|
031. CŪḶAGOSIṆGASUTTAṂ
|
|
031. CŪḶAGOSIṆGASUTTAṂ
- Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
031. TIỂU KINH RỪNG SỪNG B̉ - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
325. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ
samayaṃ Bhagavā Nātike (Nādike
- Sī, Syā, I; ñātike - Ka)
viharati
Giñjakāvasathe. |
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Nadika, tại
Ginjakavasatha. |
|
Tena kho pana samayena āyasmā ca Anuruddho
āyasmā ca Nandiyo āyasmā ca Kimilo (Kimbilo
- Sī, I, Ka)
Gosiṅgasālavanadāye
viharanti. |
Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha
(A-na-luật-đà), Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbila trú tại khu
vườn trong rừng Gosinga (rừng Sừng ḅ) có nhiều cây ta-la.
|
|
Atha kho Bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito
yena Gosiṅgasālavanadāyo tenupasaṅkami. Addasā kho dāyapālo
Bhagavantaṃ dūratova āgacchantaṃ, disvāna Bhagavantaṃ etadavoca
“Mā samaṇa etaṃ dāyaṃ pāvisi, santettha tayo kulaputtā
attakāmarūpā viharanti. Mā tesaṃ aphāsumakāsī”ti.
|
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, sau
khi tham thiền, đứng dậy đi đến khu vườn trong rừng Gosinga có
nhiều cây ta-la. Người giữ vườn thấy Thế Tôn từ xa đi đến, liền
bạch Thế Tôn:
-- Bạch Sa-môn, chớ có vào khu
vườn này. Có ba Thiện nam tử đang trú tại đây, rất ái luyến tự
ngă. Chớ có phiền nhiễu các vị ấy.
|
|
Assosi kho āyasmā Anuruddho dāyapālassa Bhagavatā
saddhiṃ mantayamānassa, sutvāna dāyapālaṃ etadavoca
“Mā āvuso
dāyapāla Bhagavantaṃ vāresi, Satthā no Bhagavā anuppatto”ti.
|
Tôn giả Anuruddha nghe người giữ
vườn nói chuyện với Thế Tôn như vậy, liền nói với người giữ
vườn:
-- Này người giữ vườn, chớ có
ngăn chận Thế Tôn. Thế Tôn, bậc Đạo Sư của chúng tôi đă đến.
|
|
Atha kho āyasmā Anuruddho yenāyasmā ca Nandiyo āyasmā ca Kimilo
tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ ca Nandiyaṃ āyasmantaṃ
ca Kimilaṃ etadavoca
“Abhikkamathāyasmanto abhikkamathāyasmanto,
Satthā no Bhagavā anuppatto”ti. |
Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn
giả Nandiya, Tôn giả Kimbila và nói:
-- Chư Tôn giả hăy đến, chư Tôn
giả hăy đến. Thế Tôn, bậc Đạo sư của chúng ta đă đến.
|
|
Atha kho āyasmā ca Anuruddho
āyasmā ca Nandiyo āyasmā ca Kimilo Bhagavantaṃ paccuggantvā eko
Bhagavato pattacīvaraṃ paṭiggahesi, eko āsanaṃ paññapesi, eko
pādodakaṃ upaṭṭhāpesi. Nisīdi Bhagavā paññatte āsane, nisajja
kho Bhagavā pāde pakkhālesi. Tepi kho āyasmanto Bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho
āyasmantaṃ Anuruddhaṃ Bhagavā etadavoca–
|
Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả
Nandiya và Tôn giả Kimbila ra đón Thế Tôn, một người cầm y bát
của Thế Tôn, một người sửa soạn chỗ ngồi, một người đặt sẵn nước
rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đă soạn sẵn, sau khi ngồi,
Thế Tôn rửa chân. Rồi các Tôn giả ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi
xuống một bên. Và Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi
xuống một bên:
|
|
326. Kacci vo Anuruddhā khamanīyaṃ kacci yāpanīyaṃ,
kacci piṇdakena na kilamathāti.
Khamanīyaṃ Bhagavā yāpanīyaṃ
Bhagavā, na ca mayaṃ bhante piṇdakena kilamāmāti.
|
-- Này các Anuruddha, các Ông có
được an lành không? Có được sống yên vui không? Đi khất thực có
khỏi mệt nhọc không?
-- Bạch Thế Tôn, chúng con được
an lành; bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui; bạch Thế Tôn,
chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.
|
|
Kacci pana vo
Anuruddhā samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā
aññamaññaṃ piyacakkhūhi sampassantā viharathāti.
Taggha mayaṃ
bhante samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṃ
piyacakkhūhi sampassantā viharāmāti. |
-- Này các Anuruddha, các Ông có
sống ḥa hợp, hoan hỷ với nhau, không có căi nhau, như nước với
sữa, sống nh́n nhau với cặp mắt thiện cảm không?
-- Bạch Thế Tôn, thật sự chúng
con sống ḥa hợp, hoan hỷ với nhau, không có căi nhau, như nước
với sữa, sống nh́n nhau với cặp mắt thiện cảm.
|
|
Yathā kathaṃ pana tumhe
Anuruddhā samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā
aññamaññaṃ piyacakkhūhi sampassantā viharathāti.
|
-- Này các Anuruddha, như thế
nào các Ông sống ḥa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa,
sống nh́n nhau với cặp mắt thiện cảm?
|
|
Idha mayhaṃ
bhante evaṃ hoti “Lābhā vata me, suladdhaṃ vata me, yohaṃ
evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṃ viharāmī”ti. Tassa mayhaṃ
bhante imesu āyasmantesu mettaṃ kāyakammaṃ paccupaṭṭhitaṃ āvi
ceva raho ca, mettaṃ vacīkammaṃ paccupaṭṭhitaṃ āvi ceva raho ca,
mettaṃ manokammaṃ paccupaṭṭhitaṃ āvi ceva raho ca. Tassa mayhaṃ
bhante evaṃ hoti “Yaṃnūnāhaṃ sakaṃ cittaṃ nikkhipitvā imesaṃyeva
āyasmantānaṃ cittassa vasena vatteyyan”ti. So kho ahaṃ bhante
sakaṃ cittaṃ nikkhipitvā imesaṃyeva āyasmantānaṃ cittassa vasena
vattāmi. Nānā hi kho no bhante kāyā, ekaṃ ca pana maññe
cittanti.
|
-- Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng
con nghe như sau: "Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích
thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh như
vậy". Bạch Thế Tôn, do vậy, đối với các vị đồng phạm hạnh này,
con khởi lên từ thân nghiệp trước mặt và sau lưng, con khởi lên
từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ư nghiệp,
trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy, chúng con nghĩ như
sau: "Ta hăy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những
Tôn giả này". Bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận
theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác
thân nhưng giống như đồng một tâm.
|
|
Āyasmāpi kho
Nandiyo. Pa . Āyasmāpi kho Kimilo Bhagavantaṃ etadavoca
|
Rồi Tôn giả Nandiya... (như
trên)... rồi Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn:
|
|
“Mayhampi bhante evaṃ hoti ‘Lābhā vata me, suladdhaṃ vata me,
yohaṃ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṃ viharāmī’ti. Tassa mayhaṃ
bhante imesu āyasmantesu mettaṃ kāyakammaṃ paccupaṭṭhitaṃ āvi
ceva raho ca, mettaṃ vacīkammaṃ paccupaṭṭhitaṃ āvi ceva raho ca,
mettaṃ manokammaṃ paccupaṭṭhitaṃ āvi ceva raho ca. Tassa mayhaṃ
bhante evaṃ hoti ‘Yaṃnūnāhaṃ sakaṃ cittaṃ nikkhipitvā imesaṃyeva
āyasmantānaṃ cittassa vasena vatteyyan’ti. So kho ahaṃ bhante
sakaṃ cittaṃ nikkhipitvā imesaṃyeva āyasmantānaṃ cittassa vasena
vattāmi. Nānā hi kho no bhante kāyā, ekaṃ ca pana maññe
cittanti. Evaṃ kho mayaṃ bhante samaggā sammodamānā
avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṃ piyacakkhūhi sampassantā
viharāmā”ti. |
-- Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con
nghĩ như sau: "Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích thay
cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh như vậy".
Bạch Thế Tôn, do vậy, đối với các vị đồng phạm hạnh này, con
khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ
khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ư nghiệp,
trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy, chúng con nghĩ như
sau: "Ta hăy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những
Tôn giả này". Bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con và sống thuận
theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác
thân nhưng giống như đồng một tâm. Bạch Thế Tôn, như vậy chúng
con sống ḥa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nh́n
nhau với cặp mắt thiện cảm. |
|
327. Sādhu sādhu Anuruddhā, kacci pana vo Anuruddhā
appamattā ātāpino pahitattā viharathāti.
Taggha mayaṃ bhante
appamattā ātāpino pahitattā viharāmāti.
|
-- Lành thay, lành thay, này
Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần không?
-- Bạch Thế Tôn, thật sự chúng
con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
|
|
Yathā kathaṃ pana tumhe
Anuruddhā appamattā ātāpino pahitattā viharathāti.
Idha bhante
amhākaṃ yo paṭhamaṃ gāmato piṇdāya paṭikkamati, so āsanāni
paññapeti, pānīyaṃ paribhojanīyaṃ upaṭṭhāpeti, avakkārapātiṃ
upaṭṭhāpeti. Yo pacchā gāmato piṇdāya paṭikkamati. Sace hoti
bhuttāvaseso, sace ākaṅkhati bhuñjati. No ce ākaṅkhati,
appaharite vā chaddeti, appāṇake vā udake opilāpeti, so āsanāni
paṭisāmeti, pānīyaṃ paribhojanīyaṃ paṭisāmeti, avakkārapātiṃ
paṭisāmeti, bhattaggaṃ sammajjati. Yo passati pānīyaghaṭaṃ vā
paribhojanīyaghaṭaṃ vā vaccaghaṭaṃ vā rittaṃ tucchaṃ, so
upaṭṭhāpeti. Sacassa hoti avisayhaṃ, hatthavikārena dutiyaṃ
āmantetvā hatthavilaṅghakena upaṭṭhāpema, na tveva mayaṃ bhante
tappaccayā vācaṃ bhindāma. Pañcāhikaṃ kho pana mayaṃ bhante
sabbarattikaṃ dhammiyā kathāya sannisīdāma. Evaṃ kho mayaṃ
bhante appamattā ātāpino pahitattā viharāmāti.
|
-- Này các Anuruddha, như thế
nào, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần?
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng
con, ai đi làng khất thực về trước, th́ người ấy sắp đặt các chỗ
ngồi, soạn sẵn nước uống, nước rửa chân, soạn sẵn một bát để bỏ
đồ dư. Ai đi làng khất thực về sau, th́ người ấy, c̣n đồ ăn thừa
nếu muốn th́ ăn, nếu không muốn th́ bỏ vào chỗ không có cỏ xanh
hay đổ vào nước không có loài côn trùng và người ấy xếp dọn lại
các chỗ ngồi, cất đi nước uống, nước rửa chân, cất đi cái bát để
bỏ đồ dư và quét sạch nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước
rửa chân, hay ghè nước trong nhà cầu hết nước, trống không th́
người ấy sẽ lo liệu (nước). Nếu ai làm không nổi với sức bàn tay
của ḿnh, th́ người ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai:
"Chúng ta hăy lo liệu (nước)". Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con
không v́ vây mà gây ra tiếng động. Và đến ngày thứ năm, bạch Thế
Tôn, suốt cả đêm, chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp. Như vây,
bạch Thế Tôn chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh
cần.
|
|
328. Sādhu sādhu
Anuruddhā, atthi pana vo Anuruddhā evaṃ appamattānaṃ ātāpīnaṃ
pahitattānaṃ viharantānaṃ uttari manussadhammā
alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāroti.
|
-- Lành thay, lành thay, này các
Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các Ông có chứng được pháp thượng
nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, sống thoải mái,
an lạc không?
|
|
Kiṃ hi no
siyā bhante. Idha mayaṃ bhante yāvadeva ākaṅkhāma, vivicceva
kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ
pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharāma. Ayaṃ kho no
bhante amhākaṃ appamattānaṃ ātāpīnaṃ pahitattānaṃ viharantānaṃ
uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato
phāsuvihāroti.
|
-- Bạch Thế Tôn, sao có thể
không được! Ở đây, bạch Thế Tôn, lâu cho đến khi chúng con muốn,
chúng con ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ
nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Như
vậy, bạch Thế Tôn, đối với chúng con, là pháp thượng nhân, tri
kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; chúng con chứng được và
sống thoải mái, an lạc, nhờ chúng con sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần.
|
|
Sādhu sādhu
Anuruddhā, etassa pana vo Anuruddhā vihārassa samatikkamāya
etassa vihārassa paṭippassaddhiyā atthañño uttari manussadhammā
alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāroti.
|
-- Lành thay, lành thay, này các
Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia,
có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng
nhân khác, một tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh và sống
thoải mái, an lạc không?
|
|
Kiṃ hi no
siyā bhante. Idha mayaṃ bhante yāvadeva ākaṅkhāma,
vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso
ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ
jhānaṃ upasampajja viharāma. Etassa bhante vihārassa
samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari
manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāroti.
|
-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể
không được. Ở đây, bạch Thế Tôn, lâu cho đến khi chúng con muốn,
chúng con diệt tầm diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một
trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh
nhất tâm. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm
cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng
nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống
thoải mái, an lạc.
|
|
Sādhu sādhu Anuruddhā, etassa pana vo Anuruddhā
vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā
atthañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso
adhigato phāsuvihāroti.
|
-- Lành thay, lành thay, này các
Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia,
có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng
nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống
thoải mái, an lạc không?
|
|
Kiṃ hi no siyā bhante. Idha
mayaṃ bhante yāvadeva ākaṅkhāma, pītiyā ca virāgā upekkhakā ca
viharāma satā ca sampajānā, sukhañca kāyena paṭisaṃvedema, yaṃ
taṃ ariyā ācikkhanti “Upekkhako satimā sukhavihārī”ti tatiyaṃ
jhānaṃ upasampajja viharāma. Etassa bhante vihārassa
samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari
manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāroti.
|
-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể
không được! Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con ly
hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc
Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba, Bạch
Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự
an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri
kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, và sống thoải mái, an lạc.
|
|
Sādhu sādhu
Anuruddhā, etassa pana vo Anuruddhā vihārassa samatikkamāya
etassa vihārassa paṭippassaddhiyā atthañño uttari manussadhammā
alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāroti.
|
-- Lành thay, lành thay, này các
Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia,
có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng
nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống
thoải mái, an lạc không?
|
|
Kiṃ hi no
siyā bhante. Idha mayaṃ bhante yāvadeva ākaṅkhāma, sukhassa ca
pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ
atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ
jhānaṃ upasampajja viharāma. Etassa bhante vihārassa
samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari
manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāroti.
|
-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể
không được! Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con xả
lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ
tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Bạch Thế Tôn, chúng
con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia;
chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù
thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái an lạc.
|
|
Sādhu sādhu
Anuruddhā, etassa pana vo Anuruddhā vihārassa samatikkamāya
etassa vihārassa paṭippassaddhiyā atthañño uttari manussadhammā
alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāroti.
|
-- Lành thay, lành thay, này các
Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia,
có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng
nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống
thoải mái, an lạc không?
|
|
Kiṃ hi no
siyā bhante. Idha mayaṃ bhante yāvadeva ākaṅkhāma, sabbaso
rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā
nānattasaññānaṃ amanasikārā “Ananto ākāso”ti ākāsānañcāyatanaṃ
upasampajja viharāma. Etassa bhante vihārassa samatikkamāya
etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari manussadhammā
alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāroti.
|
-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể
không được. Ở đây lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con vượt
lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ư
đối với dị tưởng; chúng con nghĩ rằng: "Hư không là vô biên",
chứng và trú Không vô biên xứ. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua
sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng
được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng
bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc
|
|
Sādhu sādhu Anuruddhā, etassa pana vo Anuruddhā
vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā
atthañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso
adhigato phāsuvihāroti. Kiṃ hi no siyā bhante. Idha mayaṃ bhante
yāvadeva ākaṅkhāma, sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma
“Anantaṃ viññāṇan”ti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja viharāma. Pa
. Sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma “Natthi kiñcī”ti
ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja viharāma. Pa . Sabbaso
ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṃ
upasampajja viharāma. Etassa bhante vihārassa samatikkamāya
etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari manussadhammā
alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāroti.
|
... (như trên)...
Ở đây, lâu
cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Không vô biên
xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên
xứ... (như trên)... Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng
con vượt qua mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật ǵ",
chứng và trú Vô sở hữu xứ
... (như trên)...
|
|
329. Sādhu sādhu Anuruddhā, etassa pana vo Anuruddhā
vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā
atthañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso
adhigato phāsuvihāroti. Kiṃ hi no siyā bhante. Idha mayaṃ bhante
yāvadeva ākaṅkhāma, sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṃ samatikkamma
saññāvedayitanirodhaṃ upasampajja viharāma, paññāya ca no disvā
āsavā parikkhīṇā. Etassa bhante vihārassa samatikkamāya etassa
vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari manussadhammā
alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro. Imamhā ca mayaṃ
bhante phāsuvihārā aññaṃ phāsuvihāraṃ uttaritaraṃ vā paṇītataraṃ
vā na samanupassāmāti.
|
... (như trên)... Ở đây, lâu cho đến
khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Vô sở hữu xứ, chứng
và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở đây, lâu cho đến khi chúng
con muốn; chúng con vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng
và trú Diệt thọ tưởng định. Sau khi đă thấy nhờ trí tuệ, các lậu
hoặc của chúng con được đoạn trừ. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt
qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con
chứng được pháp thượng nhân này, một tri kiến thù thắng, xứng
đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc. Bạch Thế Tôn, chúng
con không thấy một lạc trú nào khác cao thượng hơn, thù thắng
hơn sự lạc trú này.
|
|
Sādhu sādhu Anuruddhā, imamhā phāsuvihārā
uttaritaro vā paṇītataro vā phāsuvihāro natthīti.
|
-- Lành thay, lành thay, các
Anuruddha! Này các Anuruddha, ngoài lạc trú này, không có một
lạc trú nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn.
|
|
330. Atha kho Bhagavā āyasmantañca Anuruddhaṃ
āyasmantañca Nandiyaṃ āyasmantañca Kimilaṃ dhammiyā kathāya
sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṃsetvā uṭṭhāyāsanā
pakkāmi. Atha kho āyasmā ca Anuruddho āyasmā ca Nandiyo āyasmā
ca Kimilo Bhagavantaṃ anusaṃyāyitvā (Anusaṃsāvetvā
- Sī; anusāvetvā - Ṭīkā)
tato paṭinivattitvā
āyasmā ca Nandiyo āyasmā ca Kimilo āyasmantaṃ Anuruddhaṃ
etadavocuṃ
|
Thế Tôn thuyết pháp cho Tôn giả
Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila, khai thị, khích
lệ làm cho hoan hỷ, làm cho phấn khởi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy
ra về. Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila,
sau khi tiễn đưa Thế Tôn và đi trở về. Tôn giả Nandiya và Tôn
giả Kimbila nói với Tôn giả Anuruddha:
|
|
“Kiṃ nu kho mayaṃ āyasmato Anuruddhassa evamārocimha
‘Imāsañca imāsañca vihārasamāpattīnaṃ mayaṃ lābhino’ti. Yaṃ no
āyasmā Anuruddho Bhagavato sammukhā yāva āsavānaṃ khayā
pakāsetī”ti.
|
-- Chúng tôi không bao giờ nói
với Tôn giả Anuruddha như sau: "Chúng tôi là người đă chứng và
an trú quả này, an trú quả này", và nhờ vậy, Tôn giả Anuruddha,
trước mặt Thế Tôn, đă nêu rơ (các quả chứng) cho đến sự đoạn trừ
các lậu hoặc.
|
|
Na kho me āyasmanto evamārocesuṃ “Imāsañca imāsañca
vihārasamāpattīnaṃ mayaṃ lābhino”ti. Api ca me āyasmantānaṃ
cetasā ceto paricca vidito “Imāsañca imāsañca vihārasamāpattīnaṃ
ime āyasmanto lābhino”ti. Devatāpi me etamatthaṃ ārocesuṃ
“Imāsañca imāsañca vihārasamāpattīnaṃ ime āyasmanto lābhino”ti.
Tamenaṃ Bhagavatā pañhābhipuṭṭhena byākatanti.
|
-- Chư Tôn giả không nói với tôi
như sau: "Chúng tôi là người đă chứng và an trú quả này, an trú
quả này", nhưng với tâm của tôi, tôi biết được tâm của các Tôn
giả: "Chư Tôn giả này là Người đă chứng và an trú quả này, an
trú quả này". Và chư Thiên có nói với tôi về vấn đề này: "Chư
Tôn giả này là Người đă chứng và an trú quả này, an trú quả
này". Chính nhờ phương tiện này, các câu mà Thế Tôn hỏi đă được
trả lời.
|
|
331. Atha kho
Dīgho Parajano yakkho yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā
Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi, ekamantaṃ ṭhito kho
Dīgho Parajano yakkho Bhagavantaṃ etadavoca
|
Rồi Digha Parajana, một Yakkha
(Trường quỷ Dạ-xoa) đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài
và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Digha Parajana bạch Thế
Tôn:
|
|
“Lābhā vata bhante
Vajjīnaṃ, suladdhalābhā Vajjipajāya, yattha Tathāgato viharati
Arahaṃ Sammāsambuddho, ime ca tayo kulaputtā āyasmā ca Anuruddho
āyasmā ca Nandiyo āyasmā ca Kimilo”ti.
|
-- Bạch Thế Tôn, thật lợi ích
thay cho dân chúng Vajji (Bạt kỳ)! Thật khéo lợi ích thay cho
dân chúng Vajji! V́ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ở
đây, và cả ba Thiện nam tử, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya
và Tôn giả Kimbila cũng vậy.
|
|
Dīghassa Parajanassa
yakkhassa saddaṃ sutvā bhummā devā saddamanussāvesuṃ “Lābhā vata
bho Vajjīnaṃ, suladdhalābhā Vajjipajāya, yattha Tathāgato
viharati Arahaṃ Sammāsambuddho, ime ca tayo kulaputtā āyasmā ca
Anuruddho āyasmā ca Nandiyo āyasmā ca Kimilo”ti. Bhummānaṃ
devānaṃ saddaṃ sutvā cātumahārājitā devā. Pa . Tāvatiṃsā devā.
Pa . Yāmā devā. Pa . Tusitā devā. Pa . Nimmānaratī devā. Pa .
Paranimmitavasavattī devā. Pa. Brahmakāyikā devā
saddamanussāvesuṃ “Lābhā vata bho Vajjīnaṃ, suladdhalābhā
Vajjipajāya, yattha Tathāgato viharati Arahaṃ Sammāsambuddho,
ime ca tayo kulaputtā āyasmā ca Anuruddho āyasmā ca Nandiyo
āyasmā ca Kimilo”ti. Itiha te āyasmanto tena khaṇena (tena
layena) (Sī—Syā—I
potthakesu natthi)
tena muhuttena
yāvabrahmalokā viditā (Saṃviditā
- Ka) ahesuṃ.
|
Sau khi nghe tiếng của Yakkha
Digha Parajana, các địa thần làm cho tiếng này được nghe: "Chư
Hiền giả, thật lợi ích thay cho dân chúng Vajji! thật khéo lợi
ích cho dân chúng Vajji! V́ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác ở đây và cả ba Thiện nam tử này, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả
Nandiya và Tôn giả Kimbila cũng vậy". Sau khi nghe tiếng của các
Địa thần, bốn Thiên vương... (như trên)... cơi trời Ba mươi
ba... Dạ-ma thiên... Đâu-suất-đà thiên... Hóa lạc thiên... Tha
hóa tự tại thiên... Phạm chúng thiên làm cho tiếng này được
nghe: "Chư Hiền giả, thật lợi ích thay có dân chúng Vajji! Thật
khéo lợi ích thay cho dân chúng Vajji! V́ Thế Tôn, bậc A-la-hán,
Chánh Đẳng Giác ở đây, và cả ba Thiện nam tử này, Tôn giả
Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimbila cũng vậy". Như
vậy, trong giờ phút này, trong sát-na này, các Tôn giả ấy được
biết cho đến Phạm thiên.
|
|
Evametaṃ Dīgha evametaṃ Dīgha, yasmāpi Dīgha kulā
ete tayo kulaputtā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, tañcepi kulaṃ
ete tayo kulaputte pasannacittaṃ anussareyya, tassapāssa kulassa
dīgharattaṃ hitāya sukhāya. Yasmāpi Dīgha kulaparivaṭṭā ete tayo
kulaputtā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, so cepi kulaparivaṭṭo
ete tayo kulaputte pasannacitto anussareyya, tassapāssa
kulaparivaṭṭassa dīgharattaṃ hitāya sukhāya. Yasmāpi Dīgha gāmā
ete tayo kulaputtā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, so cepi gāmo
ete tayo kulaputte pasannacitto anussareyya, tassapāssa gāmassa
dīgharattaṃ hitāya sukhāya. Yasmāpi Dīgha nigamā ete tayo
kulaputtā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, so cepi nigamo ete tayo
kulaputte pasannacitto anussareyya, tassapāssa nigamassa
dīgharattaṃ hitāya sukhāya. Yasmāpi Dīgha nagarā ete tayo
kulaputtā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, tañcepi nagaraṃ ete
tayo kulaputte pasannacittaṃ anussareyya, tassapāssa nagarassa
dīgharattaṃ hitāya sukhāya. Yasmāpi Dīgha janapadā ete tayo
kulaputtā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, so cepi janapado ete
tayo kulaputte pasannacitto anussareyya, tassapāssa janapadassa
dīgharattaṃ hitāya sukhāya. Sabbe cepi Dīgha khattiyā ete tayo
kulaputte pasannacittā anussareyyuṃ, sabbesānaṃpāssa khattiyānaṃ
dīgharattaṃ hitāya sukhāya. Sabbe cepi Dīgha brāhmaṇā. Pa .
Sabbe cepi Dīgha vessā. Pa . Sabbe cepi Dīgha suddā ete tayo
kulaputte pasannacittā anussareyyuṃ, sabbesānaṃpāssa suddānaṃ
dīgharattaṃ hitāya sukhāya. Sadevako cepi Dīgha loko samārako
sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā ete tayo
kulaputte pasannacittā anussareyya, sadevakassapāssa lokassa
samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya dīgharattaṃ hitāya sukhāya. Passa Dīgha yāva ete
tayo kulaputtā bahujanahitāya paṭipannā bahujanasukhāya
lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānanti.
|
-- Sự việc là như vậy, này
Digha, sự việc là như vậy, này Digha, này Digha, nếu gia đ́nh
nào, ba Thiện nam tử này xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không
gia đ́nh, nghĩ đến ba Thiện nam tử này với tâm niệm hoan hỷ, th́
gia đ́nh ấy sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài. Này Digha, nếu bà
con quyến thuộc của gia đ́nh mà ba Thiện nam tử này xuất gia, từ
bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, nghĩ đến ba Thiện nam tử này
với tâm niệm hoan hỷ, th́ bà con quyến thuộc của gia đ́nh mà ba
Thiện nam tử này xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh,
nghĩ đến ba Thiện nam tử này với tâm niệm hoan hỷ, th́ bà con
quyến thuộc của gia đ́nh ấy sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài.
Này Digha, nếu làng nào... nếu xă ấp nào... nếu thành phố nào...
nếu quốc độ nào... nếu tất cả Sát đế lị... nếu tất cả
Bà-la-môn... nếu tất cả Phệ xá (Vessa)... nếu tất cả Thủ đà
(Sudda)... Này Digha, nếu thế giới với chư Thiên, với Ác ma, với
Phạm thiên, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người
nhớ đến ba Tôn giả này với tâm niệm hoan hỷ, th́ thế giới ấy với
chư Thiên, với Ác ma, với Phạm thiên, với chúng Sa-môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu
dài. Này Digha, hăy xem ba Thiện nam tử này sống như thế nào?
--V́ hạnh phúc cho chúng sanh, v́ an lạc cho chúng sanh, v́ ḷng
thương tưởng cho đời, v́ hạnh phúc, v́ an lạc cho chư Thiên và
loài Người.
|
|
Idamavoca
Bhagavā. Attamano Dīgho Parajano yakkho Bhagavato bhāsitaṃ
abhinandīti.
|
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Dạ
xoa Digha Parajana hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
|
|
Cūḷagosiṅgasuttaṃ niṭṭhitaṃ
paṭhamaṃ.
|
|
|
<Kinh
số 030> |
<Kinh
số 032> |
|