy hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải đáp như thế nào, hãy như
vậy thọ trì.
|
|
205. Atha kho te bhikkhū āyasmato Mahākaccānassa
bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā yena Bhagavā
tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdiṃsu, ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū
Bhagavantaṃ etadavocuṃ |
Rồi những Tỷ-kheo ấy, hoan hỷ,
tùy hỷ lời Tôn giả Mahakaccana nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến
chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn: |
|
–Yaṃ kho no bhante Bhagavā saṃkhittena
uddesaṃ uddisitvā vitthārena atthaṃ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā
vihāraṃ paviṭṭho, “Yatonidānaṃ bhikkhu purisaṃ
papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti. Ettha ce natthi
abhinanditabbaṃ abhivaditabbaṃ ajjhositabbaṃ, esevanto
rāgānusayānaṃ. Pa . Etthete pāpakā akusalā dhammā aparisesā
nirujjhantī”ti. Tesaṃ no bhante amhākaṃ acirapakkantassa
Bhagavato etadahosi “Idaṃ kho no āvuso Bhagavā saṃkhittena
uddesaṃ uddisitvā vitthārena atthaṃ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā
vihāraṃ paviṭṭho, ‘Yatonidānaṃ bhikkhu purisaṃ
papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti. Ettha ce natthi
abhinanditabbaṃ abhivaditabbaṃ ajjhositabbaṃ, esevanto
rāgānusayānaṃ, esevanto paṭighānusayānaṃ, esevanto
diṭṭhānusayānaṃ, esevanto vicikicchānusayānaṃ, esevanto
mānānusayānaṃ, esevanto bhavarāgānusayānaṃ, esevanto
avijjānusayānaṃ, esevanto daṇdādāna satthādāna kalaha viggaha
vivāda tuvaṃtuvaṃ pesuñña musāvādānaṃ. Etthete pāpakā akusalā
dhammā aparisesā nirujjhantī’ti. Ko nu kho imassa Bhagavatā
saṃkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṃ avibhattassa
vitthārena atthaṃ vibhajeyyā”ti. Tesaṃ no bhante amhākaṃ
etadahosi “Ayaṃ kho āyasmā Mahākaccāno Satthu ceva saṃvaṇṇito,
sambhāvito ca viññūnaṃ sabrahmacārīnaṃ, pahoti cāyasmā
Mahākaccāno imassa Bhagavatā saṃkhittena uddesassa uddiṭṭhassa
vitthārena atthaṃ avibhattassa vitthārena atthaṃ vibhajituṃ,
yaṃnūna mayaṃ yenāyasmā Mahākaccāno tenupasaṅkameyyāma,
upasaṅkamitvā āyasmantaṃ Mahākaccānaṃ etamatthaṃ
paṭipuccheyyāmā”ti. Atha kho mayaṃ bhante yenāyasmā Mahākaccāno
tenupasaṅkamimha, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ Mahākaccānaṃ
etamatthaṃ paṭipucchimha, tesaṃ no bhante āyasmatā Mahākaccānena
imehi ākārehi imehi padehi imehi byañjanehi attho vibhattoti.
|
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nói lên
lời dạy này một cách vắn tắt cho chúng con... đã vào tịnh xá.
"Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn". Khi
Thế Tôn đi chẳng bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: "Chư Hiền,
Thế Tôn sau khi nói cho chúng ta lời dạy tóm tắt này, không giải
thích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi
vào tịnh xá: "Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý
luận vọng tưởng ám ảnh một người, nếu ở đây không có gì đáng tùy
hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận
tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy
miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự
đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự
đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận
tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những
ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn".
Nay ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được
Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý
nghĩa?" Bạch Thế Tôn, và chúng con suy nghĩ: "Nay có Tôn giả
Mahakaccana là vị được Thế Tôn tán dương và được các vị đồng
phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải
thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên
một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng
ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến sẽ hỏi Tôn
giả Mahakaccana ý nghĩa này". Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến
chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, chúng con hỏi Tôn giả
Mahakaccana ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Mahakaccana đã
giải thích ý nghĩa ấy cho chúng con với những phương pháp này,
với những văn cú này, với những văn tự này. |
|
Paṇdito bhikkhave Mahākaccāno, mahāpañño bhikkhave Mahākaccāno.
Maṃ cepi tumhe bhikkhave etamatthaṃ paṭipuccheyyātha, ahampi taṃ
evamevaṃ byākareyyaṃ, yathā taṃ Mahākaccānena byākataṃ, eso
cevetassa attho, evañca
(Evameva
ca - Ka)
naṃ dhārethāti. |
-- Chư Tỷ-kheo, Tôn giả
Mahakaccana là bậc Hiền trí. Chư Tỷ-kheo, Tôn giả Mahakaccana là
bậc Ðại tuệ. Chư Tỷ-kheo, nếu các Người hỏi Ta ý nghĩa này, Ta
cũng trả lời như Mahakaccana đã trả lời. Như vậy là chính nghĩa
lời dạy ấy, hãy như vậy thọ trì. |
|
Evaṃ vutte
āyasmā Ānando Bhagavantaṃ etadavoca
“Seyyathāpi bhante puriso
jighacchādubbalyapareto madhupiṇdikaṃ adhigaccheyya, so yato
yato sāyeyya, labhetheva sādurasaṃ asecanakaṃ. Evameva kho
bhante cetaso bhikkhu dabbajātiko yato yato imassa
dhammapariyāyassa paññāya atthaṃ upaparikkheyya, labhetheva
attamanataṃ, labhetheva cetaso pasādaṃ. Konāmo ayaṃ
(Ko
nāmāyaṃ - Syā) bhante
dhammapariyāyo”ti. |
Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ananda
bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, như một người
bị đói lả và mệt mỏi, tìm được một bánh mật, cứ mỗi miếng vị ấy
được nếm, cứ mỗi miếng vị ấy được thưởng thức vị ngọt thuần
nhất. Bạch Thế Tôn, cũng vậy, Tỷ-kheo có tri thức biệt tài, cứ
mỗi phần suy tư đến ý nghĩa pháp môn này với trí tuệ, cứ mỗi
phần vị ấy được thưởng thức sự hoan hỷ, được thưởng thức sự
thoải mái tâm trí. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì?
|
|
Tasmātiha tvaṃ Ānanda imaṃ dhammapariyāyaṃ
“Madhupiṇdikapariyāyo”tveva naṃ dhārehīti.
|
-- Do vậy, này Ananda, pháp môn
này được gọi là pháp môn bánh mật (Mật hoàn). Hãy như vậy thọ
trì!
|
|
Idamavoca
Bhagavā. Attamano āyasmā Ānando Bhagavato bhāsitaṃ abhinandīti.
|
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
Tôn giả Ananda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
|
|
Madhupiṇdikasuttaṃ niṭṭhitaṃ
aṭṭhamaṃ.
|
|
|
<Kinh số 017> |
<Kinh
số 019> |
|