|
003.
DHAMMADĀYĀDASUTTAṂ
|
|
003. DHAMMADĀYĀDASUTTAṂ
-
Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ |
003. KINH THỪA TỰ PHÁP - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
29. Evaṃ me
sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane
Anāthapiṇdikassa ārāme. Tatra kho Bhagavā bhikkhū āmantesi
“Bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū Bhagavato paccassosuṃ.
Bhagavā etadavoca– |
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế
Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông
Anathapindika (Cấp Cô Độc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các
Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo", --"Bạch Thế Tôn", các Tỷ-kheo ấy
vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói:
|
|
Dhammadāyādā me bhikkhave bhavatha mā āmisadāyādā. Atthi me
tumhesu anukampā “Kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no
āmisadāyādā”ti. Tumhe ca me bhikkhave āmisadāyādā bhaveyyātha,
no dhammadāyādā, tumhepi tena ādiyā (Ādissā
- Sī, Syā, I)
bhaveyyātha “Āmisadāyādā satthusāvakā viharanti, no
dhammadāyādā”ti. Ahampi tena ādiyo bhaveyyaṃ “Āmisadāyādā
satthusāvakā viharanti, no dhammadāyādā”ti.
|
-- Này các Tỷ-kheo, hăy là người
thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có
ḷng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của
Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người
thừa tự tài vật?". Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những
người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự
Pháp, th́ không những các Ngươi trở thành những người mà người
ta nói: "Cả thầy và tṛ đều là những người thừa tự tài vật,
không phải là những người thừa tự Pháp", mà cả Ta cũng trở thành
người mà người ta nói: "Cả thầy và tṛ đều là những người thừa
tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp".
|
|
Tumhe ca me
bhikkhave dhammadāyādā bhaveyyātha, no āmisadāyādā, tumhepi tena
na ādiyā bhaveyyātha “Dhammadāyādā satthusāvakā viharanti, no
āmisadāyādā”ti. Ahampi tena na ādiyo bhaveyyaṃ “Dhammadāyādā
satthusāvakā viharanti, no āmisadāyādā”ti. Tasmātiha me
bhikkhave dhammadāyādā bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me
tumhesu anukampā “Kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no
āmisadāyādā”ti. |
Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi
là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người
thừa tự tài vật, thời không những các Ngươi trở thành những
người mà người ta nói: "Cả Thầy và tṛ là những người thừa tự
Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật", mà cả Ta cũng
trở thành người mà người ta nói: "Cả Thầy và tṛ đều là những
người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật".
Do vậy, này các Tỷ-kheo, hăy là những người thừa tự Pháp của Ta,
đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có ḷng thương tưởng các
Ngươi và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của Ta là những người
thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?".
|
|
30. Idhāhaṃ
bhikkhave bhuttāvī assaṃ pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito
yāvadattho, siyā ca me piṇdapāto atirekadhammo chaddanīyadhammo
(Chaddiyadhammo - Sī, Syā, I). Atha
dve bhikkhū āgaccheyyuṃ jighacchādubbalya (Jighacchādubballa
- Sī, I) paretā, tyāhaṃ evaṃ vadeyyaṃ “Ahaṃ khomhi
bhikkhave bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito
yāvadattho, atthi ca me ayaṃ piṇdapāto atirekadhammo
chaddanīyadhammo. Sace ākaṅkhatha bhuñjatha, no ce tumhe
bhuñjissatha (Sace tumhe na bhuñjissatha -
Sī, Syā, I), idānāhaṃ appaharite vā chaddessāmi, appāṇake
vā udake opilāpessāmī”ti. Tatrekassa bhikkhuno evamassa “Bhagavā
kho bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho,
atthi cāyaṃ Bhagavato piṇdapāto atirekadhammo chaddanīyadhammo.
Sace mayaṃ na bhuñjissāma, idāni Bhagavā appaharite vā
chaddessati, appāṇake vā udake opilāpessati. Vuttaṃ kho panetaṃ
Bhagavatā ‘Dhammadāyādā me bhikkhave bhavatha, mā āmisadāyādā’ti.
Āmisaññataraṃ kho panetaṃ, yadidaṃ piṇdapāto. Yaṃnūnāhaṃ imaṃ
piṇdapātaṃ abhuñjitvā imināva jighacchādubbalyena evaṃ imaṃ
rattindivaṃ (Rattidivaṃ
- Ka)
vītināmeyyan”ti. So taṃ piṇdapātaṃ abhuñjitvā teneva
jighacchādubbalyena evaṃ taṃ rattindivaṃ vītināmeyya. Atha
dutiyassa bhikkhuno evamassa “Bhagavā kho bhuttāvī pavārito
paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho, atthi cāyaṃ Bhagavato
piṇdapāto atirekadhammo chaddanīyadhammo. Sace mayaṃ na
bhuñjissāma, idāni Bhagavā appaharite vā chaddessati, appāṇake
vā udake opilāpessati. Yaṃnūnāhaṃ imaṃ piṇdapātaṃ bhuñjitvā
jighacchādubbalyaṃ paṭivinodetvā (Paṭivinetvā
- Sī, Syā, I)
evaṃ imaṃ rattindivaṃ vītināmeyyan”ti. So taṃ piṇdapātaṃ
bhuñjitvā jighacchādubbalyaṃ paṭivinodetvā evaṃ taṃ rattindivaṃ
vītināmeyya. Kiñcāpi so bhikkhave bhikkhu taṃ piṇdapātaṃ
bhuñjitvā jighacchādubbalyaṃ paṭivinodetvā evaṃ taṃ rattindivaṃ
vītināmeyya, atha kho asuyeva me purimo bhikkhu pujjataro ca
pāsaṃsataro ca. Taṃ kissa hetu, tañhi tassa bhikkhave bhikkhuno
dīgharattaṃ appicchatāya santuṭṭhiyā sallekhāya subharatāya
vīriyārambhāya saṃvattissati. Tasmātiha me bhikkhave
dhammadāyādā bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā
“Kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no āmisadāyādā”ti.
|
Này các Tỷ-kheo, ở đây, một thời
Ta ăn đă xong, thỏa măn, đầy đủ, đă chấm dứt buổi ăn, tự cảm
thỏa thích, vừa ư, và c̣n lại đồ ăn tàn thực của Ta đáng được
quăng bỏ. Khi ấy có hai Tỷ-kheo đến, đói lả và kiệt sức. Ta có
thể nói với hai vị ấy: "Này các Tỷ-kheo, Ta ăn đă xong, thỏa măn,
đầy đủ, đă chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ư, và c̣n
lại đồ ăn tàn thực này của Ta đáng được quăng bỏ. Nếu các Ngươi
muốn, hăy ăn đi. Nếu các Ngươi không muốn ăn, Ta sẽ quăng đồ ăn
ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay Ta sẽ bỏ xuống chỗ nước không
có chúng sanh trong ấy". Rồi một Tỷ-kheo có thể nghĩ như sau:
"Nay Thế Tôn ăn đă xong, thỏa măn, đầy đủ, đă chấm dứt buổi ăn,
tự cảm thỏa thích, vừa ư; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn,
đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ
ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không
có chúng sanh trong ấy. Nhưng Thế Tôn có dạy như sau: "Này các
Tỷ-kheo, hăy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự
tài vật". Đây là loại tài vật; món đồ ăn này, ta hăy không ăn
loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày hôm nay, bị đói lả và kiệt
sức". Rồi vị ấy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày ấy,
đói lả và kiệt sức. Tỷ-kheo thứ hai nghĩ như sau: "Thế Tôn ăn đă
xong, thỏa măn, đầy đủ, đă chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích,
vừa ư; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ.
Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không
có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong
ấy. Vậy ta hăy ăn loại đồ ăn này, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và
trải qua đêm ngày hôm nay như vậy". Rồi vị ấy ăn loại đồ ăn ấy,
trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy.
Này các Tỷ-kheo, dầu cho Tỷ-kheo này, sau khi ăn loại đồ ăn ấy,
trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy,
nhưng đối với Ta, Tỷ-kheo đầu tiên đáng được kính nể hơn, và
đáng được tán thán hơn. V́ sao vậy? V́ như vậy sẽ đưa đến cho
Tỷ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, ít dục, biết đủ, khổ
hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. Do vậy, này các Tỷ-kheo,
hăy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật.
|
|
Idamavoca
Bhagavā. Idaṃ vatvāna (Vatvā
- Sī, I, evamīdisesu ṭhānesu)
Sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṃ pāvisi. |
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói
xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá.
|
|
31. Tatra kho
āyasmā Sāriputto acirapakkantassa Bhagavato bhikkhū āmantesi
“Āvuso bhikkhave”ti. “Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato
Sāriputtassa paccassosuṃ. Āyasmā Sāriputto etadavoca– |
Lúc ấy, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất),
sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, liền gọi các Tỷ-kheo: "Này các
Hiền giả Tỷ-kheo!" --"Thưa vâng Hiền giả", các Tỷ-kheo ấy vâng
đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói:
|
|
“Kittāvatā nu
kho āvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ
nānusikkhanti, kittāvatā ca pana Satthu pavivittassa viharato
sāvakā vivekamanusikkhantī”ti. Dūratopi kho mayaṃ āvuso
āgacchāma āyasmato Sāriputtassa santike etassa bhāsitassa
atthamaññātuṃ. Sādhu vatāyasmantaṃyeva Sāriputtaṃ paṭibhātu
etassa bhāsitassa attho, āyasmato Sāriputtassa sutvā bhikkhū
dhāressantīti. Tena hāvuso suṇātha sādhukaṃ manasi karotha
bhāsissāmīti. “Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato Sāriputtassa
paccassosuṃ. Āyasmā Sāriputto etadavoca– |
"Này các Hiền giả, như thế nào vị
Đạo sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly? Và như
thế nào vị Đạo sư sống viễn ly và các đệ tử tùy học viễn ly?"
--"Này Hiền giả, chúng tôi từ xa lại để được hiểu nghĩa lư câu
nói này từ Tôn giả Sariputta. Lành thay, nếu Tôn giả Sariputta
thuyết giảng nghĩa lư câu nói ấy. Sau khi được nghe Tôn giả
Sariputta thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ tŕ" --"Chư Hiền, vậy
hăy nghe và khéo tác ư, ta sẽ giảng" --"Thưa vâng, Hiền giả",
những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta
nói như sau:
|
|
Kittāvatā nu
kho āvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ
nānusikkhanti. Idhāvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā
vivekaṃ nānusikkhanti, yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha, te
ca dhamme nappajahanti, bāhulikā (Bāhullikā
- Syā) ca honti sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā
paviveke nikkhittadhurā.
|
-- Này chư Hiền, ở đây vị Đạo Sư
sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly. Những pháp nào
vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ, và họ
sống trong sự đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi
gánh nặng sống viễn ly.
|
|
Tatrāvuso therā bhikkhū tīhi ṭhānehi
gārayhā bhavanti. “Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ
nānusikkhantī”ti iminā paṭhamena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā
bhavanti. “Yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha, te ca dhamme
nappajahantī”ti iminā
dutiyena
ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. “Bāhulikā ca sāthalikā,
okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā”ti iminā tatiyena
ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. Therā āvuso bhikkhū
imehi tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. |
Này chư Hiền, các Thượng Tọa
Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Đạo Sư sống viễn
ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất,
các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị
Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Đó là trường
hợp thứ hai, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ
sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng
sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo
đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba
trường hợp này đáng bị quở trách.
|
|
Tatrāvuso
majjhimā bhikkhū. Pa . |
Này chư Hiền, các Trung tọa
Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách, ... (như trên)...
|
|
Navā bhikkhū
tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. “Satthu pavivittassa viharato
sāvakā vivekaṃ nānusikkhantī”ti iminā paṭhamena ṭhānena navā
bhikkhū gārayhā bhavanti. “Yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha,
te ca dhamme nappajahantī”ti iminā dutiyena ṭhānena navā bhikkhū
gārayhā bhavanti. “Bāhulikā ca honti sāthalikā, okkamane
pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā”ti iminā tatiyena ṭhānena
navā bhikkhū gārayhā bhavanti. Navā āvuso
bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti.
|
Này chư Hiền, các vị mới thọ
Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Đạo Sư sống viễn
ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất,
các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị
Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Đó là trường
hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ
sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng
sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo
đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba
trường hợp này, đáng bị quở trách.
|
|
Ettāvatā kho
āvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti.
|
Này chư Hiền, như vậy là những
trường hợp vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn
ly. |
|
32. Kittāvatā
ca panāvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā
vivekamanusikkhanti. Idhāvuso Satthu pavivittassa viharato
sāvakā vivekamanusikkhanti, yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha,
te ca dhamme pajahanti, na ca bāhulikā honti na sāthalikā,
okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā. |
Và như thế nào, vị Đạo Sư sống
viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly? Này chư Hiền, vị Đạo Sư sống
viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Những pháp nào, vị Đạo Sư
dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ; và họ không sống trong sự
đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn
đầu về sống viễn ly. |
|
Tatrāvuso
therā bhikkhū tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. “Satthu
pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhantī”ti iminā
paṭhamena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. “Yesañca
dhammānaṃ Satthā pahānamāha, te ca dhamme pajahantī”ti iminā
dutiyena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. “Na ca bāhulikā
na sāthalikā, okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā”ti
iminā tatiyena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. Therā
āvuso bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti.
|
Này chư Hiền, các Thượng tọa
Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn
ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các
Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo
Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ
hai, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống
trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa
lạc và dẫn đầu về sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các
Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Thượng
tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.
|
|
Tatrāvuso
majjhimā bhikkhū. Pa . |
Này chư Hiền, các Trung tọa
Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. ... (như trên)...
|
|
Navā bhikkhū
tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. “Satthu pavivittassa viharato
sāvakā vivekamanusikkhantī”ti iminā paṭhamena ṭhānena navā
bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. “Yesañca dhammānaṃ Satthā pahānamāha,
te ca dhamme pajahantī”ti iminā dutiyena ṭhānena navā bhikkhū
pāsaṃsā bhavanti. “Na ca bāhulikā na sāthalikā, okkamane
nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā”ti iminā tatiyena ṭhānena
navā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. Navā āvuso bhikkhū
imehi tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. |
Này chư Hiền, các vị mới thọ
Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn
ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các vị
mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư
dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai,
các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống
trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa
lạc và dẫn đầu về viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các vị mới
thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các vị mới thọ
Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.
|
|
Ettāvatā kho
āvuso Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti.
|
Này chư Hiền, như vậy là những
trường hợp vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly.
|
|
33. Tatrāvuso
lobho ca pāpako, doso ca pāpako, lobhassa ca pahānāya dosassa ca
pahānāya atthi majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī
upasamāya abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattati. Katamā ca
sā āvuso majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya
abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattati. Ayameva ariyo
aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ (Seyyathīdaṃ
- Sī, Syā, I),
sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammā-ājīvo
sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṃ kho sā āvuso majjhimā
paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya
Nibbānāya saṃvattati. |
Ở đây, này chư Hiền, tham là ác
pháp, và sân cũng là ác pháp, có một con đường Trung đạo diệt
trừ tham và diệt trừ sân, khiến (tịnh) nhăn sanh, khiến (chân)
trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và
này chư Hiền con đường Trung đạo ấy là ǵ - (con đường) khiến (tịnh)
nhăn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí,
giác ngộ, Niết-bàn? Đó là con đường Thánh tám ngành, tức là:
Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh
mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó
là con đường Trung đạo, khiến (tịnh) nhăn sanh, khiến (chân) trí
sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
|
|
Tatrāvuso
kodho ca pāpako, upanāho ca pāpako. Pa . Makkho ca pāpako,
paḷāso ca pāpako. Issā ca pāpikā, maccherañca pāpakaṃ. Māyā ca
pāpikā, sāṭheyyañca pāpakaṃ. Thambho ca pāpako, sārambho ca
pāpako. Māno ca pāpako, atimāno ca pāpako. Mado ca pāpako,
pamādo ca pāpako, madassa ca pahānāya pamādassa ca pahānāya
atthi majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya
abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattati. Katamā ca sā āvuso
majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya
sambodhāya Nibbānāya saṃvattati. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo,
seyyathidaṃ, sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto
sammā-ājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṃ kho sā
āvuso majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya
abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattatīti. |
Ở đây, này chư Hiền, phẫn nộ là
ác pháp và hiềm hận cũng là ác pháp, giả dối là ác pháp và năo
hại cũng là ác pháp, tật đố là ác pháp và xan lẫn cũng là ác
pháp, man trá là ác pháp và phản bội cũng là ác pháp, ngoan cố
là ác pháp và bồng bột nông nổi cũng là ác pháp, mạn là ác pháp
và tăng thượng mạn cũng là ác pháp, kiêu là ác pháp và phóng dật
cũng là ác pháp. Có một con đường Trung đạo diệt trừ kiêu và
diệt trừ phóng dật, khiến (tịnh) nhăn sanh, khiến (chân) trí
sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này
chư Hiền, con đường Trung đạo ấy là ǵ - (con đường) khiến (tịnh)
nhăn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí,
giác ngộ, Niết-bàn? Đó là con đường Thánh tám ngành, tức là:
Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh
mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó
là con đường Trung đạo khiến (tịnh) nhăn sanh, khiến (chân) trí
sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
|
|
Idamavocāyasmā Sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato
Sāriputtassa bhāsitaṃ abhinandunti. |
Tôn giả Sariputta thuyết giảng
như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời giảng của Tôn giả
Sariputta.
|
|
Dhammadāyādasuttaṃ niṭṭhitaṃ
tatiyaṃ.
|
|
|
|
|
|
<Kinh số 002> |
<Kinh số 004> |
|