Trang Chính

Majjhimanikāya & Trung Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

MAJJHIMANIKĀYA & TRUNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Monday, June 25, 2012

 

003. DHAMMADĀYĀDASUTTAṂ 

 

003. DHAMMADĀYĀDASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

003. KINH THỪA TỰ PHÁP - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

29. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme. Tatra kho Bhagavā bhikkhū āmantesi “Bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū Bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca–

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo", --"Bạch Thế Tôn", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói:

 

Dhammadāyādā me bhikkhave bhavatha mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā “Kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no āmisadāyādā”ti. Tumhe ca me bhikkhave āmisadāyādā bhaveyyātha, no dhammadāyādā, tumhepi tena ādiyā (Ādissā - Sī, Syā, I) bhaveyyātha “Āmisadāyādā satthusāvakā viharanti, no dhammadāyādā”ti. Ahampi tena ādiyo bhaveyyaṃ “Āmisadāyādā satthusāvakā viharanti, no dhammadāyādā”ti.

 

-- Này các Tỷ-kheo, hăy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có ḷng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?". Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, th́ không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: "Cả thầy và tṛ đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp", mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: "Cả thầy và tṛ đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp".

 

Tumhe ca me bhikkhave dhammadāyādā bhaveyyātha, no āmisadāyādā, tumhepi tena na ādiyā bhaveyyātha “Dhammadāyādā satthusāvakā viharanti, no āmisadāyādā”ti. Ahampi tena na ādiyo bhaveyyaṃ “Dhammadāyādā satthusāvakā viharanti, no āmisadāyādā”ti. Tasmātiha me bhikkhave dhammadāyādā bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā “Kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no āmisadāyādā”ti.

Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật, thời không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: "Cả Thầy và tṛ là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật", mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: "Cả Thầy và tṛ đều là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật". Do vậy, này các Tỷ-kheo, hăy là những người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có ḷng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?".

 

30. Idhāhaṃ bhikkhave bhuttāvī assaṃ pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho, siyā ca me piṇdapāto atirekadhammo chaddanīyadhammo (Chaddiyadhammo - Sī, Syā, I). Atha dve bhikkhū āgaccheyyuṃ jighacchādubbalya (Jighacchādubballa - Sī, I) paretā, tyāhaṃ evaṃ vadeyyaṃ “Ahaṃ khomhi bhikkhave bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho, atthi ca me ayaṃ piṇdapāto atirekadhammo chaddanīyadhammo. Sace ākaṅkhatha bhuñjatha, no ce tumhe bhuñjissatha (Sace tumhe na bhuñjissatha - Sī, Syā, I), idānāhaṃ appaharite vā chaddessāmi, appāṇake vā udake opilāpessāmī”ti. Tatrekassa bhikkhuno evamassa “Bhagavā kho bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho, atthi cāyaṃ Bhagavato piṇdapāto atirekadhammo chaddanīyadhammo. Sace mayaṃ na bhuñjissāma, idāni Bhagavā appaharite vā chaddessati, appāṇake vā udake opilāpessati. Vuttaṃ kho panetaṃ Bhagavatā ‘Dhammadāyādā me bhikkhave bhavatha, mā āmisadāyādā’ti. Āmisaññataraṃ kho panetaṃ, yadidaṃ piṇdapāto. Yaṃnūnāhaṃ imaṃ piṇdapātaṃ abhuñjitvā imināva jighacchādubbalyena evaṃ imaṃ rattindivaṃ (Rattidivaṃ - Ka) vītināmeyyan”ti. So taṃ piṇdapātaṃ abhuñjitvā teneva jighacchādubbalyena evaṃ taṃ rattindivaṃ vītināmeyya. Atha dutiyassa bhikkhuno evamassa “Bhagavā kho bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho, atthi cāyaṃ Bhagavato piṇdapāto atirekadhammo chaddanīyadhammo. Sace mayaṃ na bhuñjissāma, idāni Bhagavā appaharite vā chaddessati, appāṇake vā udake opilāpessati. Yaṃnūnāhaṃ imaṃ piṇdapātaṃ bhuñjitvā jighacchādubbalyaṃ paṭivinodetvā (Paṭivinetvā - Sī, Syā, I) evaṃ imaṃ rattindivaṃ vītināmeyyan”ti. So taṃ piṇdapātaṃ bhuñjitvā jighacchādubbalyaṃ paṭivinodetvā evaṃ taṃ rattindivaṃ vītināmeyya. Kiñcāpi so bhikkhave bhikkhu taṃ piṇdapātaṃ bhuñjitvā jighacchādubbalyaṃ paṭivinodetvā evaṃ taṃ rattindivaṃ vītināmeyya, atha kho asuyeva me purimo bhikkhu pujjataro ca pāsaṃsataro ca. Taṃ kissa hetu, tañhi tassa bhikkhave bhikkhuno dīgharattaṃ appicchatāya santuṭṭhiyā sallekhāya subharatāya vīriyārambhāya saṃvattissati. Tasmātiha me bhikkhave dhammadāyādā bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā “Kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no āmisadāyādā”ti.

 

Này các Tỷ-kheo, ở đây, một thời Ta ăn đă xong, thỏa măn, đầy đủ, đă chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ư, và c̣n lại đồ ăn tàn thực của Ta đáng được quăng bỏ. Khi ấy có hai Tỷ-kheo đến, đói lả và kiệt sức. Ta có thể nói với hai vị ấy: "Này các Tỷ-kheo, Ta ăn đă xong, thỏa măn, đầy đủ, đă chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ư, và c̣n lại đồ ăn tàn thực này của Ta đáng được quăng bỏ. Nếu các Ngươi muốn, hăy ăn đi. Nếu các Ngươi không muốn ăn, Ta sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay Ta sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy". Rồi một Tỷ-kheo có thể nghĩ như sau: "Nay Thế Tôn ăn đă xong, thỏa măn, đầy đủ, đă chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ư; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Nhưng Thế Tôn có dạy như sau: "Này các Tỷ-kheo, hăy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật". Đây là loại tài vật; món đồ ăn này, ta hăy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày hôm nay, bị đói lả và kiệt sức". Rồi vị ấy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày ấy, đói lả và kiệt sức. Tỷ-kheo thứ hai nghĩ như sau: "Thế Tôn ăn đă xong, thỏa măn, đầy đủ, đă chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ư; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Vậy ta hăy ăn loại đồ ăn này, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm nay như vậy". Rồi vị ấy ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy. Này các Tỷ-kheo, dầu cho Tỷ-kheo này, sau khi ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy, nhưng đối với Ta, Tỷ-kheo đầu tiên đáng được kính nể hơn, và đáng được tán thán hơn. V́ sao vậy? V́ như vậy sẽ đưa đến cho Tỷ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hăy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật.

Idamavoca Bhagavā. Idaṃ vatvāna (Vatvā - Sī, I, evamīdisesu ṭhānesu) Sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṃ pāvisi.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá.

 

31. Tatra kho āyasmā Sāriputto acirapakkantassa Bhagavato bhikkhū āmantesi “Āvuso bhikkhave”ti. “Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato Sāriputtassa paccassosuṃ. Āyasmā Sāriputto etadavoca–

Lúc ấy, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, liền gọi các Tỷ-kheo: "Này các Hiền giả Tỷ-kheo!" --"Thưa vâng Hiền giả", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói:

 

“Kittāvatā nu kho āvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti, kittāvatā ca pana Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhantī”ti. Dūratopi kho mayaṃ āvuso āgacchāma āyasmato Sāriputtassa santike etassa bhāsitassa atthamaññātuṃ. Sādhu vatāyasmantaṃyeva Sāriputtaṃ paṭibhātu etassa bhāsitassa attho, āyasmato Sāriputtassa sutvā bhikkhū dhāressantīti. Tena hāvuso suṇātha sādhukaṃ manasi karotha bhāsissāmīti. “Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato Sāriputtassa paccassosuṃ. Āyasmā Sāriputto etadavoca–

"Này các Hiền giả, như thế nào vị Đạo sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly? Và như thế nào vị Đạo sư sống viễn ly và các đệ tử tùy học viễn ly?" --"Này Hiền giả, chúng tôi từ xa lại để được hiểu nghĩa lư câu nói này từ Tôn giả Sariputta. Lành thay, nếu Tôn giả Sariputta thuyết giảng nghĩa lư câu nói ấy. Sau khi được nghe Tôn giả Sariputta thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ tŕ" --"Chư Hiền, vậy hăy nghe và khéo tác ư, ta sẽ giảng" --"Thưa vâng, Hiền giả", những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:

 

Kittāvatā nu kho āvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti. Idhāvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti, yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha, te ca dhamme nappajahanti, bāhulikā (Bāhullikā - Syā) ca honti sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā.

 

-- Này chư Hiền, ở đây vị Đạo Sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly. Những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ, và họ sống trong sự đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly.

 

Tatrāvuso therā bhikkhū tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. “Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhantī”ti iminā paṭhamena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. “Yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha, te ca dhamme nappajahantī”ti iminā dutiyena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. “Bāhulikā ca sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā”ti iminā tatiyena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. Therā āvuso bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti.

Này chư Hiền, các Thượng Tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này đáng bị quở trách.

 

Tatrāvuso majjhimā bhikkhū. Pa .

Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách, ... (như trên)...

 

Navā bhikkhū tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. “Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhantī”ti iminā paṭhamena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti. “Yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha, te ca dhamme nappajahantī”ti iminā dutiyena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti. “Bāhulikā ca honti sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā”ti iminā tatiyena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti. Navā āvuso bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti.

 

Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng bị quở trách.

 

 

Ettāvatā kho āvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti.

 

Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly.

32. Kittāvatā ca panāvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti. Idhāvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti, yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha, te ca dhamme pajahanti, na ca bāhulikā honti na sāthalikā, okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā.

Và như thế nào, vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly? Này chư Hiền, vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Những pháp nào, vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ; và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly.

Tatrāvuso therā bhikkhū tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. “Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhantī”ti iminā paṭhamena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. “Yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha, te ca dhamme pajahantī”ti iminā dutiyena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. “Na ca bāhulikā na sāthalikā, okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā”ti iminā tatiyena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. Therā āvuso bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti.

Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.

 

Tatrāvuso majjhimā bhikkhū. Pa .

Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. ... (như trên)...

 

Navā bhikkhū tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. “Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhantī”ti iminā paṭhamena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. “Yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha, te ca dhamme pajahantī”ti iminā dutiyena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. “Na ca bāhulikā na sāthalikā, okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā”ti iminā tatiyena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. Navā āvuso bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti.

Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.

 

Ettāvatā kho āvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti.

Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly.

 

33. Tatrāvuso lobho ca pāpako, doso ca pāpako, lobhassa ca pahānāya dosassa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattati. Katamā ca sā āvuso majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattati. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ (Seyyathīdaṃ - Sī, Syā, I), sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammā-ājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṃ kho sā āvuso majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattati.

Ở đây, này chư Hiền, tham là ác pháp, và sân cũng là ác pháp, có một con đường Trung đạo diệt trừ tham và diệt trừ sân, khiến (tịnh) nhăn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền con đường Trung đạo ấy là ǵ - (con đường) khiến (tịnh) nhăn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Đó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo, khiến (tịnh) nhăn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

 

Tatrāvuso kodho ca pāpako, upanāho ca pāpako. Pa . Makkho ca pāpako, paḷāso ca pāpako. Issā ca pāpikā, maccherañca pāpakaṃ. Māyā ca pāpikā, sāṭheyyañca pāpakaṃ. Thambho ca pāpako, sārambho ca pāpako. Māno ca pāpako, atimāno ca pāpako. Mado ca pāpako, pamādo ca pāpako, madassa ca pahānāya pamādassa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattati. Katamā ca sā āvuso majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattati. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ, sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammā-ājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṃ kho sā āvuso majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattatīti.

Ở đây, này chư Hiền, phẫn nộ là ác pháp và hiềm hận cũng là ác pháp, giả dối là ác pháp và năo hại cũng là ác pháp, tật đố là ác pháp và xan lẫn cũng là ác pháp, man trá là ác pháp và phản bội cũng là ác pháp, ngoan cố là ác pháp và bồng bột nông nổi cũng là ác pháp, mạn là ác pháp và tăng thượng mạn cũng là ác pháp, kiêu là ác pháp và phóng dật cũng là ác pháp. Có một con đường Trung đạo diệt trừ kiêu và diệt trừ phóng dật, khiến (tịnh) nhăn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền, con đường Trung đạo ấy là ǵ - (con đường) khiến (tịnh) nhăn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Đó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo khiến (tịnh) nhăn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

 

Idamavocāyasmā Sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato Sāriputtassa bhāsitaṃ abhinandunti.

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời giảng của Tôn giả Sariputta.

 

Dhammadāyādasuttaṃ niṭṭhitaṃ tatiyaṃ.

 

 

   

<Kinh số 002>

<Kinh số 004>

 
| Mục lục Trung Bộ I | Mục lục Trung Bộ II | Mục lục Trung Bộ III |
 

<Đầu Trang>