Trang Chính

Majjhimanikāya & Trung Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

MAJJHIMANIKĀYA & TRUNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Monday, June 25, 2012

 

014. CŪḶADUKKHAKKHANDHASUTTAṂ 

 

014. CŪḶADUKKHAKKHANDHASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

014. TIỂU KINH KHỔ UẨN - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

175. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sakkesu viharati Kapilavatthusmiṃ Nigrodhārāme.

Như vầy tôi nghe: Một thời, Thế Tôn sống giữa gịng họ Sakka (Thích-ca), trong thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) tại vườn Nigrodha (Ni-câu-luật Viên).

 

Atha kho Mahānāmo Sakko yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho Mahānāmo Sakko Bhagavantaṃ etadavoca

Lúc ấy, có người Sakka tên Mahànàma đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến xong, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Mahànàma, ḍng họ Sakka bạch Thế Tôn:

 

“Dīgharattāhaṃ bhante Bhagavatā evaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānāmi ‘Lobho cittassa upakkileso, doso cittassa upakkileso, moho cittassa upakkileso’ti. Evañcāhaṃ (Evaṃpāhaṃ - Ka) bhante Bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmi ‘Lobho cittassa upakkileso, doso cittassa upakkileso, moho cittassa upakkileso’ti. Atha ca pana me ekadā lobhadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, dosadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, mohadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti. Tassa mayhaṃ bhante evaṃ hoti, kosu nāma me dhammo ajjhattaṃ appahīno, yena me ekadā lobhadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, dosadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, mohadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhantī”ti.

 

-- Bạch Thế Tôn, đă lâu rồi, con đă hiểu như thế này lời dạy của Thế Tôn: "Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm". Bạch Thế Tôn, con đă hiểu như thế này lời dạy của Thế Tôn: "Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm". Tuy vậy, đôi lúc các tham pháp chiếm cứ tâm con và an trú, các sân pháp chiếm cứ tâm con và an trú, các si pháp chiếm cứ tâm con và an trú. Bạch Thế Tôn, con tự suy nghĩ: "Pháp nào tự trong ta không đoạn trừ được, do vậy các tham pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các sân pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các si pháp xâm nhập tâm ta và an trú?"

176. So eva kho te Mahānāma dhammo ajjhattaṃ appahīno, yena te ekadā lobhadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, dosadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, mohadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti. So ca hi te Mahānāma dhammo ajjhattaṃ pahīno abhavissa, na tvaṃ agāraṃ ajjhāvaseyyāsi na kāme paribhuñjeyyāsi. Yasmā ca kho te Mahānāma so eva dhammo ajjhattaṃ appahīno, tasmā tvaṃ agāraṃ ajjhāvasasi kāme paribhuñjasi.

-- Này Mahànàma, có một pháp trong Ông chưa được đoạn trừ, do vậy các tham pháp xâm nhập tâm Ông và an trú, các sân pháp xâm nhập tâm Ông và an trú, các si pháp xâm nhập tâm Ông và an trú. Và này Mahànàma, pháp ấy trong Ông có thể đoạn trừ được, nếu Ông không sống trong gia đ́nh, nếu Ông không thụ hưởng các dục vọng. Và này Mahànàma, v́ pháp ấy trong Ông chưa được đoạn trừ, nên Ông sống trong gia đ́nh và thụ hưởng các dục vọng.

 

177. “Appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā (Bahūpāyāsā - Sī, Syā, I) ādīnavo ettha bhiyyo”ti iti cepi Mahānāma ariyasāvakassa yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhaṃ hoti, so ca (Sova - Ka) aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṃ nādhigacchati aññaṃ vā tato santataraṃ. Atha kho so neva tāva anāvaṭṭī kāmesu hoti. Yato ca kho Mahānāma ariyasāvakassa “Appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā  ādīnavo ettha bhiyyo”ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhaṃ hoti, so ca (Sova - Ka) aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṃ adhigacchati aññaṃ vā tato santataraṃ. Atha kho so anāvaṭṭī kāmesu hoti.

 

Các dục vọng, vui ít, khổ nhiều, năo nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn. Này Mahànàma, nếu một vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ, nhưng nếu vị này chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh, hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy vị ấy chưa khỏi bị các dục chi phối. Này Mahànàma, khi nào vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ: "Các dục, vui ít, khổ nhiều, năo nhiều. Sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn", và vị này chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng hơn, như vậy vị ấy không bị các dục chi phối.

Mayhaṃpi kho Mahānāma pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato “Appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā ādīnavo ettha bhiyyo”ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhaṃ hoti, so ca1 aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṃ nājjhagamaṃ aññaṃ vā tato santataraṃ. Atha khvāhaṃ neva tāva anāvaṭṭī kāmesu paccaññāsiṃ. Yato ca kho me mahānāma “Appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā ādīnavo ettha bhiyyo”ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhaṃ ahosi, so ca1 aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṃ ajjhagamaṃ aññaṃ vā tato santataraṃ. Athāhaṃ anāvaṭṭī kāmesu paccaññāsiṃ.

 

Này Mahànàma, thuở xưa, khi Ta c̣n là Bồ-tát, chưa chứng được Bồ-đề, chưa thành Chánh Đẳng Chánh Giác, Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: "Các dục vui ít, khổ nhiều, năo nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn", dầu Ta có thấy với như thật chánh trí tuệ như vậy, nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn. Và như vậy Ta biết rằng, Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Và này Mahànàma, khi nào Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: "Các dục, vui ít, khổ nhiều, năo nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn", và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy Ta khỏi bị các dục chi phối.

178. Ko ca Mahānāma kāmānaṃ assādo. Pañcime Mahānāma kāmaguṇā. Katame pañca. Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. Sotaviññeyyā saddā. Pa . Ghānaviññeyyā gandhā. Jivhāviññeyyā rasā. Kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. Ime kho Mahānāma pañca kāmaguṇā. Yaṃ kho Mahānāma ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ. Ayaṃ kāmānaṃ assādo.

Và này Mahànàma, thế nào là vị ngọt các dục? Này Mahànàma, có năm pháp tăng trưởng các dục này: Các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ư, khả hỷ, tương ưng với dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức...; các hương do mũi nhận thức...; các vị do lưỡi nhận thức...; các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ư, khả hỷ, tương ưng với dục, hấp dẫn. Này Mahànàma, có năm pháp tăng trưởng các dục như vậy. Này Mahànàma, y cứ vào năm pháp tăng trưởng các dục này, có lạc và hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.

 

Ko ca Mahānāma kāmānaṃ ādīnavo. Idha Mahānāma kulaputto yena sippaṭṭhānena jīvikaṃ kappeti, yadi muddāya yadi gaṇanāya yadi saṅkhānena yadi kasiyā yadi vaṇijjāya yadi gorakkhena yadi issatthena yadi rājaporisena yadi sippaññatarena, sītassa purakkhato uṇhassa purakkhato daṃsamakasavātātapasarīsapasamphassehi rissamāno khuppipāsāya mīyamāno. Ayampi Mahānāma kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.

Và này Mahànàma, thế nào là sự nguy hiểm các dục? Ở đây, này Mahànàma, có thiện nam tử nuôi sống với nghề nghiệp, như đếm ngón tay, như tính toán, như ước toán, như làm ruộng, như buôn bán, như chăn ḅ, như bắn cung, như làm công cho vua, như làm một nghề nào khác. Người ấy phải chống đỡ lạnh, phải chống đỡ nóng, phải chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng, mặt trời, các loài ḅ sát, bị chết đói chết khát. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.

 

Tassa ce Mahānāma kulaputtassa evaṃ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā nābhinipphajjanti, so socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati sammohaṃ āpajjati “Moghaṃ vata me uṭṭhānaṃ, aphalo vata me vāyāmo”ti. Ayampi Mahānāma kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.

Này Mahànàma, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay ḿnh, vị ấy than văn, buồn phiền khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: "Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả". Này Mahànàma, như vậy, là sự nguy hiểm các dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

 

Tassa ce Mahānāma kulaputtassa evaṃ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā abhinipphajjanti, so tesaṃ bhogānaṃ ārakkhādhikaraṇaṃ dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Kinti me bhoge neva rājāno hareyyuṃ, na corā hareyyuṃ, na aggi daheyya, na udakaṃ vaheyya, na appiyā vā dāyādā hareyyunti. Tassa evaṃ ārakkhato gopayato te bhoge rājāno vā haranti, corā vā haranti, aggi vā dahati, udakaṃ vā vahati, appiyā vā dāyādā haranti, so socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati sammohaṃ āpajjati “Yampi me ahosi, tampi no natthī”ti. Ayampi Mahānāma kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.

Này Mahànàma, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, và các tài sản ấy được đến tay ḿnh, v́ phải hộ tŕ các tài sản ấy, vị ấy cảm thọ sự đau khổ, ưu tư: "Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?" Dầu vị ấy hộ tŕ như vậy, giữ ǵn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng. Vị ấy than văn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: "Cái đă thuộc của ta, nay ta không có nữa". Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

 

Puna caparaṃ Mahānāma kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatīpi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhātarā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati. Te tattha kalahaviggahavivādāpannā aññamaññaṃ pāṇīhipi upakkamanti, leddūhipi upakkamanti, daṇdehipi upakkamanti, satthehipi upakkamanti. Te tattha maraṇaṃpi nigacchanti maraṇamattaṃpi dukkhaṃ. Ayampi Mahānāma kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.

Lại nữa, này Mahànàma, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đă dấn ḿnh vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

 

Puna caparaṃ Mahānāma kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu asicammaṃ gahetvā dhanukalāpaṃ sannayhitvā ubhatobyūḷhaṃ saṅgāmaṃ pakkhandanti usūsupi khippamānesu sattīsupi khippamānāsu asīsupi vijjotalantesu. Te tattha usūhipi vijjhanti, sattiyāpi vijjhanti, asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇaṃpi nigacchanti maraṇamattaṃpi dukkhaṃ. Ayampi Mahānāma kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.

Lại nữa, này Mahànàma, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ dàn trận hai mặt, và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

 

Puna caparaṃ Mahānāma kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu asicammaṃ gahetvā dhanukalāpaṃ sannayhitvā addāvalepanā upakāriyo pakkhandanti usūsupi khippamānesu sattīsupi khippamānāsu asīsupi vijjotalantesu. Te tattha usūhipi vijjhanti, sattiyāpi vijjhanti, chakaṇakāyapi osiñcanti, abhivaggenapi omaddanti, asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇaṃpi nigacchanti maraṇamattaṃpi dukkhaṃ. Ayampi Mahānāma kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.

Lại nữa, này Mahànàma, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ công phá thành quách mới trét vôi hồ và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

 

Puna caparaṃ Mahānāma kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu sandhiṃpi chindanti, nillopaṃpi haranti, ekāgārikaṃpi karonti, paripanthepi tiṭṭhanti, paradāraṃpi gacchanti. Tamenaṃ rājāno gahetvā vividhā kammakāraṇā kārenti, kasāhipi tāḷenti, vettehipi tāḷenti, addhadaṇdakehipi tāḷenti, hatthaṃpi chindanti, pādaṃpi chindanti, hatthapādaṃpi chindanti, kaṇṇaṃpi chindanti, nāsaṃpi chindanti, kaṇṇanāsaṃpi chindanti, bilaṅgathālikaṃpi karonti, saṅkhamuṇdikaṃpi karonti, rāhumukhaṃpi karonti, jotimālikaṃpi karonti, hatthapajjotikaṃpi karonti, erakavattikaṃpi karonti, cīrakavāsikaṃpi karonti, eṇeyyakaṃpi karonti, baḷisamaṃsikaṃpi karonti, kahāpaṇikaṃpi karonti, khārāpatacchikaṃpi karonti, palighaparivattikaṃpi karonti, palālapīṭhakaṃpi karonti, tattenapi telena osiñcanti, sunakhehipi khādāpenti, jīvantaṃpi sūle uttāsenti, asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇaṃpi nigacchanti maraṇamattaṃpi dukkhaṃ. Ayampi Mahānāma kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.

Lại nữa, này Mahànàma, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ đột nhập nhà cửa, họ cướp giật đồ đạc, họ hành động như kẻ cướp, họ phục kích các đường lớn, họ đi đến vợ người. Các vua chúa khi bắt được một người như vậy liền áp dụng nhiều h́nh phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi, họ dùng h́nh phạt vạc dầu, họ dùng h́nh phạt bối đồi h́nh (xẻo đỉnh đầu thành h́nh con ṣ), họ dùng h́nh phạt la hầu khẩu h́nh... Hỏa man h́nh (lấy lửa đốt thành ṿng hoa)... chúc thủ h́nh (đốt tay)... khu hành h́nh (lấy rơm bện lại rồi siết chặt)... b́ y h́nh (lấy vỏ cây làm áo)... linh dương h́nh (h́nh phạt con dê núi)... câu nhục h́nh (lấy câu móc vào thịt)... tiền h́nh (cắt thịt thành h́nh đồng tiền)... khối trấp h́nh... chuyển h́nh... cao đạp đài... họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm của dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

 

Puna caparaṃ Mahānāma kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu kāyena duccaritaṃ caranti, vācāya duccaritaṃ caranti, manasā duccaritaṃ caranti. Te kāyena duccaritaṃ caritvā vācāya duccaritaṃ caritvā manasā duccaritaṃ caritvā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ Nirayaṃ upapajjanti. Ayampi Mahānāma kāmānaṃ ādīnavo samparāyiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.

Lại nữa, này Mahànàma, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ư. Do họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ư, khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân.

 

179. Ekamidāhaṃ Mahānāma samayaṃ Rājagahe viharāmi Gijjhakūṭe pabbate. Tena kho pana samayena sambahulā Nigaṇṭhā (Niganthā - Syā, Ka) Isigilipasse Kāḷasilāyaṃ ubbhaṭṭhakā honti āsanapaṭikkhittā, opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti. Atha khvāhaṃ Mahānāma sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yena Isigilipasse Kāḷasilā, yena te Nigaṇṭhā tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā te Nigaṇṭhe etadavocaṃ “Kinnu tumhe āvuso Nigaṇṭhā ubbhaṭṭhakā āsanapaṭikkhittā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayathā”ti.

Này Mahànàma, một thời Ta ở tại Rajagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakuta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, rất nhiều Nigantha (Ni-kiền Tử) tại sườn núi Isigili, trên Kalasila (Hắc Nham), đứng thẳng người, không chịu ngồi và cảm giác những cảm thọ thống thiết, khổ đau, khốc liệt, bén nhạy. Này Mahànàma, rồi Ta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến sườn núi Isigili, tại Kalasila chỗ các Nigantha ấy ở, khi đến nơi Ta nói với các Nigantha ấy: "Chư Hiền, tại sao các Ngươi lại đứng thẳng người, không chịu ngồi xuống và cảm giác những cảm thọ thống thiết, khổ đau, khốc liệt, bén nhạy như vậy?"

 

Evaṃ vutte Mahānāma te Nigaṇṭhā maṃ etadavocuṃ “Nigaṇṭho āvuso Nāṭaputto (Nāthaputto - Sī, I) sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṃ ñāṇadassanaṃ paṭijānāti ‘Carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṃ samitaṃ ñāṇadassanaṃ paccupaṭṭhitan’ti. So evamāha ‘Atthi kho vo (Atthi kho bho - Syā, Ka) Nigaṇṭhā pubbe pāpakammaṃ kataṃ, taṃ imāya kaṭukāya dukkarakārikāya nijjīretha (Nijjaretha - Sī, Syā, I), yaṃ panettha (Mayaṃ panettha - Ka) etarahi kāyena saṃvutā vācāya saṃvutā manasā saṃvutā taṃ āyatiṃ pāpassa kammassa akaraṇaṃ, iti purāṇānaṃ kammānaṃ tapasā byantibhāvā navānaṃ kammānaṃ akaraṇā āyatiṃ anavassavo, āyatiṃ anavassavā kammakkhayo, kammakkhayā dukkhakkhayo, dukkhakkhayā vedanākkhayo, vedanākkhayā sabbaṃ dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ bhavissatī’ti. Tañca panamhākaṃ ruccati ceva khamati ca, tena camha attamanā”ti.

Này Mahànàma, được nói vậy các Nigantha ấy trả lời Ta như sau: "Này Hiền giả, Nigantha Nataputta - là bậc toàn tri, toàn kiến, tự xưng là có tri kiến toàn diện như sau: 'Dầu ta có đi, có đứng, có ngủ và có thức, tri kiến luôn luôn được tồn tại liên tục ở nơi ta'. Vị ấy nói như sau: 'Này các Nigantha, nếu xưa kia Ngươi có làm ác nghiệp, hăy làm cho nghiệp ấy tiêu ṃn bằng khổ hạnh khốc liệt này. Sự không làm ác nghiệp trong tương lai chính do sự hộ tŕ về thân, sự hộ tŕ về lời nói, sự hộ tŕ về ư ngay trong hiện tại, ở tại nơi đây. Như vậy chính nhờ sự thiêu đốt, sự chấm dứt các nghiệp quá khứ, sự không làm các nghiệp mới, mà không có sự tiếp tục trong tương lai. Do sự không tiếp tục trong tương lai, các nghiệp được diệt trừ; do nghiệp được diệt trừ, khổ được diệt trừ; do khổ được diệt trừ, cảm thọ được diệt trừ; do cảm thọ được diệt trừ, tất cả khổ đau sẽ được tiêu ṃn'. Và v́ chúng tôi chấp nhận điều ấy, và chúng tôi kham nhẫn điều ấy, nên chúng tôi được hoan hỷ."

 

180. Evaṃ vutte ahaṃ Mahānāma te Nigaṇṭhe etadavocaṃ

“Kiṃ pana tumhe āvuso Nigaṇṭhā jānātha ‘Ahuvamheva mayaṃ pubbe, na nāhuvamhā’ti”. No hidaṃ āvuso.

 

Này Mahànàma, khi được nói vậy Ta nói với các Nigantha ấy như sau:

"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi có biết chăng, trong quá khứ, các Ngươi có mặt hay các Ngươi không có mặt?" --"Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết."

 

“Kiṃ pana tumhe āvuso Nigaṇṭhā jānātha ‘Akaramheva mayaṃ pubbe pāpakammaṃ, na nākaramhā’ti”. No hidaṃ āvuso.

 

--" Chư Hiền Nigantha, các Ngươi có biết chăng, trong quá khứ, các Ngươi không làm ác nghiệp hay có làm ác nghiệp?" --"Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết."

“Kiṃ pana tumhe āvuso Nigaṇṭhā jānātha ‘Evarūpaṃ vā evarūpaṃ vā pāpakammaṃ akaramhā’ti”. No hidaṃ āvuso.

 

--"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi có biết chăng, các Ngươi không làm các nghiệp như thế này hay như thế kia?" --"Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết."

“Kiṃ pana tumhe āvuso Nigaṇṭhā jānātha ‘Ettakaṃ vā dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ, ettakaṃ vā dukkhaṃ nijjīretabbaṃ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṃ dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ bhavissatī’ti”. No hidaṃ āvuso.

--"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi có biết chăng: Mức độ đau khổ như thế này đă trừ diệt, mức độ đau khổ như thế này cần phải trừ diệt? Hay, khi mức độ đau khổ như thế này đă được trừ diệt, thời tất cả đau khổ sẽ được trừ diệt?" --"Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết."

 

“Kiṃ pana tumhe āvuso Nigaṇṭhā jānātha diṭṭheva dhamme akusalānaṃ dhammānaṃ pahānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ upasampadan”ti. No hidaṃ āvuso.

--"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi có biết chăng, sự đoạn trừ ngay trong hiện tại các bất thiện pháp và sự thành tựu các thiện pháp?" --"Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết."

 

“Iti kira tumhe āvuso Nigaṇṭhā na jānātha ‘Ahuvamheva mayaṃ pubbe, na nāhuvamhā’ti. Na jānātha ‘Akaramheva mayaṃ pubbe pāpakammaṃ, na nākaramhā’ti. Na jānātha ‘Evarūpaṃ vā evarūpaṃ vā pāpakammaṃ akaramhā’ti. Na jānātha ‘Ettakaṃ vā dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ, ettakaṃ vā dukkhaṃ nijjīretabbaṃ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṃ dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ bhavissatī’ti. Na jānātha diṭṭheva dhamme akusalānaṃ dhammānaṃ pahānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ upasampadaṃ. Evaṃ sante āvuso Nigaṇṭhā ye loke luddā lohitapāṇino kurūrakammantā manussesu paccājātā, te Nigaṇṭhesu pabbajantī”ti.

--"Chư Hiền, theo các Ngươi nói, Nigantha các Ngươi không biết: Trong quá khứ các Ngươi có mặt hay các Ngươi không có mặt; các Ngươi không biết, trong quá khứ các Ngươi không làm các ác nghiệp hay có làm các ác nghiệp; các Ngươi không biết, các Ngươi không làm ác nghiệp như thế này hay như thế kia; các Ngươi không biết, mức độ đau khổ như thế này đă được trừ diệt, mức độ đau khổ như thế này cần phải trừ diệt; mức độ đau khổ như thế này đă được trừ diệt thời tất cả đau khổ sẽ được trừ diệt; các Ngươi không biết, sự đoạn trừ ngay trong hiện tại các bất thiện pháp và sự thành tựu các thiện pháp. Chư Hiền Nigantha, sự kiện là như vậy th́ những kẻ săn bắn ở đời, với bàn tay đẫm máu, làm các nghiệp hung dữ, được tái sanh trong loài người, những hạng ấy có xuất gia trong hàng ngũ Nigantha các Ngươi không?"

 

Na kho āvuso Gotama sukhena sukhaṃ adhigantabbaṃ, dukkhena kho sukhaṃ adhigantabbaṃ. Sukhena cāvuso Gotama sukhaṃ adhigantabbaṃ abhavissa, rājā Māgadho Seniyo Bimbisāro sukhaṃ adhigaccheyya, rājā Māgadho Seniyo Bimbisāro sukhavihāritaro āyasmatā Gotamenāti.

--"Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc th́ vua Magadha Seniya Bimbisara (Tần-bà-ta-la) có thể đạt được hạnh phúc, và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama.

 

“Addhāyasmantehi Nigaṇṭhehi sahasā appaṭisaṅkhā vācā bhāsitā ‘Na kho āvuso Gotama sukhena sukhaṃ adhigantabbaṃ, dukkhena kho sukhaṃ adhigantabbaṃ. Sukhena cāvuso Gotama sukhaṃ adhigantabbaṃ abhavissa, rājā Māgadho Seniyo Bimbisāro sukhaṃ adhigaccheyya, rājā Māgadho Seniyo Bimbisāro sukhavihāritaro āyasmatā Gotamenā’ti. Api ca ahameva tattha paṭipucchitabbo ‘Ko nu kho āyasmantānaṃ sukhavihāritaro rājā vā Māgadho Seniyo Bimbisāro āyasmā vā Gotamo’ti”.

"Lời nói này thật sự đă được các Tôn giả Nigantha nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư. Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Và chính ta ở đây cần phải được hỏi như sau: 'Giữa các bậc Tôn Giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'

 

Addhāvuso Gotama amhehi sahasā appaṭisaṅkhā vācā bhāsitā “Na kho āvuso Gotama sukhena sukhaṃ adhigantabbaṃ, dukkhena kho sukhaṃ adhigantabbaṃ. Sukhena cāvuso Gotama sukhaṃ adhigantabbaṃ abhavissa, rājā Māgadho Seniyo Bimbisāro sukhaṃ adhigaccheyya, rājā Māgadho Seniyo Bimbisāro sukhavihāritaro āyasmatā Gotamenā”ti. Api ca tiṭṭhatetaṃ. Idānipi mayaṃ āyasmantaṃ Gotamaṃ pucchāma “Ko nu kho āyasmantānaṃ sukhavihāritaro rājā vā Māgadho Seniyo Bimbisāro āyasmā vā Gotamo”ti.

 

"Hiền giả Gotama, lời nói này thật sự đă được chúng tôi nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư: Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Hăy để yên sự việc như vậy. Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Gotama: 'Giữa quư vị Tôn giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'

“Tena hāvuso Nigaṇṭhā tumheva tattha paṭipucchissāmi, yathā vo khameyya, tathā naṃ byākareyyātha. Taṃ kiṃmaññathāvuso Nigaṇṭhā, pahoti rājā Māgadho Seniyo Bimbisāro aniñjamāno kāyena abhāsamāno vācaṃ satta rattindivāni ekantasukhaṃ paṭisaṃvedī viharitun”ti. No hidaṃ āvuso.

--"Chư Hiền Nigantha, nay Ta sẽ hỏi các Ngươi một câu, cũng vấn đề này. Nếu các Ngươi vui ḷng, hăy trả lời câu hỏi ấy. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn bảy ngày bảy đêm có được không?--"Này Hiền giả, không thể được.

 

“Taṃ kiṃmaññathāvuso Nigaṇṭhā, pahoti rājā Māgadho Seniyo Bimbisāro aniñjamāno kāyena abhāsamāno vācaṃ cha rattindivāni. Pa . Pañca rattindivāni. Cattāri rattindivāni. Tīṇi rattindivāni. Dve rattindivāni. Ekaṃ rattindivaṃ ekantasukhaṃ paṭisaṃvedī viharitun”ti. No hidaṃ āvuso.

--"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn sáu ngày sáu đêm, luôn năm ngày năm đêm, luôn bốn ngày bốn đêm, luôn ba ngày ba đêm, luôn hai ngày hai đêm, luôn một ngày một đêm không? --"Này Hiền giả, không thể được.

 

“Ahaṃ kho āvuso Nigaṇṭhā pahomi aniñjamāno kāyena abhāsamāno vācaṃ ekaṃ rattindivaṃ ekantasukhaṃ paṭisaṃvedī viharituṃ. Ahaṃ kho āvuso Nigaṇṭhā pahomi aniñjamāno kāyena abhāsamāno vācaṃ dve rattindivāni. Tīṇi rattindivāni. Cattāri rattindivāni. Pañca rattindivāni. Cha rattindivāni. Satta rattindivāni ekantasukhaṃ paṭisaṃvedī viharituṃ. Taṃ kiṃmaññathāvuso Nigaṇṭhā evaṃ sante ko sukhavihāritaro rājā vā Māgadho Seniyo Bimbisāro ahaṃ vā”ti.

--"Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong một ngày một đêm. Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể , không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong hai ngày hai đêm, luôn trong ba ngày ba đêm, luôn trong bốn ngày bốn đêm, luôn trong năm ngày năm đêm, luôn trong sáu ngày sáu đêm, luôn trong bảy ngày bảy đêm. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Ta?

 

Evaṃ sante āyasmāva Gotamo sukhavihāritaro raññā Māgadhena Seniyena Bimbisārenāti.

--"Sự kiện là như vậy, Tôn giả Gotama sống hạnh phúc hơn vua Magadha Seniya Bimbisara."

 

Idamavoca Bhagavā. Attamano Mahānāmo sakko Bhagavato bhāsitaṃ abhinandīti.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Mahànàma thuộc gịng họ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

 

Cūḷadukkhakkhandhasuttaṃ niṭṭhitaṃ catutthaṃ.

 
 

<Kinh số 013>

<Kinh số 015>

 
| Mục lục Trung Bộ I | Mục lục Trung Bộ II | Mục lục Trung Bộ III |
 

<Đầu Trang>