Trang Chính

Majjhimanikāya & Trung Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

MAJJHIMANIKĀYA & TRUNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Monday, July 23, 2012

 

033. MAHĀGOPĀLAKASUTTAṂ 

 

033. MAHĀGOPĀLAKASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

033. ĐẠI KINH NGƯỜI CHĂN B̉ - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

346. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme. Tatra kho Bhagavā bhikkhū āmantesi “Bhikkhavo”ti.

 

“Bhadante”ti te bhikkhū Bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca–

 

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: -- Này các Tỷ-kheo.

 

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

 

Ekādasahi bhikkhave aṅgehi samannāgato gopālako abhabbo gogaṇaṃ pariharituṃ phātiṃ kātuṃ (Phātikattuṃ - Sī, I; phātikātuṃ - Syā, Kaṃ). Katamehi ekādasahi. Idha bhikkhave gopālako na rūpaññū hoti, na lakkhaṇakusalo hoti, na āsāṭikaṃ hāretā (Sāṭetā - Sī, Syā, Kaṃ, I) hoti, na vaṇaṃ paṭicchādetā hoti, na dhūmaṃ kattā hoti, na titthaṃ jānāti, na pītaṃ jānāti, na vīthiṃ jānāti, na gocarakusalo hoti, anavasesadohī ca hoti, ye te usabhā gopitaro gopariṇāyakā, te na atirekapūjāya pūjetā hoti. Imehi kho bhikkhave ekādasahi aṅgehi samannāgato gopālako abhabbo gogaṇaṃ pariharituṃ phātiṃ kātuṃ.

 

-- Này các Tỷ-kheo, nếu không đầy đủ mười một đức tánh này, một người chăn ḅ không thể chăn giữ đàn ḅ, không thể khiến đàn ḅ được hưng thịnh. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một người chăn ḅ không biết rơ sắc, không khéo (phân biệt) các tướng, không từ bỏ trứng con ḅ chét, không băng bó vết thương, không có xông khói, không biết chỗ nước có thể lội qua, không biết chỗ nước uống, không biết con đường, không khéo léo đối với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ, là người vắt sữa cho đến khô kiệt, là người không chú ư, không săn sóc đặc biệt những con ḅ đực già và đầu đàn. Này các Tỷ-kheo, người chăn ḅ nào không đầy đủ mười một đức tánh như vậy, không thể chăn giữ đàn ḅ, không thể khiến đàn ḅ được hưng thịnh.

 

Evameva kho bhikkhave ekādasahi dhammehi samannāgato bhikkhu abhabbo imasmiṃ Dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjituṃ. Katamehi ekādasahi. Idha bhikkhave bhikkhu na rūpaññū hoti, na lakkhaṇakusalo hoti, na āsāṭikaṃ hāretā hoti, na vaṇaṃ paṭicchādetā hoti, na dhūmaṃ kattā hoti, na titthaṃ jānāti, na pītaṃ jānāti, na vīthiṃ jānāti, na gocarakusalo hoti, anavasesadohī ca hoti, ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṃghapitaro saṃghapariṇāyakā, te na atirekapūjāya pūjetā hoti.

 

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không đầy đủ mười một pháp, không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành măn trong Pháp và Luật này. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không biết sắc, không khéo (phân biệt) các tướng, không từ bỏ trứng con ḅ chét, không băng bó vết thương, không có xông khói, không biết chỗ nước có thể lội qua, không biết chỗ nước uống, không biết con đường, không khéo léo đối với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ, là người vắt sữa cho đến khô kiệt, đối với những Thượng Tọa trưởng lăo, xuất gia đă lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lănh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, tôn trọng đặc biệt.

 

347. Kathañca bhikkhave bhikkhu na rūpaññū hoti. Idha bhikkhave bhikkhu “Yaṃ kiñci rūpaṃ sabbaṃ rūpaṃ cattāri mahābhūtāni catunnañca mahābhūtānaṃ upādāyarūpan”ti yathābhūtaṃ nappajānāti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu na rūpaññū hoti. (1)

 

Chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không biết rơ các sắc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với sắc pháp không như thật biết tất cả loại sắc thuộc bốn đại và sắc do bốn đại hợp thành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không biết rơ các sắc.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu na lakkhaṇakusalo hoti. Idha bhikkhave bhikkhu “Kammalakkhaṇo bālo, kammalakkhaṇo paṇdito”ti yathābhūtaṃ nappajānāti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu na lakkhaṇakusalo hoti. (2)

 

Chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không khéo (phân biệt) các tướng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không như thật biết kẻ ngu và nghiệp tướng của người đó, kẻ trí và nghiệp tướng của người đó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không khéo (phân biệt) các tướng.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu na āsāṭikaṃ hāretā hoti. Idha bhikkhave bhikkhu uppannaṃ kāmavitakkaṃ adhivāseti, nappajahati, na vinodeti, na byantī karoti, na anabhāvaṃ gameti. Uppannaṃ byāpādavitakkaṃ. Pa . Uppannaṃ vihiṃsāvitakkaṃ. Pa . Uppannuppanne pāpake akusale dhamme adhivāseti, nappajahati, na vinodeti, na byantī karoti, na anabhāvaṃ gameti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu na āsāṭikaṃ hāretā hoti. (3)

 

Chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không trừ bỏ trứng con ḅ chét? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thọ dụng dục tầm khởi lên, không từ bỏ, không tránh né, không chấm dứt, không làm cho không tồn tại,. Tỷ kheo thọ dụng sân tầm khởi lên ... thọ dụng hại tầm khởi lên ... thọ dụng các ác, bất thiện pháp khởi lên, không từ bỏ, không tránh né, không chấm dứt, không làm cho không tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không trừ bỏ trứng con ḅ chét.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu na vaṇaṃ paṭicchādetā hoti. Idha bhikkhave bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā nimittaggāhī hoti anubyañjanaggāhī, yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya na paṭipajjati, na rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye na saṃvaraṃ āpajjati. Sotena saddaṃ sutvā. Pa . Ghānena gandhaṃ ghāyitvā. Pa . Jivhāya rasaṃ sāyitvā. Pa . Kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā. Pa . Manasā dhammaṃ viññāya nimittaggāhī hoti anubyañjanaggāhī, yatvādhikaraṇamenaṃ manindriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya na paṭipajjati, na rakkhati manindriyaṃ, manindriye na saṃvaraṃ āpajjati. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu na vaṇaṃ paṭicchādetā hoti. (4)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không băng bó vết thương? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân ǵ làm con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo không tự chế ngự nguyên nhân ấy, không hộ tŕ con mắt, không thực hành sự hộ tŕ con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ư nhận thức các pháp, vị ấy nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân ǵ khiến ư căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo không chế ngự nguyên nhân ấy, không hộ tŕ ư căn, không thực hành sự hộ tŕ ư căn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không băng bó vết thương.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu na dhūmaṃ kattā hoti. Idha bhikkhave bhikkhu yathāsutaṃ yathāpariyattaṃ dhammaṃ na vitthārena paresaṃ desetā hoti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu na dhūmaṃ kattā hoti. (5)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không xông khói? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có thuyết giảng rộng răi cho các người khác biết Chánh pháp ḿnh được nghe, được thọ tŕ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không xông khói.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu na titthaṃ jānāti. Idha bhikkhave bhikkhu ye te bhikkhū bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā, te kālena kālaṃ upasaṅkamitvā na paripucchati, na paripañhati “Idaṃ bhante kathaṃ, imassa ko attho”ti. Tassa te āyasmanto avivaṭañceva na vivaranti, anuttānīkatañca na uttānī karonti, anekavihitesu ca kaṅkhāṭhānīyesu dhammesu kaṅkhaṃ na paṭivinodenti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu na titthaṃ jānāti. (6)

 

Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo không biết chỗ nước có thể lội qua? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thỉnh thoảng có đến gặp những Tỷ-kheo đa văn được trao cho truyền thống giáo điển, những bậc tŕ Pháp, tŕ Luật, tŕ matika (các bản tóm tắt) nhưng không hỏi, không trả lời các vị ấy: "Thưa Tôn giả, điểm này là thế nào? ư nghĩa này là ǵ?" Những bậc Tôn giả ấy không làm cho hiển lộ những điều chưa hiển lộ, không làm cho rơ ràng những điều chưa được rơ ràng, và đối với những nghi vấn về Chánh pháp, các vị ấy không đoạn trừ nghi hoặc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không biết chỗ nước có thể lội qua.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu na pītaṃ jānāti. Idha bhikkhave bhikkhu Tathāgatappavedite Dhammavinaye desiyamāne na labhati atthavedaṃ, na labhati dhammavedaṃ, na labhati dhammūpasaṃhitaṃ pāmojjaṃ. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu na pītaṃ jānāti. (7)

 

Và chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không biết rơ chỗ nước uống? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, không chứng đạt nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, không chứng đạt sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không biết chỗ nước uống.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu na vīthiṃ jānāti. Idha bhikkhave bhikkhu ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu na vīthiṃ jānāti. (8)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không biết về con đường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không như thật biết con đường Thánh đạo Tám ngành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không biết đến con đường.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu na gocarakusalo hoti. Idha bhikkhave bhikkhu cattaro satipaṭṭhāne yathābhūtaṃ nappajānāti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu na gocarakusalo hoti. (9)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không khéo léo với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không như thật biết về Bốn Niệm xứ. Như vậy này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không khéo léo với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu anavasesadohī hoti. Idha bhikkhave bhikkhuṃ saddhā gahapatikā abhihaṭṭhuṃ pavārenti cīvarapiṇdapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi, tatra bhikkhu mattaṃ na jānāti paṭiggahaṇāya. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu anavasesadohī hoti. (10)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo vắt sữa cho đến khô kiệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi các vị tại gia v́ ḷng tin cúng dường các vật dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỷ-kheo không biết nhận lănh cho được vừa đủ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo vắt sữa cho đến khô kiệt.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṃghapitaro saṃghapariṇāyakā, te na atirekapūjāya pūjetā hoti. Idha bhikkhave bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṃghapitaro saṃghapariṇāyakā, tesu na mettaṃ kāyakammaṃ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca. Na mettaṃ vacīkammaṃ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca. Na mettaṃ manokammaṃ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṃghapitaro saṃghapariṇāyakā, te na atirekapūjāya pūjetā hoti. (11)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo, đối với những Thượng tọa trưởng lăo, xuất gia đă lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lănh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với Thượng tọa, trưởng lăo, xuất gia đă lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lănh đạo trong Tăng giới, không có thân nghiệp đầy ḷng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, không có khẩu nghiệp đầy ḷng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, không có ư nghiệp đầy ḷng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đối với những Thượng tọa, trưởng lăo, xuất gia đă lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lănh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt.

 

Imehi kho bhikkhave ekādasahi dhammehi samannāgato bhikkhu abhabbo imasmiṃ Dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjituṃ.

 

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không đầy đủ mười một pháp này, th́ không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành măn trong Pháp và Luật này.

 

348. Ekādasahi bhikkhave aṅgehi samannāgato gopālako bhabbo gogaṇaṃ pariharituṃ phātiṃ kātuṃ. Katamehi ekādasahi. Idha bhikkhave gopālako rūpaññū hoti, lakkhaṇakusalo hoti, āsāṭikaṃ hāretā hoti, vaṇaṃ paṭicchādetā hoti, dhūmaṃ kattā hoti, titthaṃ jānāti, pītaṃ jānāti, vīthiṃ jānāti, gocarakusalo hoti, sāvasesadohī ca hoti, ye te usabhā gopitaro gopariṇāyakā, te atirekapūjāya pūjetā hoti. Imehi kho bhikkhave ekādasahi aṅgehi samannāgato gopālako bhabbo gogaṇaṃ pariharituṃ phātiṃ kātuṃ.

 

Này các Tỷ-kheo, người chăn ḅ đầy đủ mười một đức tánh này có thể chăn giữ đàn ḅ, khiến đàn ḅ trở thành hưng thịnh. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chăn ḅ biết rơ sắc, khéo (phân biệt) các tướng, trừ bỏ trứng con ḅ chét, băng bó vết thương, có xông khói, biết chỗ nước có thể lội qua, biết chỗ nước uống, biết con đường, khéo léo đối với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ, không vắt sữa cho đến khô kiệt, là người chú ư săn sóc đặc biệt, những con ḅ đực già và đầu đàn. Này các Tỷ-kheo, người chăn ḅ đầy đủ mười một đức tánh này có thể chăn giữ đàn ḅ và làm cho đàn ḅ trở thành hưng thịnh.

 

Evameva kho bhikkhave ekādasahi dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo imasmiṃ Dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjituṃ. Katamehi ekādasahi. Idha bhikkhave bhikkhu rūpaññū hoti, lakkhaṇakusalo hoti, āsāṭikaṃ hāretā hoti, vaṇaṃ paṭicchādetā hoti, dhūmaṃ kattā hoti, titthaṃ jānāti, pītaṃ jānāti, vīthiṃ jānāti, gocarakusalo hoti, sāvasesadohī ca hoti, ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṃghapitaro saṃghapariṇāyakā, te atirekapūjāya pūjetā hoti.

 

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ mười một pháp này có thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành măn trong Pháp và Luật này. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, biết rơ sắc, khéo (phân biệt) các tướng, trừ bỏ trứng con ḅ chét, băng bó vết thương, có xông khói, biết chỗ nước có thể lội qua, biết chỗ nước uống, biết con đường khéo léo đối với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ, không phải là người vắt sữa cho đến khô kiệt, đối với những Thượng tọa, trưởng lăo, xuất gia đă lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lănh đạo trong Tăng giới, có sự tôn kính, tôn trọng đặc biệt.

 

349. Kathañca bhikkhave bhikkhu rūpaññū hoti. Idha bhikkhave bhikkhu “Yaṃ kiñci rūpaṃ sabbaṃ rūpaṃ cattāri mahābhūtāni catunnañca mahābhūtānaṃ upādāyarūpan”ti yathābhūtaṃ pajānāti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu rūpaññū hoti. (1)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết rơ các sắc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với sắc pháp như thật biết tất cả loại sắc thuộc bốn đại và sắc do bốn đại hợp thành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết rơ các sắc.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu lakkhaṇakusalo hoti. Idha bhikkhave bhikkhu “Kammalakkhaṇo bālo, kammalakkhaṇo paṇdito”ti yathābhūtaṃ pajānāti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu lakkhaṇakusalo hoti. (2)

 

Chư Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo khéo (phân biệt) các tướng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết kẻ ngu và nghiệp tướng kẻ ngu, kẻ trí và nghiệp tướng kẻ trí. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khéo (phân biệt) các tướng.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu āsāṭikaṃ hāretā hoti. Idha bhikkhave bhikkhu uppannaṃ kāmavitakkaṃ nādhivāseti, pajahati, vinodeti, byantī karoti, anabhāvaṃ gameti. Uppannaṃ byāpādavitakkaṃ. Pa . Uppannaṃ vihiṃ sāvitakkaṃ. Pa . Uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti, pajahati, vinodeti, byantī karoti, anabhāvaṃ gameti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu āsāṭikaṃ hāretā hoti. (3)

 

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo trừ bỏ trứng con ḅ chét? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không thọ dụng dục tầm khởi lên, từ bỏ, tránh né, chấm dứt, làm cho không tồn tại. Tỷ kheo không thọ dụng sân tầm khởi lên ... không thọ dụng hại tầm khởi lên ... không thọ dụng các ác, bất thiện pháp khởi lên, từ bỏ, tránh né, chấm dứt, làm cho không tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo trừ bỏ trứng con ḅ chét.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu vaṇaṃ paṭicchādetā hoti. Idha bhikkhave bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī, yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati. Sotena saddaṃ sutvā. Pa . Ghānena gandhaṃ ghāyitvā. Pa . Jivhāya rasaṃ sāyitvā. Pa . Kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā. Pa . Manasā dhammaṃ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī, yatvādhikaraṇamenaṃ manindriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṃ, manindriye saṃvaraṃ āpajjati. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu vaṇaṃ paṭicchādetā hoti. (4)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo băng bó vết thương? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân ǵ khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ tŕ con mắt, thực hành sự hộ tŕ con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ư nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân ǵ khiến ư căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ tŕ ư căn, thực hành sự hộ tŕ ư căn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo băng bó vết thương.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu dhūmaṃ kattā hoti. Idha bhikkhave bhikkhu yathāsutaṃ yathāpariyattaṃ dhammaṃ vitthārena paresaṃ desetā hoti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu dhūmaṃ kattā hoti. (5)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo có xông khói? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thuyết giảng rộng răi cho các người khác biết Chánh pháp ḿnh được nghe, được thọ tŕ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo có xông khói.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu titthaṃ jānāti. Idha bhikkhave bhikkhu ye te bhikkhū bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā, te kālena kālaṃ upasaṅkamitvā paripucchati, paripañhati “Idaṃ bhante kathaṃ, imassa ko attho”ti. Tassa te āyasmanto avivaṭañceva vivaranti. Anuttānīkatañca uttānī karonti. Anekavihitesu ca kaṅkhāṭhānīyesu dhammesu kaṅkhaṃ paṭivinodenti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu titthaṃ jānāti. (6)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết chỗ nước có thể lội qua? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thỉnh thoảng có đến gặp những Tỷ-kheo đa văn, được trao cho truyền thống giáo điển, những bậc tŕ Pháp, tŕ Luật, tŕ matika (các bản tóm tắt) có hỏi, có trả lời các vị ấy: "Thưa Tôn giả, điểm này là thế nào? Ư nghĩa này là ǵ? Những bậc Tôn giả ấy làm cho hiển lộ những điều chưa được hiển lộ, làm cho rơ ràng những điều chưa được rơ ràng, và đối với những nghi vấn về Chánh pháp, các vị đoạn trừ nghi hoặc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết rơ chỗ nước có thể lội qua.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu pītaṃ jānāti. Idha bhikkhave bhikkhu Tathāgatappavedite Dhammavinaye desiyamāne labhati atthavedaṃ, labhati dhammavedaṃ, labhati dhammūpasaṃhitaṃ pāmojjaṃ. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu pītaṃ jānāti. (7)

 

Và chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết rơ chỗ nước uống? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, giảng dạy, chứng đạt nghĩa tín thọ, chứng đạt pháp tín thọ, chứng đạt sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết chỗ nước uống.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu vīthiṃ jānāti. Idha bhikkhave bhikkhu ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ yathābhūtaṃ pajānāti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu vīthiṃ jānāti. (8)

 

Và các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết rơ về con đường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết con đường Thánh đạo Tám ngành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết rơ con đường.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu gocarakusalo hoti. Idha bhikkhave bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne yathābhūtaṃ pajānāti. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu gocarakusalo hoti. (9)

 

Và này, các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo khéo léo đối với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết về Bốn Niệm xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo léo đối với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu sāvasesadohī hoti. Idha bhikkhave bhikkhuṃ saddhā gahapatikā abhihaṭṭhuṃ pavārenti cīvarapiṇdapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi, tatra bhikkhu mattaṃ jānāti paṭiggahaṇāya. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu sāvasesadohī hoti. (10)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không vắt sữa cho đến khô kiệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi các vị tại gia v́ ḷng tin cúng dường các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỷ-kheo biết nhận lănh cho được vừa đủ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không vắt sữa cho đến khô kiệt.

 

Kathañca bhikkhave bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṃghapitaro saṃghapariṇāyakā, te atirekapūjāya pūjetā hoti. Idha bhikkhave bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṃghapitaro saṃghapariṇāyakā, tesu mettaṃ kāyakammaṃ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca. Mettaṃ vacīkammaṃ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca. Mettaṃ manokammaṃ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca. Evaṃ kho bhikkhave bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṃghapitaro saṃghapariṇāyakā, te atirekapūjāya pūjetā hoti. (11)

 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo, đối với những Thượng tọa trưởng lăo, xuất gia đă lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lănh đạo trong Tăng giới, có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với các Thượng tọa trưởng lăo, xuất gia đă lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lănh đạo trong Tăng giới, có thân nghiệp đầy ḷng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, có khẩu nghiệp, đầy ḷng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, có ư nghiệp đầy ḷng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đối với những Thượng tọa trưởng lăo, xuất gia đă lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lănh đạo trong Tăng giới, có sự tôn kính, có sự tôn trọng đặc biệt.

 

Imehi kho bhikkhave ekādasahi dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo imasmiṃ Dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjitunti.

 

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đầy đủ mười một pháp này, th́ có thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành măn trong Pháp và Luật này.

 

Idamavoca Bhagavā. Attamanā te bhikkhū Bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.

 

Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

 

Mahāgopālakasuttaṃ niṭṭhitaṃ tatiyaṃ.

 
 

<Kinh số 032>

<Kinh số 034>

 
| Mục lục Trung Bộ I | Mục lục Trung Bộ II | Mục lục Trung Bộ III |
 

<Đầu Trang>