Trang Chính

TTPV 44 : Peṭakopadesapāḷi - Tìm Hiểu Tam Tạng

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

KHUDDAKANIKĀYA - TIỂU BỘ

PETAKOPADESAPĀḶI - TÌM HIỂU TAM TẠNG

* TTPV tập 44 *

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

Cập Nhật: Tuesday, July 03, 2018

 

II. DUTIYABHŪMI - PHẦN THỨ NHÌ

 

 

Nguồn: Tam Tạng Pāli - Sinhala thuộc Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS)

 

 

Lời tiếng Việt: Tỳ khưu Indacanda

 

Trang 32:

 

Trang 33:

 

Tattha katamaṃ sāsanapaṭṭhānaṃ?

 
 

1. Saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ, 2. vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ, 3. nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ, 4. asekha bhāgiyaṃ suttaṃ, 5. saṃkilesabhāgiyaṃ ca vāsanābhāgiyaṃ ca, 6. saṃkilesabhāgiyaṃ ca nibbedhabhāgiyaṃ ca, 7. saṃkilesabhāgiyaṃ ca nibbedhabhāgiyaṃ ca asekhabhāgiyaṃ ca, 8. vāsanābhāgiyaṃ ca nibbedhabhāgiyaṃ ca, 9. āṇatti, 10. phalaṃ, 11. upāyo, 12. āṇatti ca phalaṃ ca, 13. phalaṃ ca upāyo ca, 14. āṇatti ca phalaṃ ca upāyo ca, 15. assādo, 16. ādīnavo, 17. nissaraṇaṃ, 18. assādo ca ādīnavo ca, 19. assādo ca nissaraṇaṃ ca, 20. ādīnavo ca nissaraṇaṃ ca, 21. assādo ca ādīnavo ca nissaraṇaṃ ca, 22. lokikaṃ, 23. lokuttaraṃ, 24. lokikaṃ ca lokuttaraṃ ca, 25. kammaṃ, 26. vipāko, 27. kammaṃ ca vipāko ca, 28. niddiṭṭhaṃ, 29. aniddiṭṭhaṃ, 30. niddiṭṭhaṃ ca aniddiṭṭhaṃ ca, 31. ñāṇaṃ, 32. ñeyyaṃ, 33. ñāṇaṃ ca ñeyyaṃ ca, 34. dassanaṃ, 35. bhāvanā, 36. dassanaṃ ca bhāvanā ca, 37. vipākakammaṃ, 38. na vipākakammaṃ, 39. nevavipākanavipākakammaṃ, 40. sakavacanaṃ, 41. paravacanaṃ, 42. sakavacanaṃ ca paravacanaṃ ca, 43. sattādhiṭṭhānaṃ, 44. dhammādhiṭṭhānaṃ, 45. sattādhiṭṭhānaṃ ca dhammādhiṭṭhānaṃ ca, 46. thavo, 47. anuññātaṃ, 48. paṭikkhittaṃ, 49. anuññātaṃ ca paṭikkhittaṃ ca, 50. sakavacanādhiṭṭhānaṃ, 51. paravacanādhiṭṭhānaṃ, 52. sakavacanādhiṭṭhānaṃ ca paravacanādhiṭṭhānaṃ ca, 53. kiriyaṃ, 54. phalaṃ, 55. kirayaṃ ca phalaṃ ca.

 
 

(1) Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ?

 

(1) Ở đấy, Kinh bàn về phiền não là gì?

 

01. Kāmandhā jālasañchannā - taṇhāchadanachāditā,
pamattabandhanā baddhā - macchā va kumināmukhe,
jarāmaraṇamanventi - vaccho khīrapakova mātaraṃ.


“Pañcime bhikkhave nīvaraṇā.”

 

01. “Bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, bị che đậy bởi tấm choàng tham ái, bị trói buộc bởi sự trói buộc của xao lãng, tựa như những con cá ở nơi cửa miệng của tấm lưới, chúng đi theo sau già và chết, tựa như con bê bú sữa đi theo sau bò mẹ.”

 

“Này các tỳ khưu, đây là năm pháp che lấp.”

 

(2) Tattha katamaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ?

 

(2) Ở đấy, Kinh bàn về bản chất là gì?

 

02. Manopubbaṅgamā dhammā - manoseṭṭhā manomayā,
manasā ce pasannena - bhāsati vā karoti vā,
tato naṃ sukhamanveti - chāyāva anapāyinī.

 

02. Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, có tâm là chủ đạo, được tạo ra bởi tâm. Nếu (người nào) nói hay làm với tâm trong sạch, do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy ví như bóng có sự không lìa khỏi (hình).

 

Saṃyuttake suttaṃ: mahānāmassa sakkassa idaṃ bhagavā sakyānaṃ kapilavatthumhi nagare nayavitthārena, saddhāsīlaparibhāvitaṃ cittaṃ bhāvaññena7 paribhāvitaṃ taṃ nāma pacchime kāle.
 

Kinh thuộc Tương Ưng là: Đức Thế Tôn [đã chỉ bảo] điều này cho Mahānāma dòng Sakya ở thành Kapilavatthu của những người Sakya một cách chi tiết về cách hướng dẫn; khi tâm đã được đầy đủ với tín, giới, (văn, thí, tuệ), điều ấy được gọi là đã được đầy đủ với bản thể khác vào thời điểm cuối cùng.

 

Trang 34:

 

Trang 34:

 

(3) Tattha katamaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ?

03. Uddhaṃ adho sabbadhi vippamutto
ayamahamasmī ’ti anānupassī,
evaṃ vimutto udatāri oghaṃ
atiṇṇapubbaṃ apunabbhavāya
.
 

(3) Ở đấy, Kinh bàn về sự thấu triệt là gì?

 

03. “Bên trên, bên dưới, tất cả các nơi, người đã được giải thoát

không có sự suy xét rằng: ‘Tôi là cái này.’

Người được giải thoát như vậy đã vượt lên dòng chảy

trước đây chưa vượt qua, do việc không còn hiện hữu lại nữa.”[1]


[1] Phật Tự Thuyết, TTPV 28, tr. 281.

 

“Kimatthiyāni bhante kusalāni sīlāni” ānando pucchati satthāraṃ.

(4) Tattha katamaṃ asekhabhāgiyaṃ suttaṃ?


04. Yassa selūpamaṃ cittaṃ - ṭhitaṃ nānupakampati,
virattaṃ rajanīyesu - kopaneyye na kuppati,
yassevaṃ bhāvitaṃ cittaṃ - kuto naṃ dukkhamessatī
”ti.

 

Ngài Ānanda hỏi bậc Đạo Sư rằng: “Bạch Ngài, các thiện giới có những mục đích gì?” (A. v 2, 310)

 

(4) Ở đấy, Kinh bàn về vị Vô Học là gì?

 

04. “Tâm của người nào giống như tảng đá, đứng yên, không rung động, không luyến ái ở các vật đáng bị luyến ái, không bị bực tức đối với việc đáng bị bực tức, tâm của người nào được tu tập như vậy, do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?[1]


[1] Sđd. tr. 209.

“Āyasmā maṃ bhante sāriputto āsajja appaṭinissajja cārikaṃ pakkanto” sāriputtassa byākaraṇaṃ kātabbaṃ. “Yassa nūna bhante kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa” vitthārena kātabbaṃ.
 

“Bạch Ngài, đại đức Sāriputta đã đụng vào con, đã không xin lỗi, rồi ra đi du hành,” việc giải thích của vị Sāriputta cần được thực hiện. “Bạch Ngài, đương nhiên đối với vị nào mà niệm hướng đến thân ở trên thân là không được thiết lập, ...” cần được thực hiện với chi tiết. (A. iv, 373-8)

 

(5) Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ ca vāsanābhāgiyaṃ ca suttaṃ?


05. Channamativassati - vivaṭaṃ nātivassati,
tasmā channaṃ vivaretha - evaṃ taṃ nātivassati.

 

(5) Ở đấy, Kinh bàn về phiền não và bàn về bản chất là gì?

 

05. “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy, mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra. Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy mưa không rơi nhiều ở vật ấy.”

 

“Channamativassatī ”ti saṃkileso. “Vivaṭaṃ nātivassatī ”ti vāsanā.

 

Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy” là phiền não. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra” là bản chất.

 

“Tamo tamaparāyano ”ti vitthārena. Tattha yo ca tamo yo ca tamaparāyano, ayaṃ saṃkileso. Yo ca joti, yo ca jotiparāyano, ayaṃ vāsanā.

 

“Bóng tối có sự tiến đến bóng tối” với việc giải thích. Ở đây, bóng tối và sự tiến đến bóng tối là phiền não. Ánh sáng và sự tiến đến ánh sáng là bản chất.

 

(6) Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ nibbedhabhāgiyaṃ ca suttaṃ?


06. Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā
yadāyasaṃ dārujaṃ babbajaṃ ca,
sārattarattā maṇikuṇḍalesu
puttesu dāresu ca yā apekkhā
.

 

(6) Ở đấy, Kinh bàn về phiền não và bàn về sự thấu triệt là gì?

 

06. Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc làm bằng sắt, bằng gỗ, và bằng dây gai là không chắc chắn. Sự mong muốn, bị luyến ái dính mắc ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, ở những người con, và ở những người vợ, ...

 

07. Etaṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā
ohārinaṃ sithilaṃ duppamuñcaṃ,
etampi chetvāna paribbajanti
anapekkhino kāmasukhaṃ pahāya.

 

07. ... các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc này là chắc chắn,

có sự trì xuống, dẻo dai, khó tháo gỡ.

Sau khi cắt đứt luôn cả sự trói buộc này, các vị du hành,

không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ khoái lạc của các dục.

 

Trang 36:

Trang 37:

 

“Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā –pe– puttesu dāresu ca yā apekkhā,” ayaṃ saṃkileso. “Etampi chetvāna paribbajanti anapekkhino kāmasukhaṃ pahāyā ”ti, ayaṃ nibbedho.

 
 

“Yaṃ cetayitaṃ pakappitaṃ anusayitaṃ yā ca nāmarūpassa avakkanti hoti,” imehi catūhi padehi saṃkileso, pacchimakehi catūhi nibbedho.

 
 

(7) Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ ca nibbedhabhāgiyaṃ ca asekha-bhāgiyaṃ ca suttaṃ?


08. Ayaṃ loko santāpajāto
phassapareto rodaṃ vadati attano,
yena yena hi maññati
tato taṃ hoti aññathā
.

 

(7) Ở đấy, Kinh bàn về phiền não, bàn về sự thấu triệt, và bàn về vị Vô Học là gì?

 

08. “Thế gian này bị đốt nóng,[1] bị quấy nhiễu bởi (sáu) xúc, nói rằng bệnh là thuộc về bản ngã. Dầu nghĩ theo cách này cách kia, nó hình thành theo một cách khác so với cái ấy.


[1] đã sanh lên sự đốt nóng (ND).

09. Aññathābhāvī bhavasatto loko
bhavapareto bhavamevābhinandati,
yadabhinandati taṃ bhayaṃ
yassa bhāyati taṃ dukkhaṃ
.

 

09. Có sự hình thành theo một cách khác, thế gian bị dính mắc vào hữu, bị quấy nhiễu bởi hữu, lại thỏa thích hữu ấy. Thỏa thích cái nào, cái ấy là sự sợ hãi. Bị sợ hãi đối với cái nào, cái ấy là khổ.

 

Bhavavippahānāya kho panidaṃ brahmacariyaṃ vussati.


Ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā bhavena bhavassa vippamokkham-āhaṃsu, sabbe te ‘avippamuttā bhavasmā ’ti vadāmi.


Ye vā pana keci samaṇā vā brāhmaṇā vā vibhavena bhavassa nissaraṇamāhaṃsu, sabbe te ‘anissaṭā bhavasmā ’ti vadāmi, upadhī hi paṭicca dukkhamidaṃ sambhoti.

 

Quả vậy, Phạm hạnh này được sống nhằm lìa bỏ hữu.

 

Bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào đã nói rằng sự giải thoát khỏi hữu nhờ vào hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó ‘không được giải thoát khỏi hữu.’

 

Bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào đã nói rằng sự tách ly khỏi hữu nhờ vào phi hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó ‘không được tách ly khỏi hữu,’ bởi vì tùy thuận vào sự bám víu, khổ này được hình thành.

 

Sabbupādānakkhayā natthi dukkhassa sambhavo.


Lokamimaṃ passa, puthū avijjāya paretaṃ bhūtaṃ bhūtarataṃ bhavā aparimuttaṃ. Ye hi keci bhavā sabbadhi sabbattatāya, sabbe te bhavā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā ”ti.

 

Do sự cạn kiệt của mọi chấp thủ, không có sự hình thành của khổ.

 

Hãy nhìn xem thế gian này, số đông bị quấy nhiễu bởi vô minh, được hiện hữu, thích thú sự hiện hữu, không được giải thoát hoàn toàn khỏi hữu. Bất cứ các hữu nào, ở mọi nơi, với mọi tính chất, tất cả các hữu ấy là vô thường, khổ đau, có tính chất đổi thay.

 

10. Evametaṃ yathābhūtaṃ - sammappaññāya passato,
bhavataṇhā pahīyati - vibhavaṃ nābhinandati,
sabbaso taṇhānaṃ khayā - asesavirāganirodho nibbānaṃ.

 

10. Tương tự, đối với vị đang nhìn thấy điều này đúng theo bản thể bằng tuệ chơn chánh, hữu ái của vị ấy được dứt bỏ, vị ấy không thỏa thích phi hữu, do sự cạn kiệt của các tham ái một cách trọn vẹn, có sự lìa ái luyến và sự diệt tận không còn dư sót, Niết Bàn.

 

11. Tassa nibbutassa bhikkhuno
anupādā punabbhavo na hoti,
abhibhūto māro vijitasaṅgāmo
upaccagā sabbabhavāni tādī
”ti.
 

11. Đối với vị tỳ khưu đã được tịch tịnh ấy, do không còn chấp thủ, sự hiện hữu lại nữa là không có, Ma Vương đã bị chế ngự, cuộc chiến đã được chiến thắng, bậc tự tại đã vượt qua khỏi tất cả các hữu.”

 

Trang 38:

Trang 39:

 

“Ayaṃ loko santāpajāto” yāva “dukkhan ”ti ayaṃ taṇhāsaṃkileso.


(Yaṃ punaggahaṇaṃ) “Ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā bhavena bhavassa vippamokkhamāhaṃsu, sabbe te ‘avimuttā bhavasmā ’ti vadāmi. Ye vā pana keci samaṇā vā brāhmaṇā vā vibhavena bhavassa nissaraṇamāhaṃsu, sabbe te ‘anissaṭā bhavasmā ’ti vadāmi,” ayaṃ diṭṭhisaṃkileso.

 
 

Taṃ diṭṭhisaṃkileso ca taṇhāsaṃkileso ca ubhayametaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ.


(Yaṃ punaggahaṇaṃ ) “Bhavavippahānāya kho panidaṃ brahmacariyaṃ vussati” yāva “sabbūpādānakkhayā natthi dukkhassa sambhavo” “sabbaso taṇhānaṃ khayā asesavirāganirodho nibbānaṃ,” idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ.

 

 

“Tassa nibbutassa bhikkhuno” yāva “upaccagā sabbabhavāni tādī ”ti, idaṃ asekhabhāgiyaṃ.


“Cattāro puggalā: anusotagāmī saṃkileso, ṭhitatto ca paṭisotagāmī ca nibbedho, thale tiṭṭhatī ”ti asekhabhūmi.

 
 

(8) Tattha katamaṃ vāsanābhāgiyaṃ ca nibbedhabhāgiyaṃ ca suttaṃ?


12. “Dadato puññaṃ pavaḍḍhati
saṃyamato veraṃ na cīyati,
kusalo ca jahāti pāpakaṃ
rāgadosamohakkhayā sa nibbuto
”ti.


“Dadato puññaṃ pavaḍḍhati saṃyamato veraṃ na cīyatī” ti vāsanā, “kusalo ca jahāti pāpakaṃ rāgadosamohakkhayā sa nibbuto ”ti nibbedho.

 

(8) Ở đấy, Kinh bàn về bản chất và bàn về sự thấu triệt là gì?

 

12. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự, và người hiền thiện từ bỏ điều ác, do sự diệt tận luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt.”

 

“Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự” là bản chất, “và người hiền thiện từ bỏ điều ác, do sự diệt tận luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt” là sự thấu triệt.

 

“Sotānudhatesu dhammesu vacasā paricitesu manasānupekkhitesu diṭṭhiyā suppaṭividdhesu pañcānisaṃsā pāṭikaṅkhā: idhekaccassa bahussutā dhammā honti dhatā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā, so yuñjanto ghaṭento vāyamanto diṭṭheva dhamme visesaṃ pappoti. No ce diṭṭheva dhamme visesaṃ pappoti, gilāno pappoti. No ce gilāno pappoti, maraṇakālasamaye pappoti. No ce maraṇakālasamaye pappoti, devabhūto pāpuṇāti. No ce devabhūto pāpuṇāti, tena dhamma-rāgena tāya dhammanandiyā paccekabodhiṃ pāpuṇāti.
 

"Khi các Pháp được dõi theo bởi tai, được dự trữ bởi khẩu, được suy xét bởi ý, khéo được thấu triệt bởi chánh kiến, có năm điều lợi ích là điều mong đợi: Ở đây, đối với một người nào đó, các Pháp là được nghe nhiều, được dõi theo, được dự trữ, được suy xét bởi ý, khéo được thấu triệt bởi chánh kiến, người ấy, trong khi gắn bó, trong khi cố gắng, trong khi tinh tấn, đạt được sự thù thắng ngay trong kiếp hiện tại. Nếu không đạt được sự thù thắng ngay trong kiếp hiện tại, thì đạt được khi là người bệnh. Nếu không đạt được khi là người bệnh, thì đạt được vào thời điểm lúc chết. Nếu không đạt được vào thời điểm lúc chết, thì đạt được khi có trạng thái Thiên nhân. Nếu không đạt được khi có trạng thái Thiên nhân, thì do sự luyến ái với Pháp, do niềm vui với Pháp, đạt được quả vị Độc Giác." (so sánh với A. ii, 185)

 

Trang 40:

 

Trang 41:

 

Tattha yaṃ diṭṭheva dhamme pāpuṇāti, ayaṃ nibbedho; yaṃ samparāye paccekabodhiṃ pāpuṇāti, ayaṃ vāsanā.

 
 

Imāni soḷasa suttāni sabbasāsanaṃ atigaṇhanto tiṭṭhanti. Imehi soḷasahi suttehi navavidho suttanto vibhatto bhavati. So ca paññavato no duppaññassa, yuttassa no ayuttassa, akammassa vihārissa.

 

 

Pakatīyā loko saṃkileso carati. So saṃkileso tividho: taṇhāsaṃkileso diṭṭhisaṃkileso duccaritasaṃkileso. Tato saṃkilesato uṭṭhahanto saṃkilesadhammesu patiṭṭhahati lokiyesu patiṭṭhahatīti. Tatthākusalo diṭṭhito sace taṃ sīlaṃ ca diṭṭhiṃ ca parāmasati, tassa so taṇhāsaṃkileso hoti. Sace panassa evaṃ hoti: ‘Imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā ’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi, so tassa micchādiṭṭhisaṃkileso bhavati.

 

 

Sace pana sīle patiṭṭhito aparāmaṭṭhassa hi sīlavataṃ hoti, tassa taṃ sīlavataṃ yoniso gahitaṃ avippaṭisāraṃ janeti, (yāva-vimuttiñāṇadassanaṃ) taṃ ca tassa diṭṭheva dhamme kālakatassa vā tamhiyeva vā pana aparapariyāye vā aññesu khandhesu evaṃ sutaṃ: “sucaritaṃ vāsanāya saṃvattatī ”ti vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ vuccati.

 

 

Tattha sīlesu ṭhitassapi nīvaraṇacittaṃ, taṃ tato sakkāyadiṭṭhippahānāya bhagavā dhammaṃ deseti, so accantaniṭṭhaṃ nibbānaṃ pāpuṇāti, yadi vā sāsanantare accantaniṭṭhaṃ nibbānaṃ pāpuṇāti, yadi vā ekāsane cha abhiññe. Tattha dve puggalā ariyadhamme pāpuṇanti: saddhānusārī ca dhammānusārī ca. Tattha dhammānusārī ugghaṭitaññū saddhānusārī neyyo. Tattha ugghaṭitaññū duvidho: koci tikkhindriyo koci mudindriyo. Tattha neyyopi duvidho koci tikkhindriyo koci mudindriyo. Tattha yo ca ugghaṭitaññū mudindriyo, yo ca neyyo tikkhindriyo, ime puggalā asamindriyā honti. Tattha ime puggalā samindriyā parihāyanti ca ugghaṭitaññuto, vipañcitaññū neyyato, ime majjhimā bhūmigatā vipañcitaññū honti. Ime tayo puggalā.
 

 

Trang 42:

 

Trang 43:

 

Tattha catutthā pana pañcamā ugghaṭitaññū vipañcitaññū neyyo ca. Tattha ugghaṭitaññū puggalo indriyāni paṭilabhitvā dassanabhūmiyaṃ ṭhito sotāpattiphalaṃ ca pāpuṇāti, ekabījī hoti paṭhamo sotāpanno. Tattha vipañcitaññū puggalo indriyāni paṭilabhitvā dassanabhūmiyaṃ ṭhito sotāpattiphalaṃ ca pāpuṇāti, kolaṃkolo ca hoti dutiyo sotāpanno. Tattha neyyo puggalo indriyāni paṭilabhitvā dassanabhūmiyaṃ ṭhito sotāpattiphalaṃ ca pāpuṇāti, sattakkhattuparamo ca hoti, ayaṃ tatiyo sotāpanno. Ime tayo puggalā indriyavemattatāya sotāpattiphale ṭhitā. Ugghaṭitaññū ekabījī hoti, vipañcitaññū kolaṃkolo hoti, neyyo sattakkhattuparamo hoti.

 
 

Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.

 

 

Sace pana taduttariṃ vāyamati, accantaniṭṭhaṃ nibbānaṃ pāpuṇāti. Tattha ugghaṭitaññū puggalo yo tikkhindiyo, te dve puggalā honti: anāgāmiphalaṃ pāpuṇitvā antarāparinibbāyī ca upahaccapaṭinibbāyī ca. Tattha vipañcitaññū puggalo yo tikkhindriyo, te dve puggalā honti: anāgāmiphalaṃ pāpuṇitvā asaṅkhāraparinibbāyī ca sasaṅkhāraparinibbāyī ca. Tattha neyyo anāgāmiphalaṃ pāpuṇanto uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī hoti, ugghaṭitaññū ca vipañcitaññū ca indriyanānattena ugghaṭitaññū puggalo tikkhindriyo antarāparinibbāyī hoti, ugghaṭitaññū mudindriyo uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī hoti. Ugghaṭitaññū ca vipañcitaññū ca indriyanānattena ugghaṭitaññū puggalo tikkhindiyo sasaṅkhāraparinibbāyī hoti, tikkhindriyo antarāparinibbāyī hoti, ugghaṭitaññū mudindriyo asaṅkhāraparinibbāyī hoti. Vipañcitaññū tikkhindiyo asaṅkhāraparinibbāyī hoti, vipañcitaññū mudindriyo sasaṅkhāraparinibbāyī hoti, neyyo upahaccaparinibbāyī hoti, vipañcitaññū tikkhindiyo asaṅkhāraparinibbāyī hoti, vipañcitaññū mudindriyo sasaṅkhāraparinibbāyī hoti, neyyo uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī hoti. Iti pañca anāgāmino, chaṭṭho sakadāgāmī, tayo ca sotāpannāti ime nava sekkhā.

 

 

Tattha ugghaṭitaññū puggalo tikkhindiyo arahattaṃ pāpuṇanto dve puggalā honti: ubhatobhāgavimutto paññāvimutto ca. Tattha ugghaṭitaññū puggalo mudindriyo arahattaṃ pāpuṇanto dve puggalā honti: ṭhitakappī ca paṭivedhanabhāvo ca. Tattha vipañcitaññū puggalo ca tikkhindriyo arahattaṃ pāpuṇanto dve puggalā honti: cetanābhabbo ca rakkhaṇabhabbo ca. Tattha vipañcitaññū mudindriyo arahattaṃ pāpuṇanto dve puggalā honti: sace ceteti na parinibbāti, no ce anurakkhati parinibbāyī ”ti. Tattha neyyo puggalo bhāvanānuyogamanuyutto parihānadhammo hoti kammaniyato vā samasīsī vā. Ime nava arahanto.
 

 

Trang 44:

Trang 45:

 

   
   
   
   
   
   

Trang 46:

 

Trang 47:

 

     
   
   
   
   
   

Trang 48:

 

Trang 49:

 

   
   
   
   
   
   
   
   
     
   
   
   

Trang 52:

 

Trang 53:

 

   
   
   
 
   
   
   
   
   
   

Trang 56:

 

Trang 57:

 

 
   
   
   
   
   

Trang 58:

 

Trang 59:

 

   
   
   
   
   
   

Trang 80:

 

Trang 81:

 

   
   
 
   
   

Trang 82:

 

Trang 83:

 

   
   
   
   
   

Trang 84:

 

Trang 85:

 

   
   
   
   

Trang 86:

 

Trang 87:

 

   
   
   
   
   

Trang 88:

 

Trang 89:

 

   
   
   
   
   

<Trang Trước>

<Trang Kế>

 

<Mục Lục Peṭakopadesapāḷi - Tìm Hiểu Tam Tạngi>

<Đầu Trang>