|
030. CŪḶASĀROPAMASUTTAṂ
|
|
030. CŪḶASĀROPAMASUTTAṂ
- Tạng Miến Điện by Ven. Khánh
Hỷ |
030. TIỂU KINH VÍ DỤ LÕI CÂY - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
312. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ
viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme.
|
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú tại Savatthi
(Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô
Ðộc).
|
|
Atha kho Piṅgalakoccho
brāhmaṇo yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavatā
saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā
ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho Piṅgalakoccho brāhmaṇo
Bhagavantaṃ etadavoca |
Rồi Bà-la-môn Pingalakoccha đi
đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời hỏi
thăm, chúc tụng xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi
xuống một bên, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn:
|
|
“Yeme bho Gotama samaṇabrāhmaṇā saṅghino
gaṇino gaṇācariyā ñātā yasassino titthakarā sādhusammatā
bahujanassa. Seyyathidaṃ, Pūraṇo Kassapo Makkhali Gosālo Ajito
Kesakambalo Pakudho Kaccāyano Sañcayo (Sañjayo
- Sī, Syā, I, Ka)
Belaṭṭhaputto Nigaṇṭho Nāṭaputto. Sabbete sakāya paṭiññāya
abbhaññaṃsu, sabbeva nābbhaññaṃsu, udāhu ekacce abbhaññaṃsu,
ekacce nābbhaññaṃsū”ti. |
-- Tôn giả Gotama, có những
Sa-môn, Bà-la-môn này là vị Hội chủ, vị Giáo trưởng, vị Sư
trưởng Giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khi Tổ giáo phái,
được quần chúng tôn sùng, như Purana Kassapa, Makkhali Gosala,
Ajita Kesakambali, Pakudha Kaccayana, Sanjaya Belatthiputta,
Nigantha Nataputta, tất cả những vị này tự xưng là nhứt thiết
trí hay tất cả không phải là nhứt thiết trí, hay một số là nhứt
thiết trí và một số không phải nhứt thiết trí?
|
|
Alaṃ brāhmaṇa tiṭṭhatetaṃ “Sabbete
sakāya paṭiññāya abbhaññaṃsu, sabbeva nābbhaññaṃsu, udāhu ekacce
abbhaññaṃsu, ekacce nābbhaññaṃsū”ti. Dhammaṃ te brāhmaṇa
desessāmi, taṃ suṇāhi sādhukaṃ manasikarohi bhāsissāmīti.
“Evaṃ
bho”ti kho Piṅgalakoccho brāhmaṇo Bhagavato paccassosi. Bhagavā
etadavoca–
|
-- Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn,
hãy dừng lại ở đây: "Tất cả những vị này tự xưng là nhứt thiết
trí hay tất cả không phải là nhứt thiết trí? Hay một số là nhứt
thiết trí và một số không phải nhứt thiết trí?" Này Bà-la-môn,
Ta sẽ thuyết pháp cho Ông, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, Tôn giả. Bà-la-môn Pingalakoccha vâng đáp
Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau: |
|
313. Seyyathāpi brāhmaṇa puriso sāratthiko
sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato
sāravato atikkammeva sāraṃ atikkamma phegguṃ atikkamma tacaṃ
atikkamma papaṭikaṃ sākhāpalāsaṃ chetvā ādāya pakkameyya sāranti
maññamāno. Tamenaṃ cakkhumā puriso disvā evaṃ vadeyya “Na
vatāyaṃ bhavaṃ puriso aññāsi sāraṃ, na aññāsi phegguṃ, na aññāsi
tacaṃ, na aññāsi papaṭikaṃ, na aññāsi sākhāpalāsaṃ. Tathā ha'yaṃ
bhavaṃ puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno
mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṃ atikkamma
phegguṃ atikkamma tacaṃ atikkamma papaṭikaṃ sākhāpalāsaṃ chetvā
ādāya pakkanto sāranti maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṃ,
tañcassa atthaṃ nānubhavissatī”ti.
|
-- Này Bà-la-môn, ví như một
người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi
cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người bỏ qua lõi
cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt
cành lá, lấy chúng mang đi và tưởng rằng đó là lõi cây. Một
người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi
cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ
ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu
lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng
có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ
trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá lấy chúng mang đi, tưởng
rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây
có thể thành tựu".
|
|
314. Seyyathāpi vā pana brāhmaṇa puriso sāratthiko
sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato
sāravato atikkammeva sāraṃ atikkamma phegguṃ atikkamma tacaṃ
papaṭikaṃ chetvā ādāya pakkameyya sāranti maññamāno. Tamenaṃ
cakkhumā puriso disvā evaṃ vadeyya “Na vatāyaṃ bhavaṃ puriso
aññāsi sāraṃ, na aññāsi phegguṃ, na aññāsi tacaṃ, na aññāsi
papaṭikaṃ, na aññāsi sākhāpalāsaṃ. Tathā ha'yaṃ bhavaṃ puriso
sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa
tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṃ atikkamma phegguṃ atikkamma
tacaṃ papaṭikaṃ chetvā ādāya pakkanto sāranti maññamāno.
Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṃ, tañcassa atthaṃ
nānubhavissatī”ti.
|
Này Bà-la-môn, ví như một người
muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây,
trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi
cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng
mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn
nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây,
không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá.
Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn,
đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác
cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng
rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây
có thể thành tựu".
|
|
315. Seyyathāpi vā pana brāhmaṇa puriso sāratthiko
sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato
sāravato atikkammeva sāraṃ atikkamma phegguṃ tacaṃ chetvā ādāya
pakkameyya sāranti maññamāno. Tamenaṃ cakkhumā puriso disvā evaṃ
vadeyya “Na vatāyaṃ bhavaṃ puriso aññāsi sāraṃ, na aññāsi
phegguṃ, na aññāsi tacaṃ, na aññāsi papaṭikaṃ, na aññāsi
sākhāpalāsaṃ. Tathā ha'yaṃ bhavaṃ puriso sāratthiko sāragavesī
sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato
atikkammeva sāraṃ atikkamma phegguṃ tacaṃ chetvā ādāya pakkanto
sāranti maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṃ, tañcassa
atthaṃ nānubhavissatī”ti.
|
Này Bà-la-môn, ví như một người
muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây,
trước một cây lớn đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi
cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng
rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự
người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ
trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn
được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước
một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây,
bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi
cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể
thành tựu".
|
|
316. Seyyathāpi vā pana brāhmaṇa puriso sāratthiko
sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato
sāravato atikkammeva sāraṃ phegguṃ chetvā ādāya pakkameyya
sāranti maññamāno. Tamenaṃ cakkhumā puriso disvā evaṃ vadeyya
“Na vatāyaṃ bhavaṃ puriso aññāsi sāraṃ, na aññāsi phegguṃ, na
aññāsi tacaṃ, na aññāsi papaṭikaṃ, na aññāsi sākhāpalāsaṃ. Tathā
ha'yaṃ bhavaṃ puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṃ
caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṃ
phegguṃ chetvā ādāya pakkanto sāranti maññamāno. Yañcassa sārena
sārakaraṇīyaṃ, tañcassa atthaṃ nānubhavissatī”ti.
|
Này Bà-la-môn, ví như một người
muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây,
trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi
cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người
có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây,
không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài,
không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi
cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua
lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và
người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu".
|
|
317. Seyyathāpi vā pana brāhmaṇa puriso sāratthiko
sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato
sāravato sāraññeva chetvā ādāya pakkameyya sāranti jānamāno.
Tamenaṃ cakkhumā puriso disvā evaṃ vadeyya “Aññāsi vatāyaṃ
bhavaṃ puriso sāraṃ, aññāsi phegguṃ, aññāsi tacaṃ, aññāsi
papaṭikaṃ, aññāsi sākhāpalāsaṃ. Tathā ha'yaṃ bhavaṃ puriso
sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa
tiṭṭhato sāravato sāraññeva chetvā ādāya pakkanto sāranti
jānamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṃ, tañcassa atthaṃ
anubhavissatī”ti.
|
Này Bà-la-môn, ví như một người
muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây,
trước một cây lớn đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây,
mang đi và biết rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy,
có thể nói: "Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ
trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây,
tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn,
đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết
rằng đó là lõi cây. Và người này đạt được mục đích mà lõi cây có
thể thành tựu".
|
|
318. Evameva kho brāhmaṇa idhekacco puggalo saddhā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajito hoti “Otiṇṇomhi jātiyā jarāya
maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi,
dukkhotiṇṇo dukkhapareto. Appeva nāma imassa kevalassa
dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā "ti. So evaṃ pabbajito
samāno lābhasakkārasilokaṃ abhinibbatteti. So tena
lābhasakkārasilokena attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo. So tena
lābhasakkārasilokena attānukkaṃseti, paraṃ vambheti “Ahamasmi
lābhasakkārasilokavā, ime panaññe bhikkhū appaññātā
appesakkhā”ti. Lābhasakkārasilokena ca ye aññe dhammā uttaritarā
ca paṇītatarā ca, tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya na chandaṃ
janeti, na vāyamati, olīnavuttiko ca hoti sāthaliko. Seyyathāpi
so brāhmaṇa puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṃ
caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṃ
atikkamma phegguṃ atikkamma tacaṃ atikkamma papaṭikaṃ
sākhāpalāsaṃ chetvā ādāya pakkanto sāranti maññamāno. Yañcassa
sārena sārakaraṇīyaṃ, tañcassa atthaṃ nānubhavissati.
Tathūpamāhaṃ brāhmaṇa imaṃ puggalaṃ vadāmi.
|
Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây,
có người do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu,
não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ, Rất có
thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Vị ấy xuất gia như
vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn
kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do lợi dưỡng, tôn
kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi
dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy, còn các Tỷ-kheo khác ít
được biết đến, ít có uy quyền". Và vị ấy không phát khởi lòng ao
ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao
thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng.
Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như
một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm
lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ
qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài,
chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và
người ấy sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu.
Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống như ví dụ ấy.
|
|
319. Idha pana brāhmaṇa ekacco puggalo saddhā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajito hoti “Otiṇṇomhi jātiyā jarāya
maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi,
dukkhotiṇṇo dukkhapareto. Appeva nāma imassa kevalassa
dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā”ti. So evaṃ pabbajito
samāno lābhasakkārasilokaṃ abhinibbatteti. So tena
lābhasakkārasilokena na attamano hoti na paripuṇṇasaṅkappo. So
tena lābhasakkārasilokena na attānukkaṃseti, na paraṃ vambheti.
Lābhasakkārasilokena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā
ca, tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya chandaṃ janeti vāyamati,
anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So sīlasampadaṃ ārādheti. So
tāya sīlasampadāya attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo. So tāya
sīlasampadāya attānukkaṃseti, paraṃ vambheti “Ahamasmi sīlavā
kalyāṇadhammo, ime panaññe bhikkhū dussīlā pāpadhammā”ti.
Sīlasampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca,
tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya na chandaṃ janeti na vāyamati,
olīnavuttiko ca hoti sāthaliko. Seyyathāpi so brāhmaṇa puriso
sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa
tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṃ atikkamma phegguṃ atikkamma
tacaṃ papaṭikaṃ chetvā ādāya pakkanto sāranti maññamāno.
Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṃ, tañcassa atthaṃ nānubhavissati.
Tathūpamāhaṃ brāhmaṇa imaṃ puggalaṃ vadāmi.
|
Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có
người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình:
"Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị
chìm đắm trong đau khổ, bi chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn
bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Rồi vị ấy xuất gia như vậy,
được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng,
tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi
dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy
phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp
khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính,
danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy
thành tựu giới đức. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự
mãn. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta
trì giới, theo thiện pháp. Các Tỷ-kheo khác phá giới, theo ác
pháp". Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng
tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng
hơn giới đức. Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này
Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây.
Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi
cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong,
chặt lấy vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây.
Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành
tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống như ví dụ ấy.
|
|
320. Idha pana brāhmaṇa ekacco puggalo saddhā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajito hoti “Otiṇṇomhi jātiyā jarāya
maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi,
dukkhotiṇṇo dukkhapareto. Appeva nāma imassa kevalassa
dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā”ti. So evaṃ pabbajito
samāno lābhasakkārasilokaṃ abhinibbatteti. So tena
lābhasakkārasilokena na attamano hoti na paripuṇṇasaṅkappo. So
tena lābhasakkārasilokena na attānukkaṃseti, na paraṃ vambheti.
Lābhasakkārasilokena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā
ca, tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya chandaṃ janeti vāyamati,
anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So sīlasampadaṃ ārādheti. So
tāya sīlasampadāya attamano hoti, no ca kho paripuṇṇasaṅkappo.
So tāya sīlasampadāya na attānukkaṃseti, na paraṃ vambheti.
Sīlasampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca,
tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya chandaṃ janeti vāyamati,
anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So samādhisampadaṃ ārādheti.
So tāya samādhisampadāya attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo. So
tāya samādhisampadāya attānukkaṃseti, paraṃ vambheti “Ahamasmi
samāhito ekaggacitto, ime panaññe bhikkhū asamāhitā
vibbhantacittā”ti. Samādhisampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā
ca paṇītatarā ca, tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya na chandaṃ
janeti na vāyamati, olīnavuttiko ca hoti sāthaliko. Seyyathāpi
so brāhmaṇa puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṃ
caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṃ
atikkamma phegguṃ tacaṃ chetvā ādāya pakkanto sāranti maññamāno.
Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṃ, tañcassa atthaṃ nānubhavissati,
tathūpamāhaṃ brāhmaṇa imaṃ puggalaṃ vadāmi.
|
Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có
người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình:
"Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não, bị
chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn
bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Rồi vị ấy xuất gia như vậy,
được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng,
tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi
dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy
phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp
khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính,
danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy
thành tựu giới đức. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ
nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này, khen
mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh
tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn
giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy
thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan
hỷ, tự mãn. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy khen mình, chê
người: "Ta có Thiền định, nhứt tâm. Các Tỷ-kheo khác không có
Thiền định, tâm bị phân tán". Và vị ấy không phát khởi lòng ao
ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao
thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy trở
thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người
muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây,
trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi
cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy vỏ trong mang đi, tưởng
rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà
lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này
giống như ví dụ ấy.
|
|
321. Idha pana brāhmaṇa ekacco puggalo saddhā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajito hoti “Otiṇṇomhi jātiyā jarāya
maraṇena. Pa . Antakiriyā paññāyethā”ti. So evaṃ pabbajito
samāno lābhasakkārasilokaṃ abhinibbatteti. So tena
lābhasakkārasilokena na attamano hoti, na paripuṇṇasaṅkappo. So
tena lābhasakkārasilokena na attānukkaṃseti, na paraṃ vambheti.
Lābhasakkārasilokena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā
ca, tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya chandaṃ janeti vāyamati,
anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So sīlasampadaṃ ārādheti. So
tāya sīlasampadāya attamano hoti, no ca kho paripuṇṇasaṅkappo.
So tāya sīlasampadāya na attānukkaṃseti, na paraṃ vambheti.
Sīlasampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca,
tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya chandaṃ janeti vāyamati,
anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So samādhisampadaṃ ārādheti.
So tāya samādhisampadāya attamano hoti, no ca kho
paripuṇṇasaṅkappo. So tāya samādhisampadāya na attānukkaṃseti,
na paraṃ vambheti. Samādhisampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā
ca paṇītatarā ca, tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya chandaṃ janeti
vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So ñāṇadassanaṃ
ārādheti. So tena ñāṇadassanena attamano hoti,
paripuṇṇasaṅkappo. So tena ñāṇadassanena attānukkaṃseti, paraṃ
vambheti “Ahamasmi jānaṃ passaṃ viharāmi, ime panaññe bhikkhu
ajānaṃ apassaṃ viharantī”ti. ©āṇadassanena ca ye aññe dhammā
uttaritarā ca paṇītatarā ca, tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya na
chandaṃ janeti na vāyamati, olīnavuttiko ca hoti sāthaliko.
Seyyathāpi so brāhmaṇa puriso sāratthiko sāragavesī
sārapariyesanaṃ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato
atikkammeva sāraṃ phegguṃ chetvā ādāya pakkanto sāranti
maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṃ, tañcassa atthaṃ
nānubhavissati, tathūpamāhaṃ brāhmaṇa imaṃ puggalaṃ vadāmi.
|
Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có
người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình:
"Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị
chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn
bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Rồi vị ấy xuất gia như vậy,
được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng,
tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy, không vì lợi
dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy
phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp
khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính,
danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy
thành tựu giới đức. Do thành tựu giới này, vị ấy hoan hỷ nhưng
không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình,
chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn để chứng được
các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới
đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành
tựu Thiền định. Vì thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ nhưng
không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình,
chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để
chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành
tựu Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị
ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy, do tri kiến này, hoan hỷ tự mãn.
Vị ấy, do tri kiến này, khen mình, chê người: "Ta sống, thấy và
biết. Các Tỷ-kheo khác sống không thấy và không biết". Và vị ấy
không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng
được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Vị ấy
trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một
người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi
cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua
lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và
người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành
tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống ví dụ ấy.
|
|
322. Idha pana brāhmaṇa ekacco puggalo saddhā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajito hoti “Otiṇṇomhi jātiyā jarāya
maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi,
dukkhotiṇṇo dukkhapareto. Appeva nāma imassa kevalassa
dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā”ti. So evaṃ pabbajito
samāno lābhasakkārasilokaṃ abhinibbatteti. So tena
lābhasakkārasilokena na attamano hoti, na paripuṇṇasaṅkappo. So
tena lābhasakkārasilokena na attānukkaṃseti, na paraṃ vambheti.
Lābhasakkārasilokena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā
ca, tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya chandaṃ janeti vāyamati,
anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So sīlasampadaṃ ārādheti. So
tāya sīlasampadāya attamano hoti, no ca kho paripuṇṇasaṅkappo.
So tāya sīlasampadāya na attānukkaṃseti, na paraṃ vambheti.
Sīlasampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca,
tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya chandaṃ janeti vāyamati,
anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So samādhisampadaṃ ārādheti.
So tāya samādhisampadāya attamano hoti, no ca kho
paripuṇṇasaṅkappo. So tāya samādhisampadāya na attānukkaṃseti,
na paraṃ vambheti. Samādhisampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā
ca paṇītatarā ca, tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya chandaṃ janeti
vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So ñāṇadassanaṃ
ārādheti. So tena ñāṇadassanena attamano hoti, no ca kho
paripuṇṇasaṅkappo. So tena ñāṇadassanena na attānukkaṃseti, na
paraṃ vambheti. ©āṇadassanena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca
paṇītatarā ca, tesaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya chandaṃ janeti
vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko.
|
Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có
người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình:
"Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị
chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn
bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Do vị ấy xuất gia như vậy, được
lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn
kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng,
tôn kính, danh vọng này, khen mình chê người. Và vị ấy phát khởi
lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao
thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng.
Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu
giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không
tự mãn. Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình, chê
người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để
chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành
tựu giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị
ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định, vị ấy hoan hỷ
nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định, khen
mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn, chứng
được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu
Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy
thành tựu tri kiến. Vị ấy do tri kiến này hoan hỷ nhưng không tự
mãn. Vị ấy không do tri kiến này, khen mình, chê người. Vị ấy
phát khởi lòng ao ước, cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp
khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Vị ấy không trở
thành biếng nhác và thụ động.
|
|
323. Katame ca
brāhmaṇa dhammā ñāṇadassanena uttaritarā ca paṇītatarā ca. Idha
brāhmaṇa bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi
savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ
upasampajja viharati. Ayampi kho brāhmaṇa dhammo ñāṇadassanena
uttaritaro ca paṇītataro ca.
|
Và này Bà-la-môn, những pháp gì
cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến? Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly
dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng
thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, pháp
này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. |
|
Puna caparaṃ
brāhmaṇa bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ
sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ
pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayampi kho
brāhmaṇa dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Này
Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
|
|
Puna caparaṃ
brāhmaṇa bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca
sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā
ācikkhanti “Upekkhako satimā sukhavihārī”ti tatiyaṃ jhānaṃ
upasampajja viharati. Ayampi kho brāhmaṇa dhammo ñāṇadassanena
uttaritaro ca paṇītataro ca.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các
bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này
Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
|
|
Puna caparaṃ
brāhmaṇa bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva
somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ
upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Ayampi kho brāhmaṇa dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca
paṇītataro ca.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền
thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn,
pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
|
|
Puna caparaṃ
brāhmaṇa bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā
paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā “Ananto
ākāso”ti ākāsānañcāyatanaṃ upasampajja viharati. Ayampi kho
brāhmaṇa dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, Tỷ-kheo
nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ.
Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
|
|
Puna caparaṃ
brāhmaṇa bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma “Anantaṃ
viññāṇan”ti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja viharati. Ayampi kho
brāhmaṇa dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên",
chứng và trú Thức vô biên xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng
hơn, thù thắng hơn tri kiến.
|
|
Puna caparaṃ brāhmaṇa bhikkhu sabbaso
viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma “Natthi kiñcī”ti ākiñcaññāyatanaṃ
upasampajja viharati. Ayampi kho brāhmaṇa dhammo ñāṇadassanena
uttaritaro ca paṇītataro ca.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì",
chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng
hơn, thù thắng hơn tri kiến.
|
|
Puna caparaṃ
brāhmaṇa bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma
nevasaññānāsaññāyatanaṃ upasampajja viharati. Ayampi kho
brāhmaṇa dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
vượt mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng Phi phi tưởng xứ.
Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
|
|
Puna caparaṃ brāhmaṇa bhikkhu sabbaso
nevasaññānāsaññāyatanaṃ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṃ
upasampajja viharati. Paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā
honti. Ayampi kho brāhmaṇa dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca
paṇītataro ca. Ime kho brāhmaṇa dhammā ñāṇadassanena uttaritarā
ca paṇītatarā ca.
|
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ
tưởng (định), sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn
trừ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri
kiến. Này Bà-la-môn, các pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn
tri kiến.
|
|
324. Seyyathāpi
so brāhmaṇa puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṃ
caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato sāraṃyeva chetvā
ādāya pakkanto sāranti jānamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṃ,
tañcassa atthaṃ anubhavissati, tathūpamāhaṃ brāhmaṇa imaṃ
puggalaṃ vadāmi.
|
Này Bà-la-môn, ví như một người
muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây,
trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi
cây, lấy và mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt
được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói
rằng người này giống như ví dụ ấy.
|
|
Iti kho brāhmaṇa
nayidaṃ brahmacariyaṃ lābhasakkārasilokānisaṃsaṃ, na
sīlasampadānisaṃsaṃ, na samādhisampadānisaṃsaṃ, na
ñāṇadassanānisaṃsaṃ. Yā ca kho ayaṃ brāhmaṇa akuppā cetovimutti,
etadatthamidaṃ brāhmaṇa brahmacariyaṃ, etaṃ sāraṃ, etaṃ
pariyosānanti.
|
Như vậy, này Bà-la-môn, phạm
hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng,
không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích
thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này
Bà-la-môn, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm
hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của
phạm hạnh.
|
|
Evaṃ vutte
Piṅgalakoccho brāhmaṇo Bhagavantaṃ etadavoca
“Abhikkantaṃ bho
Gotama, abhikkantaṃ bho Gotama. Pa . Upāsakaṃ maṃ bhavaṃ Gotamo
dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatan”ti.
|
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn
Pingalakoccha bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như
người dựng đứng lại những gì quăng ngã xuống, phơi bày ra những
gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào
trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy,
Chánh Pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Và
nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tỷ-kheo
Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho
đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
|
|
Cūḷasāropamasuttaṃ niṭṭhitaṃ
dasamaṃ.
Opammavaggo niṭṭhito tatiyo.
|
|
|
<Kinh số 029> |
<Kinh
số 031> |
|