Trang Chính

Trang Công Tŕnh Ấn Tống

Font VU-Times

 

 

KƯ SỰ BÊN LỀ

NĂM 2013

 

 

Cập Nhật: Monday, January 06, 2014

 

Kư Sự Năm 2006

Kư Sự Năm 2007

Kư Sự Năm 2008

Kư Sự Năm 2009

Kư Sự Năm 2010

Kư Sự Năm 2011

Kư Sự Năm 2012

Kư Sự Năm 2013

Kư Sự Năm 2014

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Ba, ngày 01 tháng 01 năm 2013

 

Sau khi dự đám tang ở Houston th́ theo xe của HT. Pháp Nhẫn để về chủa Liên Hoa của Ngài, khoảng 5 tiếng ngồi xe. Pḥng ở đă được chuẩn bị xong. Dự kiến sẽ ăn Tết ở đây sau đó về lại Sri Lanka một thời gian để thu xếp mọi việc tại xứ này. Căn pḥng cũng vừa phải, đủ để làm công việc phiên dịch. Chỗ ngủ th́ chỉ cần một diện tích 2 x 1 mét thôi. Ăn uống th́ xuống nhà ăn. Điều thích nhất là ít bụi bặm v́ pḥng kín, và có nhà vệ sinh bên cạnh nên rất thuận tiện cho mọi việc.

 

   

Thứ Hai, ngày 07 tháng 01 năm 2013

 

Khí hậu cũng ít nhiều gây trở ngại cho cơ thể. Pḥng có hệ thống sưởi ấm nhưng v́ chùa rộng nên hơi nóng không đủ. Phải lấy thêm 1 máy sưởi nhỏ để trong pḥng dể giữ ấm trong pḥng, nhỏ nhưng tự động nên cũng tiện lợi nhiều. Từ ngày qua Mỹ đến nay, sau thời gian bận rộn v́ tang lễ, đă thử làm việc với sách vở trở lại. Có lẽ cũng không trở ngại ǵ lắm. Cũng không bị phân tâm hoặc bị khuấy rối ǵ. Nhưng việc không chạy lắm. Thời gian có vẻ trôi qua nhanh hơn. Có một hiện tượng ở đầu: Không lẽ trời lạnh nên bộ năo có hiện tượng như bị đóng băng? Có lẽ chưa thích nghi với môi trường: Đang ở xứ nóng quanh năm, giờ đi đến xứ Mỹ vào mùa Đông, có nhiều đêm khí hậu dưới 0 độ. Tại sao việc thay đổi trú xứ lại được thực hiện vào thời điểm này? Có thể nói là "cùng tắc biến." Có bế tắc th́ phải có sự thay đổi để tồn tại. Sẽ viết tiếp sau.

 

Thứ Ba, ngày 08 tháng 01 năm 2013

 

VIỆC IN KINH Ở SRI LANKA ĐANG GẶP TRỞ NGẠI VỀ GIẤY: Tập Kinh TTPV 30: Vimānavatthu & Petavatthu - Chuyện Thiên Cung & Chuyện Ngạ Quỷ được giao cho nhà in vào tháng 4/2012 cho đến nay vẫn chưa được hoàn tất v́ không có giấy màu ngà. Đă 9 tháng trôi qua, t́nh h́nh vẫn không có ǵ tiến triển. Ngài Vimalajoti đă cho in Tạng Sinhala bằng giấy trắng. Thật khó xử. Có lẽ cũng phải đổi sang giấy trắng theo họ luôn rồi. Lúc khởi công in tập Kinh đầu tiên số 42, chính Ngài Vimalajoti đă khuyên in giấy màu ngà cho mát mắt khi đọc, giờ bị hỏng cẳng nửa chừng như vậy cũng không biết tính sao nữa?

 

Thứ Tư, ngày 09 tháng 01 năm 2013

 

Đến Mỹ như vậy đă được 1 tháng. Như vậy đến chùa Liên Hoa này đă được 3 tuần. Công việc dịch thuật đă được hâm nóng lại với 6 câu kệ đă được dịch xong. Bên cạnh đó cũng c̣n phải chia thời gian ra để kiểm tra lại văn bản Pali cho các bài Kinh Trung Bộ nữa. Thời gian ở đây có vẻ trôi qua nhanh hơn. Cũng có thể không gian rộng hơn nên thời gian di chuyển phải tốn nhiều hơn. Hôm qua Cô Yến Văn Dung có email hỏi là có c̣n tiếp tục việc ấn tống Kinh Song Ngữ hay không? Cũng chưa biết trả lời thế nào? Đương nhiên c̣n dịch th́ c̣n in và c̣n ấn tống. Nhưng cụ thể được tính theo bản Kinh được in ra. Việc chậm trễ của tập Kinh 30 ở trên đă bắt đầu nảy sanh thắc mắc. Nếu không có tín hiệu ǵ mới th́ đành phải in bằng giấy trắng thôi.

 

Thứ Tư, ngày 16 tháng 01 năm 2013

 

Công việc kiểm tra văn bản Pali tốn nhiều công sức nhiều hơn dự tính. Cả tuần nay bận rộn với việc đưa vào computer những điểm đă phát hiện được khi so sánh 2 văn bản Pali Sihala và Pali Roman với nhau. Tŕnh độ biết văn phạm Pali cũng giúp cho người kiểm tra văn bản dễ phát hiện những chữ, đă được phiên âm không chính xác. Chính v́ thế công việc này là dễ, nhưng không dễ với yêu cầu chính xác cao khiến cho một số người hữu tâm không được giao cho phụ trách công đoạn này. Công việc này cũng được gọi là phiên dịch, nhưng là dịch âm, chứ không phải là dịch nghĩa. Nói đến phiên âm, mới nhớ đến điều nghi vấn là các văn bản Hán Tạng có những đoạn văn đă được phiên âm từ Sanskrit và Pali hay không? Và nếu có, th́ có thể phiên âm ngược lại hay không? Ở đây, đề cập đến việc người Hán đă sử dụng các kư hiệu thế nào để ghi âm. Bởi v́, từ văn bản Pali Sinhala th́ chúng ta có thể thực hiện văn bản Pali Roman, và có thể công việc ngược lại không chút khó khăn.

 

Thứ Tư, ngày 23 tháng 01 năm 2013

 

Thời gian qua nhanh, c̣n công việc th́ được tiến hành theo kiểu "kiến tha lâu đầy tổ." Thấm thoắt đă ở Mỹ hơn 5 tuần rồi. Số tài liệu đem theo để làm việc trong thời gian ở Mỹ cũng vẫn chưa vơi, có thể làm đến cả năm cũng chưa hết. Vé máy bay về lại Sri Lanka cũng chưa mua, phải chở thêm một vài ngày nữa. Làm việc ở Mỹ có một điều lo ngại là: Ở Sri Lanka không vận động cũng ra mồ hôi, c̣n ở Mỹ th́ muốn đổ mồ hôi không phải dễ, nhất là chỉ loay hoay trong pḥng, không đi ra bên ngoài.

 

Thứ sáu, ngày 01 tháng 02 năm 2013

 

Hôm nay đă mua qua mạng bản Chú Giải của tập Kinh Itivutta, một bộ 2 cuốn. Đă nhận được email hồi báo của nhà sách có kèm theo tracking number cho biết sách đă được đưa về bưu điện gốc và chuẩn bị chuyển ra phi trường. Hy vọng sẽ nhận được vào tuần sau.

 

Thứ Hai, ngày 04 tháng 02 năm 2013

 

LOAY HAY VỚI CÂU VĂN TIẾNG VIỆT:

Ở bản Kinh Uddāna, có câu: "ātāpino jhāyato brāhmaṇassa" và đă được dịch ở một đoạn văn tương đương của Tạng Luật là: "đến vị Bà-la-môn đang tinh cần tham thiền" (2005). Nếu viết rằng: "đang tinh cần tham thiền" th́ sẽ được hiểu là: "đang tham thiền một cách tinh cần," đến đây mới giật ḿnh, biết rằng ḿnh đă dịch không chính xác đoạn văn này. V̀ SAO? V́ từ "tinh cần"  (ātāpino) ở đây làm công việc của một tính từ, bổ nghĩa cho vị Bà-la-môn, chứ không phải là trạng từ bổ nghĩa cho động từ "tham thiền." Dịch sát nghĩa th́ phải ghi như sau: "đến vị Bà-la-môn có sự tinh cần đang tham thiền."

GIỜ ĐOC LẠI 2 CÂU TIẾNG VIỆT:

"đến vị Bà-la-môn đang tinh cần tham thiền"

"đến vị Bà-la-môn có sự tinh cần đang tham thiền."

Thử hỏi, sự khác biệt về ư nghĩa của hai câu này là nhiều hay ít nhỉ?

Rồi sao nữa? Nên chọn lấy câu nào?

--------------------

Tham khảo thêm:

+ ... to the ardent meditating Brahman (I. B. Horner).

+ ... to the ardent, musing Brāhmin (I. B. Horner).

+ Đối với vị Bà-la-môn,
Nhiệt tâm hành thiền định (HT. MC).

 

Anh Hoa Nguyên (Facebook) góp ư như sau:

"đến vị Bà-la-môn tinh cần đang tham thiền"

NHẤT TRÍ.

 

Thứ Ba, ngày 19 tháng 02 năm 2013

 

T̀M GẶP CÂU PĀLI NÀY:

“Tasmātiha te bāhiya, evaṃ sikkhitabbaṃ: ‘Diṭṭhe diṭṭhamattaṃ bhavissati, sute sutamattaṃ bhavissati, mute mutamattaṃ bhavissati, viññāte viññātamattaṃ bhavissatī ’ti. Evaṃ hi te bāhiya, sikkhitabbaṃ.
Yato kho te bāhiya, diṭṭhe diṭṭhamattaṃ bhavissati, sute sutamattaṃ bhavissati, mute mutamattaṃ bhavissati, viññāte viññātamattaṃ bhavissati, tato tvaṃ bāhiya na tena. Yato tvaṃ bāhiya na tena, tato tvaṃ bāhiya na tattha. Yato tvaṃ bāhiya na tattha, tato tvaṃ bāhiya nevidha, na huraṃ, na ubhayamantare. Esevanto dukkhassā ”ti.
 

KINH PHẬT TỰ THUYẾT:

- Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. V́ rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. V́ rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.
 

DỊCH SÁT TỪ NHƯ SAU:
“Này Bāhiya, v́ thế ngươi nên học tập như vầy: ‘Trong việc thấy sẽ là thuần túy việc thấy, trong việc nghe sẽ là thuần túy việc nghe, trong việc cảm giác sẽ là thuần túy việc cảm giác, trong việc nhận thức sẽ là thuần túy việc nhận thức.’ Này Bāhiya, ngươi nên học tập theo đúng như vậy.
Này Bāhiya, khi nào đối với ngươi, trong việc thấy sẽ là thuần túy việc thấy, trong việc nghe sẽ là thuần túy việc nghe, trong việc cảm giác sẽ là thuần túy việc cảm giác, trong việc nhận thức sẽ là thuần túy việc nhận thức, này Bāhiya, khi ấy ngươi không là với điều ấy. Này Bāhiya, khi nào ngươi không là với điều ấy, này Bāhiya khi ấy ngươi không là trong đó. Này Bāhiya, khi nào ngươi không là trong đó, này Bāhiya khi ấy ngươi đương nhiên không là ở đây, không là ở kia, không là ở khoảng giữa của cả hai. Chính điều này là sự chấm dứt khổ đau.”
 

Thứ Tư, ngày 19 tháng 02 năm 2013

 

Udānapāli I. 6, Kassapasuttaṃ


“Anaññaposiṃ aññātaṃ dantaṃ sāre patiṭṭhitaṃ,
khīṇāsavaṃ vantadosaṃ tamahaṃ brūmi brāhmaṇan ”ti.

--------------
6. Ai sống không nhờ người,
Không được người biết đến,
Sống tự ḿnh chế ngự,
An trú trên lơi cây,
Các lậu hoặc đă đoạn,
Sân hận được trừ diệt,
Vị ấy được Ta gọi,
Là vị Bà-la-môn. (Kinh Phật Tự Thuyết)
------------
“Vị không nuôi dưỡng kẻ khác, đă được biết tiếng, đă được rèn luyện, đă đứng vững ở cốt lơi, có lậu hoặc đă được cạn kiệt, có sân hận đă được tẩy trừ, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.” (Tk. Indacanda)

 

Thứ Năm, ngày 20 tháng 02 năm 2013

 

Udānapāli, I.9, Jaṭilasuttaṃ


“Na udakena sucī hoti bahvettha nahāyati jano,
yamhi saccañca dhammo ca so sucī so ca brāhmaṇo ”ti.
----------------
9. Thanh tịnh không có nước,
Ở đây nhiều người tắm,
Trong ai có chân thật,
Lại thêm có Chánh pháp,
Người ấy là Thanh tịnh,
Người ấy là Phạm chí. (Kinh Phật Tự Thuyết)
--------------
“Không do nước mà trở nên trong sạch. Nhiều người tắm ở nơi này. Ở người nào có sự chân thật và có chánh pháp, người ấy là trong sạch, và người ấy là Bà-la-môn.” (Tk. Indacanda).

 

Thứ Sáu, ngày 22 tháng 02 năm 2013


Udānapāli, II.3, Daṇḍasuttaṃ


“Sukhakāmāni bhūtāni yo daṇḍena vihiṃsati,
attano sukhamesāno pecca so na labhate sukhaṃ.

Sukhakāmāni bhūtāni yo daṇḍena na hiṃsati,
attano sukhamesāno pecca so labhate sukhan ”ti.
---------------
3. Ai làm hại với trượng,
Kẻ t́m lạc cho ḿnh,
Người ấy sau khi chết,
Không t́m được an lạc.

Ai không hại với trượng,
Kẻ t́m lạc cho ḿnh,
Đời sau t́m được lạc. (Kinh Phật Tự Thuyết)
---------------
“Kẻ nào trong lúc tầm cầu hạnh phúc cho bản thân mà hăm hại các chúng sanh có ḷng mong mỏi hạnh phúc bằng gậy gộc, kẻ ấy không đạt được hạnh phúc sau khi chết.

Kẻ nào trong lúc tầm cầu hạnh phúc cho bản thân mà không hăm hại các chúng sanh có ḷng mong mỏi hạnh phúc bằng gậy gộc, kẻ ấy đạt được hạnh phúc sau khi chết. (Tk. Indacanda)

 

Thứ Bảy, ngày 23 tháng 02 năm 2013

 

Udānapāli, II.5, Upāsakasuttaṃ

 

Sukhaṃ vata tassa na hoti kiñci
saṅkhātadhammassa bahussutassa,
sakiñcanaṃ passa vihaññamānaṃ
jano janasmiṃ paṭibaddharūpo ”ti.

----------------

5. Ai lăo luyện Chánh pháp,
Được nghe nhiều Chánh pháp,
Không xem bất cứ ǵ
Là an lạc của ḿnh.
Hăy xem, năo hại thay,
Những ai có sở hữu,
Khiến cho con người này,
Bị trói buộc người khác. (Kinh Phật Tự Thuyết)
---------------
“Quả thật là hạnh phúc cho vị ấy, bậc không sở hữu ǵ, có Pháp đă được thành tựu, có sự nghe nhiều. Hăy nh́n xem người có sở hữu ǵ đó đang bị sầu khổ; con người có t́nh trạng bị trói buộc vào người (khác).” (Tk. Indacanda)

 

Thứ Bảy, ngày 23 tháng 02 năm 2013

 

Udānapāli, II.7, Ekaputtasuttaṃ

 

Piyarūpassādagathitāse devakāyā puthu manussā ca,
aghāvino parijunnā maccurājassa vasaṃ gacchanti.

Ye ve divā ca ratto ca appamattā jahanti piyarūpaṃ,
te ve khananti aghamūlaṃ maccuno āmisaṃ durativattan ”ti.

--------------

7. Bị khả ái, dễ thương
Trói buộc và chi phối,
Rất nhiều chư Thiên chúng,
Và nhiều hạng con người
Đau khổ và héo ṃn,
Bị thần chết nhiếp phục.
Ngày đêm không phóng dật,
Từ bỏ dung sắc đẹp,
Vị ấy đào gốc khổ,
Mồi nhử của ác ma,
Thật khó vượt qua được.
(Kinh Phật Tự Thuyết)
------------
“Bị buộc trói vào sự khoái lạc ở các sắc đáng yêu, tập thể chư Thiên và số đông nhân loại bị sầu khổ, bị suy sụp, sa vào quyền lực của Thần Chết.


C̣n những người nào ngày và đêm không xao lăng, từ bỏ sắc đáng yêu, thật vậy những người ấy đào bới gốc rễ của sự sầu khổ, mồi nhử của tử thần, khó vượt qua được.”
(Tk. Indacanda)

 

Chúa Nhật, ngày 24 tháng 02 năm 2013

 

Udānapāli, II.8, Suppavāsāsuttaṃ

“Asātaṃ sātarūpena piyarūpena appiyaṃ,
dukkhaṃ sukhassa rūpena pamattamativattatī ”ti.
-------------
8. Không vui, giả dạng vui,
Không ái, giả dạng ái,
Khổ đau, giả dạng lạc,
Nhiếp phục kẻ phóng dật. (Kinh Phật Tự Thuyết)
-------------
“Không khoái lạc dưới h́nh thức khoái lạc, không đáng yêu dưới h́nh thức đáng yêu, khổ đau dưới h́nh thức hạnh phúc chế ngự kẻ bị xao lăng.” (Tk. Indacanda)

 

Thứ Hai, ngày 25 tháng 02 năm 2013

 

TRỞ LẠI CỤM TỪ GIỚI CẤM THỦ:
John D. Ireland ghi ở phần Intro (của bản dịch Udāna và Itivuttaka) như sau: "There are four kinds of grasping: at sense pleasures, views, external religious observances, and the ideas of self" (trang 7). Có nghĩa là vị học giả này cũng giải thích sīlabbataparāmāsa là giới cấm của ngoại đạo (giới cấm thủ). Trong khi đó tập Kinh Mahāniddesa giải thích một cách khác (sự bám víu vào giới và phận sự). Có vị nào hứng thú làm research về cụm từ này không? Cũng cần nói thêm cho rơ là Mahāniddesa vẫn c̣n xa lạ với độc giả tiếng Anh v́ bản dịch tiếng Anh của tập Kinh này chưa được thực hiện.

 

Thứ Ba, ngày 26 tháng 02 năm 2013

 

CÓ BAO NHIÊU BẢN DỊCH TIẾNG ANH
CHO TẬP KINH TIÊU BỘ UDĀNA (PHẬT TỰ THUYẾT) ???
---------------------
Ghi nhận sơ bộ có 6 bản dịch:
-Paul Steinthal (1889)
- Woodward (1935)
- I. B. Horner
- Bhikkhu Ñāṇamoli
- John D. Ireland (19970)
- Bhikkhu Thanissaro (Access of Insight Website)

---------------------

9 năm trời ra sức thực hiện và giới thiệu văn bản song ngữ VN cho các văn bản Pali chưa dịch và dịch lại một vài tác phẩm đă được các bậc Tiền Bối thực hiện, cho đến 6:41 sáng giờ VN ngày 23/02/2013 mới nhận được một lời tán đồng của Phật tử Vơ Trọng Phi ghi ở Facebook rằng:  "Đối chiếu hai đoạn dịch của hai dịch giả mới thấy việc dịch lại là cần thiết." Đa phần chỉ ủng hộ DỊCH MỚI chứ việc DỊCH LẠI th́ chẳng mấy ai. Trong khi đó số người phát biểu ra đời chống đối, phê b́nh, chỉ trích việc DỊCH LẠI th́ nhớ không hết, và lư do đă được viện dẫn cũng đa dạng. 

 

TƯ LIỆU NÊN THAM KHẢO VÀ DỊCH RA TIẾNG VIỆT:

-------------------
Chú Giải chủ tập Kinh Tiểu Bộ Udāna (Phật Tự Thuyết) có hơn 30 trang Pali giải thích về danh hiệu Tathāgata (Như Lai) của đức Phật. Bản dịch tiếng Anh của Peter Masefield (PTS) là 43 trang (298-340).

 

Thứ Tư, ngày 27 tháng 02 năm 2013

 

LẨN THẨN VỚI TỪ NGỮ - NGỮ NGHĨA:
Atha kho bhagavā āyasmantaṃ nandaṃ bāhāya gahetvā ...

PALI DIỄN TẢ RẰNG:
Khi ấy, đức Thế Tôn đă nắm lấy đại đức Nanda ở cánh tay ...
CHỨ KHÔNG DIỄN TẢ THEO CÁCH SAU:
Khi ấy, đức Thế Tôn đă nắm lấy cánh tay của đại đức Nanda ...

 

Thứ Hai, ngày 03 tháng 03 năm 2013

 

CÂU NÀY LÀ CÂU HỎI, KHÔNG PHẢI CÂU XÁC ĐỊNH:
Kataṃ kho te idaṃ kosiya.
---------------------------
Này Kosiya, chính Ông đă làm sự việc này. (Kinh Phật Tự Thuyết)
This is your doing, Kosiya (John D. Ireland)
------------------------
ĐÚNG RA PHẢI DỊCH LÀ:
Is this your doing, Kosiya? (Ven. Thanissaro)
Này Kosiya, có phải việc này đă do ông làm? (Tk. Indacanda)
-----------------------
GIẢI THÍCH LƯ DO:
Trật tự trong câu văn bị đảo ngược: kataṃ nên được đặt ở cuối câu.

 

Thứ Hai, ngày 11 tháng 03 năm 2013

 

MỘT ĐOAN VĂN KHÓ PHÂN TÍCH:
bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. (Udānapāli, IV.1, Meghiyasuttaṃ)
BỐN LỜI DỊCH BÊN DƯỚI CÓ 4 CÁCH PHÂN TÍCH KHÁC NHAU:
------------------
vị Tỷ-kheo có trí tuệ, đầy đủ trí tuệ, đi đến thẩm sát sanh diệt, với Thánh thể nhập đưa đến đoạn tận khổ đau (Kinh Phật Tự Thuyết) <=> bhikkhu paññavā hoti / paññāya samannāgato / udayatthagāminiyā / ariyāya nibbedhikāya / sammā dukkhakkhayagāminiyā.
----------------
he is discerning, endowed with the discernment related to arising & passing away — noble, penetrating, leading to the right ending of stress. (Ven. Thanissaro) <=> bhikkhu paññavā hoti / paññāya samannāgato / udayatthagāminiyā / ariyāya / nibbedhikāya / sammā dukkhakkhayagāminiyā.
-------------------
a bhikkhu is wise, endowed with the noble ones' penetrative understanding of rise and disappaearance leading to the complete ending of suffering. (John D. Ireland) <=>
bhikkhu paññavā hoti / paññāya samannāgato / ariyāya / nibbedhikāya / udayatthagāminiyā / sammā dukkhakkhayagāminiyā.
----------------
vị tỳ khưu có tuệ hướng đến sự sanh diệt, đầy đủ tuệ cho việc thấu triệt thánh thiện hướng đến sự diệt tận khổ đau một cách đúng đắn. (Tk. Indacanda) <=> bhikkhu paññavā hoti / udayatthagāminiyā / paññāya samannāgato / ariyāya nibbedhikāya / sammā dukkhakkhayagāminiyā.

 

 

Có nhiều điều tâm sự được ghi lại ở Facebook tại

Group PALI - Chuyên Đề

 

*****

 

Thứ Bảy, ngày 21 tháng 09 năm 2013

 

CHIA SẺ KINH NGHIỆM HOC PALI (3) - CHON LỰA Ư NGHĨA CHO TỪ VỰNG (thay v́ lệ thuộc hoàn toàn vào từ điển):
----------------
Lưu ư 3 điểm: 1/ TỪ GỐC 2/ NGỮ CẢNH và 3/ CHÚ GIẢI:
Ví dụ: Gopī mama assavā alolā (Suttanipāta - Kinh Tập, câu kệ 22)
tạm dịch: nữ mục đồng (người vợ) của tôi là assavā, không tham lam.
--------------
assava = a. ngay thật, ân cần, niềm nở.
assava = (adj.) loyal; attentive.
assava = (adj.) [ā + sunāti, "śru"] loyal D I.137; Sn 22, 23, 32; J IV.98; VI.49; Miln 254; "an~" inattentive, not docile DhA I.7.
-------------
Các ư nghĩa mà từ điển cung cấp ở trên xét về NGỮ CẢNH đều phù hợp, nhưng xét về TỪ GỐC [ā + sunāti, "śru"] (nghe) th́ chỉ có "docile = dễ bảo, dễ sai khiến, ngoan ngoăn" (theo từ điển Anh - Việt) là có thể chọn được.
CHÚ GIẢI ghi rằng: "vacanakarā kiṃkārapaṭisāvinī" = làm theo lời chỉ bảo, bằng ḷng phận tôi đ̣i."
------------
Ư NGHĨA ĐỀ NGHỊ: vâng lời, biết nghe lời, dễ bảo, dễ dạy, v.v... (HT. TMC ghi nghĩa "khéo nhu thuận").

 

Thứ Tư, ngày 25 tháng 09 năm 2013

 

CHIA SẺ KINH NGHIỆM HOC PALI (4)

 

Xem câu kệ 49 của SUTTANIPĀTA - KINH TẬP,

KHAGGAVISĀṆASUTTAṂ - KINH SỪNG TÊ GIÁC: 
 

49. Evaṃ dutiyena sahā mamassa 

vācābhilāpo abhisajjanā vā, 

etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamāno 

eko care khaggavisāṇakappo. 

--------------

49. Tương tự như thế, cùng với người thứ hai, có thể xảy đến cho tôi

sự chuyện văn bằng lời nói hoặc sự quyến luyến sâu đậm.

Trong khi xem xét thấy mối nguy hiểm này trong tương lai,

nên sống một ḿnh tựa như sừng của loài tê giác (chỉ có một) (Tk. Indacanda). 

-------------

CHÚ Ư DANH TỪ: abhisajjanā (động từ là abhisajjati) ở ḍng 2 của câu kệ ngôn:

HT. TMC ghi: Sân hận, gây hấn nhau

Prof. K. R. Norman ghi: abuse 

Ven. Thanissaro ghi: abusive (talk)

Ven. H. Saddhatissa: to be angry (with him). 

Từ điển CPE: abhisajjana (nt.) cleaving; anger.

Từ điển PED ghi:

abhisajjana (nt.-adj.) [abstr. fr. abhisajjati in meaning of abhisanga 2] only as adv. f. ~nī Ep. of vācā scolding, abusing, cursing A V.265 (para~). Cp. next.
 

abhisajjanā (f.) [abstr. fr. abhisajjati, cp. abhisajjana] at Sn 49 evidently means “scolding, cursing, being in bad temper” (cp. abhisajjati), as its comb‹n.› with vāc‹ɔ›{?} ābhilāpa indicates, but is expl‹d.› both by Nd‹2› & Bdhgh. as “sticking to, cleaving, craving, desire” (= taṇhā), after the meaning of abhisanga. See Nd‹2› 89 & 107; SnA 98 (sineha-vasena), cp. also the compromise-expl‹n› by Bdhgh. of abhisajjati as kodha-vasena "laggati" (DA I.257).

============

 

NGƯỢC LẠI: ở lời dịch Việt trên ghi: "sự quyến luyến sâu đậm"

V̀ SAO ???

CÂU TRẢ LỜI:

1/ Prof. N. A. Jayawickrama ghi: deep attachment,

2/ và chỉ ra lời giải thích ở Chú Giải: tasmiṃ sinehavasena abhisajjanā ca jātā (SnA. i, 98) = và abhisajjanā sanh lên do tác động của sự yêu thương đối với người ấy.

3/ abhisajjati = abhi + sajjati

sajjati = (saj + ya) clings to; to be; attached.

sajjati = (saj+ya) bám níu vào, bị dính líu vào, bị quyến luyến.

sajjati = [Pass. of "sañj" or "saj" to hang. Cp. sanga] 1. to cling, to, to be attached S I.38, 111 (aor. 2 sg. sajjittho); II.228; A II.165; J I.376 (id. asajjittho); Sn 522, 536. ppr. "(a)sajjamāna" (un)-attached Sn 28, 466; J III.352. 49. Evaṃ dutiyena sahā mamassa vācābhilāpo abhisajjanā vā, etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamāno eko care khaggavisāṇakappo.

 

 

Thứ Tư, ngày 09 tháng 10 năm 2013

 

KIÊNG CỬ TRONG VIỆC PHIÊN DỊCH ??? (SOPAKA là danh từ riêng hay chung  - KẺ ĂN THỊT CHÓ ?)

 

- Điểm ghi nhận về Bà I. B. Horner, trong lúc phiên dịch Tạng Luật (Vinayapiṭaka) sang tiếng Anh, đă khẳng định không dịch các đoạn liên quan đến việc quan hệ nam nữ.

- Giờ xem câu kệ 137 của SUTTANIPĀTA - KINH TẬP / I. URAGAVAGGO - PHẨM RẮN / 7. VASALASUTTAṂ - 7. KINH NGƯỜI HẠ TIỆN:

Tadamināpi jānātha yathā medaṃ nidassanaṃ,

caṇḍālaputto sopāko mātaṅgo iti vissuto.

--------------

Do đây, nên hiểu biết,
Như Ta tŕnh bày rơ,
Màtanga được danh,
Bần tiện, ăn thịt chó.
(HT. TMC, dịch sopaka là “ăn thịt chó.”)

----------------

"Know ye by the example I now cite (the fact that by birth one is not an outcast). There was an outcast's son, Sopaka, who became known as Matanga. (Ven. Piyadassi Thera, ghi nhận Sopaka là tên gọi của người thanh niên).

-----------------

Now listen and I will give you an illustration. Once there was the son of an outcast whose name was Mātaṅga of the Sopāka caste (Ven. H. Saddhatissa ghi nhận Sopaka là tên gọi của 1 giai cấp).

----------------

Know it so even by way of this illustration of mine: a Caṇḍāla youth Sopāka (by name) widely known as Mātaṅga (Prof. N. A. Jayawickrama, cũng ghi nhận Sopāka là tên gọi của người thanh niên).

---------------

Know it by this also, as I give this example: there was a low-caste Caṇḍāla, well known as Mātaṅga (Prof. K. R. Norman, dường như bỏ qua 2 từ putto và sopāka không dịch)

----------------

Ngươi hăy biết việc ấy với điều này nữa, giống như ví dụ này của Ta: Có gă nấu thịt chó để ăn, con trai của một kẻ thuộc giai cấp nô lệ, được biết tiếng là Mātaṅga. (Tk. Indacanda)

--------------

CHÚ GIẢI: 

Caṇḍālassa putto caṇḍālaputto. Attano khādanatthāya mate sunakhe labhitvā pacatīti sopāko. Mātaṅgoti evaṃnāmo vissutoti evaṃ hīnāya jātiyā ca jīvikāya ca nāmena ca pākaṭo. (SnA i, 184) = caṇḍālaputto: con trai của một người giai cấp nô lệ (caṇḍāla). sopāko là người nhận rồi nấu chín con chó đă chết v́ mục đích (nhai) ăn của bản thân. Mātaṅgo: có danh xưng như vậy. vissuto: như vậy về ḍng dơi sanh ra thấp kém, về sự sinh sống, và về danh xưng đă được rơ ràng.

 

Thứ Hai, ngày 28 tháng 10 năm 2013

 

Chuyện vui mới phát hiện sáng nay:
MAHĀNIDDESA (TISSAMETTEYYASUTTANIDDESO, câu 8.10):
----------------
Sáng nay, làm việc với câu kệ Pali dưới đây. Nếu tự t́m hiểu trực tiếp ngay câu văn Pali th́ thời gian kéo dài và rất mệt v́ phải vận dụng đầu óc nhiều. Nên việc đầu tiên là t́m đọc bản dịch khác xem thế nào. Đầu tiên là bản tiếng Việt của HT. TMC, xem để có khái niệm và t́m hiểu cấu trúc của câu kệ Pali.
----------------
Visenikatvā pana ye caranti
diṭṭhīhi diṭṭhiṃ avirujjhamānā,
tesu tvaṃ kiṃ labhetho pasūra
yesīdha natthi paramuggahītaṃ.
---------------
Cuộc chiến đấu đă tàn,
Những ai sống như vậy,
Không có sự va chạm,
Giữa kiến này kiến khác,
Hỡi này Pasùra!
Ông được ǵ nơi họ,
Với người không chấp thủ,
Một sự ǵ tối thượng?
(Kinh Tập, câu kệ 833)
---------------
Xem xong cũng c̣n phân vân, không nắm chắc lắm về ư nghĩa của câu kệ Pali. Qúy vị nên đọc lại vài lần nữa xem thế nào.
-----------------
Sau đó mới nghiên cứu đến các bản dịch tiếng Anh, có 4 bản, dịch thoát có, dịch sát nghĩa có (thích nhất là bản của Prof. K. R. Norman) rồi mới làm được câu tiếng Việt.
--------------
Trước khi đọc bản dịch văn xuôi dưới đây, qúy vị nên đọc lại bản dịch thơ ở trên thêm 1 lần nữa. Giờ qúy vị đọc phần dịch văn xuôi dưới đây xem thế nào:
-------------
"Hơn nữa, sau khi tiêu diệt đạo binh (ô nhiễm), những vị nào sống không chống đối quan điểm (này) bằng các quan điểm (khác), này Pasūra, ngươi có thể đạt được điều ǵ ở những vị ấy, ở những vị mà điều được ôm giữ là tối thắng th́ không có ở đây." (Tk. Indacanda)
--------------
Dịch xong đọc lại phần dịch văn xuôi, th́ thấy cũng ngán thiệt, THÔ quá, nhưng không thể và không thích viết lại cách khác.
-------------
Sau đó mới đọc lại bản dịch thơ của Ngài HT. th́ kỳ diệu thay, giờ th́ thấy bản dịch thơ này có ư nghĩa và dịch như vậy mới hay.
MỜI QÚY VỊ ĐOC LẠI BẢN DỊCH THƠ Ở TRÊN XEM THẾ NÀO, CÓ PHẢI QÚY VỊ CŨNG CÓ NHẬN ĐỊNH TƯƠNG TỰ NHƯ VẬY KHÔNG?

 

*****

 

 

 

 

<Đầu Trang>