|
Trang Chính |
Trang Công Tŕnh Ấn Tống |
Font VU-Times |
|
 |
KƯ SỰ BÊN LỀ
NĂM
2011
Cập Nhật:
Monday, January 06, 2014 |
 |
|
Kư Sự Năm 2006
Kư Sự Năm 2007
Kư Sự Năm 2008
Kư Sự Năm 2009
Kư Sự Năm 2010
Kư Sự Năm 2011
Kư Sự Năm 2012
Kư Sự Năm 2013
Kư Sự Năm 2014 |
|
Thứ Bảy, ngày 01 tháng
01 năm 2011
Ngày đầu năm, lúc này đang ở
India. Sau 10 ngày tham dự Lễ Hội Trùng Tụng Tam Tạng
Pali tại Bodh Gaya, dưới chân cội Bồ Đề linh thiêng, c̣n
chưa muốn về nên vào trường học t́nh thương của Sư Cô Từ
Tâm tạm trú một thời gian. Có cả Đại Đức Đức Hiền nữa.
Lúc này đang kiểm tra lại văn bản Pali của Milindapañha.
Ở đây cũng có nối mạng Internet, nhưng v́ không có
software để upload, và cũng không nhớ password nên không
làm ǵ cho website này. Chờ về lại Sri Lanka rồi tính
sau.
BỊ GIÁN ĐOẠN MỘT THỜI GIAN DÀI,
KHÔNG CÓ HỨNG THÚ ĐỂ VIẾT.
|
|
|
|
Thứ Ba, ngày 12 tháng
04 năm 2011
Giới thiệu Website về Tam Tạng Pali:
- Xin cám ơn Đạo Hữu Thanhthanh
Pham đă giới thiệu website này:
http://www.palikanon.com/
- XIN QUƯ VỊ HĂY ĐẾM XEM Ờ TRANG
WEB CÓ BAO NHIÊU DỊCH GIẢ ĐĂ VÀ ĐANG ĐÓNG GÓP VÀO VIỆC
PHIÊN DỊCH TAM TẠNG PALI SANG TIẾNG ĐỨC: CÓ HƠN 1O DỊCH
GIẢ. Trong khi đó ở Việt Nam, số lượng dịch giả đă và
đang làm công việc phiên dịch Tam Tạng Pali sang tiếng
Việt đếm được bao nhiêu người: 1, 2, 3, ??? Đức là nước
phương Tây, đa số theo Thiên Chúa Giáo, người theo Phật
Giáo không bao nhiêu, mà số lượng học giả chịu khó
nghiên cứu cổ ngữ có số lượng vượt trội, trong khi đó
Việt Nam có truyền thống Phật Giáo từ thời xa xưa, hơn
nữa vào cuối thập niên 1930s đă có sự hiện diện của Phật
Giáo Theravada ở Nam Bộ, sau đó phát triển ra miền Trung,
và trong những năm gần đây đă có một vài ngôi chùa ở
miền Bắc. Tuy Việt Nam có hơn số đầu sách đă dịch xong,
nhưng với lực lượng dịch giả như vậy, nước Đức có khả
năng sẽ vượt xa Việt Nam trong tương lai về lănh vực
nghiên cứu này.
|
|
Thứ Tư, ngày 13 tháng
04 năm 2011
Trong khi bạn nói,
điều mà bạn lập đi lập lại là điều quan trọng, đúng
không nào?
Nhiều ư kiến cho rằng, những đoạn
lập đi lập lại trong Tam Tạng Pali nên được lược bớt.
Như vậy có phải chúng ta đă loại bỏ đi yếu tố quan trọng
mà người xưa muốn truyền đạt?
Xin quư vị đọc đoạn văn dưới đây:
“Thưa ngài Nāgasena, mười sự bố
thí này ở thế gian không được xem là bố thí. Người nào
bố thí những vật thí này, người ấy có sự đi đến địa ngục.
Mười sự bố thí nào? Thưa ngài Nāgasena, sự bố thí chất
say ở thế gian không được xem là bố thí. Người nào bố
thí vật thí ấy, người ấy có sự đi đến địa ngục. Sự bố
thí hội hè —(như trên)— Sự bố thí
người nữ —(như trên)— Sự bố thí
ḅ đực —(như trên)— Sự bố thí
tranh ảnh —(như trên)— Sự bố thí
vũ khí —(như trên)— Sự bố thí
thuốc độc —(như trên)— Sự bố thí
xích xiềng —(như trên)— Sự bố thí
gà heo —(như trên)— Thưa ngài
Nāgasena, sự bố thí cách gian lận về cân và cách gian
lận về đo lường ở thế gian không được xem là bố thí.
Người nào bố thí vật thí ấy, người ấy có sự đi đến địa
ngục. Thưa ngài Nāgasena, mười sự bố thí này ở thế gian
không được xem là bố thí. Người nào bố thí những vật thí
ấy, người ấy có sự đi đến địa ngục.”
Sau khi xem đoạn văn ở trên, điều
nào được lưu lại trong tâm trí các bạn: “MƯỜI SỰ BỐ THÍ,”
hay là “VIỆC ĐI ĐẾN ĐỊA NGỤC”? Điểm cần chú ư là chúng
ta đang lẫn lộn giữa “VĂN NÓI” và “VĂN VIẾT.” Mong rằng
quư vị lưu ư điểm này lúc nghiên cứu Tam Tạng Pali. Có
một vị sư người Thái cho hay rằng Thái Lan đang thực
hiện bộ Tam Tạng mới, trong đó các đoạn trùng lặp trước
đây bị lược bỏ, nay sẽ được điền vào đầy đủ. Vị nào có
khả năng xin kiểm chứng giùm.
|
|
Thứ Sáu, ngày 15 tháng
04 năm 2011
Tŕnh Độ Tư Duy của Người Ấn Thể Hiện Qua
Ngôn Ngữ:
Đây là 1
đoạn văn ở tác phẩm Milindapañhā (Những Câu Hỏi
của Milinda/Milinda Vấn Đạo) vào khoảng thế kỷ thứ 1 sau
công nguyên. Dưới đây là văn cảnh (context):
-
Yathā mahārāja kammakaro evaṃ cintayati: ‘Bhatako ahaṃ
imāya nāvāya kammaṃ karomi, imāyāhaṃ nāvāya vāhasā
bhattavetanaṃ labhāmi, na me pamādo karaṇīyo, appamādena
me ayaṃ nāvā vāhetabbā ’ti.
- Tâu đại vương, giống như người
làm công suy nghĩ như vầy: ‘Là người làm thuê, ta làm
công việc ở chiếc thuyền này, nhờ vào chiếc thuyền này
mà ta đạt được thức ăn và tiền công, ta không nên gây ra
sự xao lăng, chiếc thuyền này sẽ được chuyển vận nhờ vào
ta có sự không xao lăng.’
Ở 2 mệnh
đề cuối cùng:
1/ ‘na
me pamādo karaṇīyo’ :
- ‘ta không nên gây ra sự xao lăng’:
Nếu dịch sát văn sẽ là ‘sự xao lăng không nên được tạo
ra bởi ta.’ C̣n nếu dịch cho hay th́ chỉ cần: ‘ta không
nên xao lăng’ hay là ‘ta không được xao lăng.’ Thể thụ
động được dùng nhiều trong các văn bản Pali. Sẽ
tham khảo vào những dịp tới. Vấn đề muốn tŕnh bày là ở
phần kế.
2/ ‘appamādena
me ayaṃ nāvā vāhetabbā’:
- ‘chiếc thuyền này sẽ được chuyển
vận nhờ vào ta có sự không xao lăng’
Lúc đầu,
lúc đọc qua nắm được ư tứ, th́ nghĩa Việt được ghi như
sau:
-
‘chiếc thuyền này sẽ được chuyển
vận nhờ vào sự không xao lăng của ta.’
Dịch theo cách này th́ có vẻ tiếng
Việt hơn, nhưng đành phải loại ra và chọn câu dịch như ở
trên, mặc dầu khi đọc thấy kỳ kỳ. Lư do:
a/ vị trí của các từ trong câu là
‘appamādena
me’
chứ không phải là ‘me appamādena.’ Mặc dầu trong
sách giáo khoa của Pali ghi rằng: ‘thứ tự trong
câu Pali không quan trọng,’ nhưng bản thân Tôi
không đồng ư về điều này, và đang thu thập các chứng cớ
để phản bác; có thể ví dụ này là một điển h́nh.
b/ ‘sự
không xao lăng’ không phải là tác động chính cho
chiếc thuyền di chuyển, mà phải là con người, là ‘ta’.
Để dễ hiểu hơn, xin xem 2 câu sau:
‘chiếc thuyền này sẽ được chuyển
vận nhờ vào ta’ và ‘chiếc thuyền này sẽ được
chuyển vận nhờ vào sự không xao lăng.’ Câu thứ
hai không đứng vững.
|
|
Thứ Bảy, ngày 16 tháng
04 năm 2011
Tham Khảo Bản Dịch của Người Khác - Hay
Lệ Thuộc?
Dưới đây
là 1 câu kệ Pali, với lời dịch tiếng Anh và lời dịch
Việt đă được tŕnh bày theo từng ḍng, nghĩa là ḍng thứ
nhất của câu Pali th́ tương đương với ḍng 1 của tiếng
Anh và Việt:
‘Dhammasīsaṃ
karitvāna viharanto vipassako,
anolīno viharati upasanto sadā sato
’ti.
‘Dwelling
as one of insight, having made Dhamma the head,
He dwells
without shrinking, always tranquil and mindful.’
‘Sau khi
lấy Giáo Pháp làm chủ đạo, trong khi sống,
vị hành
Minh Sát sống không biếng nhác, an tịnh, luôn luôn có
niệm.’
So sánh 2
lời dịch Anh và Việt:
Ḍng 1:
Sự sắp xếp vị thế của hai cụm từ khác nhau. Không luận
về điểm này.
Ḍng 2:
Câu tiếng việt cho đoạn cuối ‘upasanto sadā sato’
th́ nên ghi là:
‘luôn
luôn an tịnh và có niệm’ (dịch theo câu tiếng Anh:
always tranquil and mindful).
hay là
‘an tịnh, luôn luôn có niệm’ (giống như câu tiếng Việt)
Từ Vựng:
viharati = dwells/sống, (động từ chính, finite verb).
anolīno
(without shrinking/không biếng nhác), upasanto
(tranquil/an tịnh), sato (mindful/có niệm): Cả 3
từ có thể xem là tính từ bổ nghĩa cho chủ từ
vipassako (he/one of insight/vị hành Minh Sát).
sadā
= always/luôn luôn, là trạng từ, bổ nghĩa cho tính từ.
Vấn đề ở
đây là trạng từ ‘sadā/always/luôn luôn’ bổ nghĩa
cho tính từ nào?
Câu tiếng
Anh cho biết là 2 tính từ sau cùng: tranquil,
mindful.
Câu tiếng
Việt th́ chỉ bổ nghĩa cho mỗi một tính từ: ‘có niệm.’
Suy luận:
- Nếu đă
bổ nghĩa 2 tính từ cuối, tại sao không bổ nghĩa luôn cả
3 tính từ?
- Theo
ngữ nghĩa th́ trạng từ ‘sadā/always/luôn luôn’ có
thể bổ nghĩa luôn cả 3 tính từ,
nhưng nếu
vậy th́ câu Pali nên là: ‘anolīno viharati upasanto
sato sadā’ (chữ sadā sẽ nằm ở cuối).
- Nếu như
chỉ bổ nghĩa cho upasanto (tranquil/an tịnh), th́
xem ra không hợp lư về mặt ngữ nghĩa (luôn luôn an tịnh,
có niệm).
Kết luận:
- vị hành
Minh Sát sống luôn luôn không biếng nhác, an tịnh, có
niệm.
- vị hành
Minh Sát sống không biếng nhác, luôn luôn an tịnh và có
niệm.
- vị hành
Minh Sát sống không biếng nhác, luôn luôn an tịnh, có
niệm.
- vị hành
Minh Sát sống không biếng nhác, an tịnh, luôn luôn có
niệm.
Xét theo
mặt ngữ nghĩa của tiếng Việt, th́ cả bốn câu đều có thể
chấp nhận.
Xét theo
câu dịch Việt gần nhất với câu Pali th́ câu thứ 2 là câu
dịch từ câu tiếng Anh, bản thân Tôi chọn câu cuối cùng,
c̣n bạn sẽ chọn câu nào?
Nói tóm
lại, dịch Pali nếu có tham khảo được bản dịch của người
khác sẽ nhẹ được nhiều việc: việc chọn nghĩa của từ,
việc nắm được ư chính của đoạn văn, việc xác định cấu
trúc của câu văn, việc học thêm kinh nghiệm của họ. Vấn
đề là chúng ta có đủ tự tin vào sự xét đoán của chính
ḿnh, hay là mù quáng chạy theo quan điểm của người khác.
*****
Những Lỗi Lầm Thường Mắc Phải Trong Khi
Phiên Dịch:
Cố Giáo sư
Dhirasekera (Ven. Dhammavihārī) đă tổng kết về các
trường hợp sai sót trong khi phiên dịch Pali như sau:
(i)
Inadequate examination of all original source material,
(ii)
Misinterpretations resulting form ignorance of the
language, i.e. Pali, and lack of familiarity with the
subject,
(iii)
Misinterpretations resulting form a desire to force
available evidence to fit into a preconceived pattern.”
(17)
Dhirasekhera, Jotiya. Buddhist Monastic Discipline: A
study of its origin and development in relation to the
Sutta and Vinaya Pitakas. Colombo: M.D. Gunasena,
1982.
|
|
Chúa Nhật, ngày
17 tháng 04 năm 2011
What is the true
meaning of the word “Pali”?
The word “Pali” cannot be found in
the Tipitaka.
In Buddhaghosa's commentaries, he
noted “pāliñca atthakathañca” to concern the
learning of the bhikkhus. “Atthakathā” is the
commentary, so then the word “Pali” is presumed to be
the Buddha’s Teachings that have been being preserved in
the Tipitaka. The language written in the Tipitaka was
noted by Buddhaghosa as “Māgadhabhāsā”, which means the
language of the Magadha country. It’s believed that the
language used in the Tipitaka may be named as “Pali”
firstly by a French scholar, Simon de la Loubère, when
he published his book “Du Royaume de Siam” in 1691; this
book was translated into English in 1693 (Juo-Hsüeh Shih
Bhikkhunī, Controversies over Buddhist Nuns, Oxford: The
Pali Text Society, 2000, page 3)Thus, by that early
mistake made in the past, nowadays we always think that
the word “Pali” is a kind of language, although its
primary and true meaning is entirely different.
Summary: Pali might serve two
meanings:
- The words of the Buddha
preserved in the Tipitaka, Pali Canon.
- The language used in the
Tipitaka
Pali có ư
nghĩa thế nào?
Từ Pali không t́m thấy ở
Tam Tạng.
Ở Chú Giải, khi đề cập đến việc
học tập của vị tỳ khưu th́ Ngài Buddhaghosa có ghi là vị
ấy cần học tập “pāliñca atthakathañca,” nghĩa
là học "pali và atthakathā." Từ
atthakathā có nghĩa là Chú Giải, nhờ đó có thể biết
được rằng từ Pali có nghĩa là Chánh Tạng, là
những ǵ được chứa đựng trong Tam Tạng.
Và ngôn ngữ ghi lại Tam Tạng th́
Ngài Buddhaghosa ghi rằng Māgadhabhāsā, nghĩa
là ngôn ngữ của xứ Magadha (Ma Kiệt Đà). Việc gọi
Pali là tên của ngôn ngữ ghi lại lời dạy của đức
Phật có thể đă được học giả người Pháp Simon de la
Loubère sử dụng đầu tiên trong tác phẩm Du Royaume
de Siam ấn hành năm 1691; tài liệu này đă được dịch
sang tiếng Anh năm 1693 (Juo-Hsüeh Shih Bhikkhunī,
Controversies over Buddhist Nuns, Oxford: The Pali
Text Society, 2000, trang 3). Do sự ngộ nhận ban đầu đó,
ngày nay nói đến từ Pali người ta liên tưởng
đến ngôn ngữ Pali, mà hầu như không biết đến ư
nghĩa ban đầu của nó.
Như vậy tùy theo ngữ cảnh, Pali có
thể hiểu là:
- Các lời dạy nguyên thủy, chánh
truyền, của đức Phật.
- Ngôn ngữ đă được sử dụng để ghi
lại các lời dạy ấy.
|
|
Thứ Hai, ngày 18 tháng
04 năm 2011
Tư Tưởng Giữa Các Nền Văn Hóa: Tương Đồng
Hay Tương Tác?
Tục Ngữ
Việt Nam có câu: ‘Thùng rỗng kêu to.’
Ở tác
phẩm Milindapañhā của Ấn Độ (thế kỷ thứ 1 theo
Tây Lịch) thấy có câu kệ này:
‘Yadūnakaṃ
taṃ saṇati yaṃ pūraṃ santameva taṃ,
rittakumbhūpamo bālo rahado pūro ’va paṇḍito.’
Nghĩa
tiếng Việt:
‘Cái
ǵ thiếu kém cái ấy làm thành tiếng vang, cái ǵ được
đầy cái ấy thật yên tịnh. Kẻ ngu tương tợ cái chum rỗng,
bậc sáng trí tợ như hồ nước đầy tràn.’
Nguyên tác Pali và lời dịch Việt:
1.
KUMBHAṄGAPAÑHO:
“Bhante
nāgasena, ‘kumbhassa sakaṃ aṅgaṃ gahetabban ’ti yaṃ
vadesi, katamantaṃ ekaṃ aṅgaṃ gahetabban
”ti.
“Yathā
mahārāja kumbho sampuṇṇo na saṇati. Evameva kho mahārāja
yoginā yogāvacarena āgame adhigame pariyattiyaṃ sāmaññe
pāramiṃ patvā na saṇitabbaṃ, na tena māno karaṇīyo, na
dappo dassetabbo, nihatamānena nihatadappena bhavitabbaṃ,
ujukena amukharena avikatthinā. Idaṃ mahārāja kumbhassa
ekaṃ aṅgaṃ gahetabbaṃ. Bhāsitampetaṃ mahārāja bhagavatā
devātidevena suttanipāte:
‘Yadūnakaṃ
taṃ saṇati yaṃ pūraṃ santameva taṃ,
rittakumbhūpamo bālo rahado pūro ’va paṇḍito
’”ti.
Kumbhaṅgapañho paṭhamo.
*****
1. CÂU
HỎI VỀ TÍNH CHẤT CỦA CHUM NƯỚC:
“Thưa
ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của
chum nước nên được hành tŕ,’ một tính chất nên được
hành tŕ ấy là điều nào?”
“Tâu đại
vương, giống như chum nước đầy th́ không làm thành tiếng
vang. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả
thiết tha tu tập sau khi đạt đến sự toàn hảo về Kinh
điển, về sự chứng đắc, về pháp học, về bản thể Sa-môn
th́ không nên làm thành tiếng vang, không nên thể hiện
sự ngă mạn v́ điều ấy, không nên phô bày sự kiêu ngạo,
nên có sự ngă mạn được lắng xuống, nên có sự kiêu ngạo
được lắng xuống, nên thẳng thắn, không nói nhiều, không
có sự khoe khoang. Tâu đại vương, điều này là một tính
chất của chum nước nên được hành tŕ. Tâu đại vương,
điều này cũng đă được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các
vị Trời, nói đến ở Kinh Tập:
‘Cái
ǵ thiếu kém cái ấy làm thành tiếng vang, cái ǵ được
đầy cái ấy thật yên tịnh. Kẻ ngu tương tợ cái chum rỗng,
bậc sáng trí tợ như hồ nước đầy tràn.’”
Câu hỏi
về tính chất của chum nước là thứ nhất.
*****
|
|
Thứ Năm, ngày 21 tháng
04 năm 2011
Một Số Softwares Cần Thiết Cho Giới
Nghiên Cứu Phật Học:
Có thể download ở trang web này.
http://tongphuockhai.wordpress.com/
Siddhamkey 3.0
Sanskrit English Dictionary
Hanosoft 3.0
Pali Dictionary (Pali-Viet, Pali-English, Pali-Chinese)
Theragāthā - Trưởng
Lăo Kệ: Hai Phong Cách Dịch Thuật?
2. Upasanto uparato
mantabhāṇī anuddhato,
dhunāti pāpake dhamme dumapattaṃ va māluto
”ti.
2. Tịch tịnh và chỉ tức,
Tụng đọc lời trí tuệ,
Tâm tư không tháo động,
Ác pháp được vứt bỏ,
Giống như những lá cây,
Bị gió thổi phiêu bạt.
2. “Vị an tịnh, tự chế, có lời nói
đúng đắn, không dao động, rủ bỏ các ác pháp ví như gió
làm rụng lá cây.”
5. Yo duddamiyo damena danto
dabbo santusito vitiṇṇakaṅkho,
vijitāvī apetabheravo hi dabbo so
parinibbuto ṭhitatto ”ti.
5. Ai thật khó nhiếp phục,
Nay đă được nhiếp phục,
Dabba tự biết đủ,
Nghi ngờ được vượt qua,
Thắng trận, không sợ hăi,
Dabba trú tịch tịnh.
5. “Là người khó huấn luyện, đă
được huấn luyện với sự huấn luyện (tối thượng), có khả
năng, tự biết đủ, có nỗi hoài nghi đă được vượt qua, có
sự chiến thắng, có sự kinh sợ đă được xa ĺa, Dabba ấy
v́ thế đă được hoàn toàn giải thoát, có nội tâm ổn định.”
7. Yopānudī maccurājassa
senaṃ
naḷasetuṃ va sudubbalaṃ mahogho,
vijitāvī apetabheravo hi
danto so parinibbuto ṭhitatto ”ti.
7. Ai đuổi đi thần chết,
Với đạo binh của nó,
Những ḍng nước lớn mạnh,
Trói cây lau yếu ớt,
Thắng trận, không sợ hăi,
Nhiếp phục, trú tịch tịnh.
7. “Ví như ḍng nước lũ mạnh mẽ
cuốn trôi chiếc cầu bằng cây sậy vô cùng yếu ớt, vị nào
xua tan đạo binh của Ma Vương, có sự chiến thắng, có sự
kinh sợ đă được xa ĺa, vị ấy đă được huấn luyện, v́ thế
đă được hoàn toàn giải thoát, có nội tâm ổn định.”
|
|
Thứ Sáu, ngày 22 tháng
04 năm 2011
Tham Khảo Bản Dịch của Người Khác - Hay
Lệ Thuộc? (Bài 2)
Vanavacchattheragāthā = Kệ Ngôn của Trưởng Lăo
Vanavaccha:
13. Nīlabbhavaṇṇā rucirā
sītavārī sucindharā,
indagopakasañchannā te selā ramayanti man
”ti.
Dưới đây là 4 lời dịch:
Đẹp sắc, mây xanh biếc,
Nước mát lạnh, chảy trong,
Kẻ chăn ḅ Inda,
Che kín cả ngôi rừng,
Những ngôi núi đá ấy,
Làm hân hoan tâm ta'. (HT. Thích
Minh Châu)
The color of blue-dark clouds,
glistening, cooled with the waters of clear-flowing
streams covered with ladybugs: those rocky crags refresh
me. (Ven. Thanissaro)
Those rocks delight me, the colour
of the blue clouds, beautiful, with cook waters and pure
streams, covered with Indagopaka insects. (Prof. K. R.
Norman)
Màu sắc của bầu trời xanh, ưng ư,
ḍng suối trong sạch, có nước mát lạnh, những tảng núi
đá ấy, được che kín bởi những con mối đỏ, khiến tôi
thích thú. (Tk. Indacanda)
Vấn đề ở đây là cụm từ
indagopaka-sañchannā, số nhiều, có thể nam tánh có
thể nữ tánh, và có thể bổ nghĩa cho từ sucindharā
ở pada 2 ở ḍng trên hoặc selā ở pada
4 thuộc ḍng dưới.
- sañchannā là quá khứ phân
từ dùng như tĩnh từ, có ư nghĩa: ‘được che lấp, được
phủ kín.’
- indagopaka: Chú Giải giải
thích ba cách khác nhau: TÀI LIỆU CỔ đă nói là một loại
bọ màu đỏ xuất hiện vào thời điểm mùa mưa, MỘT SỐ VỊ nói
là một loại cỏ màu đỏ tên là indagopaka, CÓ NHỮNG
VỊ KHÁC cho là một loại cây tên kaṇikāra (ThagA.
62).
- indagopaka-sañchannā =
được phủ kín bởi (các) indagopaka.
Nhận xét: Như vậy, cụm từ
indagopaka-sañchannā có 3 lối dịch khác nhau:
- HT. Minh Châu dịch là: “Kẻ chăn
ḅ Inda, che kín cả ngôi rừng.”
- Hai dịch giả ngoại quốc chọn
nghĩa của từ indagopaka là một loài côn trùng, và
xác định từ indagopaka bổ nghĩa cho streams/những
ḍng nước, “covered with ladybugs” và “covered
with Indagopaka insects.”
- Tôi chọn nghĩa của từ
indagopaka là những con mối đỏ (?) và cho rằng từ ấy
bổ nghĩa cho những tảng núi đá; điều này những ai có ở
các vùng đất rừng ở các khu vực Long Thành, Long Khánh
có thể chứng kiến.
KẾT LUẬN:
- Công việc phiên dịch Tam Tạng
Pali sang tiếng Việt c̣n nhiều việc phải làm, đừng thỏa
măn với những ǵ hiện có.
- Đừng tự ty, đừng chuộng ngoại,
hăy tự tin vào chính ḿnh.
|
|
Chúa Nhật, ngày
24 tháng 04 năm 2011
Tham Khảo Bản Dịch của Người Khác - Hay
Lệ Thuộc? (Bài 3)
Mâm cỗ
đă có người khác dọn sẵn, tại sao không hưởng?
(Trích
Theragāthāpāli - Trưởng Lăo Kệ, câu kệ của trưởng
lăo Ramaṇīyavihārī)
45.
Yathāpi bhaddo ājañño khalitvā patitiṭṭhati,
evaṃ dassanasampannaṃ sammāsambuddhasāvakan ”ti.
Nhận
xét:
- Cả 2
ḍng của câu kệ này chưa là một câu hoàn chỉnh (complete
sentence), không có động từ chính (finite verb).
- Ḍng
trên là một mệnh đề phụ (subordinate clause):
‘Cũng giống như con ḅ giống tốt lành, sau khi sẩy chân,
đứng lên lại,’
- Ḍng
dưới gồm có ‘evaṃ’ (= ‘tương tợ như thế’, bất biến từ),
kết nối với mệnh đề phụ ở trên, và 2 cụm từ
dassanasampannaṃ (= ‘đă đạt được sự nhận thức’, quá
khứ phân từ, được dùng như tính từ, bổ nghĩa cho từ kế
tiếp) sammāsambuddhasāvakaṃ (= ‘đệ tử của đấng
Chánh Đẳng Giác’, danh từ, tiếp vĩ ngữ cho thấy từ này
chỉ có thể làm túc từ cho một động từ nào không có ở đây).
Như vậy, câu kệ này có thể đă bị thiếu sót trong quá
tŕnh kết tập v́ các văn bản của Thái Lan, Miến Điện
cũng y như vậy. Xem cách giải quyết hợp lư của Prof. K.
R. Norman ở bên dưới.
45. “Như
con thú hiền thiện,
Giống tốt,
huấn luyện khéo,
Sau khi
đă vấp ngă,
Lại đứng
lên, an trú,
Ta đầy đủ
chánh kiến,
Đệ tử bậc
Chánh giác” (HT. Thích Minh Châu).
45. Just
as a noble thoroughbred, having stumbled, stands firm
(again), so should you consider me as one possessed of
insight, a disciple of the fully-enlightened one, the
Buddha’s own thoroughbred son” (Prof. K. R. Norman).
Ghi
chú:
Trong phần ghi chú của Prof. K. R. Norman đề cập đến câu
kệ 174:
“Evaṃ
dassanasampannaṃ sammāsambuddhasāvakaṃ,
ājānīyaṃ maṃ dhāretha puttaṃ buddhassa orasan ”ti.
Và ghi
chú rằng có thể câu kệ 45 này có thể đă ghi thiếu một
ḍng.
Giáo Sư
đă dịch theo câu kệ đă được hiệu đính lại gồm 3 ḍng như
dưới đây:
“Yathāpi
bhaddo ājañño khalitvā patitiṭṭhati,
evaṃ dassanasampannaṃ sammāsambuddhasāvakaṃ,
ājānīyaṃ maṃ dhāretha puttaṃ buddhassa orasan ”ti.
45. “Cũng
giống như con ḅ giống tốt lành, sau khi sẩy chân, đứng
lên lại, tương tợ như thế, (xin các ngài hăy ghi nhận
tôi là thuần chủng, là người con trai chính thống của
đức Phật) đă đạt được sự nhận thức, là đệ tử của đấng
Chánh Đẳng Giác” (Tk. Indacanda).
Ghi
chú:
Phần thêm vào từ câu kệ 174 được để:trong ngoặc đơn.
|
|
Thứ Ba, ngày 26 tháng
04 năm 2011
Tham
Khảo Bản Dịch của Người Khác - Hay Lệ Thuộc? (Bài 4)
(Trích
Theragāthāpāli - Trưởng Lăo Kệ, câu kệ của trưởng
lăo Añjanavaniya)
Ở đây,
Professor K. R. Norman đă có một nhận xét rất hay, đă
chỉ ra một sơ xuất ở tài liệu Chú Giải là: Trong câu kệ
này có hai mệnh đề độc lập (complete sentence),
mỗi ḍng là một mệnh đề. Mệnh đề thứ nhất ở ḍng trên
thiếu động từ chánh (finite verb).
Tuy không
đồng ư với cách hiệu đính của vị giáo sư này v́ thiếu sự
thuyết phục, nhưng phải nói là “tâm phục, khẩu phục” về
nhận xét sắc sảo của vị giáo sư này, v́ đă chỉ ra được
sự không hợp lư trong văn bản cổ; không rơ là do sơ ư
của Chú Giải Sư, hay do bị thất lạc trong quá tŕnh kết
tập?
55.
55. Āsandiṃ kuṭikaṃ katvā ogayha añjanaṃ vanaṃ,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa
sāsanan ”ti.
55. Làm
am thất giường nằm,
Sâu trong
rừng An-ja,
Ba minh
được chứng đạt,
Làm xong
lời Phật dạy (HT. Thích Minh Châu).
55.
Making a small hut, plunging into the Añjana forest, I
dwelt there. The three knowledges have been obtained,
the Buddha’s teachin has been done (Prof. K. R. Norman).
Ghi
Chú:
Āsandiṃ
thay v́ chọn lối dịch là ‘chiếc kiệu vuông’ như
Chú Giải đă giải thích, Prof. K. R. Norman cho rằng nên
xem ‘āsandiṃ’ là động từ: ‘I dwelt’ với
dẫn chứng câu kệ 487 có cấu
trúc tương tợ: “katvāna
kuṭim acchisaṃ = having made a hut, I dwelt there.”
55. “Sau
khi làm cái liêu kích thước bằng chiếc kiệu vuông, tôi
đă đi sâu vào khu rừng Añjana. Ba Minh đă được thành tựu,
lời dạy của đức Phật đă được thực hành” (Tk. Indacanda).
Ghi
Chú:
Câu dịch
trên đă dịch ép từ ‘ogayha = sau khi đi sâu vào
--> tôi đă đi sâu vào” Nếu dịch sát nghĩa th́ sẽ như
dưới đây:
“Sau khi
làm cái liêu kích thước bằng chiếc kiệu vuông, sau khi
đi sâu vào khu rừng Añjana, ... Ba Minh đă được thành
tựu, lời dạy của đức Phật đă được thực hành.”
Có thể
c̣n một câu nữa xen vào ở giữa ba chấm ... v́ ư nghĩa
xét ra chưa được đầy đủ lắm.
|
|
Thứ Tư, ngày 27 tháng
04 năm 2011
Nghệ Thuật Chơi Chữ ở
Pali:
(Trích
Theragāthāpāli - Trưởng Lăo Kệ, câu kệ của trưởng lăo Vappa)
61. Passati
passo passantaṃ apassantaṃ ca passati,
apassanto apassantaṃ passantaṃ ca na passatī ”ti.
Nhận xét: từ “PASS”
với nghĩa “thấy, nh́n thấy” được sử dụng 9 lần trong câu kệ này
bằng cách thêm vào tiếp đầu ngữ và tiếp vĩ ngữ để trở thành danh
từ, động từ, danh động từ, hiện tại phân từ: a /+ PASS + /
ati / o / antaṃ / anto.
Việc diễn tả câu
kệ này qua văn nói với sự lên giọng, xuống giọng, nhấn giọng,
nghỉ giữa câu, v.v... sẽ không làm rối trí người nghe. Nhưng khi
chuyển qua văn viết lại là vấn đề khác. Mời quư vị đọc thử các
câu dịch xem thế nào.
61. Vị đă thấy,
thấy được,
Người thấy, người
không thấy,
Vị không thấy,
không thấy,
Người không thấy,
người thấy (HT. Thích Minh Châu).
61. One who sees
sees who sees, sees who doesn't. One who
doesn't see
doesn't see who sees or who doesn't (Ven. Thanissaro).
61. The seeing
one sees the seeing one, and sees the non-seeing one too; the
non-seeing one does not see the non-seeing one nor the seeing
one (Prof. K. R. Norman).
61. “Người nh́n thấy nh́n thấy người nh́n thấy, và nh́n
thấy người không nh́n thấy. Người không nh́n thấy không nh́n
thấy người không nh́n thấy và người nh́n thấy” (Tk. Indacanda).
Mới đầu viết như trên, sau viết lại như
vầy:
Người thấy nh́n thấy được hạng người thấy, và nh́n thấy
được hạng người không thấy. Người không thấy không nh́n thấy
được (cả hai hạng) người không thấy và người thấy.
(Tk. Indacanda).
Sau đó, nghĩ ra thêm lối dịch này. Vậy nên
chọn câu nào, 1, 2, hay 3???
Người biết nhận ra được hạng người biết, và nhận ra được
hạng người không biết. Người không biết không nhận ra được (cả
hai hạng) người không biết và người biết. (Tk. Indacanda).
Theo Cường Đặng:
"Người thấy thấy được hạng người thấy, và
thấy được hạng người không thấy. Người không thấy không thấy
được (cả hai hạng) người không thấy và người thấy."
|
|
Thứ Năm, ngày 28 tháng 04 năm
2011
Tham Khảo Bản Dịch của
Người Khác - Hay Lệ Thuộc? (Bài 7)
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng
Lăo Kệ, câu kệ của trưởng lăo Ātuma)
72. Yathā kaḷīro susu
vaḍḍhitaggo dunnikkhamo hoti pasākhajāto,
evaṃ ahaṃ bhariyāyānītāya
anumañña maṃ pabbajitomhi dānī ”ti.
72. Như cây măng lớn mạnh,
Khó vượt khỏi cây cành,
Cũng vậy, đến với ta,
Vấn đề đem vợ về,
Hăy vui ḷng chấp thuận,
Nay ta đă xuất gia (HT. Thích Minh
Châu).
72. Just as a young bamboo is hard
to trample down when its tip has grown, and it has
developed hard wood, so I find it hard to go forth
because of the wife who has been brought home. Give me
permission. Now I have gone forth (Prof. K. R. Norman).
72. Giống như mụt măng non có chồi
đă phát triển, đă đâm nhánh, th́ khó dời đi, tương tợ
như thế tôi (khó ra đi) khi người vợ đă được đem về. Hăy
theo ư tôi. Giờ đây tôi đă xuất gia (Tk. Indacanda).
---------------------------
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng
Lăo Kệ, câu kệ của trưởng lăo Ajjuna)
88. Asakkhiṃ vata attānaṃ
uddhātuṃ udakā thalaṃ,
vuyhamāno mahogheva saccāni
paṭivijjhahan ”ti.
88. Ta có thể tự ḿnh,
Kéo nước từ đất liền,
Như nước lớn cuốn trôi,
Ta thể nhập sự thật (HT. Thích
Minh Châu).
88. Truly I was able to draw
myself from the water to dry land. As if being borne
along on a great flood, I comprehended the truths (Prof.
K. R. Norman).
88. Quả thật, tôi đă có thể nâng
bản thân ra khỏi nước đưa vào đất liền. Trong khi đang
bị cuốn trôi ngay ở trong ḍng nước lũ, tôi đă thấu
triệt các Sự Thật (Tk. Indacanda).
|
|
Thứ
Bảy, ngày 30 tháng 04 năm 2011
Tham Khảo Bản Dịch của
Người Khác - Hay Lệ Thuộc? (Bài 5)
Mâm cỗ đă có người khác dọn sẵn, tại sao không thọ hưởng?
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng
Lăo Kệ, câu kệ của trưởng lăo Adhimutta)
114. Kāyaduṭṭhullagaruno
hīyamānamhi jīvite,
sarīrasukhagiddhassa kuto
samaṇasādhutā ”ti.
114. Trong nếp sống tâm tư,
Hướng về hạnh từ bỏ,
Với thân thể thô lỗ,
Nặng nề như thế này,
Nếu ham muốn thân thể,
Được thọ hưởng các lạc,
Từ đâu thành tựu được,
Hạnh của bậc Sa-môn? (HT. Thích
Minh Châu).
114. Whence will perfection as an
ascetic come for one who is heavy with grossness of body
and greedy for bodily happiness while life is fading
away? (Prof. K. R. Norman).
114. Trong khi mạng sống đang bị
tiêu hoại (dần), đối với kẻ có sự nặng nề và thô kệch ở
thân xác, bị tham đắm trong sự khoái lạc của cơ thể,
tính chất tốt đẹp của Sa-môn từ đâu mà có? (Tk.
Indacanda).
-----------------------------
118. Abhisatthova nipatati
vayo rūpaṃ aññamiva tatheva santaṃ,
tasseva sato avippavasato
aññasseva sarāmi attānan ”ti.
118. Như bị lời trù yếm,
Tuổi già đến áp đảo,
Dung sắc bị đổi khác,
Nhưng cũng dung sắc trước;
Vị ấy như thế nào,
Không có ǵ thay đổi,
Nhưng ta chớ tự ngă,
Có ǵ đă đổi khác (HT. Thích Minh
Châu).
118. As if sent by a curse, it
drops on us — aging. The body
seems other, though it's still the
same one. I'm still here & have never
been absent from it, but I
remember myself as if somebody else's (Ven. Thanissaro).
118. (Old) age falls upon one as
though ordered; the shape although the same, is as
though different. I remember my own self as though of
another, although I am the same, not having been away
(Prof. K. R. Norman).
118. Tuổi tác áp đặt lên như là đă
được ra lệnh, sắc thân trong khi vẫn là vậy lại tợ như
cái khác. Tôi nhớ về bản thân như là của cái khác, trong
khi vẫn chính là cái ấy, không có tách ĺa (Tk.
Indacanda).
|
|
Thứ
Ba, ngày 03 tháng 05 năm 2011
Nghệ Thuật Chơi Chữ ở Pali: (Bài 2)
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng
Lăo Kệ, câu kệ của trưởng lăo Vimalakoṇḍañña)
Câu kệ dưới đây sẽ không hiểu được
nếu không có lời giải thích của bản Chú Giải.
Xin xem các lời dịch dưới đây sẽ
hiểu vấn đề:
64. 64.
Dumavhayāya uppanno jāto paṇḍaraketunā,
ketuhā ketunāyeva mahāketuṃ padhaṃsayī ”ti.
64. Dưới cờ trắng ta sanh,
Từ nàng tên một cây,
Với cờ đánh đổ cờ,
Lá cờ lớn hủy diệt (HT. Thích Minh
Châu).
64. I was born of the tree-named
one, begotten by the bright-bannered one. The
banner-killer has destroyed the bearer of the great
banner by means of the banner (Prof. K. R. Norman).
64. Được sanh ra bởi người mang
tên một loài cây (kỹ nữ Ambapālī), đă được tạo ra bởi
người có cây cờ màu trắng (đức vua Bimbisāra), vị hủy
hoại cây cờ (người không c̣n ngă mạn) đă tiêu diệt kẻ có
cây cờ vĩ đại (Ma Vương) bằng chính cây cờ (trí tuệ) (Tk.
Indacanda).
Chú thích: Những chữ trong
ngoặc đơn được thêm vào từ bản Chú Giải.
Các lời giải thích của Chú Giải
được lược dịch như sau:
- Tên của kỹ nữ Ambapālī có chữ
amba = cây xoài, trái xoài.
- Nhà vua thường dùng lọng trắng
và cờ trắng.
- Cây cờ thường được dương lên nên
được ví như ngă mạn (cũng dương lên).
- Ma Vương có phạm vi hoạt động
rộng lớn nên gọi là kẻ có cây cờ vĩ đại.
- Bởi v́ trí tuệ là cây cờ của các
bậc Thánh.
|
|
Thứ
Bảy, ngày 07 tháng 05 năm 2011
Đứng Trước Ngă Ba Đường: (Bài 1)
Một câu
Kệ Ngôn, diễn giải hai cách.
Hành
tŕnh phiên dịch Kinh Điển Phật Giáo sang tiếng Việt c̣n
dài thăm thẳm.
(Trích
Theragāthāpāli - Trưởng Lăo Kệ, câu kệ của trưởng
lăo Dhaniya)
228.
Sukhañce jīvituṃ icche sāmaññasmiṃ apekkhavā,
saṅghikaṃ nātimaññeyya cīvaraṃ pānabhojanaṃ.
229.
Sukhañce jīvituṃ icche sāmaññasmiṃ apekkhavā,
ahi
musikasobbhaṃ va sevetha sayanāsanaṃ.
230.
Sukhañce jīvituṃ icche sāmaññasmiṃ apekkhavā,
itarītarena tusseyya ekadhammañca bhāvaye ”ti.
228.
Nếu muốn mong đợi lạc
Trong
đời sống Sa-môn,
Chớ
khinh y chúng Tăng,
Chớ
khinh Tăng ẩm thực.
Nếu
muốn mong đợi lạc
Trong
đời sống Sa-môn,
Hăy
sử dụng trú xứ,
Như
rắn và như chuột.
229.
Nếu muốn mong đợi lạc
Trong
đời sống Sa-môn,
Hăy
biết tự bằng ḷng
Với
bất cứ việc ǵ,
Và
hăy cương quyết tu,
Tu
tập hạnh nhất pháp (HT.
Thích Minh Châu).
228.
Người có ước vọng về đời sống Sa-môn, nếu mong muốn sống
an lạc, không nên chê bai y áo, nước uống, và thức ăn
thuộc về hội chúng.
229.
Người có ước vọng về đời sống Sa-môn, nếu mong muốn sống
an lạc, nên sử dụng chỗ nằm ngồi tợ như con rắn sử dụng
cái hang của con chuột.
230.
Người có ước vọng về đời sống Sa-môn, nếu mong muốn sống
an lạc, nên hài ḷng với vật này vật khác (tùy thuộc vào
sự phát sanh), và nên tu tập một pháp (không xao lăng)
(Tk. Indacanda).
|
|
Chúa Nhật, ngày
08 tháng 05 năm 2011
Đứng Trước Ngă Ba
Đường: (Bài 2)
Một câu Kệ Ngôn, hai lời dịch Việt
khác nhau, cần có người thứ ba, thứ tư.
Hành tŕnh phiên dịch Kinh Điển
Phật Giáo sang tiếng Việt c̣n dài thăm thẳm.
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng
Lăo Kệ, câu kệ của trưởng lăo Uttarapāla)
252. Paṇḍitaṃ vata maṃ
santaṃ alamatthavicintakaṃ,
pañcakāmaguṇā loke sammohā
pātayiṃsu maṃ.
253. Pakkhanno māravisaye
daḷhasallasamappito,
asakkhiṃ maccurājassa ahaṃ pāsā
pamuccituṃ.
254. Sabbe kāmā pahīnā me
bhavā sabbe vidāḷitā,
vikkhīṇo jātisaṃsāro natthi
dāni punabbhavo ”ti.
251. Ta thật là hiền thiện,
Suy tư mục đích tốt,
Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
Là thế giới si mê.
252. Sanh trong giới vức ma,
Bị tên mạnh xung kích,
Nhưng ta giải thoát được,
Cạm bẫy của Ma vương.
253. Mọi dục, ta đoạn tận,
Mọi sanh hữu, hủy hoại,
Đường sanh tử chấm dứt,
Nay không c̣n tái sanh (HT. Thích
Minh Châu).
252. Quả thật, tôi là người sáng
suốt, đủ khả năng nhận thức được điều lợi ích. Năm loại
dục ở thế gian, với bản thể tối tăm, đă khiến tôi té ngă.
253. Bị rơi vào lănh vực của Ma
Vương, bị đâm vào bởi mũi tên mạnh mẽ, tôi đă có thể
thoát ra khỏi bẫy sập của Tử Thần.
254. Tất cả các dục đă được dứt bỏ,
tất cả các hữu đă được phá vỡ, việc luân hồi tái sanh đă
được triệt tiêu, giờ đây không c̣n tái sanh nữa (Tk.
Indacanda).
Ghi chú: Số thứ tự có sự
sai khác về thứ tự. Lời dịch Việt của ba ḍng đầu có sự
khác biệt, c̣n ba ḍng sau tương đương nhau.
|
Thứ
Hai, ngày 09 tháng 05 năm 2011
Tham Khảo Bản Dịch của Người Khác - Hay Lệ Thuộc? (Bài
7)
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng
Lăo Kệ, câu kệ của trưởng lăo Upāli)
249. Saddhāya abhinikkhamma
navapabbajito navo,
mitte bhajeyya kalyāṇe suddhājīve atandite.
248. V́ ḷng tin ra đi,
Mới xuất gia, tân học,
Hăy sống với bạn lành,
Mạng thanh tịnh, không nhác (HT.
Thích Minh Châu).
249. Having departed from the
world in faith, a novice newly gone forth should
associate with good friends who are clean-living, not
relaxing (Prof. K. R. Norman).
249. Sau khi ra đi v́ niềm tin,
được xuất gia ở tuổi thanh xuân, vị mới tu nên giao
thiệp với các bạn hữu tốt lành, (những người) có sự nuôi
mạng trong sạch, không biếng nhác (Tk. Indacanda).
Ghi Chú:
- Về từ navapabbajito th́
hai vị tiền bối dịch tương tợ nhau: “mới xuất gia”
và “newly gone forth.” Đó là một nghĩa của cụm từ đó.
- Tuy nhiên, cụm từ này c̣n có
thêm một nghĩa thứ hai nữa và Chú Giải đă có nhấn mạnh
như sau: “paṭhamavaye eva pabbajito = đă được
xuất gia chính ở vào gian đoạn đầu của tuổi thọ.”
- Một điểm nữa, có sự lặp lại ư
nghĩa (redundant) ở 2 cụm từ: “mới xuất gia” và
“tân học,” hay là “novice” và “newly gone forth.”
--------------------------
- Như vậy 2 cụm từ dưới đây có ư
nghĩa trái ngược nhau :
navapabbajito = đă được
xuất gia ở tuổi thanh xuân,
vuḍḍhapabbajito = đă được
xuất gia lúc đă lớn tuổi.
- Prof. K. R. Norman là học giả
hàng đầu về Pali hiện nay ở Anh Quốc, trước đây đă từng
làm President của hội Pali Text Society (PTS).
|
|
Thứ
Ba, ngày 10 tháng 05 năm 2011
Đứng Trước Ngă
Ba Đường: (Bài 3)
Một câu Kệ Ngôn, hai lời dịch Việt khác nhau, cần có
người thứ ba, thứ tư.
Hành tŕnh phiên dịch Kinh Điển Phật Giáo sang tiếng
Việt c̣n dài thăm thẳm.
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng Lăo Kệ, câu kệ của
trưởng lăo Sabhiya)
275. Pare ca na vijānanti mayamettha yamāmase,
ye ca tattha vijānanti tato sammanti
medhagā.
276. Yadā ca avijānantā iriyantyamarā viya,
vijānanti ca ye dhammaṃ āturesu
anāturā.
277. Yaṃ kiñci sithilaṃ kammaṃ saṅkiliṭṭhaṃ ca yaṃ
vataṃ,
saṅkassaraṃ brahmacariyaṃ na taṃ hoti
mahapphalaṃ.
278. Yassa sabrahmacārisu gāravo nūpalabbhati,
ārakā hoti saddhammā nabhaṃ puthuviyā
yathā ”ti.
275. Người khác không rơ biết,
Ta ở đây một thời,
Tại đây, bậc có trí,
Biết vậy sống tịnh chỉ.
276. Khi họ không rơ biết,
Họ làm như bất tử;
Khi họ rơ biết pháp,
Giữa bệnh, họ không bệnh.
277. Ai sở hành phóng đăng,
Cấm giới bị uế nhiễm,
Phạm hạnh đáng nghi ngờ,
Vị ấy chứng quả lớn.
278. Sống giữa đồng Phạm hạnh,
Không được trọng, tôn kính,
Vị ấy xa Diệu pháp,
Như trời xa đất liền (HT. Thích Minh Châu).
275. Và những người khác không nhận thức được, ở đây
chúng ta nên tự kiềm chế. C̣n những người nào nhận thức
được điều ấy, nhờ thế các sự tranh chấp được chấm dứt.
276. Và khi những kẻ không nhận thức được hành xử như là
những người bất tử, th́ những người nào nhận thức được
Giáo Pháp là những người không bệnh trong số những người
bệnh.
277. Bất cứ hành động nào là lơi lỏng, và sự hành tŕ
nào bị ô nhiễm, việc hành Phạm hạnh (nào) gây sự nghi
ngờ, việc ấy không có quả báu lớn lao.
278. Vị nào không có sự kính trọng đối với các vị đồng
Phạm hạnh th́ bị cách xa khỏi Diệu Pháp, giống như bầu
trời cách xa so với trái đất (Tk. Indacanda).
Ghi chú:
- Số thứ tư của các câu kệ văn vần là 274, 275, 276, 277
đă được đổi thành 275, 276, 277, 278 để tiện việc so
sánh.
|
|
Thứ
Tư, ngày 11 tháng 05 năm 2011
Đứng Trước Ngă Ba
Đường: (Bài 4)
Ba người đi ba ngă. Biết chọn
lối đi nào?
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng
Lăo Kệ, câu kệ của trưởng lăo Subhūta)
320. Ayoge yuñjamattānaṃ
puriso kiccamicchato,
caraṃ ce nādhigaccheyya taṃ me
dubbhagalakkhaṇaṃ.
321. Abbūḷhaṃ aghagataṃ
vijitaṃ
ekaṃ ce ossajeyya kalīva siyā,
sabbānipi ce ossajeyya andhova
siyā
samavisamassa adassanato.
320. Đặt ḿnh vào tại chỗ,
Không được cho thích đáng,
Một người muốn làm việc,
Nhưng không được thành tựu
Như vậy công việc ấy,
Được xem bị thất bại.
321. Nếu từ bỏ phần thắng,
Gốc khổ được rút lên,
Nó giống kẻ đánh bạc,
Vận rủi quăng con bài,
Nếu nó quăng tất cả,
Nó chẳng khác người mù,
Không nh́n thấy con đường,
Bằng phẳng, không bằng phẳng (HT.
Thích Minh Châu).
320. Devoting himself to some
wrong practice, desiring some end, if practising he does
not attain if, a man (says), “That is a mark of my bad
fortune.”
321. If one should let go one
misery which had been plucked out and conquered, that
would be a losing throw as it were; because of not
seeing the smooth and the rough (Prof. K. R. Norman)
320. Người đàn ông, trong khi gắn
bó bản thân ở sự luyện tập sai trái (sự hành xác), trong
khi ước muốn việc nên làm, nếu trong khi thực hành mà
không thể chứng đắc, điều ấy là biểu hiện về số phần xui
xẻo của tôi.
321. Nếu buông lơi một việc (hành
xác), là việc đem lại sầu khổ đă được rũ bỏ đă được chế
ngự, th́ có thể xem như người có vận rủi. Nếu buông lơi
tất cả (không tu tập), th́ có thể xem như kẻ mù, do
không nhận thức được sự bằng phẳng và gồ ghề (Tk.
Indacanda).
Ghi chú:
- Số thứ tư của các câu kệ văn vần
là 319, 320 đă được đổi thành 320, 321 để tiện việc so
sánh.
|
|
Thứ Sáu, ngày
20 tháng 05 năm 2011
Đứng Trước
Ngă Ba Đường: (Bài 5)
Một câu Kệ Ngôn, hai lời dịch Việt khác nhau, cần có
người thứ ba, thứ tư.
Hành tŕnh phiên dịch Kinh Điển Phật Giáo sang tiếng
Việt c̣n dài thăm thẳm.
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng Lăo Kệ, câu kệ của
trưởng lăo Jenta)
425. Mātaraṃ pitarañcāpi aññepi garusammate,
na kañci abhivādesiṃ mānatthaddho anādaro.
425. Mẹ cha và người khác,
Được cung kính tôn trọng,
Ta không lễ một ai,
Kiêu hănh, không lễ phép (HT. Thích Minh Châu).
425. Bướng bỉnh v́ ngă mạn, vô lễ, tôi đă không đảnh lễ
bất cứ người nào, dầu là mẹ, và cha, luôn cả những người
khác được xem là đáng tôn kính (Tk. Indacanda).
- Biết mà không nói ra th́ bất nhân. Nói hay chỉ ra th́
mang tội bất kính, phạm thượng, vạch lá t́m sâu.
- Với công việc phiên dịch như vầy, tối thiểu cần có 3
người đồng thời làm việc. Một người dịch chính, 1 vị
kiểm tra lại. Nếu 2 vị không đồng quan điểm về một vấn
đề nào th́ vị thứ 3 là lá phiếu quyết định. Nếu 3 vị có
quan điểm khác nhau th́ cần phải có vị thứ 4, thứ 5.
- V́ vậy, xin đừng bao giờ có tư tưởng rằng:
“Tam Tạng Pali dịch đă gần xong rồi, học Pali làm chi
nữa.”
“Tạng Kinh Pali đă dịch xong rồi, hơi đâu mà dịch lại.”
Hoặc nếu có những suy nghĩ như vậy, cũng xin đừng phát
biểu ra lời.
|
|
Chúa Nhật, ngày
22 tháng 05 năm 2011
Đứng Trước Ngă Ba Đường: (Bài 6)
Nếu 2 lời dịch có ư nghĩa tợ tợ
như nhau c̣n dễ tính, c̣n khác nhau nhiều như các câu
dưới đây rất khó xử.
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng Lăo Kệ, câu kệ của
trưởng lăo Sirimanda)
447. Channamativassati vivaṭaṃ nātivassati,
tasmā channaṃ vivaretha evaṃ taṃ nātivassati.
447. Mưa rất là nặng hạt,
Trên tội được che giấu.
Mưa không có nặng nề,
Trên tội được phát lộ,
Đâu có phát lộ tội,
Như vậy, mưa không nặng (HT. Thích Minh Châu).
447. “Nước mưa bị văng lại ở vật đă được che đậy, không
văng lại ở vật đă được mở ra. V́ thế, hăy mở ra vật đă
được che đậy, như vậy, ở vật ấy nước mưa không văng lại
(Tk. Indacanda).
--------------------------
448. Maccunābbhāhato loko jarāya parivārito,
taṇhāsallena otiṇṇo icchādhūpāyito sadā.
448. Đời bị chết áp đảo,
Bị giải tỏa, bao vây,
Bị mũi tên ái đâm,
Thường bị dục huân tập (HT. Thích Minh Châu).
448. Thế gian bị hành hạ bởi sự chết, bị vây quanh bởi
sự già, bị áp chế bởi mũi tên tham ái, luôn luôn bị mê
mờ bởi ước muốn (Tk. Indacanda).
--------------------
449. Maccunābbhāhato loko parikkhitto jarāya ca,
haññati niccamattāṇo pattadaṇḍo ’va takkaro.
449. Đời bị chết áp đảo,
Và bị già bao vây,
Thường bị hại, không yên,
Như cướp với gậy dao (HT. Thích Minh Châu).
449. Thế gian bị hành hạ bởi sự chết, bị bao vây bởi sự
già, thường xuyên bị hăm hại, không nơi nương tựa, tợ
như kẻ trộm nhận chịu hành phạt (Tk. Indacanda).
|
|
Thứ Ba, ngày
24 tháng 05 năm 2011
Ôi, Ngữ với Nghĩa!!!
Mấy ngày gần đây, trên mạng có nhiều bài viết về việc an
cư kiết hạ. Không rơ từ Hán của “an cư kiết hạ” là ǵ,
nhưng xét theo ngữ cảnh của Luật th́ từ Pali tương đương
là “vassāvāsaṃ = việc cư trú mùa mưa.”
V́ có một số vấn đề nảy sinh, nên tiện đây sẽ tŕnh bày
một cách khái quát về từ “vassa,” Cũng nên biết thêm các
từ hoặc cụm từ có cùng nguồn gốc như vassika (tính từ,
thuộc về mưa, liên quan đến mưa), vassāna (danh từ, mùa
mưa), vassāvāsaṃ (cụm từ, việc cư trú mùa mưa),
vassūpanāyika (cụm từ, liên quan đến việc tiến vào mùa
mưa), vassati (động từ, mưa, đổ mưa).
Giờ lược qua ư nghĩa chính của từ “vassa”:
- mưa, cơn mưa
- mùa mưa (v́ mưa ở Ấn Độ kéo dài vào khoảng ba, bốn
tháng)
- năm (thời gian được xác định nhờ vào các hiện tượng tự
nhiên. Một năm ở Ấn Độ được tính thành 3 mùa: lạnh, nóng,
mưa.
- tuổi tác (v́ một năm là tính thêm một tuổi).
sattavassiko kumāro = đứa bé trai 7 tuổi (có 7 mùa mưa).
- sự thâm niên của các vị tỳ khưu (hạ lạp) cũng dùng từ
này:
“Nanu tvaṃ āvuso vuḍḍho vīsativassosī ”ti = “Không phải
ngài đă có hai mươi năm thâm niên rồi hay sao?” (Không
phải là ngài đă 20 hạ hay sao?)
V́ thế một từ “vassa” được dịch sang tiếng Việt có thể
là: cơn mưa, mùa mưa, một năm, một tuổi, một mùa an cư,
một hạ tỳ khưu. Do đó, trong việc chọn từ tiếng Việt đă
xảy ra một số ngộ nhận như sau:
1/- Có chuyện vui như vầy:
Một vị sư hỏi vị sư khách rằng:
- Bạch ngài, ngài bao nhiêu hạ?
- Tôi được 15 năm.
Vị sư kia liền nghĩ rằng: Không biết ông ngài này bị đứt
hạ không biết mấy lần nên không trả lời là tôi được 15
hạ?
Thật ra, 2 từ “hạ” và “năm tu” đều được dịch từ chữ “vassa.”
Nếu câu hỏi là như vầy:
- Bạch ngài, ngài bao nhiêu năm tu? - Tôi được 15 năm.
Có quan điểm cho rằng số lượng “hạ lạp” (số lượng mùa an
cư được hoàn thành trọn vẹn ba tháng) và “năm tu” (số
lượng năm tu được liên tục tính từ ngày thọ giới tỳ khưu)
là hai vấn đề khác nhau, nên có vị nói rằng: “Tôi tu
được 15 năm và được 13 hạ,” nghĩa là tôi được 15 năm tỳ
khưu và chỉ hoàn thành trọn vẹn được 13 mùa an cư. Thật
ra, không cần phải chia chẽ như vậy. Trong trường hợp
trên, nếu được hỏi là: Ngài bao nhiêu vassa? Th́ câu trả
lời đơn giản chỉ là: 15 vassa. Cách hay nhất là vị tỳ
khưu đừng để việc “an cư mùa mưa” bị cắt đứt giữa chừng,
cho dầu là sự cắt đứt đó được đức Phật cho phép; nghĩa
là có sự “đứt hạ” bị phạm tội, và có trường hợp “đứt hạ”
không phạm tội. Về việc an cư mùa mưa, có thể t́m hiểu
thêm ở Luật Đại Phẩm tập 1, chương 3: “Chương Vào Mùa
Mưa”.
- Có bài viết ghi là “mỗi năm vào mùa hạ là mùa an cư
của Tăng”
Không rơ chữ “mùa hạ” ở bài viết này này là mùa hè, hay
c̣n có nghĩa nào khác? Cần kiểm tra lại điểm này ở các
Tạng tiếng Hán, tiếng Tibet, c̣n tài liệu Sanskrit cũng
ghi là mưa (varṣa), v́ nguyên nhân của việc “an cư kiết
hạ” này là v́ “trời mưa” mà được đức Phật quy định.
- Có bài viết khác ghi rằng: “Kinh mô tả, mùa an cư đầu
tiên, đức Phật đă có mặt tại vườn Nai, c̣n gọi là vườn
Lộc Uyển. Như vậy lịch sử an cư có từ năm đầu tiên sau
khi đức Phật chứng đắc Vô thượng Bồ Đề chứ không phải
năm thứ 12 theo giả thuyết của các trường phái Luật học.”
Nếu cụm từ “mùa an cư đầu tiên” được ghi là “mùa mưa đầu
tiên, năm đầu tiên” th́ đâu có thể đưa đến lư luận rằng:
“Như vậy lịch sử an cư có từ năm đầu tiên sau khi đức
Phật chứng đắc Vô thượng Bồ Đề chứ không phải năm thứ 12
theo giả thuyết của các trường phái Luật học.”
- Nếu lấy lư do khó khăn trong việc đi lại là chính, th́
các vị ở châu Âu và châu Mỹ đề nghị là 3 tháng này nên
được thiết lập vào mùa tuyết rơi (tháng 10-12 theo Tây
Lịch), nên được gọi là “an cư kiết đông”?
- Có chuyện này thú vị, người Ấn Độ cũng gọi là “trời
mưa.” Ở Pali cũng có cụm từ “devo vassati” dịch sát
nghĩa là “trời mưa;” “deva” có nghĩa là “vị trời, thiên
nhân,” vassati là động từ “mưa, đổ mưa.”
Bài viết xin ngừng ở đây.
|
|
Thứ Sáu, ngày
27 tháng 05 năm 2011
HIỆN TƯỢNG CHẤP TRƯỚC TRONG VIỆC PHIÊN
DỊCH?
Hồi trưa này nhận được một email của một người không
quen, trong đó có lời phê b́nh về khả năng dịch thuật
của một học giả kiêm tu sĩ người ngoại quốc. Lời phê
b́nh hơi nặng, và lư do đơn giản chỉ v́ có những đoạn
dịch của vị đó không giống với sự hiểu biết, quan điểm,
tư kiến của người phê b́nh!!! Trạng thái CÓ MỘT QUAN
ĐIỂM ĐỊNH TRƯỚC về một vấn đề che lấp TRÍ TUỆ và sự NHẬN
THỨC những việc đang xảy ra trước mắt. Không biết có nên
gọi hiện tượng này là CHẤP TRƯỚC không?
Ở đây, có 2 ví dụ về lỗi lầm của 2 dịch giả thuộc tầm cỡ
quốc tế. Lỗi lầm như thế này không thể gọi là bất cẩn,
mà phải xếp vào một sự xếp hạng khác, CHẤP TRƯỚC?
(Trích Theragāthāpāli - Trưởng Lăo Kệ, câu kệ của
trưởng lăo Migajāla)
421. Mahāraso
sugambhīro jarāmaccunivāraṇo,
ariyo aṭṭhaṅgiko maggo dukkhūpasamano sivo.
421. (The
eight-fold way) ... of great flavour, very profound,
warder-off of birth and death, causing the quieting of
pain, blissful, ... (Prof. K. R. Norman)
421. Con đường Thánh tám chi phần, tốt đẹp, có phẩm chất
vĩ đại, vô cùng sâu thẳm, có sự cản ngăn trạng thái già
và chết, có sự làm an tịnh các khổ đau (Tk. Indacanda).
jarā-maccu-nivāraṇo = warder-off of birth and death = có
sự cản ngăn trạng thái già và chết
Tra cứu từ điển: jarā = già, maccu = chết
Vị giáo sư người Anh đă ghi nghĩa của jarā = birth/sanh
ra. Sự lầm lẫn như vầy rất khó giải thích, v́ nghĩa của
jarā = già, rơ ràng như good = tốt, bad = xấu của tiếng
Anh vậy.
Không lẽ, v́ có sự CHẤP TRƯỚC khi thấy chữ CHẾT th́ liên
tưởng đến chữ SỐNG, thấy TỬ th́ nghĩ đến SANH?
MỘT VÍ DỤ KHÁC:
477. Pabbājetvāna maṃ satthā vihāraṃ pāvisī jino,
anoggatasmiṃ suriyasmiṃ tato cittaṃ vimucci me.
477. Sau khi bậc Đạo Sư,
Bảo xuất gia cho ta,
Xong rồi bậc chiến thắng,
Bước vào trong tinh xá,
Khi mặt trời chưa mọc,
Tâm ta được giải thoát (HT. Thích Minh Châu).
477. Sau khi đă cho tôi xuất gia, bậc Đạo Sư, đấng Chiến
Thắng, đă đi vào trú xá. Sau đó, khi mặt trời c̣n chưa
lặn xuống, tâm của tôi đă được giải thoát (Tk. Indacanda).
anoggatasmiṃ suriyasmiṃ = Khi mặt trời chưa mọc = khi
mặt trời c̣n chưa lặn xuống
anoggata = (tiếp đầu ngữ phủ định) an + oggata = gone
down, set (of the sun), (mặt trời) đă lặn xuống; tra từ
điển chữ oggata. Từ này có ở từ điển, và ở Chú Giải cũng
có ghi rơ nghĩa “lặn xuống” với một từ thông dụng khác,
sūriye anatthaṅgateyeva.
Không lẽ, v́ có sự CHẤP TRƯỚC rằng thông thường hành giả
tu về đêm và đắc Đạo Quả trước khi mặt trời ló dạng nên
nghĩ rằng ư nghĩa của cụm từ đó phải là như vậy?
|
|
Thứ Sáu, ngày
05 tháng 08 năm 2011
NGŨ DỤC CÔNG ĐỨC & NĂM DỤC TRƯỞNG
DƯỠNG
Hai cụm từ NGŨ DỤC CÔNG ĐỨC &
NĂM DỤC TRƯỞNG DƯỠNG được thấy ở các bản dịch của Ḥa
Thượng Thích Minh Châu. Mong rằng quư vị giúp cho việc
t́m hiểu ư nghĩa của hai cụm từ này. Xin nhờ quư Sư đang
ở Thái Lan và Miến Điện cho biết Tam Tạng của Thái Lan
và Miến Điện đă dịch như thế nào về hai cụm từ này.
-----------------------------------
Căn cứ vào nhiều chứng cớ dưới đây,
từ "guṇa" ở trong cụm từ "kāmaguṇa" có ư nghĩa là "lớp,
loại, thành phần, yếu tố, ..." nên có thể dịch là "NĂM
PHẦN DỤC LẠC", "NĂM LOẠI DỤC", v.v... thay v́ dịch là "NGŨ
DỤC CÔNG ĐỨC" hoặc "NĂM DỤC TRƯỞNG DƯỠNG."
Một số trích dẫn:
- diguṇā upāhanā dhāretabbā, na tiguṇā upāhanā
dhāretabbā = không nên mang những đôi dép loại hai lớp,
không nên mang những đôi dép loại ba lớp (TTPV tập 4,
486-487)
- diguṇaṃ saṅghāṭiṃ = y saṅghāṭi hai lớp (TTPV tập 5,
192-193)
- catugguṇaṃ saṅghāṭiṃ paññāpetvā = đă xếp y hai lớp lại
làm tư (TTPV tập 7, 308-309)
- kāmaguṇā = kāmakoṭṭhāsa (ThagA. iii, 157, PTS)
- Bhikkhu Bodhi, Dr. William Pruit (PTS) dịch là: "five
cords of sensual pleasure"
- A Dictionary of Pali (by Margaret Cone, PTS) ghi:
kāmaguṇa, m., 1. desire, passion ... 2. plur. the
strand(s) of (what furnishes) sensual pleasure, the
subdivisions or classes of the objects of pleasure ...
- Vơ Trọng Phi trích dẫn từ điển Pali: Theo từ Kàmaguna
trích trên, t́m trong từ điển của Pali Text Society th́
có từ Guṇa với rất nhiều nghĩa.Trong đó, con trích 2
nghĩa: 1. thành phần, cấu phần, yếu tố (constituent
part, ingredient, component, element); 2. phẩm chất,
phẩm hạnh, đức hạnh, công đức (quality, esp. good
quality, advantage, merit). Mục giải thích này có dẫn ra
ví dụ: pañca kāmaguṇā: the 5 strands of kāma (tạm dịch
là: năm thành phần dục, năm luồng dục, ngũ dục).
|
|
Thứ Sáu, ngày
05 tháng 08 năm 2011
NÊN HIỂU & DIỄN ĐẠT THẾ NÀO VỀ
NIBBĀNA - NIP-BÀN - NIẾT BÀN
Câu hỏi ở đây
là chúng ta nên hiểu về Nibbāna-Nip-bàn-Niết Bàn như thế
nào, hoặc chúng ta có những công thức diễn đạt như thế
nào khi đề cập thuật ngữ này để tránh hiểu lầm hay bị
bắt bẻ về từ ngữ.
Khi đọc đến
những cụm từ:
"vị ấy đă
nhập Niết Bàn"
"sau khi chết,
người giác ngộ có thể an trú tại Nibbana mà không phải
tái sanh"
"đường kia
đến Niết Bàn"
"đường tới
Niết Bàn"
dường như có
cái ǵ đó "vướng vướng," không biết có vị nào có cùng
quan điểm hay không?
---------------------
Qua các phần tŕnh bày ở
các comments, có thể tạm
đúc kết như sau:
- NIẾT BÀN được nhận
biết bởi TÂM (xem phần
trích dẫn của Vi Diệu
Pháp Nhập Môn ở dưới),
là CẢNH PHÁP (tính theo
6 ngoại xứ là sắc thinh
hương vị xúc pháp).
- NIẾT BÀN là DANH TỪ
RIÊNG. Để tránh hiểu lầm
Niết Bàn là nơi, chốn,
địa điểm, trú xứ, có thể
thêm các cụm từ: thể
nhập, chứng đắc, chứng
ngộ, chứng đạt, thành
tựu
<thay v́> "đường
kia đến Niết Bàn" <nên
đổi thành> "đường kia
dẫn đến sự thể nhập/chứng
đắc/chứng ngộ/chứng đạt/thành
tựu Niết Bàn"
<thay v́> "đường
tới Niết Bàn" <nên đổi
thành> "đường đưa tới sự
thể nhập/chứng đắc/chứng
ngộ/chứng đạt/thành tựu
Niết Bàn"
<thay v́> "đạo
lộ đưa đến Niết-bàn" <nên
đổi thành> "đạo lộ đưa
đến sự thể nhập/chứng
đắc/chứng ngộ/chứng đạt/thành
tựu Niết-bàn"
<thay v́> "con
đường dẫn tới Niết Bàn"
<nên đổi thành> "con
đường dẫn tới sự thể
nhập/chứng đắc/chứng ngộ/chứng
đạt/thành tựu Niết Bàn"
- Và đă có khuynh hướng
sử dụng NIẾT BÀN là ĐỘNG
TỪ trong các trường hợp
<thay v́> "vị ấy
đă nhập Niết Bàn" <nên
đổi thành> vị ấy đă Niết
Bàn, (vị ấy đă viên
tịch Niết Bàn)
<thay v́> "vị ấy
đă nhập Vô Dư Niết Bàn"
<nên đổi thành> vị ấy đă
Vô Dư Niết Bàn.
----------------------------
207- Cảnh
Niết Bàn.
V- Thế nào là Cảnh
Niết Bàn?
Đ- Cảnh Niết Bàn là
cảnh hoàn toàn vắng lặng
ngoài hạn cuộc thế gian,
không c̣n một pháp hữu
vi nào dư sót.
Có 19 hoặc 51 Tâm
biết cảnh Niết Bàn. Tâm
biết cảnh Niết Bàn có 8
hoặc 40 Tâm Siêu Thế.
Những Tâm cũng biết cảnh
Niết Bàn nhưng Bất Định
là Tâm Khai Ư Môn, 8 Tâm
Đổng Tốc Dục Giới Tịnh
Hảo hợp trí và 2 tâm
Diệu Trí.
(Trích Vi Diệu Pháp
Nhập Môn)
|
|
Thứ Ba, ngày 16
tháng 08 năm 2011
CHUYỆN
VUI VỀ NGỮ NGHĨA:
(Trích Therīgāthāpāli - Trưởng Lăo Ni Kệ, câu kệ
của trưởng lăo ni
Somā)
60. Yaṃ
taṃ isīhi pattabbaṃ ṭhānaṃ durabhisambhavaṃ,
na taṃ dvaṅgulapaññāya sakkā pappotumitthiyā.
60. Địa
vị khó chứng đạt,
Chỉ thánh
nhân chứng đạt,
Trí nữ
nhân hai ngón,
Sao hy
vọng chứng đạt (HT. Minh Châu).
60. That
place, hard to gain, which is to be attained by the
seers, cannot be attained by a woman with
two-finger-intelligence (= very little intelligence)
(Prof. K. R. Norman).
Chuyện
vui là như vầy: Xem cụm từ Pali:
“dvaṅgulapaññāya
itthiyā” trong đó có từ paññā, nghĩa thông
thường là TRÍ TUỆ, là HUỆ. V́ thế, các vị tiền bối đă
dịch như sau:
- Trí nữ
nhân hai ngón
- by a
woman with two-finger-intelligence (= very little
intelligence)
Và có lẽ
sẽ đưa đến việc cho rằng ư nghĩa của cụm từ trên là:
“Trí tuệ của phụ nữ đo được 2 ngón tay.” (Đo theo lối
đặt ngón tay nằm ngang chồng lên nhau, nên có thể dịch
là “hai lóng tay” thay v́ “hai ngón tay”).
Thật ra
không phải, Chú Giải Sư Dhammapāla giải thích như sau:
“Từ bảy tám tuổi, người nữ trong khi đang nấu cơm, luôn
luôn bỏ gạo vào trong nước đă được nấu sôi, và không
biết được cho đến như thế nào là cơm đă được nấu chín.
Hơn nữa, trong khi gạo đang được nấu chín, họ biết được
sau khi dùng cái muỗng vớt lên rồi dùng hai ngón tay
nghiền nát. V́ thế được gọi là “có sự nhận biết
bằng hai ngón tay.”
Và câu kệ
ấy nên được dịch như sau:
60. Vị thế (A-la-hán) ấy là có thể đạt đến bởi các bậc
ẩn sĩ, là khó với tới, không thể đạt được bởi người nữ
có sự nhận biết bằng hai ngón tay (Tk. Indacanda).
|
|
Thứ Năm, ngày
18 tháng 08 năm 2011
113. Được đầy đủ giới, là người
thực hành lời dạy của bậc Đạo Sư, không biếng nhác,
không loạn động, tại sao tôi không chứng đắc Niết Bàn?
114. Sau khi rửa hai bàn chân, tôi chú ư ở những chỗ
nước (đă được trút xuống), và tôi đă nh́n thấy nước rửa
chân từ đất cao đi đến chỗ thấp.
115. Do đó, tôi đă khiến tâm được định, tựa như (người
xa phu điều khiển) con ngựa hiền thiện thuần chủng. Sau
đó, tôi đă cầm lấy cây đèn rồi đi vào trú xá.
116. Sau khi xem xét chỗ nằm, tôi đă ngồi xuống chiếc
giường nhỏ. Sau đó, tôi cầm lấy cây kim khều cái tim đèn.
Sự giải thoát của tâm đă xảy ra, tựa như sự lụi tàn của
cây đèn.”
Trưởng lăo ni Paṭācārā đă nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lăo ni Paṭācārā.
Ở câu kệ cuối cùng, HT. Thích Minh Châu đă ghi nghĩa như
sau:
116. Rồi lấy cây kim nhỏ,
D́m tim đèn xuống dần,
Thấy cây đèn Niết-bàn,
Tâm ta được giải thoát.
116.
Seyyaṃ olokayitvāna mañcakamhi upāvisiṃ,
tato sūciṃ gahetvāna vaṭṭiṃ okassayāmahaṃ,
padīpasseva nibbānaṃ vimokkho ahu cetaso ”ti.
CÂU HỎI THAM KHẢO Ư KIẾN CỦA QUƯ VỊ:
Cây đèn này giống như loại đèn dầu phụng ở Việt Nam,
nghĩa là cái chén đựng dầu có cái tim đèn một nửa ngập
trong dầu và phần lồi ra ở trên mặt dầu để mồi lửa. Câu
hỏi là vị tỳ khưu ni này làm tắt cây đèn bằng cách khều
cái đuôi tim đèn lên khỏi dầu, hay d́m tim đèn xuống dầu?
|
|
Thứ Bảy, ngày
20 tháng 08 năm 2011
CHÚ THÍCH VỀ "PHÁP TÍN THỌ & NGHĨA TÍN THỌ":
... triển khai thiền quán, chứng đạt được quả A-la-hán,
với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ... (HT. Thích Minh Châu)
NHẬN XÉT:
Câu Pali tương đương là:
... vipassanaṃ vaḍḍhetvā saha paṭisambhidāhi arahatte
pāpuṇi...
...Cụm từ "với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" tương dương
với cụm từ "với các tuệ phân tích."
TỔNG KẾT:
Để cho quen thuộc, có thể viết lại như sau:
... triển khai thiền quán, chứng đạt được quả A-la-hán
với các tuệ phân tích...
|
|
SỰ TƯƠNG ĐƯƠNG CỦA HAI NGÔN NGỮ:
Yassa maggaṃ na jānāsi āgatassa gatassa vā = Cô không
biết con đường của kẻ ấy đă đi đến hoặc đă ra đi. (Được
dịch sát từ).
Theo tiếng Việt th́ nên chọn lối hành văn nào: "con
đường CỦA KẺ ẤY đă đi đến hoặc đă ra đi" hay là "con
đường đă đi đến hoặc đă ra đi CỦA KẺ ẤY"??? Có lẽ cách
thứ nh́ nghe suông tai hơn.
Chú Giải của Pali cũng giải thích như vậy: con đường đă
đi đến (āgatamaggaṃ) hoặc con đường đă ra đi (gatamaggaṃ)
CỦA KẺ ẤY (ThigA. 119, PTS).
|
Thật vi diệu
thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Như người dựng đứng lại những ǵ bị quăng ngă xuống,
phơi bày ra những ǵ che kín, chỉ đường cho người bị lạc
hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có
mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đă được Tôn
giả Gotama dùng nhiều phương tiện tŕnh bày, giải thích.
Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y chúng
Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ
nay trở đi cho đến mệnh chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Abhikkantaṃ
bho gotama, abhikkantaṃ bho gotama, seyyathāpi bho
gotama nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā
vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā
telapajjotaṃ dhāreyya cakkhumanto rūpāni dakkhintī ’ti,
evamevaṃ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṃ bhavantaṃ gotamaṃ saraṇaṃ gacchāmi dhammañca
bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṃ maṃ bhavaṃ gotamo dhāretu
ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gataṃ.
Ư KIẾN TỔNG HỢP:
- KHÔNG CẦN PHẢI CÓ
BẢN DỊCH THỨ HAI,
- NHƯNG CẦN CÓ SỰ
HIỆU ĐÍNH ĐỐI VỚI BẢN DỊCH VIỆT CÓ SẴN (QUAN ĐIỂM NÀY
CHỈ NHẬN RA BỞI NHỮNG AI CÓ HỌC VÀ NGHIÊN CỨU PALI).
DẪN CHỨNG: ĐỐI
CHIẾU BẢN DỊCH THỨ NHẤT VỚI PHẦN PALI VĂN:
1/ Tôn giả
Gotama! (2 lần) - bho gotama (3 lần)
2/ dựng đứng
lại những ǵ bị quăng ngă xuống:
-
những ǵ - nikkujjitaṃ (số ít, không phải số nhiều)
-
quăng ngă xuống - nikkujjitaṃ (bị úp lại)
- dựng đứng
lại - ukkujjeyya (lật ngửa ra, lấy theo ví dụ b́nh bát
được lật úp xuống hay được lật ngửa ra - miệng b́nh bát
hướng lên trên)
3/ đèn sáng
- telapajjotaṃ (đèn dầu, tela = dầu ép dùng để ăn hoặc
để đốt, pajjotaṃ = cây đèn).
4/ sắc -
rūpāni (số nhiều, các sắc - dễ gây hiểu lầm là sắc đẹp
hay là màu sắc; sắc ở đây là vật được mắt, hay nhăn,
nh́n thấy)
5/ những ai
có mắt có thể thấy sắc - ở Pali có từ “iti” báo hiệu một
trích dẫn về ư nghĩ, lời nói.
6/ Chánh
pháp ... tŕnh bày, giải thích
- dhammo
pakāsito (dhammo - có nhiều nghĩa, ở trường hợp này nên
chọn từ nào trong các từ: Chánh pháp, Giáo Pháp, hay
Pháp?
- pakāsito -
tŕnh bày, giải thích, Pali chỉ có một từ, tiếng Việt có
hai từ)
7/ Con xin
quy y - saraṇaṃ gacchāmi. Có nên chọn từ tiếng Việt để
thay thế “quy y” hay không? Hay xem “quy y” như một
thuật ngữ?
8/ chúng
Tỷ-kheo Tăng - bhikkhusaṅghaṃ. Vậy từ bhikkhunīsaṅghaṃ
sẽ được dịch thế nào? Nếu dịch là “chúng Tỷ-kheo Ni” th́
bỏ sót saṅghaṃ không dịch. Nếu saṅghaṃ nghĩa là chúng
th́ phải ghi là: Con xin quy y Chúng (thay v́ quy y Tăng).
Quan niệm chữ saṅghaṃ = Tăng, Tăng dà, chỉ dành cho phái
NAM là sai; lư do là sự hiện diện của từ
bhikkhunīsaṅghaṃ trong Tam Tạng.
8/ đệ tử -
upāsakaṃ. upāsakaṃ đă được dịch là: thiện nam, cận sự
nam. Từ “đệ tử” được sử dụng trong các từ Pali khác như
là: sāvaka, saddhivihārika.
9/ trọn đời quy ngưỡng - saraṇaṃ gataṃ: trọn đời - không
có ở Pali, quy ngưỡng - saraṇaṃ gataṃ (đă được dịch là
quy y ở trên).
|
|
Thứ Năm, ngày
15 tháng 12 năm 2011
ĐĂ CÓ BAO NHIÊU KỲ KẾT TẬP TAM
TẠNG?
CHỈ CÓ 4 KỲ KỲ KẾT TẬP TAM TẠNG.
CÁC LẦN SAU ĐÓ NÊN GỌI LÀ TRÙNG TỤNG, CHỨ KHÔNG PHẢI KẾT
TẬP.
Năm sáu tháng trước đây, có ít nhất 3 người đă gọi điện
thoại và email hỏi về CUỘC KẾT TẬP LẦN THỨ 7 Ở SRI LANKA
sẽ được tổ chức vào thời gian nào? Hỏi ở trong chùa cũng
chẳng ai hay; hỏi Ngài Nandaratana, Ngài cũng nói không
biết ǵ. Trả lời cho bên Việt Nam th́ c̣n bị trách là Sư
ở Sri Lanka mà không biết ǵ cả, bên này Phật tử đang
chuẩn bị để đi dự đại hội kết tập. Có một dịp cùng một
vài Phật tử người Việt đi hành hương ghé thăm chùa mà
Ngài Narada đă ngụ trước đây. Tiện thể mới hỏi Sư Cả trụ
tŕ về điều này. Vị Sư Cả này đă cho một bài giáo giới
dài 10 phút, đại ư như đầu đề đă ghi. Có người Việt hỏi
về kỳ thứ 5, thứ 6 ở Miến Điện th́ Ngài nói rằng đó là
Trùng Tụng, nghĩa là chỉ đọc tụng lại thôi, chứ việc kết
tập đă được hoàn tất vào lần thứ 4 rồi.
Đề cập điều này, mới nhớ đến các điểm khác nhau của một
số từ được thấy ở Tam Tạng của các nước (xem phần cước
chú ở trang Pali của TTPV Song Ngữ). Có vị Giáo Sư ở Sri
Lanka cho biết là trong quá khứ, một số nhà sư học giả
của các xứ quốc giáo đă có những cuộc hội thảo về những
điểm này nhưng đă không thể thống nhất quan điểm, từ đó
mỗi một nước bảo lưu cách hiệu đính của ḿnh. Nghiên cứu
về những sự khác biệt này sẽ thấy được nhiều điều hứng
thú và học hỏi thêm được chút ít về Pali.
Nói về yếu tố địa phương tính hiện hữu trong các tập thể
và cá nhân tu sĩ th́ sẽ thấy mệt lắm; tu sĩ nước nào th́
cũng cho phe ta là số một. Đề cập đến điều này, mới thấy
Theravada Việt Nam có một điểm đặc biệt là các vị tỳ
khưu người Việt đă và đang được tu học từ nhiều nguồn
khác nhau: Trước tiên phải kể là Cambodia, Thailand, sau
đó là Sri Lanka, Myanmar, Laos. Không biết là Theravada
Việt Nam sẽ thu thập được những ưu điểm của từng nước
quốc giáo một để tạo thành truyền thống Theravada Việt
Nam, hay sẽ là một tập thể có nhiều màu nhiều vẻ?
|
|
|
|
Những
điều tâm sự dự định ghi lại ở mục Kư Sư Bên Lề
nay sẽ
được trao đổi ở
Facebook tại
Group
PALI - Chuyên Đề
|
|
|
|
|
| |
<Đầu Trang> |
|