|
004. BHAYABHERAVASUTTAṂ
|
|
004. BHAYABHERAVASUTTAṂ
-
Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ |
004. KINH SỢ HĂI VÀ KHIẾP ĐẢM - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
34. Evaṃ me
sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane
Anāthapiṇdikassa ārāme. Atha kho Jāṇussoṇi brāhmaṇo yena Bhagavā
tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavatā saddhiṃ sammodi,
sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ (Sārāṇīyaṃ -
Sī, Syā, I)
vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho Jāṇussoṇi
brāhmaṇo Bhagavantaṃ etadavoca |
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế
Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông
Anathapindika (Cấp Cô Độc). Rồi Bà-la-môn Janussoni đến chỗ Thế
Tôn ở, khi đến xong, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế
Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi
ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Janussoni bạch
Thế Tôn:
|
|
“Yeme bho
Gotama kulaputtā bhavantaṃ Gotamaṃ uddissa saddhā agārasmā
anagāriyaṃ pabbajitā, bhavaṃ tesaṃ Gotamo pubbaṅgamo, bhavaṃ
tesaṃ Gotamo bahukāro, bhavaṃ tesaṃ Gotamo samādapetā
(Samādāpetā
- ?),
bhoto ca pana Gotamassa sā janatā diṭṭhānugatiṃ āpajjatī”ti.
|
-- Tôn giả Gotama, có những Thiện
nam tử, v́ ḷng tin Tôn giả Gotama, đă xuất gia, từ bỏ gia đ́nh,
sống không gia đ́nh. Đối với những vị này, Tôn giả Gotama là vị
lănh đạo. Đối với những vị này, Tôn giả Gotama giúp ích rất
nhiều. Đối với những vị này, Tôn giả Gotama là vị khích lệ sách
tấn. Các vị này chấp nhận tuân theo quan điểm của Tôn giả Gotama.
|
|
Evametaṃ
brāhmaṇa, evametaṃ brāhmaṇa, ye te brāhmaṇa kulaputtā mamaṃ
uddissa saddhā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, ahaṃ tesaṃ
pubbaṅgamo, ahaṃ tesaṃ bahukāro, ahaṃ tesaṃ samādapetā, mama ca
pana sā janatā diṭṭhānugatiṃ āpajjatīti. |
-- Này Bà-la-môn, thật sự là vậy.
Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, có những Thiện nam
tử, v́ ḷng tin nơi Ta, đă xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không
gia đ́nh. Ta là vị lănh đạo của họ. Ta đă giúp ích rất nhiều cho
họ. Ta là vị khích lệ sách tấn cho họ. Và các vị này chấp nhận
tuân theo quan điểm của Ta.
|
|
Durabhisambhavāni hi kho bho Gotama araññavanapatthāni pantāni
senāsanāni, dukkaraṃ pavivekaṃ, durabhiramaṃ ekatte, haranti
maññe mano vanāni samādhiṃ alabhamānassa bhikkhunoti.
|
-- Tôn giả Gotama, thật khó kham
nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn
đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Con nghĩ
rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền
định.
|
|
Evametaṃ
brāhmaṇa, evametaṃ brāhmaṇa, durabhisambhavāni hi kho brāhmaṇa
araññavanapatthāni pantāni senāsanāni, dukkaraṃ pavivekaṃ,
durabhiramaṃ ekatte, haranti maññe mano vanāni samādhiṃ
alabhamānassa bhikkhuno. |
-- Này Bà-la-môn, thật sự là vậy.
Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật khó kham nhẫn
những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn, đời
sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Ta nghĩ rằng
rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định.
|
|
35. Mayhaṃpi
kho brāhmaṇa pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa Bodhisattasseva
sato etadahosi “Durabhisambhavāni hi kho araññavanapatthāni
pantāni senāsanāni, dukkaraṃ pavivekaṃ, durabhiramaṃ ekatte,
haranti maññe mano vanāni samādhiṃ alabhamānassa bhikkhuno”ti.
|
Này Bà-la-môn, xưa kia khi Ta
chưa chứng ngộ chánh đẳng giác, khi c̣n là Bồ-tát, Ta nghĩ như
sau: "Thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng, trong rừng núi
hoang vu! Thật khó khăn, đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức
đời sống độc cư! Ta nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị
Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định!"
|
|
Tassa mayhaṃ
brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
aparisuddhakāyakammantā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, aparisuddhakāyakammantasandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
aparisuddhakāyakammanto araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, parisuddhakāyakammantohamasmi. Ye hi vo ariyā
parisuddhakāya kammantā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, tesamahaṃ aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa
parisuddhakāyakammataṃ attani sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ
araññe vihārāya. (1) |
Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: "Những
Sa-môn hay Bà-la-môn nào, thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại
các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân
nhiễm trước, thân nghiệp không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn
hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hăi, khiếp đảm, bất thiện
khởi lên. Ta không có thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các
trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Thân nghiệp Ta thanh
tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với thân nghiệp thanh
tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này
Bà-la-môn, Ta tự quán sát thân nghiệp hoàn toàn thanh tịnh này,
tự cảm thấy ḷng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng
núi.
|
|
36. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
aparisuddhavacīkammantā. Pa . Aparisuddhamanokammantā. Pa .
Aparisuddhājīvā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, aparisuddhājīvasandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
aparisuddhājīvo araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevāmi,
parisuddhājīvohamasmi. Ye hi vo ariyā parisuddhājīvā
araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, tesamahaṃ
aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa parisuddhājīvataṃ attani
sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ araññe vihārāya. (2 - 3 - 4) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn, hay Bà-la-môn nào, có
khẩu nghiệp không thanh tịnh... (như trên)... có ư nghiệp không
thanh tịnh... (như trên)... có mạng sống không thanh tịnh sống
tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân
nhiễm trước mạng sống không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay
Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hăi, khiếp đảm, bất thiện khởi
lên. Ta không có mạng sống không thanh tịnh, sống tại các trú xứ
xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Mạng sống Ta thanh tịnh. Ta là
một trong những bậc Thánh, với mạng sống thanh tịnh, sống tại
các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta
tự quán sát mạng sống hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy ḷng
tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
|
|
37. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
abhijjhālū kāmesu tibbasārāgā araññavanapatthāni pantāni
senāsanāni paṭisevanti, abhijjhālu -
kāmesutibbasārāgasandosahetu have te bhonto samaṇabrāhmaṇā
akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ abhijjhālu
kāmesu tibbasārāgo araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, anabhijjhālūhamasmi. Ye hi vo ariyā anabhijjhālū
araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, tesamahaṃ
aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa anabhijjhālutaṃ attani
sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ araññe vihārāya. (5) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tham
dục, có ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa vắng, trong
rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước tham dục, có ái
dục cường liệt, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn
làm cho sợ hăi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có tham
dục, ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa vắng trong rừng
núi hoang vu. Ta không có tham dục, Ta là một trong những bậc
Thánh, không có tham dục, sống tại các trú xứ xa vắng, trong
rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có
tham dục như vậy, tự cảm thấy ḷng tự tin được xác chứng hơn,
khi sống trong rừng núi.
|
|
38. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
byāpannacittā paduṭṭhamanasaṅkappā araññavanapatthāni pantāni
senāsanāni paṭisevanti,
byāpannacittapaduṭṭhamanasaṅkappasandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
byāpannacitto paduṭṭhamanasaṅkappo araññavanapatthāni pantāni
senāsanāni paṭisevāmi, mettacittohamasmi. Ye hi vo ariyā
mettacittā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti,
tesamahaṃ aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa mettacittataṃ attani
sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ araññe vihārāya. (6) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có tâm
sân hận ác ư, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang
vu, do nguyên nhân nhiễm trước, có tâm sân hận ác ư, những Tôn
giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hăi, khiếp đảm,
bất thiện khởi lên. Ta không có tâm sân hận, ác ư, sống tại các
trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu. Ta có từ tâm. Ta là một
trong những bậc Thánh có từ tâm, sống tại các trú xứ xa vắng,
trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta có từ
tâm như vậy, Ta cảm thấy ḷng tự tin được xác chứng hơn, khi
sống trong rừng núi.
|
|
39. Tassa mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā
brāhmaṇā vā thīnamiddhapariyuṭṭhitā araññavanapatthāni pantāni
senāsanāni paṭisevanti, thīnamiddhapariyuṭṭhānasandosahetu have
te bhonto samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na
kho panāhaṃ thīnamiddhapariyuṭṭhito araññavanapatthāni pantāni
senāsanāni paṭisevāmi, vigatathīnamiddhohamasmi. Ye hi vo ariyā
vigatathīnamiddhā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, tesamahaṃ aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa
vigatathīnamiddhataṃ attani sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ
araññe vihārāya. (7) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị hôn
trầm thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị hôn trầm thụy miên
chi phối, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm
cho sợ hăi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không bị hôn trầm
thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi
hoang vu. Ta không có hôn trầm thụy miên. Ta là một trong những
bậc Thánh không có hôn trầm thụy miên, sống tại các trú xứ xa
vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta
không có hôn trầm thụy miên như vậy, tự cảm thấy ḷng tự tin
được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
|
|
40. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
uddhatā avūpasantacittā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, uddhata-avūpasantacittasandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
uddhato avūpasantacitto araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, vūpasantacittohamasmi. Ye hi vo ariyā vūpasantacittā
araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, tesamahaṃ
aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa vūpasantacittataṃ attani
sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ araññe vihārāya. (8) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào dao
động, tâm không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị dao động, tâm không
an tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho
sợ hăi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có dao động, tâm
không phải không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong
rừng núi hoang vu. Ta không có dao động, tâm được an tịnh. Ta là
một trong những bậc Thánh không có dao động, tâm được an tịnh,
sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này
Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta được an tịnh như vậy, tự cảm
thấy ḷng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
|
|
41. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
kaṅkhī vicikicchī araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, kaṅkhivicikicchisandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
kaṅkhī vicikicchī araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, tiṇṇavicikicchohamasmi. Ye hi vo ariyā
tiṇṇavicikicchā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, tesamahaṃ aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa
tiṇṇavicikicchataṃ attani sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ
araññe vihārāya. (9) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào nghi
hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang
vu, do nguyên nhân nhiễm trước nghi hoặc, do dự, những Tôn giả
Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hăi, khiếp đảm, bất
thiện khởi lên. Ta không có nghi hoặc, do dự, sống tại các trú
xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta diệt trừ được do dự. Ta
là một trong những bậc Thánh diệt trừ được nghi hoặc, sống tại
các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta
tự quán sát tâm Ta diệt trừ được nghi hoặc như vậy, tự cảm thấy
ḷng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
|
|
42.Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
attukkaṃsakā paravambhī araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, attukkaṃsanaparavambhanasandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
attukkaṃsako paravambhī araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, anattukkaṃsako aparavambhīhamasmi. Ye hi vo ariyā
anattukkaṃsakā aparavambhī araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, tesamahaṃ aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa
anattukkaṃsakataṃ aparavambhitaṃ attani sampassamāno bhiyyo
pallomamāpādiṃ araññe vihārāya. (10)
|
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào khen
ḿnh, chê người sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi
hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước khen ḿnh, chê người, những
Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hăi, khiếp
đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có khen ḿnh, chê người, sống
tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có
khen ḿnh, không có chê người, Ta là một trong những bậc Thánh
không có khen ḿnh, không có chê người, sống tại các trú xứ xa
vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát
tâm Ta không có khen ḿnh, không có chê người như vậy, tự cảm
thấy ḷng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
|
|
43.Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
chambhī bhīrukajātikā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, chambhibhīrukajātikasandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
chambhī bhīrukajātiko araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, vigatalomahaṃsohamasmi. Ye hi vo ariyā
vigatalomahaṃsā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, tesamahaṃ aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa
vigatalomahaṃsataṃ attani sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ
araññe vihārāya. (11) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào run
rẩy, sợ hăi sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang
vu, do nguyên nhân nhiễm trước run rẩy, sợ hăi, những Tôn giả
Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hăi, khiếp đảm, bất
thiện khởi lên. Ta không có run rẩy, sợ hăi, sống tại các trú xứ
xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có lông tóc dựng
ngược, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu".
Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có lông tóc dựng ngược,
Ta là một trong những bậc Thánh, không có lông tóc dựng ngược
như vậy, tự cảm thấy ḷng tự tin được xác chứng hơn, khi sống
trong rừng núi.
|
|
44. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
lābhasakkārasilokaṃ nikāmayamānā araññavanapatthāni pantāni
senāsanāni paṭisevanti, lābhasakkārasilokanikāmana
(Nikāmayamāna - Sī, Syā)
sandosahetu have te bhonto samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ
avhāyanti. Na kho panāhaṃ lābhasakkārasilokaṃ nikāmayamāno
araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevāmi,
appicchohamasmi. Ye hi vo ariyā appicchā araññavanapatthāni
pantāni senāsanāni paṭisevanti, tesamahaṃ aññataro”ti. Etamahaṃ
brāhmaṇa appicchataṃ attani sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ
araññe vihārāya. (12) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào ham
muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú xứ xa
vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước ham
muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, những Tôn giả Sa-môn hay
Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hăi, khiếp đảm, bất thiện khởi
lên. Ta không có ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống
tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta là người ít
dục. Ta là một trong những bậc Thánh ít dục, sống tại các trú xứ
xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát
Ta là người ít dục như vậy, tự cảm thấy ḷng tự tin được xác
chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
|
|
45. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
kusītā hīnavīriyā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, kusītahīnavīriyasandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
kusīto hīnavīriyo araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, āraddhavīriyohamasmi. Ye hi vo ariyā āraddhavīriyā
araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, tesamahaṃ
aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa āraddhavīriyataṃ attani
sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ araññe vihārāya. (13) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biếng
nhác, kém tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi
hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước biếng nhác, kém tinh tấn,
những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hăi,
khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có biếng nhác, kém tinh
tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta
siêng năng, tinh tấn. Ta là một trong những bậc Thánh siêng năng,
tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu".
Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta siêng năng, tinh tấn như vậy,
tự cảm thấy ḷng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng
núi.
|
|
46. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
muṭṭhassatī asampajānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, muṭṭhassati-asampajānasandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
muṭṭhassati asampajāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, upaṭṭhitassatihamasmi. Ye hi vo ariyā upaṭṭhitassatī
araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, tesamahaṃ
aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa upaṭṭhitassatitaṃ attani
sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ araññe vihārāya. (14) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thất
niệm, không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước thất niệm, không tỉnh
giác, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ
hăi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thất niệm, không
phải không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu. Ta an trú niệm. Ta là một trong những bậc Thánh an
trú niệm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu".
Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta an trú niệm như vậy, tự cảm
thấy ḷng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
|
|
47. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
asamāhitā vibbhantacittā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, asamāhitavibbhantacittasandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
asamāhito vibbhantacitto araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, samādhisampannohamasmi. Ye hi vo ariyā
samādhisampannā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, tesamahaṃ aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa
samādhisampadaṃ attani sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṃ araññe
vihārāya. (15) |
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không
định tĩnh, tâm bị tán loạn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong
rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước không định tĩnh,
tâm bị tán loạn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn
làm cho sợ hăi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta được định tĩnh,
tâm không bị tán loạn sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu. Ta thành tựu định tâm. Ta là một trong những bậc
Thánh thành tựu định tâm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong
rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu
định tâm như vậy, từ cảm thấy ḷng tự tin được xác chứng hơn,
khi sống trong rừng núi.
|
|
48. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā
duppaññā eḷamūgā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevanti, duppañña-eḷamūgasandosahetu have te bhonto
samaṇabrāhmaṇā akusalaṃ bhayabheravaṃ avhāyanti. Na kho panāhaṃ
duppañño eḷamūgo araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, paññāsampannohamasmi. Ye hi vo ariyā paññāsampannā
araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, tesamahaṃ
aññataro”ti. Etamahaṃ brāhmaṇa paññāsampadaṃ attani sampassamāno
bhiyyo pallomamāpādiṃ araññe vihārāya. (16)
Soḷasapariyāyaṃ niṭṭhitaṃ.
|
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào liệt
tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang
vu. Do nguyên nhân nhiễm trước liệt tuệ, đần độn, những Tôn giả
Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hăi, khiếp đảm, bất
thiện khởi lên. Ta không có liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú
xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu trí tuệ. Ta là
một trong những bậc Thánh thành tựu trí tuệ, sống tại các trú xứ
xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát
Ta thành tựu trí tuệ như vậy, tự cảm thấy ḷng tự tin được xác
chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
|
|
49. Tassa
mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi “Yaṃnūnāhaṃ yā tā rattiyo abhiññātā
abhilakkhitā cātuddasī pañcadasī aṭṭhamī ca pakkhassa,
tathārūpāsu rattīsu yāni tāni ārāmacetiyāni vanacetiyāni
rukkhacetiyāni bhiṃsanakāni salomahaṃsāni, tathārūpesu
senāsanesu vihareyyaṃ ‘Appeva nāmāhaṃ bhayabheravaṃ passeyyan’ti”.
So kho ahaṃ brāhmaṇa aparena samayena yā tā rattiyo abhiññātā
abhilakkhitā cātuddasī pañcadasī aṭṭhamī ca pakkhassa,
tathārūpāsu rattīsu yāni tāni ārāmacetiyāni vanacetiyāni
rukkhacetiyāni bhiṃsanakāni salomahaṃsāni, tathārūpesu
senāsanesu viharāmi. Tattha ca me brāhmaṇa viharato mago vā
āgacchati, moro vā kaṭṭhaṃ pāteti, vāto vā paṇṇaka saṭaṃ
(Paṇṇasaṭaṃ - Sī, I)
ereti. Tassa mayhaṃ brāhmaṇa etadahosi
(Tassa mayhaṃ evaṃ hoti -
Sī, Syā)
“Etaṃnūna taṃ bhayabheravaṃ āgacchatī”ti. Tassa mayhaṃ brāhmaṇa
etadahosi “Kiṃ nu kho ahaṃ aññadatthu bhayapaṭikaṅkhī
(Bhayapāṭikaṅkhī - Sī)
viharāmi. Yaṃnūnāhaṃ yathābhūtaṃ yathābhūtassa
(Yathābhūtassa
yathābhūtassa - Sī, Syā)
me taṃ bhayabheravaṃ āgacchati, tathābhūtaṃ tathābhūtova
(Yathābhūto yathābhūtova -
Sī, Syā)
taṃ bhayabheravaṃ paṭivineyyan”ti.
|
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề
này, Ta suy nghĩ như sau: "Trong những đêm được biết đến, được
xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nửa tháng,
trong những đêm như vậy, Ta hăy đến ở tại các trú xứ hăi hùng,
lông tóc dựng ngược, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại
các rừng núi, tự miếu tại các cây cối, để Ta có thể thấy sự sợ
hăi khiếp đảm ấy". Này Bà-la-môn, sau một thời gian, trong những
đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm,
đêm mồng tám mỗi nữa tháng, trong những đêm như vậy, Ta đến ở
tại các trú xứ hăi hùng, lông tóc dựng ngược như vậy, như tự
miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại
các cây cối. Này Bà-la-môn, trong khi ta ở tại các chỗ ấy, một
con thú có thể đến, hay một con công làm rơi một cành cây, hay
gió làm rung động các lá rơi; Ta khởi lên ư nghĩ: "Nay sự sợ hăi
khiếp đảm ấy đă đến!". Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: "Sao Ta ở
đây, chỉ để mong đợi sự sợ hăi khiếp đảm chớ không ǵ khác?
Trong bất cứ hành vi cử chỉ nào của Ta mà sợ hăi khiếp đảm ấy
đến, trong hành vi cử chỉ ấy, Ta hăy trừ diệt sợ hăi khiếp đảm
ấy".
|
|
Tassa mayhaṃ brāhmaṇa caṅkamantassa taṃ bhayabheravaṃ āgacchati,
so kho ahaṃ brāhmaṇa neva tāva tiṭṭhāmi na nisīdāmi na nipajjāmi,
yāva caṅkamantova taṃ bhayabheravaṃ paṭivinemi. Tassa mayhaṃ
brāhmaṇa ṭhitassa taṃ bhayabheravaṃ āgacchati, so kho ahaṃ
brāhmaṇa neva tāva caṅkamāmi na nisīdāmi na nipajjāmi, yāva
ṭhitova taṃ bhayabheravaṃ paṭivinemi. Tassa mayhaṃ brāhmaṇa
nisinnassa taṃ bhayabheravaṃ āgacchati, so kho ahaṃ brāhmaṇa
neva tāva nipajjāmi na
tiṭṭhāmi na caṅkamāmi, yāva nisinnova taṃ bhayabheravaṃ
paṭivinemi. Tassa mayhaṃ brāhmaṇa nipannassa taṃ bhayabheravaṃ
āgacchati, so kho ahaṃ brāhmaṇa neva tāva nisīdāmi na tiṭṭhāmi
na caṅkamāmi, yāva nipannova taṃ bhayabheravaṃ paṭivinemi.
|
Này Bà-la-môn trong khi Ta đi
kinh hành qua lại mà sợ hăi khiếp đảm ấy đến, th́ này Bà-la-môn,
Ta không đứng, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ
hăi khiếp đảm ấy trong khi Ta đi kinh hành qua lại. Này
Bà-la-môn, trong khi Ta đang đứng mà sự sợ hăi khiếp đảm ấy đến,
th́ này Bà-la-môn, Ta không kinh hành qua lại, Ta không ngồi, Ta
không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ hăi khiếp đảm ấy trong khi Ta
đang đứng. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang ngồi mà sợ hăi khiếp
đảm ấy đến, th́ này Bà-la-môn, Ta không nằm, Ta không đứng, Ta
không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hăi khiếp đảm ấy
trong khi Ta đang ngồi. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang nằm mà
sợ hăi khiếp đảm ấy đến, th́ này Bà-la-môn, Ta không ngồi, Ta
không đứng, Ta không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hăi
khiếp đảm ấy trong khi Ta đang nằm.
|
|
50. Santi kho
pana brāhmaṇa eke samaṇabrāhmaṇā rattiṃyeva samānaṃ divāti
sañjānanti, divāyeva samānaṃ rattīti sañjānanti. Idamahaṃ tesaṃ
samaṇabrāhmaṇānaṃ sammohavihārasmiṃ vadāmi. Ahaṃ kho pana
brāhmaṇa rattiṃ yeva samānaṃ rattīti sañjānāmi, divāyeva samānaṃ
divāti sañjānāmi. Yaṃ kho taṃ brāhmaṇa sammā vadamāno vadeyya
“Asammohadhammo satto loke uppanno bahujanahitāya
bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya
devamanussānan”ti, mameva taṃ sammā vadamāno vadeyya
“Asammohadhammo satto loke uppanno bahujanahitāya
bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya
devamanussānan”ti. |
Này Bà-la-môn, có một số Sa-môn,
Bà-la-môn nghĩ rằng ngày giống như đêm, nghĩ rằng đêm giống như
ngày. Như vậy, Ta nói rằng những Sa-môn, Bà-la-môn ấy sống trong
si ám. Này Bà-la-môn, Ta nghĩ rằng đêm là đêm, nghĩ rằng ngày là
ngày. Này Bà-la-môn, ai nói một cách chơn chánh sẽ nói như sau:
"Vị hữu t́nh nào không có si ám, sinh ra ở đời v́ hạnh phúc cho
muôn loài, v́ an lạc cho muôn loài, v́ ḷng thương tưởng cho đời,
v́ lợi ích, v́ hạnh phúc, v́ an lạc cho loài Trời và loài Người.
Vị ấy khi nói một cách chân chánh về Ta sẽ nói như sau: "Là vị
hữu t́nh không có si ám, sinh ra ở đời v́ hạnh phúc cho muôn
loài, v́ an lạc cho muôn loài, v́ ḷng thương tưởng cho đời, v́
lợi ích, v́ hạnh phúc, v́ an lạc cho loài Trời và loài Người".
|
|
51. Āraddhaṃ
kho pana me brāhmaṇa vīriyaṃ ahosi asallīnaṃ, upaṭṭhitā sati
asammuṭṭhā
(Appammuṭṭhā - Syā),
passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṃ cittaṃ ekaggaṃ.
|
Này Bà-la-môn, Ta tinh cần, tinh
tấn, không lười biếng. Ta an trú chánh niệm, không có loạn, thân
được khinh an, không có dao động, tâm được định tĩnh, chuyên
nhất. |
|
So kho ahaṃ
brāhmaṇa vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ
savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja
vihāsiṃ. |
Này Bà-la-môn, Ta ly dục, ly các
ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do
ly dục sanh, với tầm với tứ.
|
|
Vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso
ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ
jhānaṃ upasampajja vihāsiṃ. |
Diệt tầm, diệt tứ, Ta chứng và
trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm,
không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
|
|
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihāsiṃ sato ca sampajāno,
sukhañca kāyena paṭisaṃvedesiṃ, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti
“Upekkhako satimā sukhavihārī”ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja
vihāsiṃ.
|
Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh
giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc
trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba.
|
|
Sukhassa ca
pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ
atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ
jhānaṃ upasampajja vihāsiṃ.
|
Xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đă
cảm thọ trước, Ta chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ không
lạc, xả niệm thanh tịnh.
|
|
52. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte
anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṃ abhininnāmesiṃ, so anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarāmi, seyyathidaṃ, ekampi jātiṃ dvepi jātiyo
tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo
vīsampi jātiyo tiṃsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi
jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi
saṃvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṃvaṭṭavivaṭṭakappe,
“Amutrāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro
evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato cuto
amutra udapādiṃ, tatrāpāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo
evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato
cuto idhūpapanno”ti, iti sākāraṃ sa-uddesaṃ anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarāmi. Ayaṃ kho me brāhmaṇa rattiyā paṭhame
yāme paṭhamā vijjā adhigatā, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo
vihato, āloko uppanno, yathā taṃ appamattassa ātāpino
pahitattassa viharato.
|
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững
chắc, b́nh thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí.
Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời,
bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi
đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một
trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và
thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này,
ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế
này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau
khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này,
Ta có tên như thế này, ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này,
các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến
mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây".
Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại
cương và các chi tiết. Này Bà-la-môn, trong đêm canh đầu Ta
chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt,
ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm,
tinh cần.
|
|
53. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṃ
cutūpapātañāṇaya cittaṃ abhininnāmesiṃ, so dibbena cakkhunā
visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne
upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate,
yathākammūpage satte pajānāmi “Ime vata bhonto sattā
kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā
manoduccaritena samannāgatā ariyānaṃ upavādakā micchādiṭṭhikā
micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ
duggatiṃ vinipātaṃ Nirayaṃ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā
kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā
manosucaritena samannāgatā ariyānaṃ anupavādakā sammādiṭṭhikā
sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ
saggaṃ lokaṃ upapannā”ti, iti dibbena cakkhunā visuddhena
atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne hīne
paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte
pajānāmi. Ayaṃ kho me brāhmaṇa rattiyā majjhime yāme dutiyā
vijjā adhigatā, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko
uppanno, yathā taṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
|
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững
chắc, b́nh thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí
về chúng sanh. Ta với thiên nhăn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự
sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh
người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may
mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh
làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ư, phỉ
báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến.
Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cơi
dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. C̣n những chúng sanh nào thành tựu
những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói,
thành tựu những thiện hạnh về ư, không phỉ báng các bậc Thánh,
theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này,
sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cơi
Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhăn thuần tịnh siêu nhân,
Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh,
người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may
mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Bà-la-môn,
trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt,
minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không
phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
|
|
54. So evaṃ
samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese
mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṃ khayañāṇāya
cittaṃ abhininnāmesiṃ, so “Idaṃ dukkhan”ti yathābhūtaṃ
abbhaññāsiṃ, “Ayaṃ dukkhasamudayo”ti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ,
“Ayaṃ dukkhanirodho”ti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, “Ayaṃ
dukkhanirodhagāminī paṭipadā”ti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ. “Ime
āsavā”ti yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, “Ayaṃ āsavasamudayo”ti
yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, “Ayaṃ āsavanirodho”ti yathābhūtaṃ
abbhaññāsiṃ, “Ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadā”ti yathābhūtaṃ
abbhaññāsiṃ.
|
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững
chắc, b́nh thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí.
Ta thắng tri như thật: "Đây là khổ", thắng tri như thật: "Đây là
nguyên nhân của khổ", thắng tri như thật: "Đây là khổ diệt",
thắng tri như thật: "Đây là con đường đưa đến khổ diệt", thắng
tri như thật: "Đây là những lậu hoặc", thắng tri như thật: "Đây
là nguyên nhân các lậu hoặc", thắng tri như thật: "Đây là các
lậu hoặc diệt", thắng tri như thật: "Đây là con đường đưa đến
các lậu hoặc diệt".
|
|
Tassa me evaṃ jānato evaṃ passato kāmāsavāpi cittaṃ vimuccittha,
bhavāsavāpi cittaṃ vimuccittha, avijjāsavāpi cittaṃ vimuccittha.
Vimuttasmiṃ “Vimuttam"iti ñāṇaṃ ahosi, “Khīṇājāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti
abbhaññāsiṃ. Ayaṃ kho me brāhmaṇa rattiyā pacchime yāme tatiyā
vijjā adhigatā, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko
uppanno, yathā taṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
|
Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như
vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát
khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đă giải thoát như vậy, khởi
lên trí hiểu biết: Ta đă giải thoát. Ta đă thắng tri: "Sanh đă
tận, phạm hạnh đă thành, việc cần làm đă làm, không c̣n trở lui
trạng thái này nữa". Này Bà-la-môn trong đêm canh ba, Ta chứng
được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh
sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh
cần.
|
|
55. Siyā kho pana te brāhmaṇa evamassa “Ajjāpi nūna
samaṇo Gotamo avītarāgo avītadoso avītamoho, tasmā
araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevatī”ti. Na kho
panetaṃ brāhmaṇa evaṃ daṭṭhabbaṃ. Dve kho ahaṃ brāhmaṇa
atthavase sampassamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni
paṭisevāmi, attano ca diṭṭhadhammasukhavihāraṃ sampassamāno
pacchimañca janataṃ anukampamānoti.
|
Này Bà-la-môn, Ông có thể có tư
tưởng như sau: "Nay Sa-môn Gotama chưa diệt trừ tham, chưa diệt
trừ sân, chưa diệt trừ si, nên sống tại các trú xứ xa vắng,
trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, chớ có hiểu như vậy. Do
Ta quán sát hai mục đích mà Ta sống tại các trú xứ xa vắng,
trong rừng núi hoang vu. Tự thấy sự hiện tại lạc trú và v́ ḷng
thương tưởng chúng sanh trong tương lai.
|
|
56. Anukampitarūpā vatāyaṃ bhotā Gotamena pacchimā
janatā, yathā taṃ Arahatā Sammāsambuddhena. Abhikkantaṃ bho
Gotama, abhikkantaṃ bho Gotama, seyyathāpi bho Gotama
nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa
vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya
“Cakkhumanto rūpāni dakkhantī”ti, evamevaṃ bhotā Gotamena
anekapariyāyena dhammo pakāsito, esāhaṃ bhavantaṃ Gotamaṃ
saraṇaṃ gacchāmi Dhammañca Bhikkhusaṃghañca, upāsakaṃ maṃ bhavaṃ
Gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatanti.
|
-- Chúng sanh trong tương lai được Tôn giả Gotama
thương tưởng, v́ Tôn giả là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Thật
vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama!... Như người dựng đứng lại những ǵ bị quăng ngă xuống,
phơi bày ra những ǵ bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc
hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể
thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đă được Tôn giả Gotama dùng nhiều
phương tiện tŕnh bày giải thích. Con quy y Tôn giả Gotama, quy
y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm
đệ tử; từ này trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy
ngưỡng. |
Bhayabheravasuttaṃ
niṭṭhitaṃ catutthaṃ.
|
|
|
|
|
|
<Kinh số 003> |
<Kinh số 005> |
|