|
X.
DASAKANIPĀTO - NHÓM MƯỜI KỆ NGÔN
|
|
Nguồn: Tam Tạng
Pāli - Sinhala thuộc Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS) |
Lời tiếng Việt:
Tỳ khưu Indacanda |
|
Trang 348: |
Trang 349:
|
|
1355. Catudvāramidaṃ nagaraṃ
āyasaṃ daḷhapākāraṃ,
oruddha patiruddhosmi kiṃ pāpaṃ pakataṃ mayā.
|
1355. “Thành này làm bẳng sắt, có
bốn cánh cửa, có tường thành vững chắc. Tôi đă bị giam cầm, bị
ngăn chận; điều ác ǵ đă được tạo ra bởi tôi?” |
1. Thành sắt này xây bốn cổng
cao,
Con nay mắc bẫy bước chân vào,
Chung quanh con, lũy hào bao bọc,
Con đă gây nên các nghiệp nào. |
|
1356. Sabbe apihitā dvārā
oruddhosmi yathā dvijo,
kimādhikaraṇaṃ yakkha cakkābhinihato ahaṃ.
|
1356. Tất cả các cánh cửa đă được
đóng lại. Tôi bị giam cầm giống như con chim (ở trong lồng).
Thưa Dạ-xoa, lư do ǵ mà tôi bị hành hạ bởi bánh xe?” |
2. Giờ đây đóng chặt các thành
môn
Và bánh xe này hủy diệt con
Nào khác chim lồng, con bị bắt.
Tại v́ sao vậy, tấu Thiên vương? |
|
1357. Laddhā satasahassāni
atirekāni vīsati,
anukampakānaṃ ñātīnaṃ vacanaṃ samma nākari.
|
1357. “Này cậu trai, sau khi đă
đạt được nhiều hơn hai triệu đồng tiền, gă
ấy đă không làm theo lời
nói của các thân quyến, của những người thương xót (đến gă). |
3. Ngài có ngày xưa chục vạn
đồng,
Hai mươi lần nữa đấy, tôn ông,
Tuy nhiên ngài vẫn không hề muốn
Tai lắng nghe bằng hữu nói năng. |
|
1358. Laṅghiṃ samuddaṃ pakkhandi
sāgaraṃ appasiddhikaṃ
catubbhi aṭṭhajjhagamā aṭṭhāhipi soḷasa,
soḷasāhi ca battiṃsā atricchaṃ cakkamāsado
icchāhatassa posassa cakkaṃ bhamati matthake.
|
1358. Gă đă lao vào biển cả có
sóng nhồi, vào đại dương có ít điều may mắn. Với bốn (nữ nhân),
gă đă đi đến tám, và cũng với tám rồi mười sáu, và với mười sáu
rồi ba mươi hai (nữ nhân), trong khi ước muốn quá lố, gă nhận
lấy bánh xe. Bánh xe quay tṛn ở trên đầu của kẻ bị hành hạ bởi
ước muốn. |
4. Ngài đă vội vàng vượt đại
dương
Chất đầy nguy hiểm dọc đường trường,
Nữ ma, bốn tám, ngài thăm viếng,
Mười sáu nàng, theo kế tám nàng. |
|
1359. Upari visālā duppūrā icchā
visaṭagāminī,
ye ca taṃ anugijhanti te honti cakkadhārino.
|
1359. Các ước muốn quá to lớn là
khó được làm cho đầy đủ, chúng có khuynh hướng lan tỏa rộng ra.
Những kẻ nào thèm muốn điều ấy, những kẻ ấy trở thành những
người mang bánh xe (ở trên đầu). |
5. Tiếp theo mười sáu, đến ba
hai
Tận hưởng dục tham cứ miệt mài,
Nay hăy nh́n đây đầy phần tặng thưởng
Bánh xe dục lạc ở đầu ngài. |
|
1360. Bahuṃ bhaṇḍaṃ apahāya
maggaṃ appaṭivekkhiya,
yesaṃ cetaṃ asaṅkhātaṃ te honti cakkadhārino.
|
1360. Sau khi đă buông bỏ nhiều
của cải, sau khi đă không xem xét lộ tŕnh, những kẻ nào đă
không chuẩn bị việc ấy, những kẻ ấy trở thành những người mang
bánh xe (ở trên đầu). |
6. Ai đi đại lộ dục tham đầy,
Con lộ thênh thang rộng lớn thay,
Vô độ, chúng không hề thỏa măn
Th́ phần chúng đội bánh xe này. |
|
1361. Kammaṃ samekkhe vipulañca
bhogaṃ
icchā naṃ seveyya anatthasaṃhitaṃ,
kareyya vākyaṃ anukampakānaṃ
taṃ tādisaṃ nātivatteyya cakkaṃ.
|
1361. Nên xem xét hành động và
của cải dồi dào (của bản thân), không nên phụng sự ước muốn
không liên hệ đến mục đích, nên làm theo lời nói của những người
thương xót (đến ḿnh), bánh xe sẽ không khống chế người như thế
ấy.” |
7. Ai chẳng mong phân phát bạc
vàng,
Chẳng cầu t́m Chánh đạo b́nh an
Cũng không biết phải làm như vậy,
Phần bánh xe này chúng sẽ mang.
8. Hăy suy kết quả việc ngài
làm
Gia sản ngài xem thật ngập tràn,
Đừng ước làm tài chủ bất chính,
Thực hành điều bạn tốt khuyên răn,
Về sau chẳng có bao giờ nữa
Ṿng bánh xe này đụng đến thân. |
|
1362. Kīva ciraṃ nu me yakkha
cakkaṃ sirasi ṭhassati,
kati vassasahassāni taṃ me akkhāhi pucchito.
|
1362. “Thưa Dạ-xoa, vậy th́ bánh
xe sẽ ngự trên đầu của tôi bao lâu nữa? Bao nhiêu ngàn năm? Được
hỏi, xin ngài hăy giải thích điều ấy cho tôi.” |
9. Vậy tấu Thiên vương, đến
lúc nào
Bánh xe này dính ở trên đầu?
Mấy ngàn năm nữa? XIn ngài dạy,
Đừng để con hoài sức khẩn cầu. |
|
1363. Atisaro accasaro mittavinda
suṇohi me,
cakkaṃ te siramāviddhaṃ na taṃ jīvaṃ pamokkhasī ”ti.
1. Catudvārajātakaṃ.
|
1363. “Không nhớ được! Quá khả
năng nhớ! Này Mittavinda, hăy lắng nghe ta. Bánh xe được quay
tṛn ở đầu của cậu cho đến khi nào cậu c̣n chưa thoát khỏi cuộc
sống ấy.”
1. Bổn Sanh Bốn Cánh Cửa.
|
10. Bánh xe này tiếp tục xoay
vần,
Mà chẳng hiện ra vị cứu nhân
Nó dính đầu ngài cho đến chết,
Này Mít-ta hỡi có nghe chăng?
Câu chuyện
439 |
|
1364. Kaṇhovatāyaṃ puriso kaṇhaṃ
bhuñjati bhojanaṃ,
kaṇhe bhūmippadesasmiṃ na mayhaṃ manaso piyo.
|
1364. “Người này quả thật có màu
da đen, ăn thức ăn màu đen (trái cây), sống ở mảnh đất màu đen,
tâm ư của ta không yêu mến (người này).”
|
1. Đằng kia, ngắm kẻ sắc đen
tuyền,
Sống ở nơi này cũng đất đen,
Miếng thịt đang ăn đen xám xịt,
Tâm ta chẳng thích đáng người hiền |
|
Trang 350: |
Trang 351:
|
|
1365. Na kaṇho tacasā hoti
antosāro brāhmaṇo,
yasmiṃ pāpāni kammāni save kaṇho sujampati.
|
1365. “Thưa Thiên Chủ Sujampati,
đen không phải là bởi màu da, bởi v́ cái phẩm chất bên trong mới
là Bà-la-môn. Ở kẻ nào có các việc làm ác, chính kẻ ấy là đen.”
|
2. Dù toàn sắc đen, hỡi Ngọc
hoàng,
Tâm ta chân chính Bà-la-môn,
Màu da chẳng lỗi, nhưng làm ác
Khiến kẻ phàm nhân đen tối luôn. |
|
1366. Etasmiṃ te sulapite
patirūpe subhāsite,
varaṃ brāhmaṇa te dammi yaṃ kiñci manasicchasi.
|
1366. “Do điều ấy đă được ông
khéo nói, đă được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này
Bà-la-môn, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều ǵ ông
mong muốn ở trong tâm.” |
3. Nói năng khôn khéo, bậc
La-môn,
Diễn đạt cao siêu, tối thắng luôn
Hăy chọn điều ǵ ngài ước nguyện,
Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn. |
|
1367. Varaṃ ce me ado sakka
sabbabhūtānamissara,
sunikkodhaṃ suniddosaṃ nillobhaṃ vuttim attano,
nisnehamabhikaṅkhāmi ete me caturo vare.
|
1367. “Thưa Sakka, thưa
vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đă ban cho tôi điều
ân huệ, tôi mong ước rằng tôi có thói quen là không c̣n giận dữ,
không c̣n sân hận, không tham lam, không yêu thương; tôi có bốn
ước muốn này.” |
4. Thiên chủ Sak-ka của thế
gian
Chọn điều hạnh phúc, lệnh ngài ban,
Ta mong thoát khỏi ḷng sân hận,
Ác độc, tiêu trừ mọi dục tham,
Tất cả bốn điều này hạnh phúc,
Ta thường mơ ước tận tâm can. |
|
1368. Kinnu kodhe ca dose vā
lobhe sneheva brāhmaṇa,
ādīnavaṃ sampassasi taṃ me akkhāhi pucchito.
|
1368. “Này Bà-la-môn, vậy ông
nhận thấy điều bất lợi ǵ ở sự giận dữ, ở sự sân hận, ở sự tham
lam, và ở sự yêu thương? Được hỏi, xin ông hăy giải thích điều
ấy cho ta.” |
5. Ở trong ác dục với tham
sân,
Này hăy nói đi, hỡi Đạo nhân,
Ngài thấy điều ǵ là bất thiện,
Trả lời ta nhé, hăy làm ơn. |
|
1369. Appo hutvā bahu hoti
vaḍḍhate so akhantijo,
āsaṅgi bahupāyāso tasmā kodhaṃ na rocaye.
|
1369. “Sự giận dữ sanh lên từ sự
không nhẫn nại. Nó khởi đầu th́ ít rồi trở thành nhiều, và nó
tăng trưởng, không có sự quyến luyến, có nhiều ưu phiền; v́ thế,
tôi không ưa thích sự giận dữ. |
6. Ác ư được nuôi bởi hận sân,
Phát sinh từ nhỏ lớn lên dần,
Nên ḷng tràn ngập niềm đau xót,
V́ thế ta không muốn giận hờn. |
|
1370. Duṭṭhassa pharusā vācā
parāmāso anantarā,
tato pāṇi tato daṇḍo satthassa paramā gati,
dosā kodhasamuṭṭhāno tasmā dosaṃ na rocaye.
|
1370. Người bị bực bội th́ có lời
nói thô lỗ, kế liền là sự va chạm, sau đó là bàn tay, rồi đến
gậy gộc, giải pháp sau cùng là của vũ khí. Sân hận có nguồn sanh
khởi là sự giận dữ; v́ thế, tôi không ưa thích sự sân hận.
|
7. Cứ vậy thông thường với ác
nhân,
Trước tiên lời nói, chạm vào thân,
Kế đến đấm đá, rồi cây gậy,
Sau hết ḷe ra mũi kiếm trần,
Khi có ác tâm, thường phẫn nộ,
Nên ḷng ta chẳng muốn hờn căm. |
|
1371. Alopasahasākārā nikatī
vañcanāni ca,
dissanti lobhadhammesu tasmā lobhaṃ na rocaye.
|
1371. Các biểu hiện bạo lực ở sự
cướp giựt, sự tráo trở, và các sự gian lận được nh́n thấy ở các
pháp tham lam; v́ thế, tôi không ưa thích sự tham lam. |
8. Khi người, thúc dục bởi
gian tham,
Lừa đảo tăng dần với dối gian,
Vội đuổi theo tiền tài cướp bóc,
Vậy nên ta chẳng muốn tâm tham. |
|
1372. Snehasaṅgathitā ganthā
senti manomayā puthu,
te bhusaṃ upatāpenti tasmā snehaṃ na rocaye.
|
1372. Các sự trói buộc được trói
buộc chung với sự yêu thương, được tạo thành bởi ư, tiềm ẩn ở
các đối tượng riêng biệt, chúng gây bực bội một cách mănh liệt;
v́ thế, tôi không ưa thích sự yêu thương.” |
9. Trói chặt xiềng gông bởi
dục t́nh,
Vẫn thường phát triển nảy sinh nhanh
Trong tim, làm xót xa đau nhức,
Ái dục, ta không muốn phận ḿnh. |
|
1373. Etasmiṃ te sulapite
patirūpe subhāsite,
varaṃ brāhmaṇa te dammi yaṃ kiñci manasicchasi.
|
1373. “Do điều ấy đă được ông
khéo nói, đă được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này
Bà-la-môn, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều ǵ ông
mong muốn ở trong tâm.” |
10. Nói năng chân chính, bậc
La-môn,
Diễn đạt cao siêu, tối thắng ngôn,
Hăy chọn điều ǵ ngài ước nguyện,
Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn. |
|
1374. Varaṃ ce me ado sakka
sabbabhūtānamissara,
araññe me viharato niccaṃ ekavihārino,
ābādhā mā uppajjeyyuṃ antarāyakarā bhusā.
|
1374. “Thưa Thiên Chủ Sakka, thưa
vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đă ban cho tôi điều
ân huệ, đối với tôi là người đang sống ở trong rừng, thường
xuyên độc cư, mong rằng các bệnh hoạn chớ sanh khởi, các tác
nhân gây ra chướng ngại chẳng có nhiều.” |
11. Sak-ka, Thiên chủ của trần
gian,
Ngài bảo cho ta một đặc ân,
Mong chốn núi rừng ta ẩn náu,
Nơi nào ta trú ngụ đơn thân,
Bệnh không làm hại niềm an tịnh,
Hoặc phá niềm thiền lạc vỡ tan. |
|
1375. Etasmiṃ te sulapite
patirūpe subhāsite,
varaṃ brahmaṇa te dammi yaṃ kiñci manasicchasi.
|
1375. “Do điều ấy đă được ông
khéo nói, đă được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này
Bà-la-môn, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều ǵ ông
mong muốn ở trong tâm.” |
12. Nói năng thật khéo, bậc
La-môn,
Diễn đạt cao siêu, tối thắng ngôn,
Hăy chọn điều ǵ ngài ước nguyện,
Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn. |
|
1376. Varaṃ ce me ado sakka
sabbabhūtānamissara,
na mano vā sarīraṃ vā maṅkate sakka kassaci,
kadāci upahaññetha etaṃ sakka varaṃ vare ”ti.
2. Kaṇhajātakaṃ.
|
1376. “Thưa Thiên Chủ Sakka, thưa
vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đă ban cho tôi điều
ân huệ, thưa Thiên Chủ Sakka, không do tôi là nguyên nhân làm
cho ư nghĩ hoặc cơ thể (thân và khẩu) của bất cứ ai, vào bất cứ
lúc nào, có thể bị tổn thương. Thưa Sakka, điều này là sự ước
muốn về điều ân huệ.”
2. Bổn Sanh Ẩn Sĩ Kaṇha.
|
13. Sak-ka, Thiên chủ của trần
gian,
Ngài bảo cho ta một đặc ân,
Xin chẳng sinh linh nào bị hại,
V́ ta, dù khẩu, ư hay thân.
Nơi nào cũng vậy, này Thiên chủ,
Lời nguyện này ta vẫn ước mong.
Câu chuyện
440 |
|
Trang 352:
|
Trang 353:
|
|
1377. Yo kopaneyye na karoti
kopaṃ
na kujjhati sappuriso kadāci,
kuddhopi yo nāvikaroti kopaṃ
taṃ ve naraṃ samaṇaṃ āhu loke.
|
1377. “Người nào là bậc thiện
nhân, không bực tức với người đáng bị bực tức, không bị nổi giận
vào bất cứ lúc nào, là người thậm chí bị nổi giận mà không bày
tỏ sự bực tức, thật vậy, các bậc sáng suốt ở thế gian đă gọi
người ấy là Sa-môn.” |
1. Thiện nhân không cảm thấy
hờn căm,
Đối với một ai đáng hận sân,
Không để nội tâm sân khởi dậy,
Vị nào dù lúc giận trong ḷng,
Cũng không để lộ cho người thấy,
Người gọi đó là thanh tịnh nhân. |
|
1378. Ūnodaro yo sahate
jighacchaṃ
danto tapassī mitapānabhojano,
āhārahetu na karoti pāpaṃ
taṃ ve naraṃ samaṇaṃ āhu loke.
|
1378. “Người nào chịu đựng cái
đói, có bao tử lưng lửng, là người đă được rèn luyện, có sự khổ
hạnh, có thức ăn nước uống bị hạn chế, là người không làm việc
ác v́ nguyên nhân vật thực, thật vậy, các bậc sáng suốt ở thế
gian đă gọi người ấy là Sa-môn.” |
2. Người chịu đói, bụng đau
rần,
Ẩn sĩ tự điều phục món ăn,
Không phạm ác hành v́ thực phẩm,
Vị này, người gọi bậc Sa-môn. |
|
1379. Khiḍḍaṃ ratiṃ vippajahitva
sabbaṃ
na cālikaṃ bhāsati kiñci loke,
vibhūsanaṭṭhānā virato methunasmā
taṃ ve naraṃ samaṇaṃ āhu loke.
|
1379. “Sau khi buông bỏ tất cả
việc đùa giỡn và lạc thú, là người không nói sai trái về bất cứ
điều ǵ ở thế gian, là người đă lánh xa việc trang điểm, đă lánh
xa việc đôi lứa, thật vậy, các bậc sáng suốt ở thế gian đă gọi
người ấy là Sa-môn.” |
3. Sau khi bỏ mọi thứ vui
chơi,
Không nói lời gian dối giữa đời,
Vị ấy ghét xa hoa, nhục dục,
Như vầy người gọi Sa-môn rồi. |
|
1380. Pariggahaṃ lobhadhammañca
sabbaṃ
yo ve pariññāya paribbajeti,
dantaṃ ṭhitattaṃ amamaṃ nirāsaṃ
taṃ ve naraṃ samaṇaṃ āhu loke.
|
1380. “Thật vậy, người nào, sau
khi hiểu biết toàn diện, hoàn toàn từ bỏ tất cả vật sở hữu và
pháp tham lam, là người đă được rèn luyện, có bản tánh ổn định,
không chấp là của ta, không có sự dính mắc, thật vậy, các bậc
sáng suốt ở thế gian đă gọi người ấy là Sa-môn.” |
4. Bậc toàn trí bỏ hết hoàn
toàn,
Mọi sở hữu và mọi dục tham,
Tự chế, kiên tâm, vô ngă chấp,
Vị này người gọi bậc Sa-môn. |
|
1381. Pucchāma kattāraṃ
anomapaññaṃ
gāthāsu no viggaho atthi jāto,
chindajja kaṅkhaṃ vicikicchitāni
tayajja kaṅkhaṃ vitaremu sabbe.
|
1381. “Chúng tôi hỏi vị phân xử,
vị có trí tuệ không thiếu sót. Có sự căi vă đă sanh khởi giữa
chúng tôi về các kệ ngôn. Hôm nay, ngài hăy chặt đứt sự nghi
hoặc và các hoài nghi. Hôm nay, nhờ ngài tất cả chúng tôi có thể
dẹp bỏ sự nghi hoặc.” |
5. Xin hỏi đại thần thượng trí
minh,
Trong khi đàm đạo, khởi phân tranh,
Nhờ khanh xét, giải nghi nan ấy,
Hội chúng thoát nghi hoặc bởi khanh! |
|
1382. Ye paṇḍitā atthadassā
bhavanti
bhāsanti te yoniso tattha kāle,
kathaṃ nu gāthānaṃ abhāsitānaṃ
atthaṃ nayeyyuṃ kusalā janinda.
|
1382. “Các vị nào là các bậc sáng
suốt, có khả năng nh́n thấy ư nghĩa, các vị ấy nói đúng đường
lối theo thời điểm của sự việc. Tâu vị chúa của loài người, làm
thế nào các bậc thiện xảo có thể nắm được ư nghĩa của các kệ
ngôn c̣n chưa được nói ra? |
6. Bậc trí biết chân tướng
việc đời,
Nói năng khôn khéo, đúng theo thời,
Nhưng dù hiền trí, làm sao biết,
Ư nghĩa kệ chưa nói với tôi? |
|
1383. Kathaṃ have bhāsati
nāgarājā
kathaṃ pana garuḷo venateyyo,
gandhabbarājā pana kiṃ vadeti
kathaṃ pana kurunaṃ rājaseṭṭho.
|
1383. Thật vậy, vị Chúa của loài
rồng nói thế nào?
Rồi Kim-sỉ-điểu Venateyya nói thế nào?
Thêm nữa, vị Vua của các Càn-thát-bà nói ǵ?
Hơn nữa, đức vua tối cao của xứ Kuru nói thế nào?” |
Vương tử Vi-na, Kim sí điểu,
Long vương ấy nói thế nào rồi?
Thác- bà vương, tối cao Hoàng thượng,
Của xứ Câu-lâu, hăy mở lời! |
|
1384. Khantiṃ have bhāsati
nāgarājā
appāhāraṃ garuḷo venateyyo
gandhabbarājā rativippahānaṃ
akiñcanaṃ kurunaṃ rājaseṭṭho ’ti.
|
1384. “Đúng vậy, vị Chúa của loài
rồng nói về sự nhẫn nại.
Kim-sỉ-điểu Venateyya nói về không đánh đập.
Vị Vua của các Càn-thát-bà nói về sự buông bỏ lạc thú.
Đức vua tối cao của xứ Kuru nói về vô sở hữu.”
|
7. Kham nhẫn, Long vương
thuyết giảng xong,
Vương tử Vi-na, Sí điểu vương,
Lại thuyết giảng về ḷng tốt đẹp,
Thác-bà vương thuyết đoạn trừ tham,
Câu lâu Chúa thượng ly triền cái,
Để đạt đến công hạnh vẹn toàn. |
|
1385. Sabbāni etāni subhāsitāni
na hettha dubbhāsitamatthi kiñci,
yasmiñca etāni patiṭṭhitāni
arāva nābhyā susamohitāni,
catubbhi dhammehi samaṅgibhūtaṃ
taṃ ve naraṃ samaṇaṃ āhu loke.
|
1385. “Tất cả các điều ấy đă được
khéo nói,
bởi v́ ở đây không có một điều
nào đă được vụng nói.
Và các điều ấy được thiết lập ở
người nào,
tựa như các cây căm khéo được gắn
vào trục bánh xe,
người nào được đầy đủ bốn pháp,
thật vậy, các bậc sáng suốt ở thế
gian đă gọi người ấy là Sa-môn.”
|
8. Tất cả lời này chánh đáng
thay,
Không ǵ sai trái ở nơi này,
Người nào thích hợp lời như thế,
Giống các tăm xe ở trục quay,
Người được gọi Sa-môn chánh hạnh,
Đủ đầy các đức tính trên đây. |
|
Trang 354: |
Trang 355: |
|
1386. Tuvaṃ nu seṭṭho
tvamanuttarosi
tvaṃ dhammagū dhammavidū sumedho,
paññāya pañhaṃ samadhiggahetvā
acchecchi dhīro vicikicchitāni,
acchecchi kaṅkhaṃ vivikicchitāni
cundo yathā nāgadantaṃ kharena.
|
1386. “Ngài là hạng nhất, ngài là
người không ai hơn được,
ngài là vị đă đạt đến pháp, là vị
hiểu rơ pháp, là bậc thiện trí.
Sau khi nắm vững câu hỏi bằng trí
tuệ,
bậc sáng trí đă chặt đứt các hoài
nghi,
đă chặt đứt sự nghi hoặc và các
hoài nghi,
giống như người thợ ngà voi đă
cắt đứt ngà voi bằng cây cưa.
|
9. Khanh là bậc tối thắng, vô
song,
Hộ pháp, tinh thông luật, trí nhân,
Khi hiểu vấn đề nhờ trí tuệ,
Với tài khéo cắt mọi nghi nan,
Giống như người thợ ngà voi nọ,
Cắt với lưỡi cưa thật dễ dàng! |
|
1387. Nīluppalābhaṃ vimalaṃ
anagghaṃ
vatthaṃ imaṃ dhūmasamānavaṇṇaṃ,
pañhassa veyyākaraṇena tuṭṭho
dadāmi te dhammapūjāya dhīra.
|
1387. Hài ḷng với việc giải
thích câu hỏi, này vị sáng trí, ta ban cho ngài tấm vải này, có
màu sắc như là làn khói, có sự rực rỡ như đóa sen xanh, không có
vết bẩn, vô giá, để cúng dường pháp. |
|
|
1388. Suvaṇṇamālaṃ
satapattaphullaṃ
sakesaraṃ ratana sahassamaṇḍitaṃ,
pañhassa veyyākaraṇena tuṭṭho
dadāmi te dhammapūjāya dhīra.
|
1388. Hài ḷng với việc giải
thích câu hỏi, này vị sáng trí, ta ban cho ngài bông hoa bằng
vàng, nở rộ với một trăm cánh hoa, có tua nhụy, được điểm tô với
một ngàn viên ngọc, để cúng dường pháp. |
|
|
1389. Maṇiṃ anagghaṃ ruciraṃ
pabhassaraṃ
kaṇṭhāvasattaṃ maṇibhūsitaṃ me,
pañhassa veyyākaraṇena tuṭṭho
dadāmi te dhammapūjāya dhīra.
|
1389. Hài ḷng với việc giải
thích câu hỏi, này vị sáng trí, ta ban cho ngài viên ngọc ma-ni
vô giá, làm thích ư, rực rỡ, được gắn liền ở cổ, được trang điểm
với viên ngọc ma-ni, vật sở hữu của ta, để cúng dường pháp. |
|
|
1390. Gavaṃ sahassaṃ usabhañca
nāgaṃ
ājaññayutte ca rathe dasa ime,
pañhassa veyyākaraṇena tuṭṭho
dadāmi te gāmavarāni soḷasā ”ti.
3. Catuposathikajātakaṃ.
|
1390. Hài ḷng với việc giải
thích câu hỏi, ta ban cho ngài một ngàn ḅ cái,
một ḅ mộng, một con voi, mười cỗ xe kéo này đă được thắng vào
những con ngựa thuần chủng, và mười sáu ngôi làng cao quư.”
3. Bổn Sanh Bốn Vị Hành Trai
Giới.
|
10. Một ngàn ḅ cái, trẫm
truyền ban,
Một thớt voi, ḅ đực một chàng,
Mười cỗ xe và đàn ngựa quư,
Thêm mười sáu đệ nhất thôn làng,
Bởi v́ trẫm thật đầy hoan hỷ,
Cách giải vấn đề của Trí nhân!
Câu chuyện
441 |
|
1391. Bahussuto sutadhammosi
saṅkha
diṭṭhā tayā samaṇabrāhmaṇā ca,
athakkhaṇe dassayase vilāpaṃ
añño nu ko te paṭimantako mayā.
|
1391. “Thưa chủ nhân Saṅkha, tôn
ông có kiến thức rộng, đă được nghe Giáo Pháp. Tôn ông đă diện
kiến các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Giờ không phải là lúc tôn ông
thể hiện sự mê sảng. Phải chăng có người nào khác đang chuyện
tṛ với tôn ông, ngoài tôi ra?”
|
1. La-môn Tôn giả, bậc uyên
thâm,
Tôn giả vốn đầy đủ thánh tâm,
Đồ đệ Thánh sư, sao lại phải
Hoài tâm vô cớ nói lầm bầm,
Trong khi chẳng có ai đây cả
Đối đáp ngoài tôi, lúc luận đàm? |
|
1392. Subbhū subhā
suppaṭimuttakambu
paggayha sovaṇṇamayāya pātiyā,
bhuñjassu bhattaṃ iti maṃ vadeti
saddhā cittā tamahaṃ noti brūmi.
|
1392. “Có nàng tiên nữ với khuôn
mặt xinh đẹp, với dáng vẻ thanh tú, khéo phục sức với đồ trang
điểm bằng vàng, đă trao ra cái đĩa làm bằng vàng rồi nói với
ta
bằng niềm tin và tâm hoan hỷ rằng: ‘Ông hăy thọ dụng bữa ăn.’ Ta
đă trả lời ‘không’ với nàng ấy.”
|
2. Xuất hiện Thiên thần rực
ánh quang,
Tặng ta tiên phạn để ta ăn,
Cao sang trên đĩa vàng bày sẵn
Ta đáp nàng "không" dạ lạc hoan. |
|
Trang 356: |
Trang 357: |
|
1393. Etādisaṃ brāhmaṇa disva
yakkhaṃ
puccheyya poso sukhamāsasāno,
uṭṭhehi taṃ pañjalikāhi puccha
devī nusi tvaṃ uda mānusī nu.
|
1393. “Thưa vị Bà-la-môn, sau khi
nh́n thấy hạng Dạ-xoa như thế ấy, con người đang mong mỏi hạnh
phúc có thể yêu cầu. Tôn ông nên đứng lên, chắp tay lại, và hỏi
vị ấy rằng: ‘Vậy nàng là nữ thần hay là nữ nhân loại?’” |
3. Nếu như người thấy một
Thiên thần,
Người hăy yêu cầu một đặc ân
Xin đứng chấp tay van vị ấy,
Cho hay Thiên nữ hoặc phàm nhân? |
|
1394. Yaṃ tvaṃ
sukhenābhisamekkhase maṃ
bhuñjassu bhattaṃ iti maṃ vadesi,
pucchāmi taṃ nāri mahānubhāve
devī nusi tvaṃ uda mānusī nu.
|
1394. “Thưa vị nữ nhân có đại
năng lực, bởi v́ nàng quan sát tôi với vẻ cảm thông và nói với
tôi rằng: ‘Ông hăy thọ dụng bữa ăn.’ V́ thế, tôi xin hỏi nàng
rằng: ‘Vậy nàng là nữ thần hay là nữ nhân loại?’” |
4. Nương tử nh́n ta vẻ thiết
thân,
Bảo ta: "Cần lấy thức này ăn",
Hỏi nàng cao cả đầy uy lực,
Là nữ nhi hay một nữ thần? |
|
1395. Devī ahaṃ saṅkha
mahānubhāvā
idhāgatā sāgaravārimajjhe,
anukampikā no ca paduṭṭhacittā
tameva atthāya idhāgatosmi.
|
1395. “Này Saṅkha, thiếp là nữ
thần có đại năng lực. Thiếp đă đi đến nơi này từ giữa làn nước
của đại dương. Là người có ḷng thương xót và không có tâm ư xấu
xa, thiếp đă đi đến nơi này v́ lợi ích của chính ông. |
5. Ta, nữ thần uy lực đại
cường,
Nơi này vội đến giữa trùng dương,
Tràn đầy từ mẫn, tâm hoan hỷ,
V́ cứu ngài trong bước cuối đường. |
|
1396. Idhannapānaṃ sayanāsanañca
yānāni nānā vividhāni saṅkha,
sabbassa tyāhaṃ paṭipādayāmi
yaṃ kiñci tuyhaṃ manasābhipatthitaṃ.
|
1396. Này Saṅkha, cơm ăn nước
uống, và chỗ nằm ngồi ở nơi này, các phương tiện di chuyển đủ
các loại khác nhau, thiếp cung cấp cho ông tất cả, bất cứ điều
ǵ được ông ước nguyện đều là của ông.” |
6. Nh́n đây thực phẩm, chốn an
lành,
Nhiều loại cỗ xe, đủ dáng h́nh,
Cho ngài làm chủ quyền tất cả,
Những ǵ ao ước tự t́m ḿnh. |
|
1397. Yaṃ kiñci yiṭṭhaṃva hutaṃ
va mayhaṃ
sabbassa no issarā tvaṃ sugatte,
sussoṇi subbhū suvilākamajjhe
kissa me kammassa ayaṃ vipāko.
|
1397. “Thưa vị nữ thần có cơ thể
xinh xắn, bất cứ vật dâng hiến hay vật cúng tế nào của tôi, nàng
là chúa tể của tất cả thiện nghiệp ấy của chúng tôi. Thưa vị nữ
thần có cặp mông xinh, có lông mày khéo, có eo thon đẹp, nghiệp
nào của tôi mà có được quả thành tựu này?” |
7. Thưa, vậy tiên nương chính
nữ hoàng,
Nắm quyền bao lễ vật nàng ban,
Mỹ nương yểu điệu, mày thanh tú,
Nghiệp quả nào ta tạo đấy chăng? |
|
1398. Ghamme pathe brāhmaṇa
ekabhikkhuṃ
ugghaṭṭapādaṃ tasitaṃ kilantaṃ,
paṭipādayī saṅkha upāhanāhi
sā dakkhiṇā kāmaduhā tavajja.
|
1398. “Này Bà-la-môn, ông đă trao
tặng đôi dép đến vị tỳ khưu bị khát nước, đang mệt nhọc, có bàn
chân bị tổn thương ở trên con đường vào mùa nóng. Này Saṅkha,
việc cúng dường ấy là nguồn ban phát các điều mong muốn của ông
ngày hôm nay.” |
8. Trên đường nóng bỏng kẻ đơn
thân,
Khát nước, mệt nhừ, lại nhức chân,
Ngài đă dừng, mang tài vật cúng,
Ngày nay lễ ấy được hồng ân. |
|
1399. Sā hotu nāvā phalakūpapannā
anavassutā erakavātayuttā,
aññassa yānassa na hettha bhūmi
ajjeva maṃ moliniṃ pāpayassu.
|
1399. “Hăy hiện ra chiếc thuyền
được tạo thành bởi những tấm ván gỗ, không bị thấm nước, được
bám chặt vào làn gió bởi cánh buồm, bởi v́ ở nơi đây không là
vùng đất cho phương tiện di chuyển nào khác. Hăy giúp cho tôi
đến được thành phố Molinī nội trong ngày hôm nay.” |
9. Xin chiếc thuyền bằng ván
khéo xây,
Thuận buồm xuôi gió, chạy như bay,
Mà không thấm nước trên đường biển
Không thể dùng xe cộ chốn đây,
Xin chở ta về Mo-lí gấp,
Làm sao vừa kịp đúng hôm nay. |
|
1400. Sā tattha vittā sumanā
patītā
nāvaṃ sucittaṃ abhinimmiṇitvā,
ādāya saṅkhaṃ purisena saddhiṃ
upānayī nagaraṃ sādhu ramman ”ti.
4. Saṅkhajātakaṃ.
|
1400. “Tại nơi ấy, ở giữa biển
khơi, vị tiên nữ ấy, với tâm vui vẻ, với thiện ư, được hài ḷng,
sau khi hóa hiện ra chiếc thuyền được tô màu khéo léo, đă đón
rước Saṅkha cùng với người hầu, rồi đă đưa đến thành phố tốt
đẹp, đáng yêu.”
4. Bổn Sanh Bà-la-môn Saṅkha.
|
10. Thần nữ hân hoan, hạnh
phúc tràn,
Làm cho xuất hiện, chiếc thuyền thần,
Đem San-kha với người hầu cận
Về đến kinh đô đẹp tuyệt trần.
Câu chuyện
442 |
|
Trang 358: |
Trang 359: |
|
1401. Yo te imaṃ visālakkhiṃ
piyaṃ sammillahāsiniṃ,
ādāya balā gaccheyya kinnu kayirāsi brāhmaṇa.
|
1401. “Thưa vị Bà-la-môn, nếu có
người dùng vơ lực bắt đem đi người phụ nữ có mắt to, đáng yêu,
có nụ cười thân thiện của ngài, th́ ngài có thể làm ǵ?” |
1. Ví thử người ta bắt quư
nương,
Mắt tṛn, và cướp khỏi Tôn ông,
Người yêu ngồi đó đang cười nụ,
Ngài sẽ làm ǵ, hỡi Đạo nhân? |
|
1402. Uppajja me na mucceyya na
me mucceyya jīvato,
rajaṃva vipulā vuṭṭhi khippameva nivāraye.
|
1402. “Nếu nó khởi lên ở tôi th́
nó không thể thoát ra, nó không thể thoát ra khỏi tôi chừng nào
tôi c̣n sống. Tựa như cơn mưa lớn dập tắt bụi bặm, tôi có thể
chặn đứng nó vô cùng nhanh chóng.” |
2. Khi đă khởi lên, nó chẳng
rời
Chẳng bao giờ nữa, suốt đời tôi,
Như cơn mưa lắng dần tro bụi,
Dập tắt nó thời mới nhú thôi. |
|
1403. Yannu pubbe vikatthittho
balamhi va apassito,
svājja tuṇhikakodāni saṅghāṭiṃ sibbamacchasi.
|
1403. “Điều mà ngài đă khoe
khoang trước đây, dường như đă được dựa vào sức mạnh. Hôm nay,
ngài đây là người im lặng. Giờ này, ngài ngồi may y hai lớp.” |
3. Ngài lớn tiếng khoe hay,
Chừng một lát trước đây,
Nay lặng thinh v́ giận
Ngài ngồi đó vá may. |
|
1404. Uppajji me na muccittha na
me muccittha jīvato,
rajaṃva vipulā vuṭṭhi khippameva nivārayiṃ.
|
1404. “Nó đă khởi lên ở tôi và đă
không thoát ra, nó đă không thoát ra khỏi tôi chừng nào tôi c̣n
sống. Tựa như cơn mưa lớn dập tắt bụi bặm, tôi đă chặn đứng nó
vô cùng nhanh chóng.” |
4. Hễ lúc nào sinh khởi nó
rồi,
Chẳng bao giờ nó chịu rời tôi,
Như cơn mưa lắng dần tro bụi,
Tôi dập nó thời mới nhỏ nhoi. |
|
1405. Kinte uppajji no mucci
kinte no mucci jīvato,
rajaṃva vipulā vuṭṭhi katamaṃ tvaṃ nivārayī.
|
1405. “Cái ǵ đă khởi lên ở ngài
và đă không thoát ra? Cái ǵ đă không thoát ra khỏi ngài chừng
nào ngài c̣n sống? Tựa như cơn mưa lớn dập tắt bụi bặm, ngài đă
chặn đứng cái ǵ?” |
5. Ǵ đó mà không thể bỏ ngài,
Chẳng bao giờ hết, suốt trong đời?
Như cơn mưa lắng dần tro bụi,
Ngài dập tắt ǵ lúc nhỏ nhoi? |
|
1406. Yamhi jāte na passati ajāte
sādhu passati,
so me uppajji no mucci kodho dummedhagocaro.
|
1406. “Cái nào khi khởi lên th́
con người không nh́n thấy, khi không khởi lên th́ con người nh́n
thấy rơ ràng, cái ấy là sự giận dữ; nó đă khởi lên ở tôi và đă
không thoát ra, nó có đối tượng là những kẻ ngu muội. |
6. Con người không nó, thấy
minh quang,
Có nó, mù đui trước nẻo đàng,
Nó khởi trong ta không thoát được,
Hận sân, nuôi dưỡng bởi si cuồng. |
|
1407. Yena jātena nandanti amittā
dukkhamesino,
so me uppajji no mucci kodho dummedhagocaro.
|
1407. Do cái nào khởi lên mà
những kẻ thù, những kẻ t́m kiếm sự khổ đau, được hân hoan, cái
ấy là sự giận dữ; nó đă khởi lên ở tôi và đă không thoát ra, nó
có đối tượng là những kẻ ngu muội. |
7. Điều ǵ làm thích thú cừu
nhân,
Kẻ muốn tâm ta phải khổ buồn,
Phát khởi trong ta không thoát được,
Hận sân, nuôi dưỡng bởi si cuồng. |
|
1408. Yasmiñca jayamānasmiṃ
sadatthaṃ nāvabujjhati,
so me uppajji no mucci kodho dummedhagocaro.
|
1408. Và khi cái nào đang được
khởi lên khiến con người không c̣n nhận biết việc có sự lợi ích,
cái ấy là sự giận dữ; nó đă khởi lên ở tôi và đă không thoát ra,
nó có đối tượng là những kẻ ngu muội. |
8. Cái điều, nếu nổi dậy trong
ḿnh.
Che khuất người ta trước hạnh lành,
Đă phát trong ta không thoát được,
Căm hờn, nuôi dưỡng bởi vô minh. |
|
1409. Yenābhibhūto kusalaṃ jahāti
parakkare vipulañcāpi atthaṃ,
sa bhīmaseno balavā pamaddī
kodho mahārāja na me amuccatha.
|
1409. Bị chế ngự bởi cái nào, con
người từ bỏ việc thiện, và c̣n bỏ bê việc lợi ích lớn lao, cái
ấy có đạo quân ghê rợn, là kẻ hủy diệt có sức mạnh, là sự giận
dữ, tâu đại vương, nó đă không thoát ra khỏi tôi. |
9. Điều làm tổn phước đức vô
song,
Khiến kẻ bị lừa bỏ lập công,
Mănh liệt, phá tan, đầy khủng khiếp,
Không rời ta nữa, ấy là sân. |
|
1410. Kaṭṭhasmiṃ matthamānasmiṃ
pāvako nāma jāyati,
tameva kaṭṭhaṃ ḍahati yasmā so jāyate gini.
|
1410. Khi thanh gỗ đang được cọ
xát th́ có cái gọi là lửa sanh ra. Chính cái ấy đốt cháy thanh
gỗ, từ đó, nó sanh ra ngọn lửa.
|
10. Ngọn lửa lên cao, sẽ lớn
hơn,
Nếu mỗi nhiên liệu được khơi tṛn,
Bởi v́ ngọn lửa lên cao măi,
Nhiên liệu tự ḿnh phải cháy luôn. |
|
Trang 360: |
Trang 361:
|
|
1411. Evaṃ mandassa posassa
bālassa avijānato,
sārambhā jāyate kodho sopi teneva ḍayhati.
|
1411. Tương tự như vậy, sự giận
dữ khởi lên từ sự nóng nảy của kẻ đần độn, ngu dốt, không nhận
thức, kẻ ngu dốt ấy cũng bị đốt nóng bởi chính sự giận dữ.
|
11. Cũng vậy trong tâm trí kẻ
đần,
Người không có thể nhận chân ra rằng
Phát sinh phẫn nộ từ tranh căi
Bởi vậy thanh danh phải bại tàn. |
|
1412. Aggīva tiṇakaṭṭhasmiṃ kodho
yassa pavaḍḍhati,
nihīyati tassa yaso kāḷapakkheva candimā.
|
1412. Ví như ngọn lửa gia tăng ở
cỏ và củi, kẻ nào có sự giận dữ gia tăng, th́ danh tiếng của kẻ
ấy bị sút giảm, tựa như mặt trăng thuộc hạ huyền bị khuyết dần. |
12. Phẫn nộ nào tăng tựa lửa
hừng
Với mồi than củi cháy bừng bừng,
Như trăng nửa tháng đêm trời tối,
Đức hạnh tiêu hao, hủy hoại dần. |
|
1413. Anindho dhūmaketuva kodho
yassūpasammati,
āpūrati tassa yaso sukkapakkheva candimā ”ti.
5. Cullabodhijātakaṃ.
|
1413. Ví như ngọn lửa không có
nhiên liệu, người nào có sự giận dữ được yên lặng, th́ danh
tiếng của người ấy trở nên đầy đủ, tựa như mặt trăng thuộc
thượng huyền được tṛn dần.”
5. Bổn Sanh Tiểu Giác Ngộ.
|
13. Người nào chế ngự được
ḷng sân,
Như lửa mà không có củi than,
Như trăng nửa tháng trời dần sáng,
Công đức người kia cứ măi tăng.
Câu chuyện
443 |
|
1414. Sattāhamevāhaṃ pasannacitto
puññatthiko acariṃ brahmacariyaṃ,
athāparaṃ yaṃ caritaṃ mamayidaṃ
vassāni paññāsa samādhikāni
akāmako vāpi ahaṃ carāmi,
etena saccena suvatthi hotu
hataṃ visaṃ jīvatu yaññadatto.
|
1414. “Là người mong mỏi phước
báu, có tâm tịnh tín, tôi đă thực hành Phạm hạnh trong bảy ngày.
Rồi việc thực hành khác nữa của tôi là năm mươi năm về thiền
định. Mặc dầu không có sự mong muốn, tôi cũng vẫn thực hành
(Phạm hạnh). Do sự chân thật này, cầu mong có sự an lành, chất
độc được tiêu tan, bé trai Yaññadatta hăy sống.” |
1. Bảy ngày tâm trí thật thong
dong,
Thanh tịnh sống đời ước lập công,
Từ đó năm mươi năm ẩn dật,
Chú tâm ta bộc bạch lời chân;
Nơi đây ta sống dù không muốn,
Lời thật này mong tạo phước ân,
Khiến nọc độc không c̣n hiệu lực,
Cậu trai này sẽ tỉnh lên dần. |
|
1415. Yasmā dānaṃ nābhinandiṃ
kadāci
disvānāhaṃ atithiṃ vāsakāle,
na cāpi me appiyataṃ aveduṃ
bahussutā samaṇā brahmanā ca
akāmako vā hi ahaṃ dadāmi,
etena saccena suvatthi hotu
hataṃ visaṃ jīvatu yaññadatto.
|
1415. “Mặc dù tôi không bao giờ
thích thú việc bố thí khi tôi nh́n thấy người khách lạ vào thời
điểm họ đi t́m chỗ ngụ, và ngay cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn
học rộng cũng đă không biết được tâm trạng không ưa thích của
tôi. Mặc dầu không có sự mong muốn, tôi cũng vẫn bố thí. Do sự
chân thật này, cầu mong có sự an lành, chất độc được tiêu tan,
con trai Yaññadatta hăy sống.” |
2. Chẳng chút quan tâm vật
cúng dường
Ta đem đăi mọi khách qua đường,
Song người hiền trí chưa hề biết
Ta đă tự kiềm chế bản thân;
Dù bố thí, ta ḷng miễn cưỡng,
Cầu mong lời thật tạo hồng ân,
Làm cho nọc độc thành vô hiệu,
Thằng bé này đây được tỉnh dần. |
|
1416. Āsīviso tāta pahūtatejo
yo taṃ adaṃsi bilarā udicca
tasmiñca me appiyatāya ajja,
pitarañca te natthi koci viseso
etena saccena suvatthi hotu
hataṃ visaṃ jīvatu yaññadatto.
|
1416. “Này con thương, con rắn
độc có nhiều oai lực đă cắn con sau khi phóng ra khỏi hang, và
tâm trạng không ưa thích của mẹ ngày hôm nay đối với con rắn
cũng như đối với cha con là không có ǵ khác biệt. Do sự chân
thật này, cầu mong có sự an lành, chất độc được tiêu tan, con
trai Yaññadatta hăy sống.” |
3. Rắn nọ cắn con mới năy giờ,
Nằm trong lỗ ấy hỡi con thơ,
Và cha con đó, này ta bảo,
Là một, trong tim mẹ hững hờ,
Mong sự thật này mang phươc đức,
Nọc tan, con trẻ tỉnh hồn mơ! |
|
1417. Santā dantā yeva
paribbajanti
aññatra kaṇhā anakāmarūpā,
dīpāyana kissa jigucchamāno
akāmako carasi brahmacariyaṃ.
|
1417. “Các bậc an tịnh, đă được
rèn luyện, xuất gia (ĺa thế tục), không có vẻ là không mong
muốn, ngoại trừ vị Kaṇhā. Thưa ngài Dīpāyana, trong khi ngài
chán ghét, không mong muốn (việc tu tập), v́ lư do ǵ ngài vẫn
thực hành Phạm hạnh?”
|
4. Người ta xuất thế, trí
quang minh,
Thuần thục, tâm không chút bất b́nh,
Trừ bạn Kan-ha, sao thối chất,
Chẳng mong tiến bước đạo tu hành? |
|
Trang 362:
|
Trang 363:
|
|
1418. Saddhāya nikkhamma punaṃ
nivatto
so eḷamūgova bālo vatāyaṃ,
etassa vādassa jigucchamāno
akāmako carāmi brahmacariyaṃ,
viññuppasatthañca satañca ṭhānaṃ
evampahaṃ puññakaro bhavāmi.
|
1418. “Sau khi ra đi v́ niềm tin,
kẻ nào quay trở lại (cuộc sống thế tục), kẻ ấy tựa như người
điếc và câm; người này quả thật là kẻ ngu si! Bởi v́ lời nói ấy,
trong khi ta chán ghét, không mong muốn (việc tu tập), ta vẫn
thực hành Phạm hạnh. C̣n có sự ca ngợi của những người hiểu biết
và địa vị dành cho những người tốt; dầu là như vậy, ta cũng là
người tạo được nghiệp thiện.
|
5. Xuất thế rồi quay lại cơi
trần,
Chắc người ta nghĩ: "Kẻ ngu đần!",
Chính điều này khiến ta lùi bước,
Ta vẫn hành tŕ đạo Thánh nhân
Tuy vậy ta không c̣n phát nguyện,
Ta theo Thánh đạo bởi nguyên nhân:
Được lời khen ngợi từ người trí,
Là cách người hiền thiện trú thân. |
|
1419. Samaṇe tuvaṃ brāhmaṇe
addhike ca
santappayāsi annapānena bhikkhaṃ,
opānabhūtaṃ ca gharaṃ tavayidaṃ
annena pānena upetarūpaṃ,
atha kissa vādassa jigucchamāno
akāmako dānamimaṃ dadāsi.
|
1419. Ông đă làm hài ḷng các vị
Sa-môn, các vị Bà-la-môn, và các khách lữ hành về vật thực với
cơm ăn và nước uống. Và ngôi nhà này của ông có h́nh thức như là
cái giếng nước đầy đủ cơm ăn và nước uống. Vậy th́, bởi v́ lời
nói ǵ mà trong khi ông chán ghét, không mong muốn (việc bố
thí), ông vẫn ban phát việc bố thí này?” |
6. Nhà bạn đây như thể quán
ăn,
Chứa đồ ẩm thực để cung dâng
La-môn, trí giả cùng du khách,
Thỏa măn cơn khao khát, đói ḷng,
Xong sợ điều ǵ gây tiếng xấu,
Nên ḷng miễn cưỡng lại cho không. |
|
1420. Pitaro ca me āsuṃ pitāmahā
ca
saddhā ahū dānapatī vadaññū
taṃ kullavattaṃ anuvattamāno,
māhaṃ kule antimagandhino ahuṃ
etassa vādassa jigucchamāno
akāmako dānamimaṃ dadāsi.
|
1420. “Cha và ông nội của tôi đă
là những người có niềm tin, đă là những người thí chủ rộng
lượng. Trong khi tiếp nối truyền thống ấy của gia tộc, chớ để
tôi trở thành kẻ hủ bại nhất trong gia tộc! Bởi v́ lời nói ấy,
trong khi tôi chán ghét, không mong muốn (việc bố thí), tôi vẫn
ban phát việc bố thí này.” |
7. Giữ ǵn Thánh hạnh các cha
ông,
Là thí chủ ban phát rộng ḷng,
Theo gót xưa, ta đầy cẩn trọng,
Sinh thời đường lối của gia tông,
Sợ ḿnh sẽ biến thành suy thoái,
Nên miễn cưỡng ḷng vẫn biếu không. |
|
1421. Dahariṃ kumāriṃ
asamatthapaññaṃ
yaṃ tānayiṃ ñātikulā sugatte
na cāpi me appiyataṃ avedi,
aññatra kāmā paricārayantī
atha kena vaṇṇena mayā te hoti
saṃvāsadhammo ahu evarūpo.
|
1421. “Hỡi cô nàng có cơ thể xinh
xắn, ta đă rước nàng, người thiếu nữ trẻ trung có trí tuệ c̣n
chưa đầy đủ, từ thân quyến gia tộc. Nàng cũng đă không cho biết
về t́nh trạng không yêu mến đối với ta, trong khi nàng hầu hạ ta
không có sự mong muốn. Vậy bởi v́ lư do ǵ mà t́nh trạng sống
chung của nàng với ta đă có h́nh thức như vậy?” |
8. Khi c̣n thiếu nữ trí ngây
thơ,
Ta cưới bà về tự nhạc gia,
Bà chẳng bảo ḷng ta lănh đạm
Làm sao bà sống cả đời bà,
Không t́nh gắn bó, không thương mến,
Bà đă v́ đâu ở lại nhà,
Hỡi quí phu nhân đầy yểu điệu,
Sống đời lạnh lẽo thế cùng ta. |
|
1422. Ārā dūre na idha kadāci
atthi
paramparā nāma kule imasmiṃ
taṃ kullavattaṃ anuvattamānā,
māhaṃ kule antimagandhinī ahuṃ
etassa vādassa jigucchamānā
akāmikā baddhacarāsmi tuyhaṃ.
|
1422. “Từ thời xa xưa, không bao
giờ có việc gọi là thay đổi chồng ở gia tộc này. Trong khi tiếp
nối truyền thống ấy của gia tộc, chớ để thiếp trở thành kẻ kẻ hủ
bại nhất trong gia tộc! Bởi v́ lời nói ấy, trong khi thiếp chán
ghét, không mong muốn, thiếp vẫn là người làm công việc hầu hạ
đối với chàng. |
9. Chẳng phải là nề nếp cổ
phong,
Cho người làm vợ lại thay chồng,
Chẳng bao giờ thế, nên tôi vẫn,
Giữ thói lề kia, kẻo ngại rằng
Tôi bị người xem là thoái hóa,
Chính niềm lo sợ tiếng đồn hung,
Khiến tôi ở lại và chung sống
Chẳng có t́nh yêu, vẫn lạnh lùng. |
|
1423. Maṇḍavya bhāsissaṃ
abhāsaneyyaṃ
taṃ khamyataṃ puttahetu mamajja,
puttapemā na idha paratthi kiñci
so no ayaṃ jīvati yaññadatto ”ti.
6. Kaṇhadīpāyanajātakaṃ.
|
1423. Này chàng Maṇḍavya, thiếp
đă nói lời không nên nói. Mong chàng hăy tha thứ điều ấy cho
thiếp hôm nay v́ nguyên nhân của đứa con trai. Ở đây, không có
bất cứ cái ǵ khác so với t́nh thương dành cho đứa con trai. Lời
nói ấy đối với chúng ta là Yaññadatta này được sống.”
6. Bổn Sanh Ẩn Sĩ Kaṇhadīpāyana.
|
10. Giờ đây thiếp lỡ nói rồi,
Những điều chẳng đáng nên lời nói ra
V́ con, mong ước thứ tha,
Không ǵ hơn được mẹ cha nồng t́nh,
Yan-na, con của chúng ḿnh
Trước đây đă chết, hồi sinh bây giờ!
Câu chuyện
444 |
|
Trang 364:
|
Trang 365:
|
|
1424. Na cāhametaṃ jānāmi kovāyaṃ
kassa cāti vā,
yathā sākho vadī evaṃ nigrodha kinti maññasi.
|
1424. “‘Ta không biết người này.
Người này là ai hay là thuộc về ai?’ Giống như Sākha đă nói, này
bạn Nigrodha, như vậy bạn nghĩ thế nào? |
1. Người đó là ai, ta chẳng
hay,
Ai là thân phụ của người đây,
Nhành c̣n hỏi: Nó là ai đó?
Đa hỡi, nghĩ sao trước việc này? |
|
1425. Tato galavinītena purisā
nīhariṃsu maṃ,
datvā mukhapahārāni sākhassa vacanaṃ karā.
|
1425. Do bị nắm lấy ở cổ, các gia
nhân, những kẻ tuân hành lệnh của Sākha, đă quẳng tôi ra khỏi
nơi đó, sau khi đă cho những cú đấm vào mặt của tôi. |
2. Đầy tớ Nhành kia cứ y lời
Đấm, thoi, tát, đánh khắp người tôi,
Rồi c̣n chụp lấy tôi vào cổ,
Từ đó lôi tôi quẳng phía ngoài. |
|
1426. Etādisaṃ dummatinā
akataññūna dubbhinā,
kataṃ anariyaṃ sākhena sākhinā te janādhipa.
|
1426. Tâu quân vương, việc không
cao thượng như thế ấy đă được thực hiện bởi kẻ có tâm xấu xa, kẻ
vô ơn bạc nghĩa Sākha, bạn của bệ hạ.” |
3. Phản bội như vầy đối với
tôi,
Chỉ người độc ác mới làm thôi,
Vong ân bạc nghĩa là ô nhục,
Gă cũng bạn ngài, Chúa thượng ôi! |
|
1427. Na vāhametaṃ jānāmi napi me
koci saṃsati,
yamme tvaṃ samma akkhāsi sākhena kaḍḍhanaṃ kataṃ.
|
1427. “Này khanh, Trẫm không biết
việc này, và cũng không ai tấu cho trẫm việc mà khanh vừa nói
với trẫm, là việc kéo đi do Sākha đă làm.” |
4. Ta chẳng hề nghe, cũng
chẳng hay
Một ai từng nói chuyện như vầy,
Xấu xa như bạn đang tường thuật,
Nhành ấy vừa làm tại chốn đây. |
|
1428. Sakhīnaṃ sājīvakaro mama
sākhassa cūbhayaṃ,
tvaṃ no issariyaṃ dātā manusessu mahaggataṃ,
tayamhā labhitā iddhi ettha me natthi saṃsayo.
|
1428. Khanh là người tạo ra cuộc
sống cho bạn bè, cho cả hai người là trẫm và Sākha. Khanh là
người ban cho chúng tôi vương quyền, địa vị quan trọng ở loài
người. Quyền uy của chúng tôi đă đạt được là do bạn, về việc này
trẫm không có hoài nghi. |
5. Bạn cùng ta, sống với
Sàk-kha,
Đồng bọn chí t́nh thưở đă qua,
Bạn đă giành phần cho mỗi một,
Hướng quyền vương tước, tặng hai ta,
Vinh quang ta được là nhờ bạn,
C̣n có ǵ nghi hoặc nữa mà. |
|
1429. Yathāpi bījaṃ aggismiṃ
ḍayhati na virūhati,
evaṃ kataṃ asappurise nassati na virūhati.
|
1429. Cũng giống như hạt giống bị
đốt cháy ở ngọn lửa th́ không nảy mầm, tương tự như vậy, việc đă
làm cho người xấu th́ bị tiêu hoại, không tăng trưởng. |
6. Khi hạt ném trong ngọn lửa
hồng,
Cháy rồi, hạt chẳng thể gieo trồng
Ta làm việc thiện cho người ác,
Cũng vậy, nó tàn lụi diệt vong. |
|
1430. Kataññumhi ca posamhi
sīlavante ariyavuttine,
sukhette viya bījāni kataṃ tamhi na nassati.
|
1430. C̣n ở người biết ơn, có
giới, có hành vi cao thượng, th́ việc đă làm cho người ấy không
bị tiêu hoại, ví như các hạt giống được gieo ở thửa ruộng tốt.” |
7. Chúng chẳng như nhiều kẻ
biết ơn,
Những người đức hạnh, bậc hiền lương,
Đất lành, hạt chẳng hề quăng bỏ,
Như việc làm cho các thiện nhơn. |
|
1431. Imañca jammaṃ nekatikaṃ
asappurisacintakaṃ,
hanantu sākhaṃ satthīhi nāssa icchāmi jīvitaṃ.
|
1431. “Các khanh hăy dùng các cây
giáo giết chết gă Sākha hạ tiện này, kẻ lường gạt, kẻ có suy
nghĩ của tiện nhân, trẫm không muốn gă này sống.” |
8. Tóm tên hèn hạ bội ân này,
Tư tưởng nó đà xấu ác thay,
Đâm nó! V́ ta cho nó chết,
Nghĩa ǵ đời nó với ta đây? |
|
1432. Khamyatassa mahārāja pāṇā
duppaṭiānayā,
khama deva asappurisassa nāssa icchāmahaṃ vadhaṃ.
|
1432. “Tâu đại vương, xin hăy tha
thứ cho kẻ này, bởi v́ mạng sống (của người đă chết) là khó lấy
lại. Tâu bệ hạ, xin ngài tha thứ cho kẻ xấu, thần không mong
muốn cái chết của gă này.” |
9. Đại vương, mong mở lượng từ
bi,
Thật khó t́m đời sống mất đi,
Chúa thượng dung tha cho nó sống,
Thần mong thằng khốn chẳng sầu chi. |
|
1433. Nigrodhameva seveyya na
sākhamupasaṃvase,
nigrodhasmiṃ mataṃ seyyo yañce sākhasmi jīvitan ”ti.
7. Nigrodhajātakaṃ.
|
1433. “Con nên phục vụ chỉ riêng
Nigrodha, chớ có sống thân cận với Sākha. Thà bị chết ở nơi
Nigrodha c̣n tốt hơn nếu phải sống cùng Sākha.”
7. Bổn Sanh Vua Nigrodha.
|
10. Ta cần sống với Ni-gro-dha
Chẳng tốt ǵ hầu hạ Sà-kha,
Nếu phải sống cùng Nhành, đại tướng,
Thà nên chịu chết với vua Đa.
Câu chuyện
445 |
|
Trang 366:
|
Trang 367:
|
|
1434. Na takkaḷā santi na ālupāni
na biḷāliyo na kalambāni tāta,
eko araññamhi susānamajjhe
kimatthiko tāta khaṇāsi kāsuṃ.
|
1434. “Thưa cha, không có củ
takkaḷa, không có củ
ālupa, không có củ
biḷāli, không có củ
kalamba. Thưa cha, một ḿnh ở
trong rừng, giữa nơi mộ địa, cha đào cái hố v́ mục đích ǵ?”
|
1. Chẳng rau để luộc, cũng
không hành,
Chẳng bạc hà, cây để nấu canh,
Nếu chẳng cần, sao cha bới đất
Một ḿnh, trong nghĩa địa rừng xanh? |
|
1435. Pitāmaho tāta sudubbalo te
anekavyādhīhi dukhena phuṭṭho,
tamajjahaṃ nikhaṇissāmi sobbhe
na hissa taṃ jīvitaṃ rocayāmi.
|
1435. “Này con, bị tác động bởi
sự khổ đau do nhiều căn bệnh, ông nội của con có sức khỏe rất
kém. Hôm nay, cha sẽ chôn ông ở trong huyệt, bởi v́ cha không
vui thích khi ông nội có cuộc sống như thế ấy.” |
2. Ông nội già nua, quá yếu
gầy,
Do nhiều bệnh hoạn, khổ tràn đầy,
Cha chôn ông nội trong mồ đó,
Cha chẳng muốn ông sống thế này. |
|
1436. Saṅkappametaṃ paṭiladdha
pāpaṃ
accāhitaṃ kamma karosi luddaṃ,
mayāpi tāta paṭilacchase tuvaṃ
etādisaṃ kamma jarūpanīto,
taṃ kullavattaṃ anuvattamāno
ahampi taṃ nikhaṇissāmi sobbhe.
|
1436. “Cha gây nên nghiệp vô cùng
tai hại, tàn bạo, sau khi đạt đến ư định độc ác ấy. Thưa cha,
cha cũng sẽ nhận lănh nghiệp như thế ấy do con, khi cha đă già.
Trong khi tiếp nối truyền thống ấy của gia tộc, con cũng sẽ chôn
cha ở trong huyệt.” |
Cha cầu việc ấy, tội đà gây,
V́ việc làm này độc ác thay!
3. Con sẽ thờ cha lúc tuổi già
Như cha đối xử với ông nhà,
Theo phong tục ấy trong gia tộc,
Con cũng chôn cha dưới hố mà. |
|
1437. Pharusāhi vācāhi
pakubbamāne
āsajja maṃ tvaṃ vadase kumāra,
putto mama orasako samāno
ahitānukampi me tvaṃsi putta.
|
1437. “Này con trẻ, trong khi làm
vậy, con đă công kích và nói với cha bằng những lời nói độc ác.
Này con trai, trong khi là con trai ruột của cha, con cũng đă
không có ḷng thương tưởng đến sự lợi ích của cha.” |
4. Thằng bé nói lời ác nghiệt
thay,
Ông cha sao mắng mỏ như vầy!
Nghĩ rằng con trẻ rầy la bố,
Với bạn chí t́nh, tệ lắm đây! |
|
1438. Na tāhaṃ tāta ahitānukampī
hitānukampi te ahaṃpi tāta,
pāpañca taṃ kamma pakubbamānaṃ
arahāmi no vārayituṃ tato hi.
|
1438. “Thưa cha, không phải là
con không có ḷng thương tưởng đến sự lợi ích của cha. Thưa cha,
con cũng có ḷng thương tưởng đến sự lợi ích của cha. Trong khi
cha đang làm hành động độc ác ấy, con có khả năng để cản ngăn
chúng ta khỏi làm công việc ấy.” |
5. Con không tồi tệ hoặc hung
tàn,
Con đối với cha, dạ thiết thân,
Nhưng việc này cha làm đại ác,
Sức nào gỡ lại, nếu sai lầm? |
|
1439. Yo mātaraṃ pitaraṃ vā
vasiṭṭha
adūsake hiṃsati pāpadhammo,
kāyassa bhedā abhisamparāyaṃ
asaṃsayaṃ so nirayaṃ pareti.
|
1439. Này Vasiṭṭha, kẻ nào có bản
tánh độc ác, hăm hại mẹ hoặc cha, những người không đồi bại, do
sự hoại ră của thân, vào kiếp kế tiếp, kẻ ấy sẽ đi đến địa ngục
một cách chắc chắn. |
6. Người ác ư làm, hỡi
Vat-tha,
Hại người vô tội, mẹ cùng cha,
Đến khi người ấy thân vong hoại,
Địa ngục phải vào, chắc chẳng xa. |
|
1440. Yo mātaraṃ pitaraṃ vā
vasiṭṭha
annena pānena upaṭṭhahāti,
kāyassa bhedā abhisamparāyaṃ
asaṃsayaṃ so sugatiṃ pareti.
|
1440. Này Vasiṭṭha, người nào
phụng dưỡng mẹ hoặc cha với cơm ăn và nước uống, do sự hoại ră
của thân, vào kiếp kế tiếp, kẻ ấy sẽ đi đến cảnh giới an vui một
cách chắc chắn.” |
7. Người dùng cơm nước, hỡi
Vat-tha,
Đem phụng dưỡng luôn mẹ với cha,
Người ấy đến khi thân hủy hoại,
Sẽ lên Thiên giới hiển nhiên mà. |
|
1441. Na me tvaṃ putta
ahitānukampī
hitānukampi me tvaṃsi putta,
ahañca taṃ mātarā vuccamāno
etādisaṃ kamma karomi luddaṃ.
|
1441. “Này
con trai, không phải là cha không có ḷng thương tưởng đến sự
lợi ích của con. Này con trai, con cũng có ḷng thương tưởng đến
sự lợi ích của cha. Và cha, trong khi bị mẹ của con xúi giục,
cha mới gây nên nghiệp tàn bạo như thế ấy.”
|
8. Thấy con không tàn nhẫn,
vong ơn,
Đối với cha đầy dạ mến thương,
Chính bởi cha vâng lời của mẹ,
Định làm việc ác thật kinh hồn. |
|
Trang 368: |
Trang 369:
|
|
1442. Yā te sā bhariyā
anariyarūpā
mātā mamesā sakiyā janetti,
niddhāpayetaṃ sakā agārā
aññampi te sā dukhamāvaheyya.
|
1442. “Người vợ của cha có vẻ
không thánh thiện. Bà ấy là mẹ của con, là người mẹ ruột. Cha
nên đuổi bà ấy ra khỏi nhà của ḿnh. Bà ấy c̣n có thể đem lại
cho cha sự khổ đau khác nữa.” |
9. Vợ cha là ác phụ vô lương,
Bà đă sinh con, chính mẹ con,
Ta hăy đuổi bà ra khỏi cửa,
Sợ bà gây việc khác cha buồn. |
|
1443. Yā te sā bhariyā
anariyarūpā
mātā mamesā sakiyā janetti,
dantā kareṇūva vasūpanītā
sā pāpadhammā punarāvajātū ”ti.
8. Takkalajātakaṃ.
|
1443. “Người vợ của cha có vẻ
không thánh thiện. Bà ấy là mẹ của con, là người mẹ ruột. Tựa
như con voi cái đă được huấn luyện, đă được khép vào kỷ cương,
hăy cho người dàn bà có bản tánh xấu xa ấy trở về nhà.”
8. Bổn Sanh Củ
Takkaḷa.
|
10. Bà vợ cha ḱa, bạc ác
thay,
Người sinh con trẻ, chính là đây,
Như voi được luyện rất thuần thục,
Cho trở lui, người tội lỗi này.
Câu chuyện
446 |
|
1444. Kinte vataṃ kimpana
brahmacariyaṃ
kissa suciṇṇassa ayaṃ vipāko,
akkhāhi me brāhmaṇa etamatthaṃ
kasmā hi tumhaṃ daharā na mīyare.
|
1444. “Phận sự ǵ của ngài, và
Phạm hạnh ǵ, thiện hạnh ǵ đem lại quả thành tựu này? Thưa
Bà-la-môn, xin ngài hăy giải thích cho tôi về sự việc này, v́
sao những người trẻ của ngài không bị chết (lúc c̣n trẻ)?”
|
1. Tục lệ nào hay Thánh đạo
nào
Quả này do thiện nghiệp từ đâu?
Bà-la-môn, nói ta duyên cớ
Người trẻ trong ḍng chẳng chết sao? |
|
1445. Dhammaṃ carāma na musā
bhaṇāma
pāpāni kammāni vivajjayāma,
anariyaṃ parivajjemu sabbaṃ
tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.
|
1445. “Chúng tôi thực hành thiện
pháp, chúng tôi không nói lời dối trá, chúng tôi từ bỏ hẳn các
việc làm độc ác, chúng tôi lánh xa tất cả việc không thánh
thiện; chính v́ thế, những người trẻ của chúng tôi không bị chết
(lúc c̣n trẻ).” |
2. Ta không lời dối, sống hiền
chân,
Mọi ác nghiệp xa lánh, chẳng gần,
Điều bất thiện ta đều tránh cả,
Nên không ai chết giữa thanh xuân. |
|
1446. Suṇoma dhammaṃ asataṃ sataṃ
ca
na cāpi dhammaṃ asataṃ rocayāma,
hitvā asante na jahāma sante
tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.
|
1446. Chúng tôi nghe giáo lư của
những kẻ không tốt và của những vị tốt, những chúng tôi không
vui thích giáo lư của những kẻ không tốt. Sau khi từ bỏ những kẻ
không tốt và không từ bỏ những vị tốt; chính v́ thế, những người
trẻ của chúng tôi không bị chết (lúc c̣n trẻ). |
3. Nghe việc người ngu lẫn trí
nhân,
Việc người ngu trí chẳng quan tâm,
Ta theo bậc trí, ngu ta bỏ,
Nên chẳng ai người chết giữa xuân. |
|
1447. Pubbeva dānā sumanā bhavāma
dadampi ce attamanā bhavāma,
datvāpi ce nānutappāma pacchā
tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.
|
1447. Ngay trước việc bố thí,
chúng tôi vui mừng; và trong lúc bố thí, chúng tôi hoan hỷ; bố
thí xong, chúng tôi không hối tiếc sau đó; chính v́ thế, những
người trẻ của chúng tôi không bị chết (lúc c̣n trẻ). |
4. Trước khi bố thí, dạ hân
hoan,
Ḷng thật vui mừng lúc phát phân,
Khi bố thí xong, không hối tiếc,
Nên không ai chết giữa thanh xuân. |
|
1448. Samaṇe mayaṃ brāhmaṇe
addhike ca
vaṇibbake yācanake daḷidde,
annena pānena abhitappayāma
tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.
|
1448. Chúng tôi làm hài ḷng các
vị Sa-môn, các vị Bà-la-môn, các khách lữ hành, những người cùng
khổ, những người ăn xin, những người nghèo đói với cơm ăn và
nước uống; chính v́ thế, những người trẻ của chúng tôi không bị
chết (lúc c̣n trẻ).
|
5. Ta mời đám lữ khách,
La-môn,
Khất sĩ, Sa-môn, mọi kẻ cần,
Ta đăi uống, ăn, người đói khát,
Nên không ai chết giữa thanh xuân. |
|
Trang 370:
|
Trang 371:
|
|
1449. Mayañca bhariyā nātikkamāma
amhe ca bhariyā nātikkamanti,
aññatra tāhi brahmacariyaṃ carāma
tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.
|
1449. Chúng tôi không phản bội
những người vợ, và những người vợ không phản bội chúng tôi,
ngoài những người vợ ấy ra, chúng tôi ǵn giữ sự thanh khiết
(đối với những người phụ nữ khác); chính v́ thế, những người trẻ
của chúng tôi không bị chết (lúc c̣n trẻ). |
6. Cưới vợ, không khao khát vợ
người,
Giữ lời loan phụng đă thề bồi,
Vợ hiền tiết hạnh ṭng phu cả,
Nên các con không sớm bỏ đời. |
|
1450. Pāṇātipātā viramāma sabbe
loke adinnaṃ parivajjayāma,
amajjapā no ca musā bhaṇāma
tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.
|
1450. Tất cả chúng tôi chừa bỏ
việc giết hại mạng sống, chúng tôi lánh xa việc trộm cắp ở thế
gian, không có việc uống chất say, và không có việc chúng tôi
nói dối; chính v́ thế, những người trẻ của chúng tôi không bị
chết (lúc c̣n trẻ). |
|
|
1451. Etāsu ce jāyare suttamāsu
medhāvino honti pahūtapaññā,
bahussutā vedaguno ca honti
tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.
|
1451. Những đứa con sanh ra từ
những người phụ nữ tuyệt vời ấy là những người thông minh, có
nhiều trí tuệ, học rộng, và hiểu biết sâu sắc; chính v́ thế,
những người trẻ của chúng tôi không bị chết (lúc c̣n trẻ). |
7. Con được sinh từ vợ chính
chuyên,
Tài cao, học rộng, xứng danh hiền,
Vệ-đà thông thạo, con toàn hảo,
Nên chẳng ĺa đời giữa thiếu niên. |
|
1452. Mātāpitā ca bhaginī bhātaro
ca
puttā ca dārā ca mayañca sabbe,
dhammaṃ carāma paralokahetu
tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.
|
1452. Những người mẹ, những người
cha, những chị em gái, những anh em trai, những người con trai,
những người vợ, và tất cả chúng tôi thực hành thiện pháp v́
nguyên nhân của đời sau; chính v́ thế, những người trẻ của chúng
tôi không bị chết (lúc c̣n trẻ). |
8. Gắng làm chân chánh đạt cao
thiên,
Sống vậy, từ cha đến mẹ hiền,
Đến mọi gái trai, anh chị nữa,
Nên không ai chết giữa thanh niên. |
|
1453. Dāsā ca dasso anujīvino ca
paricārakā kammakarā ca sabbe,
dhammaṃ caranti paralokahetu
tasmā hi amhaṃ daharā na mīyare.
|
1453. Các tôi trai, các tớ gái,
và những người sống phụ thuộc, những người hầu cận, và những
người làm công, tất cả đều thực hành thiện pháp v́ nguyên nhân
của đời sau; chính v́ thế, những người trẻ của chúng tôi không
bị chết (lúc c̣n trẻ). |
9. Mong cầu thiên giới, các
gia nhân,
Trai gái thảy đều sống thiện lương,
Ngay bọn nô tỳ thấp kém nhất,
Nên không ai chết giữa thanh xuân. |
|
1454. Dhammo have rakkhati
dhammacāriṃ
dhammo suciṇṇo sukhamāvahāti,
esānisaṃso dhamme suciṇṇe
na duggatiṃ gacchati dhammacārī.
|
1454. Thật vậy, thiện pháp hộ tŕ
người có sự thực hành thiện pháp. Thiện pháp khéo được thực hành
đem lại sự an lạc. Điều này là quả báu khi thiện pháp khéo được
thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến cảnh
giới khổ đau. |
10. Chánh đạo cứu ai hướng
chánh chân,
Khéo hành Chánh đạo đạt hồng ân,
Phúc này ban tặng người làm chánh,
Người chánh không vào chốn khổ thân. |
|
1455. Dhammo have rakkhati
dhammacāriṃ
chattaṃ mahantaṃ viya vassakāle,
dhammena gutto mama dhammapālo
aññassa aṭṭhīni sukhī kumāro ”ti.
9. Mahādhammapālajātakaṃ.
|
1455. Thật vậy, thiện pháp hộ tŕ
người có sự thực hành thiện pháp, ví như chiếc lọng to lớn bảo
vệ con người vào thời điểm của cơn mưa. Con trai Dhammapāla của
tôi được bảo vệ bởi thiện pháp; các khúc xương là của người
khác, con trai của tôi được an vui.”
9. Đại Bổn Sanh Dhammapāla.
|
11. Đạo đức hộ pḥ bậc chánh
nhân,
Như cây che bóng giữa mưa tràn,
Thằng con sống được nhờ hành thiện,
Tâm thiện cho người Hộ Pháp-an;
C̣n đó là xương khô kẻ khác,
Đống xương Tôn giả mới vừa mang.
Câu chuyện
447 |
|
Trang 372:
|
Trang 373:
|
|
1456. Nāsmase katapāpamhi nāsmase
alikavādine,
nāsmasattaṭṭhapaññamhi atisantepi
nāsmase.
|
1456. “Không nên tin cậy người
làm ác, không nên tin cậy người nói không thật, không nên tin
cậy người chỉ biết lợi ích của bản thân, thậm chí không nên tin
cậy người quá an tịnh. |
1. Đừng đặt ḷng tin bọn dối
lừa,
Những ai chỉ biết lời riêng tư,
Hoặc người đă phạm nhiều điều ác,
Những kẻ tỏ ra quá phụng thờ. |
|
1457. Bhavanti heke purisā
gopipāsakajātikā,
ghasanti maññe mittāni vācāya na ca kammunā.
|
1457. Thật vậy, có nhiều người có
bản tính thèm khát của loài ḅ. Tôi nghĩ rằng họ làm vui ḷng
các bạn bè bằng lời nói mà không bằng hành động. |
2. Lắm kẻ bản tâm giống lũ ḅ,
Tràn đầy khao khát với tham ô,
Nói lời thành thật nâng niu bạn,
Song chẳng hề hành động thế mà. |
|
1458. Sukkhañjalī paggahītā
vācāya paḷiguṇṭhitā,
manussapheggu nāsīde yasmiṃ natthi kataññutā.
|
1458. Những người ch́a ra bàn tay
khô khan, che đậy bằng lời nói, là những người vô tích sự, không
nên thân cận hạng người không có sự biết ơn. |
3. Bọn chúng ch́a tay lạnh
trống trơn,
Nói lời che dấu cả tâm hồn,
Bọn người phù phiếm, ta nên tránh,
Những kẻ không hề biết nhớ ơn. |
|
1459. Na hi aññañña cittānaṃ
itthīnaṃ purisāna vā,
nānāva katvā saṃsaggaṃ tādisampi nāsmase.
|
1459. Không nên thiết lập sự giao
thiệp chặt chẽ với những người nữ, hoặc với những người nam có
tâm thay đổi, thậm chí không nên tin cậy người như thế ấy.
|
4. Nam nữ nào tâm chóng đổi
thay,
Đừng tin tưởng các bọn người này,
Cũng đừng tin kẻ theo chiều hướng
Làm hiệp ước rồi lại phá ngay. |
|
1460. Anariyakammaṃ okkantaṃ
atthetaṃ sabbaghātinaṃ,
nisitaṃva paṭicchannaṃ tādisampi nāsmase.
|
1460. Người phạm đến hành động
không thánh thiện, (có lời nói) không quả quyết, là người giết
hại tất cả (khi đạt được cơ hội), tựa như giươm bén được che
đậy, thậm chí không nên tin cậy người như thế ấy. |
5. Người bước theo đường ác
vẫn đi
Đến làm mọi việc cực gian nguy,
Liều thân, vô định, đừng tin nó,
Kiếm sắc trong bao có khác ǵ? |
|
1461. Mittarūpenidhekacce
sākhallena acetasā,
vividhehi upāyehi tādisampi nāsmase.
|
1461. Ở đây, một số người với vẻ
ngoài bạn bè, với lời nói trau chuốt nhưng không phải tự tâm,
theo nhiều phương thức khác nhau, thậm chí không nên tin cậy
người như thế ấy. |
6. Nhiều kẻ nói năng thật dịu
lành,
Những lời không phải tự tâm thành,
Ḷng tin chớ đặt vào trong chúng,
Cố lấy ḷng nên giả thật t́nh. |
|
1462. Āmisaṃ vā dhanaṃ vāpi
yattha passati tādiso,
dūbhiṃ karoti dummedho tañca jhatvāna gacchati.
|
1462. Kẻ như thế ấy nh́n thấy
thức ăn hay tài sản ở nơi nào, kẻ ngu muội ấy lập kế chống đối,
đốt cháy vật ấy, rồi bỏ đi.” |
7. Khi kẻ ác tâm ấy ngắm xem
Thức ăn hoặc lợi nhuận kề bên,
Nó hành động ác và đi mất,
Nhưng nó làm nguy bạn trước tiên. |
|
1463. Mittarūpena bahavo channā
sevanti sattavo,
jahe kāpurise hete kukkuṭo viya senakaṃ.
|
1463. “Với vẻ ngoài bạn bè, nhiều
kẻ thù giấu diếm (bản chất xấu xa), rồi thân cận; nên rời khỏi
những con người tồi tệ này, tựa như con gà trống rời khỏi chim
diều hâu. |
8. Lắm kẻ thù ra vẻ thiết
thân,
Ra tay giúp đỡ sẵn sàng luôn,
Như Gà rời bỏ Diều hâu ấy,
Tốt nhất nên ĺa những ác nhân. |
|
1464. Yo ca uppatitaṃ atthaṃ na
khippamanubujjhati,
amittavasamanveti pacchā ca-m-anutappati.
|
1464. Và người nào không mau
chóng nhận biết sự việc đă sanh khởi, rồi đi theo sự khống chế
của kẻ thù, về sau sẽ hối tiếc. |
9. Người nào không nhạy bén
nh́n xa
Ư nghĩa việc làm diễn biến ra,
Phải chịu bao cừu nhân chế ngự,
Ăn năn hối hận buổi sau mà. |
|
1465. Yo ca uppatitaṃ atthaṃ
khippameva nibodhati,
muccate sattusambādhā kukkuṭo viya senakā.
|
1465. Và người nào mau chóng nhận
chân sự việc đă sanh khởi, người ấy thoát khỏi sự ngược đăi của
kẻ thù, tựa như con gà trống thoát khỏi chim diều hâu. |
10. Nhanh trí, người nào nhận
thấy ngay
Việc làm mang ư nghĩa nào đây,
Như Gà tránh bẫy Diều hâu ấy,
Vậy tránh cừu nhân, phải chạy bay. |
|
1466. Taṃ tādisaṃ kuṭamivoḍḍitaṃ
vane
adhammikaṃ niccavidhaṃsakārinaṃ,
ārā vivajjeyya naro vicakkhaṇo
senaṃ yathā kukkuṭo vaṃsakānane ”ti.
10. Kukkuṭajātakaṃ.
|
1466. Người khôn ngoan nên tránh
né thật xa kẻ như thế ấy, kẻ không đạo đức, thường xuyên gây ra
sự phá hoại, tựa như tránh né cái bẫy đă được trương ra ở trong
rừng, giống như con gà trống tránh né chim diều hâu ở trong khu
rừng tre rậm.”
10. Bổn Sanh Con Gà Trống.
|
11. Bẫy đó thông thường lại
dối gian,
Giết người, dấu kín giữa rừng hoang,
Như Gà xa lánh Diều hâu ấy,
Người có nhăn quan phải kiếm đàng.
Câu chuyện
448
|
|
Trang 374:
|
Trang 375:
|
|
1467. Alaṅkato maṭṭakuṇḍalī
mālāhāri haricandanussado,
bāhā paggayha kandasi
vanamajjhe kiṃ dukkhito tuvaṃ.
|
1467. “Ngươi đă được trang điểm,
có bông tai đă được đánh bóng, có mang tràng hoa, có
thoa trầm hương màu vàng, sau khi giơ hai cánh tay lên rồi than khóc
ở giữa khu rừng, ngươi bị khổ đau điều ǵ?” |
1. Sao giữa rừng này có cậu
trai,
Tràng hoa, ṿng ngọc mỗi bên tai,
Chiên-đàn sực nức, giơ tay nọ,
Sầu khổ ǵ rơi lệ vắn dài? |
|
1468. Sovaṇṇamayo pabhassaro
uppanno rathapañjaro mama,
tassa cakkayugaṃ na vindāmi
tena dukkhena jahāmi jīvitaṃ.
|
1468. “Khung xe làm bằng vàng,
rực rỡ, được phát sanh lên cho tôi. Tôi không t́m ra cặp bánh xe
cho nó. V́ nỗi khổ đau ấy, tôi từ bỏ mạng sống.” |
2. Vàng ṛng đúc, chiếu rực
hào quang,
Xe ấy con thường vẫn ngă lưng,
Đôi bánh này con t́m chẳng thấy,
Chắc con buồn khổ đến ĺa trần! |
|
1469. Sovaṇṇamayaṃ maṇimayaṃ
lohamayaṃ atha rūpiyāmayaṃ,
pāvada rathaṃ kārayāmi te
cakkayugaṃ paṭipādayāmi taṃ.
|
1469. “Nó làm bằng vàng, làm bằng
ngọc ma-ni, làm bằng đồng, hay làm bằng bạc? Ngươi hăy nói ra,
ta sẽ cho người làm chiếc xe cho ngươi. Ta sẽ giúp cho ngươi đạt
được cặp bánh xe.” |
3. Bằng vàng, dát ngọc, loại
ǵ nào,
Bằng bạc, hay đồng, trí nghĩ sao,
Cứ nói ra lời, xe được đóng,
Ta t́m đôi bánh sẽ thêm vào! |
|
1470. So māṇavo tassa pāvadi
candasuriyā ubhayettha bhātaro,
sovaṇṇamayo ratho mama
tena cakkayugena sobhati.
|
1470. Người thanh niên ấy đă nói
với ông ấy rằng: “Ở đây, mặt trăng và mặt trời là anh em; cỗ xe
của tôi làm bằng vàng, được chói sáng với cặp bánh xe ấy.”
|
4. Nghe nói xong, chàng trẻ
đáp lời,
Trong khi chàng ngâm tiếp theo phần c̣n lại:
Đằng kia, huynh đệ đó, trăng trời,
Chính nhờ đôi bánh đằng xa ấy,
Xe của con vàng chiếu sáng ngời! |
|
1471. Bālo kho tvamsi māṇava
yo tvaṃ patthayase apatthiyaṃ,
maññāmi tuvaṃ marissasi
na hi tvaṃ lacchasi candasūriye.
|
1471. “Này người thanh niên,
ngươi quả thật khờ dại, ngươi mong mỏi vật không thể mong mỏi.
Ta nghĩ rằng ngươi sẽ chết bởi v́ ngươi sẽ không đạt được mặt
trăng và mặt trời.” |
5. Chàng thật ngu v́ việc đă
làm,
Cầu xin chuyện chẳng có ai ham,
Bởi v́ ta chắc chàng nên chết
Nhật, nguyệt, đ̣i sao được hỡi chàng? |
|
1472. Gamanāgamanampi dissati
vaṇṇadhātu ubhayettha vīthiyo,
peto pana neva dissati
ko nu kho kandataṃ bālyataro.
|
1472. “Việc đi và đến (của mặt
trăng và mặt trời) c̣n được nh́n thấy. Ở đây, màu sắc và bản
chất, lộ tŕnh của cả hai được biết đến. Trái lại, người đă qua
đời không được nh́n thấy. Vậy th́ trong hai người đang khóc lóc,
người nào khờ dại hơn?” |
6. Trước mắt, trời, trăng,
lặn, mọc dần,
Sắc màu, đường hướng vẫn không ngừng;
C̣n ai thấy được hồn người chết,
Vậy kẻ nào ngu lúc khóc than? |
|
1473. Saccaṃ kho vadesi māṇava
ahameva kandataṃ bālyataro,
candaṃ viya dārako rudaṃ
petaṃ kālakatābhipatthaye.
|
1473. “Này người thanh niên, quả
nhiên ngươi nói đúng sự thật. Trong hai người đang khóc lóc,
chính ta là khờ dại hơn. Ta đang mong mỏi người chết, đă qua
đời, ví như đứa bé trai đang khóc đ̣i mặt trăng.” |
7. Giữa ta, hai kẻ khóc than
thân,
Chàng thật khôn, ta thật độn đần,
Quả đúng, đ̣i hồn người đă chết,
Khác nào con trẻ khóc đ̣i trăng? |
|
1474. Ādittaṃ vata maṃ santaṃ
ghatasittaṃ va pāvakaṃ,
vārinā viya osiñcaṃ sabbaṃ nibbāpaye daraṃ.
|
1474. “Quả thật, trong khi tôi
đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, người ấy
có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống. |
8. Ḷng ta thiêu đốt nóng
bừng,
Như khi người đổ dầu trong lửa đào,
Chàng đà đem nước lạnh vào,
Và chàng dập tắt khát khao, tủi buồn. |
|
1475. Abbahī vata me sallaṃ
yamāsi hadayanissitaṃ,
yo me sokaparetassa puttasokaṃ apānudi.
|
1475. Khi tôi bị sầu muộn chế
ngự, người nào đă xua đi nỗi sầu muộn về người con trai của tôi,
người ấy quả thật đă rút ra mũi tên đă cắm vào trái tim của tôi. |
9. V́ con, bao nỗi sầu tuôn,
Mũi tên độc cắm trong hồn của ta,
Chàng đà an ủi khuây khỏa
Nỗi niềm bi thiết, nhổ ra tên này. |
|
1476. Sohaṃ abbūḷhasallosmi
vītasoko anāvilo,
na socāmi na rodāmi tava sutvāna māṇavā ”ti.
11. Maṭṭakuṇḍalijātakaṃ.
|
1476. Tôi đây, có mũi tên
đă được rút ra, có sự sầu muộn đă được xa ĺa, không bị vẩn đục.
Này người thanh niên, sau khi lắng nghe ngươi, tôi không sầu
muộn, không khóc lóc.”
11. Bổn Sanh Thiên Tử Maṭṭakuṇḍali.
|
10. Tên vừa nhổ, khỏi đau
ngay,
Giữ tâm thanh thản, ta rày khinh an,
Nghe lời chân thật, hỡi chàng,
Ta không c̣n phải khóc than muộn phiền.
Câu chuyện
449 |
|
Trang 376:
|
Trang 377:
|
|
1477. Apacantāpi dicchanti santo
laddhāna bhojanaṃ,
kimeva tvaṃ pacamāno yaṃ na dajjā na taṃ samaṃ.
|
1477. “Những người tốt vẫn mong
muốn bố thí, mặc dầu chưa nấu chín vật thực đă có được, vậy th́
tại sao ông không muốn cho trong khi đang nấu chín (thức ăn),
việc ấy là không đúng đắn đối với ông? |
1. Khi món ăn không có giữa
nồi,
Thiện nhân t́m, chẳng chối từ hoài,
C̣n ngài đang nấu, th́ không tốt
Nếu chẳng muốn chia xẻ với ai. |
|
1478. Maccherā ca pamādā ca evaṃ
dānaṃ na dīyati,
puññaṃ ākaṅkhamānena deyyaṃ hoti vijānatā.
|
1478. Như vậy, vật thí không được
cho ra do sự bỏn xẻn và do sự xao lăng. Người có sự nhận thức,
trong khi mong mỏi phước báu, nên thực hành bố thí. |
2. Phóng dật, xan tham, kẻ
chối từ
Chẳng hề đem bố thí bao giờ,
C̣n người nào thích làm công hạnh,
Là một trí nhân, phải biết cho. |
|
1479. Yasseva bhīto na dadāti
maccharī tadeva adadato bhayaṃ,
jighacchā ca pipāsā ca yassa bhāyati maccharī,
tameva bālaṃ phusati asmiṃ loke paramhi ca.
|
1479. “Bị sợ hăi về sự đói và sự
khát mà kẻ bỏn xẻn không bố thí; chính nỗi sợ hăi ấy có ở kẻ
không bố thí. Kẻ bỏn xẻn sợ hăi về sự đói và sự khát, chính việc
ấy đáp trả lại kẻ ngu ở đời này và ở đời sau. |
3. Sợ khi khát nước hoặc thèm
cơm
Khiến bọn xan tham phải hoảng hồn,
Trong cơi đời này, đời kế nữa,
Bọn ngu kia phải trả hoàn toàn. |
|
1480. Tasmā vineyya maccheraṃ
dajjā dānaṃ malābhibhū,
puññāni paralokasmiṃ patiṭṭhā honti pāṇinaṃ.
|
1480. V́ thế, người chiến thắng
tật xấu nên dẹp bỏ tánh bỏn xẻn, nên ban phát vật thí. Các phước
báu là nơi nương nhờ của chúng sanh trong đời vị lai. |
4. Vậy nên bố thí, tránh xan
tham,
Rửa sạch tâm nhơ ác dục tràn,
Trong cơi đời sau, nhiều thiện nghiệp
Sẽ là nơi trú tuyệt an toàn. |
|
1481. Duddadaṃ dadamānānaṃ
dukkaraṃ kamma kubbataṃ,
asanto nānukubbanti sataṃ dhammo durannayo.
|
1481. “Trong khi họ cho vật khó
cho, trong khi họ làm công việc khó làm, những kẻ xấu không làm
theo được; pháp của những người tốt là khó đạt đến. |
5. Thực khó làm như các thiện
nhân,
Phát ban như các vị đem ban,
Khó mà kẻ ác làm theo được
Cuộc sống hiền nhân vẫn trú an. |
|
1482. Tasmā satañca asatañca nānā
hoti ito gati,
asanto nirayaṃ yanti santo saggaparāyanā.
|
1482. V́ thế, cảnh giới tái sanh
sau kiếp này dành cho những người tốt và những kẻ không tốt là
khác nhau, những kẻ không tốt đi địa ngục, những người tốt có sự
đi đến cơi trời.” |
6. Vậy th́ khi phải giă từ
trần,
Kẻ ác, người hiền bỏ thế gian,
Kẻ ác tái sinh vào địa ngục,
Người hiền sinh ở cơi thiên đàng. |
|
1483. Appasmeke pavecchanti
bahuneke na dicchare,
appasmā dakkhiṇā dinnā sahassena samaṃ mitā.
|
1483. “Một số người dầu có ít vẫn
ban phát, một số khác có nhiều nhưng không bố thí. Sự cúng dường
được dâng hiến (với đức tin) dầu ít ỏi, được xác định tương
đương với một ngàn lần (sự bố thí b́nh thường). |
7. Có người ít của vẫn đem
ban,
Có kẻ không cho, dẫu của tràn,
Người ít của cho không thể kém
Kẻ kia ban phát cả trăm ngàn. |
|
1484. Dhammaṃ care yopi
samuñjakaṃ care
dārañca posaṃ dadaṃ appakasmiṃ,
sataṃ sahassānaṃ sahassayāginaṃ
kalampi nāgghanti tathāvidhassa te.
|
1484. “Thậm chí người nào sống
nhờ vào việc lượm lặt, cũng nên thực hành thiện pháp, ngay trong
lúc chu cấp vợ và con, vẫn hành pháp bố thí mặc dầu ít ỏi. Các
sự cúng tế một trăm ngàn đồng tiền của một ngàn kẻ chủ tế không
giá trị bằng một phần mười sáu pháp bố thí của người như thế
ấy.” |
8. Dù sống chắt chiu, phải
chánh chân,
Con nhiều, của ít vẫn đem phân,
Trăm ngàn đồng bạc người giàu cúng
Chẳng sánh quà con của tiện dân. |
|
1485. Kenesa yañño vipulo
mahagghato
samena dinnassa na agghameti,
kathaṃ sahassānaṃ sahassayāginaṃ
kalampi nāgghanti tathāvidhassa te.
|
1485. “V́ sao sự cúng tế vĩ đại,
có giá trị lớn, không sánh bằng giá trị của việc bố thí đúng
pháp? Tại sao các sự cúng tế một trăm ngàn đồng tiền của một
ngàn kẻ chủ tế không giá trị bằng một phần mười sáu pháp bố thí
của người như thế ấy?” |
9. Sao dồi dạt lễ vật cao sang
Giá trị không bằng vật chánh chân,
Sao cả ngàn đồng từ phú hộ
Chẳng bằng quà mọn kẻ cùng bần? |
|
1486. Dadanti heke visame
niviṭṭhā
jhatvā vadhitvā atha socayitvā,
sā dakkhiṇā assumukhā sadaṇḍā
samena dinnassa na agghameti,
evaṃ sahassānaṃ sahassayāginaṃ
kalampi nāgghanti tathāvidhassa te ”ti.
12. Biḷārakosiyajātakaṃ.
|
1486. “Bởi v́, một số người đă
tham dự vào việc bất công, đă thiêu đốt, đă chém giết, đă gây
nên sự sầu muộn, rồi hành pháp bố thí; việc cúng dường ấy có
khuôn mặt đẫm nước mắt, có gậy gộc, không sánh bằng giá trị của
việc bố thí đúng pháp; tương tự như thế, các sự cúng tế một trăm
ngàn đồng tiền của một ngàn kẻ chủ tế không giá trị bằng một
phần mười sáu pháp bố thí của người như thế ấy.”
12. Bổn Sanh Triệu Phú Biḷārakosiya.
|
10. Nhiều người sống độc ác
hung tàn,
Đàn áp, giết rồi lại phát ban:
Thí vật chua cay, tàn nhẫn ấy
Thua xa quà tặng với chân tâm,
Nên ngàn đồng bạc người giàu cúng
Chẳng sánh quà con của tiện dân.
Câu chuyện
450 |
|
Trang 378:
|
Trang 379:
|
|
1487. Vaṇṇavā abhirūposi ghano
sañjātarohito,
cakkavāka surūposi vippasannamukhindriyo.
|
1487. “Bạn có tướng mạo, có vóc
dáng đẹp, rắn rỏi, lấp lánh màu đỏ. Này chim hồng hạc, bạn có
vóc dáng xinh, có khuôn mặt và giác quan thanh tịnh. |
1. Màu lông tươi đẹp, dáng
thanh tao,
Thân thể tṛn xinh, ửng sắc đào,
Này Ngỗng, đúng là bạn tuyệt mỹ,
Năm căn và mặt sáng ngời sao! |
|
1488. Pāṭhīnaṃ pāvusaṃ macchaṃ
valajaṃ muñjarohitaṃ,
gaṅgāya tīre nisinno evaṃ bhuñjasi bhojanaṃ.
|
1488. Ngồi ở bờ sông Gaṅgā, bạn
hưởng thụ thức ăn là loài cá: cá trích, cá miệng rộng, cá
valaja, cá
muñja, và cá hồi.” |
2. Trong khi đậu ở bến sông
Hằng,
Cá tráp, cá vền, Ngỗng vẫn ăn,
Cá chép, cùng nhiều loài cá khác,
Trên ḍng sông nước lội tung tăng. |
|
1489. Na cāhametaṃ bhuñjāmi
jaṅgalā nodakāni vā,
aññatra sevālapaṇakā etaṃ me samma bhojanaṃ.
|
1489. “Ta không thọ dụng thức ăn
ấy, các loài sinh vật ở rừng hoặc ở trong nước, ngoại trừ rong
rêu và cỏ dại; này bạn, vật ấy là thức ăn của ta.” |
3. Ta chẳng ăn bầy cá giữa
ḍng,
Cũng không nằm nghỉ ở trong rừng,
Mọi loài rong cỏ, ta nuôi sống,
Này bạn, đó là món Ngỗng ăn. |
|
1490. Na cāhametaṃ saddahāmi
cakkavākassa bhojanaṃ,
ahaṃ hi samma bhuñjāmi gāme loṇiyateliyaṃ.
|
1490. “Tôi không tin vật ấy là
thức ăn của loài chim hồng hạc. Này bạn, bởi v́ tôi ăn thức ăn
có muối và dầu ăn ở trong làng. |
4. Ta chẳng tin theo Ngỗng
giải bày,
Xác minh thực phẩm nó ăn đầy,
Của ngon trong xóm ngâm dầu muối,
Là món ta ăn sống mỗi ngày. |
|
1491. Manussesu kataṃ bhattaṃ
sucimaṃsūpasecanaṃ,
na ca me tādiso vaṇṇo cakkavāka yathā tavaṃ.
|
1491. Này chim hồng hạc, bữa ăn
được làm ở nơi loài người có trộn lẫn thịt tinh khiết, và tướng
mạo của tôi là như thế ấy, không giống như của bạn.” |
5. Món cơm tinh sạch, đẹp làm
sao
Có kẻ làm xong, lại đổ vào
Món thịt ấy, nhưng này bạn Ngỗng,
Sắc ta không giống bạn đâu nào. |
|
1492. Sampassaṃ attani veraṃ
hiṃsayaṃ mānusiṃ pajaṃ,
utrasto ghasasī bhīto tena vaṇṇo tavediso.
|
1492. “Trong khi nhận thấy tâm
oán thù ở bản thân, trong khi hăm hại ḍng dơi loài người, bạn
thọ dụng thức ăn, luôn dáo dác, sợ hăi; v́ thế, tướng mạo của
bạn là như vậy. |
6. Ngắm xem tội ác ở ḷng
người,
Làm hại, phá tan cả cuộc đời,
Lo sợ, kinh hoàng, ngươi ẩm thực,
Nên ngươi có được sắc này thôi. |
|
1493. Sabbalokaviraddhosi dhaṅka
pāpena kammunā,
laddho piṇḍo na pīṇeti tena vaṇṇo tavediso.
|
1493. Này quạ, bạn thù nghịch với
tất cả thế gian bằng hành động độc ác. Miếng ăn đạt được không
làm cho bạn cường tráng; v́ thế, tướng mạo của bạn là như vậy.
|
7. Quạ ơi, lầm lạc khắp trên
trần,
Tội ác trong đời trước hóa thân,
Bạn chẳng thích đồ ăn uống nữa,
Chính màu này Quạ phải mang luôn. |
|
1494. Ahampi samma bhuñjāmi
ahiṃsā sabbapāṇinaṃ,
appossukko nirāsaṅkī asoko akuto bhayo.
|
1494. Này bạn, tôi cũng thọ dụng
thức ăn, không có sự hăm hại tất cả các loài có mạng sống. Tôi
ít ham muốn, không ngờ vực, không sầu muộn, không có sự sợ hăi
từ bất cứ đâu. |
8. Này bạn ta chẳng hại ai,
Cũng không lo lắng, dạ an hoài,
Cũng không có việc ǵ sầu muộn,
Sợ hăi ǵ do kẻ địch ngoài. |
|
1495. So karassu anubhāvaṃ
vītivattassu sīliyaṃ,
ahiṃsāya varaṃ loke piyo hohisi mammiva.
|
1495. Chính bạn hăy chứng tỏ năng
lực, hăy vượt qua bản chất xấu xa. Trong khi sống ở thế gian
không hăm hại, bạn sẽ trở nên đáng yêu như là tôi vậy. |
9. Vậy bạn này, nên sống dũng
cường,
Giă từ đường lối sống vô lương,
Trên đời tiến bước không làm hại,
Tất cả cùng yêu mến tán dương. |
|
1496. Yo na hanti na ghāteti na
jināti na jāpaye,
mettaṃso sabbabhūtesu veraṃ tassa na kenacī ”ti.
13. Cakkavākajātakaṃ.
|
1496. Người nào không giết hại,
không bảo giết hại, không thống trị, không bảo thống trị, có tâm
từ ái đối với tất cả chúng sanh, người ấy không có oán thù với
bất cứ ai.”
13. Bổn Sanh Chim Hồng Hạc. |
10. Người nào thân ái với muôn
loài,
Không hại và không bảo hại ai,
Không quấy nhiễu, không ai quấy nhiễu,
Không thấy ǵ sân hận v́ người.
Câu chuyện
451 |
|
Trang 380:
|
Trang 381:
|
|
1497. Saccaṃ kira tvampi
bhūripañño
yā tādisī siri dhitī mutī ca,
na tāyate bhāvavasūpanītaṃ
yo yāvakaṃ bhuñjasi appasūpaṃ.
|
1497. “(Điều vị Senaka đă nói)
quả đúng là sự thật, ngài dầu có trí tuệ uyên bác, thêm vào sự
vinh quang, nghị lực, và thông minh như thế ấy vẫn không bảo vệ
được vị thế và quyền lực đă đạt đến của ngài, khiến ngài phải ăn
món lúa mạch với ít nước xúp.” |
40. Có thật ngài là bậc Trí
nhân,
Như người đồn có trí uyên thâm,
Vậy tài trí, đại vinh quang ấy,
Chẳng phục vụ ngài đúng nghĩa chăng,
Và đă trở thành không ư nghĩa,
Trong khi ngài nuốt chút cơm hầm? |
|
1498. Sukhaṃ dukkhena
paripācayanto
kālākālaṃ vicinaṃ chandachanno,
atthassa dvārāni avāpuranto
tenāhaṃ tussāmi yavodanena.
|
1498. “Trong khi làm tăng trưởng
hạnh phúc
với
sự khó nhọc, trong khi xem xét thời điểm hoặc
chưa phải thời điểm, ta đă che giấu ḷng mong muốn trong khi mở
ra các cánh cửa đưa đến điều lợi ích; v́ thế, ta hài ḷng với
cơm lúa mạch. |
41. Vinh quang ta tạo bởi gian
truân,
Đúng lúc, trái thời, ta biệt phân,
Để ẩn náu ḿnh theo ư muốn,
Mở toang các cửa lợi vô ngần,
Cho nên ta biết điều tri túc,
Với chút cơm hầm, vẫn muốn ăn. |
|
1499. Kālañca ñatvā abhijīhanāya
mantehi atthaṃ paripācayitvā,
vijambhissaṃ sīhavijambhitāni
tāyiddhiyā dakkhasi maṃ punāpi.
|
1499. Và sau khi nhận biết thời
điểm cho việc ra sức, sau khi làm cho chín muồi sự lợi ích thông
qua các kế hoạch, ta sẽ phô trương bản thân tựa như con sư tử đă
vươn dậy; với sự thành tựu ấy, ngươi cũng sẽ gặp lại ta.” |
42. Khi ta nhận thấy đúng thời
cơ,
Nỗ lực tạo thành mối lợi to,
Theo kế hoạch, ta liền chịu đựng,
Can cường chẳng khác một thanh sư,
Và nhờ năng lực oai hùng ấy,
Ông sẽ thấy ta trở lại mà. |
|
1500. Sukhīhi eke na karonti
pāpaṃ
avaṇṇasaṃsaggabhayā puneke,
pahū samāno vipulatthacintī
kiṃ kāraṇā me na karosi dukkhaṃ.
|
1500. “Một số người không làm
điều ác bởi v́ họ hạnh phúc, thêm nữa một số người do sợ hăi
việc dính líu đến điều tai tiếng; c̣n khanh, trong khi đang có
nhiều ư tưởng về những lợi ích lớn lao, v́ lư do ǵ mà khanh
không gây ra sự khổ đau cho trẫm?” |
43. Lắm kẻ không gây tạo lỗi
lầm,
Bởi v́ họ đă được giàu sang,
Nhưng nhiều người chẳng gây lầm lỗi,
V́ sợ bùn nhơ cấu uế tâm,
Con đủ tài năng làm sự nghiệp,
Sao con không hăm hại vương quân? |
|
1501. Na paṇḍitā attasukhassa
hetu
pāpāni kammāni samācaranti,
dukkhena phuṭṭhā khalitattāpi santā
chandā ca dosā na jahanti dhammaṃ.
|
1501. “Các bậc sáng suốt không v́
nguyên nhân hạnh phúc của bản thân mà tạo ra các ngiệp ác xấu.
Những người tốt, dầu bị tác động bởi khổ đau, dầu bản thân bị
vấp ngă, cũng không v́ tham muốn và sân hận mà từ bỏ thiện
pháp.” |
44. Bậc Trí giả không tạo lỗi
lầm,
Chỉ v́ lạc thú hưởng giàu sang,
Thiện nhân dù gặp cơn tai họa,
Và bị lâm vào cảnh khốn nàn,
Chẳng v́ thân hữu hay thù hận,
Mà phải khước từ đạo chánh chân . |
|
1502. Yena kenaci vaṇṇena mudunā
dāruṇena vā,
uddhare dīnamattānaṃ pacchā dhammaṃ samācare.
|
1502. “Bằng bất cứ cách thức nào,
mềm mỏng hay thô bạo, nên đưa bản thân ra khỏi t́nh trạng khốn
khó, rồi sau đó mới thực hành thiện pháp.” |
45. Người nào v́ bất cứ nguyên
nhân,
Dù nhỏ, dù to, với bản thân,
Đưa chính ḿnh lên từ chỗ thấp,
Về sau tiến bước đạo Như chân. |
|
1503. Yassa rukkhassa chāyāya
nisīdeyya sayeyya vā,
na tassa sākhaṃ bhañjeyya mittadubbho hi pāpako.
|
1503. “Người ngồi hoặc nằm ở bóng
râm của cây nào th́ không nên bẻ găy cành lá của cây ấy, bởi v́
kẻ hăm hại bạn bè là kẻ ác xấu. |
46. Dưới một gốc cây bóng mát
lành,
Nếu ta ngồi xuống nghỉ thân ḿnh,
Chặt cành lá ấy là làm phản,
Bọn giả dối, ta phải ghét khinh. |
|
1504. Yassāhi dhammaṃ manujo
vijaññā
ye cassa kaṅkhaṃ vinayanti santo,
taṃ hissa dīpañca parāyaṇañca
na tena mittaṃ jarayetha pañño.
|
1504. Nhờ vào vị nào mà một người
có thể nhận thức được lẽ phải, và các bậc thiện nhân dẹp bỏ mối
nghi ngờ đối với người này, chính vị ấy là ḥn đảo và là nơi
nương tựa của người này; người có sự hiểu biết không nên hủy
hoại t́nh bạn với vị ấy.”
|
47. Nếu một người khai đạo
chánh chân,
Đánh tan nghi hoặc của tha nhân,
Người này thành một nơi nương tựa,
Và bảo hộ cho chính bản thân,
Bậc Trí không bao giờ hủy diệt,
Mối dây này kết hợp thân bằng. |
|
Trang 382:
|
Trang 383:
|
|
1505. Alaso gihī kāmabhogī na
sādhu
asaññato pabbajito na sādhu,
rājā na sādhu anisammakārī
yo paṇḍito kodhano taṃ na sādhu.
|
1505. “Người tại gia biếng nhác
có sự thọ hưởng các dục, là không tốt,
bậc xuất gia không tự chế ngự, là không tốt,
vị vua có hành động không cân nhắc, là không tốt,
người sáng suốt có sự phẫn nộ, việc ấy là không tốt. |
48. Ta ghét thế nhân đắm dục
t́nh,
Giả tu là dối gạt rành rành,
Hôn quân xử án không nghe thấy,
Sân hận người hiền chẳng biện minh. |
|
1506. Nisamma khattiyo kayirā
nānisamma disampati,
nisammakārino rāja yaso kitti ca vaḍḍhatī ”ti.
14. Bhūripaññajātakaṃ.
|
1506. Vị Sát-đế-lỵ nên hành động
sau khi cân nhắc. Bậc chúa tể không thể không cân nhắc. Đối với
vị vua có hành động đă được cân nhắc, danh vọng và tiếng tăm
tăng trưởng.”
14. Bổn Sanh Trí Tuệ Uyên Bác.
|
49. Vị vua thận trọng suy tư
kỹ,
Xử án đầy suy xét tận t́nh,
Vua chúa suy tư phân xử đúng,
Đời đời danh vọng măi quang vinh.
Câu chuyện
452 |
|
1507. Kiṃ su naro
jappamadhiccakāle
kaṃ vā vijjaṃ katamaṃ vā sutānaṃ,
so macco asmiñca paramhi loke
kathaṃ karo sotthānena gutto.
|
1507. “Con người học thuộc ḷng
và tŕ tụng cái ǵ vào thời điểm khấn nguyện? Kinh văn nào, hoặc
phần nào trong các giáo điều? Người ấy được bảo vệ một cách an
lành ở kiếp này và kiếp sau là người thực hành như thế nào?”
|
1. Hiển bày chân lư, giải nghi
nan,
Xin dạy kinh ǵ của Thánh nhân
Được học hành theo giờ thuận lợi,
Đời này, đời kế tạo hồng ân? |
|
1508. Yassa devā pitaro ca sabbe
siriṃsapā sabbabhūtāni cāpi,
mettāya niccaṃ apacitāni honti
bhūtesu ve sotthānaṃ tadāhu.
|
1508. “Người nào thường xuyên tôn
vinh chư Thiên và tất cả cha ông, các loài rắn và tất cả các
sanh linh với tâm từ ái, người ấy hẳn nhiên đă chúc tụng sự an
lành cho các sanh linh. |
2. Mỗi Phạm thiên, thần thánh
hiển linh,
Rắn rồng ta thấy giữa quần sinh,
Trong ḷng măi măi đầy từ mẫn,
Vị ấy ban ơn mọi hữu t́nh. |
|
1509. Yo sabbalokassa nivātavutti
itthīpumānaṃ sahadārakānaṃ,
khantā duruttānaṃ apaṭikkūlavādī
adhivāsanaṃ sotthānaṃ tadāhu.
|
1509. Người nào có lối cư xử
khiêm tốn đối với tất cả thế gian, đối với những người nữ và
nam, đối với các đứa trẻ, là người nhẫn nhịn, không nói lời mắng
nhiếc đối với những lời phát biểu khó nghe, người ấy đă chúc
tụng sự an lành tức là sự kham nhẫn. |
3. Kẻ nào khiêm tốn với muôn
người,
Yêu mến nữ nam, mọi gái trai,
Đứng trước lời b́nh, không đáp lại,
Sẽ mang hạnh phúc đến cho đời. |
|
1510. Yo nāvajānāti sahāyamatte
sippena kulyāhi dhanena jaccā,
rucipañño atthakāle mutimā
sahāyesu ve sotthānaṃ tadāhu.
|
1510. Người nào không khi dễ các
cộng sự và các bạn bè về nghề nghiệp, về gia tộc, về tài sản, về
ḍng dơi, là người có trí tuệ trong sáng, có sự nhận biết vào
thời điểm có lợi ích, người ấy hẳn nhiên đă chúc tụng sự an lành
cho các bạn bè. |
4. Gặp hiểm nguy, người có trí
nhanh
Chẳng khinh đồng nghiệp, bạn đồng hành,
Chẳng khoe ḍng trí, giàu, giai cấp,
Hạnh phúc cho đời ắt khởi sinh. |
|
1511. Mittāni ve yassa bhavanti
santo
saṃvissatthā avisaṃvādakassa,
na mittadūbhi saṃvibhāgi dhanena
mittesu ve sotthānaṃ tadāhu.
|
1511. Thật vậy, người nào có các
thân hữu là những người tốt, đạt được sự tin cậy, người nào
không có bản tánh lường gạt, không phải là kẻ hăm hại thân hữu,
có sự chia sớt về tài sản, người ấy hẳn nhiên đă chúc tụng sự an
lành cho các thân hữu. |
5. Người nào kết bạn thiện,
hiền nhân,
Được trọng v́ mồm chẳng ác thâm,
Không hại bạn, chia đều của cải,
Chính niềm hạnh phúc giữa thân bằng. |
|
1512. Yassa bhariyā tulyavayā
samaggā
anubbatā dhammakāmā pajātā,
koliniyā sīlavatī patibbatā
dāresu ve sotthānaṃ tadāhu.
|
1512. Người nào có cô vợ là người
tương đương về tuổi tác, sống ḥa thuận, tận tụy, mong muốn làm
thiện pháp, có khả năng sanh sản, xuất thân gia giáo, có giới
hạnh, chung thủy, người ấy hẳn nhiên đă chúc tụng sự an lành cho
các cô vợ.
|
6. Vợ hiền, đồng tuổi, có t́nh
thân,
Tận tụy, nhân từ, trẻ lại đông,
Đức hạnh, trung thành, ḍng quư tộc,
Ấy niềm hạnh phúc giữa hồng quần. |
|
Trang 384:
|
Trang 385:
|
|
1513. Yassa rājā bhūtapatī
yasassī
jānāti soceyyaṃ parakkamañca,
advejjhatāsu hadayaṃ mamanti
rājusu ve sotthānaṃ tadāhu.
|
1513. Người nào có vị vua là chúa
tể của thần dân, có danh tiếng, nhận biết sự thanh liêm và sự nỗ
lực, có trạng thái không do dự (xác quyết rằng): ‘Người này là
bạn của trẫm,’ người ấy hẳn nhiên đă chúc tụng sự an lành cho
các vị vua. |
7. Vua nào đại đế giữa thần
dân,
Biết sống thanh cao, đủ khả năng,
Bảo: "Đấy bạn ta", không dối trá,
Chính niềm hạnh phúc giữa vương quân. |
|
1514. Annañca pānañca dadāti
saddho
mālañca gandhañca vilepanañca,
pasannacitto anumodamāno
saggesu ve sotthānaṃ tadāhu.
|
1514. Người có niềm tin bố thí
cơm ăn, nước uống, tràng hoa, hương thơm, và dầu thoa, trong lúc
tùy hỷ và có tâm tịnh tín, người ấy hẳn nhiên đă chúc tụng sự an
lành cho các cơi trời. |
8. Thành tín, cùng cơm nước
cúng dường,
Ṿng hoa tươi tốt, các mùi hương,
Với tâm thanh tịnh, gieo an lạc,
Ấy mang hạnh phúc mọi thiên đường. |
|
1515. Yamariyadhammena punanti
vaddhā
ārādhitā samacariyāya santo,
bahussutā isayo sīlavantaṃ
arahantamajjhe sotthānaṃ tadāhu.
|
1515. Người nào mà các bậc trưởng
thượng, các bậc an tịnh đă được hoàn thành nhờ vào việc thực
hành đúng đắn, các bậc ẩn sĩ đa văn, có giới hạnh, làm cho trong
sạch nhờ vào Thánh pháp, người ấy đă chúc tụng sự an lành ở giữa
các bậc A-la-hán. |
9. Các trí nhân thuần thiện,
chánh chân,
Tâm tư rửa sạch, gắng tinh cần,
Theo đời thanh tịnh, người hiền trí,
Phúc lạc thay người giữa Thánh nhân! |
|
1516. Etāni kho sotthānāni loke
viññuppasatthāni sukhudrayāni ,
tānīdha sevetha naro sapañño
na hi maṅgale kiñcanam atthi saccan ”ti.
15. Mahāmaṅgalajātakaṃ.
|
1516. Thật vậy, các sự an lành
này ở thế gian được khen ngợi bởi những người hiểu biết, là các
nguồn tạo ra sự an lạc. Ở đây, người có trí tuệ nên thực hành
các điều ấy, bởi v́ không có bất cứ cái ǵ gọi là Chân Lư ở điềm
lành cả.”
15. Bổn Sanh Điềm Lành Lớn.
|
10. Công đức như vầy giữa thế
gian,
Được tôn sùng bởi mọi hiền nhân,
Người khôn hăy bước đi theo chúng,
Điềm triệu chẳng mang tính thật chân.
Câu chuyện
453 |
|
1517. Uṭṭhehi kaṇha kiṃ sesi ko
attho supine tena,
yopi tuyha sako bhātā hadayaṃ cakkhuñca dakkhiṇaṃ,
tassa vātā balīyanti ghato jappati kesava.
|
1517. “Tâu Kaṇha, xin bệ hạ hăy
đứng lên. Việc ǵ bệ hạ lại nằm? Có lợi ích ǵ với ngài ở giấc
chiêm bao? Các cơn gió khuấy động người em trai ruột, trái tim
và con mắt phải của bệ hạ. Tâu Kesava, Ghata nói lảm nhảm.”
|
1. Hắc đế Kan-ha, hăy đứng
lên,
Sao ngài nhắm mắt ngủ, nằm yên,
Ḱa bào đệ, gió to đang cuốn
Tâm trí chàng bay mất, hăy nh́n:
Mất trí, Gha-ta mồm lảm nhảm,
Hỡi ngài Đại đế tóc đen huyền! |
|
1518. Tassa taṃ vacanaṃ sutvā
rohiṇeyyassa kesavo,
taramānarūpo vuṭṭhāsi bhātusokena aṭṭito.
|
1518. Sau khi nghe lời nói ấy của
cận thần Rohiṇeyya ấy, đức vua Kesava, bị khổ sở bởi nỗi sầu
muộn về người em trai, đă vùng dậy với vẻ vội vă. |
2. Chốc lát vua dài tóc Ke-sa,
Nghe Ro-hi lớn tiếng gào la,
Đứng lên, đại đế đầy phiền muộn
V́ nỗi khổ buồn của Gha-ta. |
|
1519. Kinnu ummattarūpova kevalaṃ
dvārakaṃ imaṃ,
saso sasoti lapasi ko nu te sasamāhari.
|
1519. “Có phải em, với dáng vẻ
giống như người điên, (đi lang thang) khắp cổng thành này, lải
nhải rằng: ‘Con thỏ, con thỏ.’ Thế người nào đă lấy đi con thỏ
của em? |
3. Sao dáng điên rồ, đệ bước
qua
Khắp miền non nước Dvà-ra-ka,
Và kêu: "Thỏ, thỏ! này cho biết,
Ai lấy thỏ con của đệ à? |
|
1520. Sovaṇṇamayaṃ maṇimayaṃ
lohamayaṃ atha rūpiyāmayaṃ,
saṅkhasilāpavāḷamayaṃ kārayissāmi te sasaṃ.
|
1520. Con thỏ của em làm bằng
vàng, bằng ngọc ma-ni, bằng đồng, bằng bạc, bằng vỏ ṣ, đá cuội,
hay san hô, trẫm sẽ bảo làm con thỏ cho em. |
4. Thỏ làm bằng ngọc hoặc vàng
ṛng,
Như đệ ước ao, bạc hoặc đồng,
Vỏ óc, san hô, hay đá cuội,
Ta làm ngay thỏ, đệ an ḷng. |
|
1521. Santi aññepi sasakā araññe
vanagocarā,
tepi te ānayissāmi kīdisaṃ sasamicchasi.
|
1521. Cũng có những con thỏ khác
ở trong khu rừng, kiếm ăn ở trong rừng; trẫm sẽ cho đem chúng
đến cho em. Em muốn con thỏ loại như thế nào?”
|
5. C̣n có nhiều loài thỏ biết
bao,
Vẫn thường quanh quẩn chốn rừng sâu,
Được mang về nữa ta đ̣i bắt,
Hăy nói, em thích chọn thứ nào? |
|
Trang 386:
|
Trang 387:
|
|
1522. Nacāhametaṃ icchāmi ye sasā
paṭhaviṃ sitā,
candato sasamicchāmi tamme ohara kesava.
|
1522. “Nhưng em không muốn con
thỏ ấy, những con thỏ nương náu ở trái đất. Em muốn con thỏ từ
mặt trăng. Anh Kesava, anh hăy mang nó xuống cho em.” |
6. Em chẳng ước ao thỏ thế
gian,
Mà mơ con thỏ ở cung trăng,
Này Ke-sa, thỏ ḱa, đem xuống,
Em chẳng đ̣i thêm một đặc ân. |
|
1523. So nūna madhuraṃ ñāti
jīvitaṃ vijahissasi,
apatthiyaṃ yo patthayasi candato sasamicchasi.
|
1523. “Này người bà con, đúng là
em đây sẽ ĺa bỏ cuộc sống ngọt ngào; em mong mỏi vật không thể
mong mỏi, em muốn con thỏ từ mặt trăng.” |
7. Nói thật này em sẽ chết
thôi,
Nếu em cầu khấn chuyện kia hoài,
Em đ̣i chuyện chẳng ai mong ước,
Con thỏ cung trăng ở cơi trời! |
|
1524. Evañce kaṇha jānāsi
yadaññamanusāsasi,
kasmā pure mataṃ puttaṃ ajjāpimanusocasi.
|
1524. “Này anh Kaṇha, nếu anh
biết là như vậy th́ anh mới nên khuyên bảo người khác như thế;
tại sao đến bây giờ anh vẫn sầu muộn về đứa con trai đă chết
trước đây? |
8. Nếu Kan-ha hiểu chuyện này
mau,
Và giải khuyên người khóc khổ đau,
Anh vẫn cớ sao đang phiền muộn
Đứa con trai đă chết từ lâu? |
|
1525. Yaṃ na labbhā manussena
amanussena vā puna,
jāto me māmari putto kuto labbhā alabbhiyaṃ.
|
1525. Việc nào không thể đạt được
bởi con người hoặc ngay cả phi nhân (như là): ‘Mong rằng đứa con
trai đă được sanh ra của tôi đừng chết,’ do đâu mà điều không
thể đạt được sẽ trở nên đạt được? |
9. Con ta sinh, ước chẳng ĺa
trần,
Không một người hay cả thánh thần
Có thể đạt lời nguyền kia, vậy
Sao điều không có, lại cầu mong? |
|
1526. Na mantā mūlabhesajjā
osadhehi dhanena vā,
sakkā ānayituṃ kaṇhā yampetamanusocasi.
|
1526. Này anh Kaṇha, không thể
đưa người quá văng mà anh sầu muộn trở về bằng chú thuật, bằng
thuốc men từ rễ cây, bằng các thần dược, hoặc bằng tài sản.” |
10. Không có bùa thiên, hoặc
thuốc thần,
Chẳng loài cỏ thuốc hoặc tiền vàng
Đủ công năng để làm cho sống
Người chết, Kan-ha vẫn khóc than. |
|
1527. Yassa etādisā assu amaccā
purisapaṇḍitā,
yathā nijjhāpaye ajja ghato purisapaṇḍito.
|
1527. “Mong sao trẫm có được
những người cộng sự, những người sáng suốt như thế này, giống
như con người sáng suốt Ghata hôm nay có thể làm cho bừng tỉnh. |
11. Trẫm nghe nhiều bậc trí
nhân,
Nhiều người lỗi lạc khuyên toàn điều hay,
Song Gha-ta đă khéo thay,
Mở đôi mắt trẫm từ nay sáng bừng! |
|
1528. Ādittaṃ vata maṃ santaṃ
ghatasittaṃ va pāvakaṃ,
vārinā viya osiñcaṃ sabbaṃ nibbāpaye daraṃ.
|
1528. Quả thật, trong khi trẫm
đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, người ấy
có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống. |
12. Ta đang thiêu đốt trong
ḷng,
Như khi người đổ dầu trong lửa đào,
Em đà mang nước lạnh vào,
Và em dập tắt khát khao tủi buồn. |
|
1529. Abbahī vata me sallaṃ
yamāsi hadayanissitaṃ,
yo me sokaparetassa puttasokaṃ apānudi.
|
1529. Khi trẫm bị sầu muộn chế
ngự, người nào đă xua đi nỗi sầu muộn về người con trai của
trẫm, người ấy quả thật đă rút ra mũi tên sầu muộn đă cắm vào
trái tim của trẫm. |
13. V́ con, bao nỗi sầu tuôn,
Mũi tên độc cắm trong hồn của ta,
Em vừa an ủi khuây khoa
Nỗi niềm bi thiết, nhổ ra tên này. |
|
1530. Sohaṃ abbūḷhasallosmi
vītasoko anāvilo,
na socāmi na rodāmi tava sutvāna māṇava.
|
1530. Trẫm đây, có mũi tên đă
được rút ra, có sự sầu muộn đă được xa ĺa, không bị vẩn đục.
Này chàng trai, sau khi lắng nghe em, trẫm không sầu muộn, không
khóc lóc.” |
14. Tên vừa nhổ, hết đau ngay,
Giữ tâm thanh thản, ta rày b́nh an,
Nghe lời chân lư, hỡi chàng,
Ta không c̣n phải khóc than đau buồn. |
|
1531. Evaṃ karonti sappaññā ye
honti anukampakā,
nivattayanti sokamhā ghato6 jeṭṭhaṃva bhātaran ”ti.
16. Ghatapaṇḍitajātakaṃ.
|
1531. Những bậc có trí tuệ hành
xử như thế, họ là những bậc có ḷng thương tưởng; các vị giúp
cho vượt qua nỗi sầu muộn, tựa như Ghata (đă làm) đối với người
anh trai vậy.
16. Bổn Sanh Ghata Sáng Suốt.
|
15. Hăy làm như đấng từ tâm,
Và như các bậc trí nhân đại hiền
Giải tan các nỗi ưu phiền,
Như Gha-ta đă giải khuyên anh ḿnh.
Câu chuyện
454 |
|
TASSUDDĀNAṂ
Daḷhakaṇhadhanañcayasaṅkhavaro
rājā sattāha sasakha takkaḷinā,
dhammaṃ kukkuṭakuṇḍalibhojanadā
cakkavāka subhūrisasotthi ghato.
Dasakanipāto niṭṭhito.
--ooOoo-- |
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY
Chuyện thành vững chắc, ẩn sĩ Kaṇha, vị Dhanañcaya, Bà-la-môn
Saṅkha,
đức vua, bảy ngày Phạm hạnh, với Sākha, củ takkaḷa,
thiện pháp, con gà trống, có bông tai, người bố thí bữa ăn,
chim hồng hạc, trí tuệ uyên bác, có sự an lành, vị Ghata sáng
suốt.
Nhóm Mười Kệ Ngôn được chấm dứt.
--ooOoo-- |
|
<Trang trước> |
<Trang Kế> |