Trang Chính

Trang Các Bản Dịch Mới

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT tập 08

 

TẬP YẾU tập I

ẤN BẢN 2013

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÓM TẮT CÁC ĐẦU ĐỀ CỦA NGUỒN SANH TỘI

 

 

TÓM LƯỢC VỀ NGUỒN SANH TỘI

 

 

1. Tất cả các hành là vô thường, khổ và vô ngă được tạo hợp (do duyên). Và chính Niết Bàn là điều khái niệm, được khẳng định là ‘vô ngă.’

 

2. Khi đức Phật, ví như mặt trăng, c̣n chưa xuất hiện, khi đức Phật, ví tợ mặt trời, c̣n chưa hiện khởi, vấn đề tên gọi của các Pháp có tính chất chung ấy không được biết đến.

 

3. Sau khi đă thực hành khổ hạnh nhiều loại, sau khi làm đủ đầy các pháp toàn hảo, các đấng Đại Hùng chứng thực Pháp nhăn xuất hiện ở cơi có các Phạm Thiên.

 

4. Các vị giảng giải Chánh Pháp có sự chấm dứt khổ, đem lại an lạc. Bậc Hiền Trí ḍng Sakya, hiệu Aṅgīrasa, là bậc thương tưởng tất cả chúng sanh.

 

5. Đấng sư tử, bậc Tối Thượng của tất cả các loài đă thuyết giảng Tam Tạng gồm có Kinh, Vi Diệu Pháp, và Luật có đức tính vĩ đại.

 

6. Như vậy Chánh Pháp được lưu truyền nếu Luật c̣n tồn tại, và cả hai bộ Phân Tích, bộ Hợp Phần, và các tiêu đề.

 

7. Ṿng hoa được kết lại chính là nhờ vào sợi chỉ, tức là bộ Tập Yếu. Về chính bộ Tập Yếu ấy, nguồn sanh tội được xác định.

 

8. Phần phân tích và phần duyên khởi được tŕnh bày lối khác trong giới bổn ở trên; bởi thế vị thuần thiện mến Pháp nên học tập bộ Tập Yếu này.

 

*****

 

 

MƯỜI BA NGUỒN SANH TỘI

 

9. Vào lễ Uposatha, các vị đọc tụng điều quy định ở hai bổn Phân Tích, c̣n tôi sẽ nói về nguồn sanh tội đúng theo hệ thống, xin hăy lắng nghe tôi:

 

10. Điều pārājika thứ nhất, và điều thứ nh́ là khác với điều ấy, việc làm mai mối, và sự nhắc nhở, và phần y phụ trội.

 

11. Các lông cừu, Pháp theo từng câu, sự thực chứng, và với sự hẹn trước, đạo tặc, sự thuyết giảng, và nữ đạo tặc, và với sự không cho phép là mười ba.[1]

 

12. Mười ba phương thức về nguồn sanh tội này đă được suy nghĩ bởi các bậc hiểu biết, về mỗi một nguồn sanh tội được tŕnh bày ở đây là như nhau.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU PĀRĀJIKA THỨ NHẤT

 

13. Việc đôi lứa, tinh dịch, việc xúc chạm, điều aniyata thứ nhất, (tỳ khưu) đến ngụ trước, được môi giới, chỗ kín đáo cùng với tỳ khưu ni.

 

14. Có hai vợ chồng, và luôn cả chỗ kín đáo, ngón tay (thọc lét), giỡn trong nước, và hai điều về cú đánh, về giá tay (dọa đánh), và năm mươi ba học pháp.

 

15. Dưới xương đ̣n (ở cổ), (vào) làng, từ người nam nhiễm dục, và ḷng bàn tay, gậy ngắn, làm sạch sẽ (bằng nước), đă trải qua mùa (an cư) mưa, và việc giáo giới, vị không hầu cận ni sư tế độ.

 

16. Bảy mươi sáu điều học này được làm do thân và do ư, tất cả có một nguồn sanh tội giống như điều Pārājika Thứ Nhất.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Pārājika Thứ Nhất.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU PĀRĀJIKA THỨ NH̀

 

17. Vật chưa cho, đoạt mạng, pháp thượng nhân, nói thô tục, t́nh dục cho bản thân, (cáo tội) không nguyên cớ, có quan hệ khác biệt, điều bất định thứ nh́.

 

18. Giật lại (y đă cho), thuyết phục dâng (bản thân), nói dối, lời mắng nhiếc, đâm thọc, (nói) tội xấu, đào đất, (hại) thảo mộc, nói tránh né, vị phàn nàn.

 

19. Lôi kéo ra, và việc tưới nước, v́ nguyên nhân lợi lộc, (mời) vị đă ăn xong, ‘hăy đến,’ xem thường, gây sợ hăi, thu giấu, và (hại) mạng sống.

 

20. Trong khi biết nước có sinh vật, (khơi lại) hành sự, chưa đủ (hai mươi tuổi), việc cộng trú (vị án treo), việc (sa di) trục xuất, theo Pháp, luôn cả sự chê bai (Luật), (giả vờ) ngu dốt, và (bôi nhọ) không nguyên cớ.

 

21. (Gây ) nỗi nghi hoặc, (chê hành sự) đúng Pháp, (thuận cho) y (rồi phê phán), thuyết phục dâng cá nhân, làm ǵ được (ni sư), (y) ngoại thời, giật lại (y), (phàn nàn) v́ hiểu sai, và (nguyền rủa về) địa ngục.

 

22. (Cản trở y) của nhóm, (ngăn cản) việc phân chia, (mong mỏi) không chắc chắn, (thâu hồi) Kaṭhina, (vị cố ư) quấy rầy, (lôi ra khỏi) ni viện, mắng nhiếc (vị tỳ khưu), bị kích động (mắng nhiếc), bỏn xẻn (gia đ́nh), người sản phụ, và vị c̣n cho bú.

 

23. (Chưa thực hành) hai năm, việc học tập, do hội chúng, luôn cả ba điều về người nữ đă kết hôn, và thiếu nữ có ba điều, chưa đủ mười hai năm, chưa được sự chấp thuận.

 

24. Chưa phải lúc (tiếp độ), (nhẫn tâm) gây sầu khổ, sự thỏa thuận, và hai vị một năm. Bảy mươi điều học này được thực hiện do ba nguồn:

 

25. Do thân và ư không do khẩu, khẩu và ư không liên quan thân, được sanh từ ba cửa, giống như điều Pārājika Thứ Nh́.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Pārājika Thứ Nh́.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU LÀM MAI MỐI

 

26. Mai mối, (làm) cốc liêu, trú xá, và giặt y, nhận lănh (y của tỳ khưu ni), thọ nhận vượt quá yêu cầu, của hai điều (căn dặn), và bởi sứ giả.

 

27. Tơ tằm, thuần (màu đen), hai phần, sáu năm, vật lót ngồi, các vị xao lăng, và luôn cả vàng bạc, hai điều về trao đổi theo nhiều cách.

 

28. (B́nh bát) chưa đủ năm mảnh vá, choàng tắm mưa, chỉ sợi, và dặn ḍ (việc dệt y), (cho đến khung) cửa lớn, cho y (tỳ khưu ni), và may y, bánh ngọt, nhân duyên (bốn tháng), và (đốt) ngọn lửa.

 

29. Vật quư, (ống đựng) kim, và giường, (độn) bông g̣n, vật lót ngồi, và y đắp ghẻ, luôn cả vải tắm mưa, với (y) đức Thiện Thệ, sự yêu cầu, việc sắm vật khác.

 

30. Hai điều thuộc về hội chúng, hai điều thuộc về nhóm, các cá nhân, (tấm choàng) nhẹ, dày, hai điều đổ đồ thừa, choàng tắm (tỳ khưu ni), và với y của Sa-môn.

 

31. Cả năm mươi pháp này được sanh lên từ sáu chỗ: do thân không do khẩu và ư, do khẩu không do thân và ư.

 

32. Do thân và khẩu không do ư, do thân và ư không do khẩu, do khẩu và ư không do thân, được sanh lên từ ba cửa, và sáu nguồn sanh tội này là tương tợ như điều Mai Mối.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Làm Mai Mối.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU NÓI NHẮC NHỞ

 

33. Chia rẽ, xu hướng theo, khó dạy, làm hư hỏng, (giấu) tội xấu, và tà kiến, (không trao) sự tùy thuận, và hai điều cười lớn tiếng, và hai điều về tiếng động, (miệng có cơm) không nên nói.

 

34. Ngồi đất, chỗ thấp, đứng, đi sau, và một bên (đường), (vị tỳ khưu ni che giấu) tội, xu hướng theo, việc nắm lấy,[2] vị ni phục hồi, việc nói ĺa bỏ.

 

35. (Trong cuộc tranh tụng) nào đó, hai điều sống thân cận, vị đánh đấm (khóc lóc), vị tháo y, và người nữ (đệ tử) bị bệnh, lại điều sống thân cận, không dàn xếp, và tu viện, (không hành) lễ Pavāraṇā.

 

36. Mỗi nửa tháng (không hỏi), (không dạy) nữ đệ tử, hai điều (về tiếp độ), (nếu dâng) y, việc hầu hạ. Ba mươi bảy pháp này do thân, khẩu, và ư, tất cả có một nguồn giống như điều Nói Nhắc Nhở.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Nói Nhắc Nhở.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU KAṬHINA

 

37. Ba điều Kaṭhina không c̣n hiệu lực, điều thứ nhất về b́nh bát, dược phẩm, và y đặc biệt nữa, (ở rừng) có nguy hiểm, hoặc là hai điều vị ra đi.[3]

 

38. (Giáo giới) ở ni viện, (vật thực) được thỉnh sau, không phải thức ăn thừa, việc thỉnh mời, việc chú nguyện để dùng chung, (hậu cung) của đức vua, (vào làng) lúc sái thời, hướng dẫn sự phục vụ, và với vị ở rừng.

 

39. Việc tranh chấp, và tích trữ, trước, sau, và lúc sái thời, thời hạn năm ngày, y thiết thân, hai điều (không nguyện xả), và với y nội trợ.

 

40. Phần dưới thân, và luôn cả việc ngồi (trước tỳ khưu). Tất cả hai mươi chín điều này có hai nguồn sanh tội: do thân và khẩu không do ư, (hoặc) được sanh lên từ ba cửa, tương tợ như điều Kaṭhina.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Kaṭhina.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU LÔNG CỪU

 

41. Việc (mang vác) lông cừu, hai điều về nằm chung, chân (giường) tháo rời được, bữa ăn ở phước xá, (vật thực) dâng chung nhóm, lúc sái thời, việc tích trữ, với nước và tăm xỉa răng, các đạo sĩ lơa thể.

 

42. Động binh, (ngụ) ở binh đội, nơi tập trận, (uống) rượu, việc tắm khi chưa đủ (nửa tháng), hoại sắc, hai điều pāṭidesanīya, tỏi, về việc đứng gần (phục vụ), (xem) vũ.

 

43. Việc tắm (lơa thể), nằm chung tấm trải, chung giường, trong quốc độ, bên ngoài là tương tợ, (du hành) trong mùa mưa, nhà triển lăm tranh vẽ, ghế trường kỷ, việc xe chỉ sợi.

 

44. Phục vụ (người tại gia), và tự tay (cho vật thực), và chỗ ngụ không tỳ khưu, dù che, và xe, vật trang sức ở hông, đồ trang sức (phụ nữ), vật thơm, được tẩm hương.

 

45. Tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, và vị sa di ni, với người nữ tại gia, tội không mặc áo lót, là bốn mươi thêm bốn điều.

 

46. Tất cả có hai nguồn sanh tội: do thân, không do khẩu và ư, do thân và ư, không do khẩu, tương tợ như điều Lông Cừu.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Lông Cừu.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU PHÁP THEO TỪNG CÂU

 

47. (Dạy đọc Pháp) theo từng câu, ngoại trừ (có người nam), (giáo giới) chưa được chỉ định, và khi mặt trời đă lặn, hai điều về kiến thức nhảm nhí đă được nói đến, khi chưa thỉnh ư, và việc đặt câu hỏi.

 

48. Bảy điều học này, tất cả có hai nguồn sanh tội: do khẩu không do thân và ư, sanh lên do khẩu và ư nhưng không được sanh lên do thân, tương tợ như điều Pháp Theo Từng Câu.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Pháp Theo Từng Câu.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU ĐƯỜNG XA

 

49. (Đi) đường xa, chung thuyền, (vật thực) hảo hạng, (đi chung) với người nữ, vị ni cạo nhổ (lông), lúa nguyên hạt, và luôn cả vị ni được thỉnh mời, và tám điều pāṭidesanīya.

 

50. Mười lăm điều học này: do thân không do khẩu không do ư, chúng sanh lên do thân và khẩu không sanh lên do ư.

 

51. Chúng sanh lên do thân và ư không sanh lên do khẩu, do thân khẩu và do ư, là bốn nguồn sanh tội đă được quy định do trí của đức Phật, tương tợ như điều Đường Xa.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Đường Xa.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU ĐÁM NGƯỜI ĐẠO TẶC

 

52. Đám người đạo tặc, việc nghe lén, và với việc yêu cầu súp, bóng đêm, và được che khuất, khoảng trống, các điều này với giao lộ là bảy điều.

 

53. Các điều này có hai nguồn sanh tội: chúng sanh lên do thân và ư không sanh lên do khẩu, sanh lên do ba cửa, các nguồn sanh tội của điều Đám Người Đạo Tặc đă được thuyết giảng bởi vị thân quyến mặt trời.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Đám Người Đạo Tặc.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU THUYẾT GIẢNG PHÁP

 

54. Các đức Như Lai không thuyết giảng Chánh Pháp đến kẻ tay cầm dù, tương tợ y như thế đến kẻ tay cầm gậy, tay cầm dao, và vũ khí.

 

55. Có (mang) giày dép, (trên) xe, nằm, và ngồi ôm đầu gối, đội khăn, và luôn cả trùm đầu, là mười một điều không thiếu sót.

 

56. Tất cả có một nguồn sanh tội: chúng sanh lên do khẩu và ư không sanh lên do thân, tương tợ như điều Thuyết Giảng Pháp.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Thuyết Giảng Pháp.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU TUYÊN BỐ SỰ THỰC CHỨNG

 

57. Sự thực chứng (pháp thượng nhân) được sanh lên do thân không do khẩu không do ư, và sanh lên do khẩu không do thân và không do ư.

 

58. (Và c̣n) được sanh lên do thân do khẩu và không sanh lên do ư. Điều gọi là Tuyên bố sự Thực Chứng sanh lên từ ba nền tảng.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Tuyên Bố sự Thực Chứng.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU TIẾP ĐỘ NỮ ĐẠO TẶC

 

59. (Tiếp độ) nữ đạo tặc sanh lên do khẩu do ư nhưng không do thân, điều tiếp độ nữ tặc này được sanh từ ba cửa, hai nguồn sanh tội không bị làm lẫn lộn đă được đấng Pháp Vương đề cập đến.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Tiếp Độ Nữ Đạo Tặc.

 

*****

 

 

NGUỒN SANH TỘI CỦA ĐIỀU CHƯA ĐƯỢC CHO PHÉP

 

60. Điều về người chưa được cho phép[4] (sanh lên) do khẩu không do thân và không do ư, điều ấy sanh lên do thân và khẩu không sanh lên do ư.

 

61. Điều ấy sanh lên do khẩu và ư không sanh lên do thân, sanh lên từ ba cửa, là bốn nền tảng không bị làm lẫn lộn.

 

Dứt Nguồn Sanh Tội của điều Chưa Được Cho Phép.

 

*****

 

 

62. Bởi v́ phần tóm tắt về nguồn sanh tội gồm mười ba phần đă khéo được thuyết giảng, là việc làm không bị lầm lẫn, là nền tảng phù hợp với Pháp và Luật, trong khi nắm vững điều này, người có sự hiểu biết không bị lầm lẫn về nguồn sanh tội.

 

Dứt phần tóm tắt các Đầu Đề của Nguồn Sanh Tội.

 

--ooOoo--

 

 

 

SỰ TRÙNG LẶP LIÊN TỤC

 

 

PHẦN CÂU HỎI BAO NHIÊU

 

 

Bao nhiêu loại tội vi phạm? Bao nhiêu nhóm tội? Bao nhiêu sự việc đă được rèn luyện? Bao nhiêu sự không kính trọng? Bao nhiêu sự kính trọng? Bao nhiêu sự việc đă được rèn luyện? Bao nhiêu sự hư hỏng? Bao nhiêu nguồn sanh tội? Bao nhiêu nguyên nhân tranh căi? Bao nhiêu nguyên nhân khiển trách? Bao nhiêu pháp cần được ghi nhớ? Bao nhiêu sự việc gây ra chia rẽ? Bao nhiêu sự tranh tụng? Bao nhiêu cách dàn xếp?

 

Năm loại tội. Năm nhóm tội. Năm sự việc đă được rèn luyện. Bảy loại tội. Bảy nhóm tội. Bảy sự việc đă được rèn luyện. Sáu sự không kính trọng. Sáu sự kính trọng. Sáu sự việc đă được rèn luyện. Bốn sự hư hỏng. Sáu nguồn sanh tội. Sáu nguyên nhân tranh căi. Sáu nguyên nhân khiển trách. Sáu pháp cần được ghi nhớ. Mười tám sự việc gây ra chia rẽ. Bốn sự tranh tụng. Bảy cách dàn xếp.

 

1. Ở đấy, năm loại tội là ǵ? – Tội pārājika, tội saṅghādisesa, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa. Đây là năm loại tội.

 

2. Ở đấy, năm nhóm tội là ǵ? – Nhóm tội pārājika, nhóm tội saṅghā-disesa, nhóm tội pācittiya, nhóm tội pāṭidesanīya, nhóm tội dukkaṭa. Đây là năm nhóm tội.

 

3. Ở đấy, năm sự việc đă được rèn luyện là ǵ? - Sự hạn chế, sự khống chế, sự kềm chế, sự tránh xa, sự không làm, sự không hành động, sự không vi phạm, sự không vượt qua lằn ranh, sự cắt đứt mối liên hệ với năm nhóm tội. Đây là năm sự việc đă được rèn luyện.

 

4. Ở đấy, bảy loại tội là ǵ? – Tội pārājika, tội saṅghādisesa, tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa, tội dubbhāsita. Đây là bảy loại tội.

 

5. Ở đấy, bảy nhóm tội là ǵ? – Nhóm tội pārājika, nhóm tội saṅghā-disesa, nhóm tội thullaccaya, nhóm tội pācittiya, nhóm tội pāṭidesanīya, nhóm tội dukkaṭa, nhóm tội dubbhāsita. Đây là bảy nhóm tội.

 

6. Ở đấy, bảy sự việc đă được rèn luyện là ǵ? - Sự hạn chế, sự khống chế, sự kềm chế, sự tránh xa, sự không làm, sự không hành động, sự không vi phạm, sự không vượt qua lằn ranh, sự cắt đứt mối liên hệ với bảy nhóm tội. Đây là bảy sự việc đă được rèn luyện.

 

7. Ở đấy, sáu sự không kính trọng là ǵ? - Sự không kính trọng đức Phật, sự không kính trọng Giáo Pháp, sự không kính trọng hội chúng, sự không kính trọng việc học tập, sự không kính trọng việc không xao lăng, sự không kính trọng trong việc tiếp nhận. Đây là sáu sự không kính trọng.

 

8. Ở đấy, sáu sự kính trọng là ǵ? - Sự kính trọng đức Phật, sự kính trọng Giáo Pháp, sự kính trọng hội chúng, sự kính trọng việc học tập, sự kính trọng việc không xao lăng, sự kính trọng trong việc tiếp nhận. Đây là sáu sự kính trọng.

 

9. Ở đấy, sáu sự việc đă được rèn luyện là ǵ? - Sự hạn chế, sự khống chế, sự kềm chế, sự tránh xa, sự không làm, sự không hành động, sự không vi phạm, sự không vượt qua lằn ranh, sự cắt đứt mối liên hệ với sáu sự không kính trọng. Đây là sáu sự việc đă được rèn luyện.

 

10. Ở đấy, bốn sự hư hỏng là ǵ? – Sự hư hỏng về giới, sự hư hỏng về hạnh kiểm, sự hư hỏng về tri kiến, sự hư hỏng về nuôi mạng. Đây là bốn sự hư hỏng.

 

11. Ở đấy, sáu nguồn sanh tội là ǵ? – Có tội sanh lên do thân, không do khẩu không do ư. Có tội sanh lên do khẩu, không do thân không do ư. Có tội sanh lên do thân và do khẩu, không do ư. Có tội sanh lên do thân và do ư, không do khẩu. Có tội sanh lên do khẩu và do ư, không do thân. Có tội sanh lên do thân, do khẩu, và do ư. Đây là sáu nguồn sanh tội.

 

12. Ở đấy, sáu nguyên nhân tranh căi là ǵ? - Ở đây, vị tỳ khưu trở nên giận dữ, có sự hằn học. Vị tỳ khưu nào trở nên giận dữ, có sự hằn học, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng hội chúng, có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, ―(như trên)― Giáo Pháp, ―(như trên)― hội chúng, ―(như trên)―, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự tranh căi trong hội chúng. Đó là sự tranh căi đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân tranh căi có h́nh thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân tranh căi xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân tranh căi có h́nh thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân tranh căi xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân tranh căi xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân tranh căi xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai.

 

C̣n có điều khác nữa, vị tỳ khưu trở nên đạo đức giả dối trá, ―(như trên)― trở nên đố kỵ bỏn xẻn, ―(như trên)― trở nên mưu mẹo xảo trá, ―(như trên)― trở nên ác dục tà kiến, ―(như trên)― trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi. Vị tỳ khưu nào trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng hội chúng, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, ―(như trên)― Giáo Pháp, ―(như trên)― hội chúng, ―(như trên)―, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự tranh căi trong hội chúng. Đó là sự tranh căi đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân tranh căi có h́nh thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân tranh căi xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân tranh căi có h́nh thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân tranh căi xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân tranh căi xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân tranh căi xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai. Đây là sáu nguyên nhân tranh căi.

 

13. Ở đấy, sáu nguyên nhân khiển trách là ǵ? - Ở đây, vị tỳ khưu trở nên giận dữ có sự hằn học. Vị tỳ khưu nào trở nên giận dữ, có sự hằn học, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng hội chúng, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, ―(như trên)― Giáo Pháp, ―(như trên)― hội chúng, ―(như trên)―, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự khiển trách trong hội chúng. Đó là sự khiển trách đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân khiển trách có h́nh thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân khiển trách có h́nh thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai.

 

C̣n có điều khác nữa, vị tỳ khưu trở nên đạo đức giả dối trá, ―(như trên)― trở nên đố kỵ bỏn xẻn, ―(như trên)― trở nên mưu mẹo xảo trá, ―(như trên)― trở nên ác dục tà kiến, ―(như trên)― trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi. Vị tỳ khưu nào trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng hội chúng, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, ―(như trên)― Giáo Pháp, ―(như trên)― hội chúng, ―(như trên)―, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự khiển trách trong hội chúng. Đó là sự khiển trách đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân khiển trách có h́nh thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân khiển trách có h́nh thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai. Đây là sáu nguyên nhân khiển trách.

 

14. Ở đấy, sáu pháp cần được ghi nhớ là ǵ? - Ở đây, sự thân thiện của vị tỳ khưu qua thân nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh được thể hiện một cách công khai và luôn cả kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh căi, đến sự ḥa hợp, đến sự nhất thể.

 

C̣n có điều khác nữa, sự thân thiện của vị tỳ khưu qua khẩu nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh được thể hiện một cách công khai và luôn cả kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh căi, đến sự ḥa hợp, đến sự nhất thể.

 

C̣n có điều khác nữa, sự thân thiện của vị tỳ khưu qua ư nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh được thể hiện một cách công khai và luôn cả kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh căi, đến sự ḥa hợp, đến sự nhất thể.

 

C̣n có điều khác nữa, những lợi lộc nào đúng pháp, đạt được hợp pháp, ngay cả vật được đặt vào trong b́nh bát, vị tỳ khưu có sự thọ hưởng đồng đều các lợi lộc có h́nh thức như thế, có sự thọ hưởng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh căi, đến sự ḥa hợp, đến sự nhất thể.

 

C̣n có điều khác nữa, những giới nào không bị bể vỡ, không bị sứt mẻ, không lấm nhơ, không khuyết điểm, được tự tại, được các bậc trí ngợi khen, không hoen ố, đưa đến thiền định, vị tỳ khưu cùng với các vị đồng Phạm hạnh sống thực hành về giới theo các giới có h́nh thức như thế một cách công khai và luôn cả kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh căi, đến sự ḥa hợp, đến sự nhất thể.

 

C̣n có điều khác nữa, tri kiến nào thuộc bậc Thánh, đưa đến giải thoát, đưa đến sự hoàn toàn diệt tận khổ đau cho người thực hành theo điều ấy, vị tỳ khưu cùng với các vị đồng Phạm hạnh sống thực hành về tri kiến theo tri kiến có h́nh thức như thế một cách công khai và luôn cả kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh căi, đến sự ḥa hợp, đến sự nhất thể. Đây là sáu pháp cần được ghi nhớ.

 

15. Ở đấy, mười tám sự việc gây ra chia rẽ là ǵ? - Trường hợp vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ tuyên bố điều đă không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đă được giảng, đă được nói bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều đă được giảng, đă được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đă không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đă được thực hành bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đă không được thực hành bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đă được quy định bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đă không được quy định bởi đức Như Lai,’ tuyên bố phạm tội là: ‘Vô tội,’ tuyên bố vô tội là: ‘Phạm tội,’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nặng,’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nhẹ,’ tuyên bố tội c̣n dư sót là: ‘Tội không c̣n dư sót,’ tuyên bố tội không c̣n dư sót là: ‘Tội c̣n dư sót,’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa,’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Đây là mười tám sự việc gây ra chia rẽ.

 

16. Ở đấy, bốn sự tranh tụng là ǵ? - Sự tranh tụng liên quan đến tranh căi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ. Đây là bốn sự tranh tụng.

 

17. Ở đấy, bảy cách dàn xếp là ǵ? - Hành xử Luật với sự hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, thuận theo số đông, theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp. Đây là bảy cách dàn xếp.

 

Dứt phần Câu Hỏi Bao Nhiêu.

 

*****

 

 

TÓM LƯỢC PHẦN NÀY

 

1. Tội vi phạm, nhóm tội, (các sự việc) đă được rèn luyện, lại nhóm bảy (về tội), việc đă được rèn luyện, và luôn cả sự không kính trọng, sự kính trọng, và luôn cả nguyên nhân.

 

2. Lại nữa (các sự việc) được rèn luyện, sự hư hỏng, nguồn sanh tội, sự tranh căi, sự khiển trách, cần được ghi nhớ, sự chia rẽ, và sự tranh tụng, bảy cách dàn xếp đă được nói đến; đây là mười bảy đoạn.

 

--ooOoo--

 

 

 

1. PHẦN SÁU NGUỒN SANH TỘI

 

 

1. Do nguồn sanh tội thứ nhất,[5] có thể phạm tội pārājika? - Nên nói rằng: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? - Nên nói rằng: ‘Không thể.’

 

2. Do nguồn sanh tội thứ nh́, có thể phạm tội pārājika? - Nên nói rằng: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? - Nên nói rằng: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? - Nên nói rằng: ‘Không thể.’

 

3. Do nguồn sanh tội thứ ba, có thể phạm tội pārājika? - Nên nói rằng: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? - Nên nói rằng: ‘Không thể.’

 

4. Do nguồn sanh tội thứ tư, có thể phạm tội pārājika? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? - Nên nói rằng: ‘Không thể.’

 

5. Do nguồn sanh tội thứ năm, có thể phạm tội pārājika? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? - Nên nói rằng: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’

 

6. Do nguồn sanh tội thứ sáu, có thể phạm tội pārājika? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? - Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? - Nên nói rằng: ‘Không thể.’

 

Dứt phần Sáu Nguồn Sanh Tội là thứ nhất.

 

*****

 

 

 

2. PHẦN BAO NHIÊU TỘI

 

 

1. Do nguồn sanh tội thứ nhất vi phạm bao nhiêu loại tội? - Do nguồn sanh tội thứ nhất vi phạm năm loại tội: Vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, rồi tự xin (vật liệu) và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa; c̣n cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đă được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, rồi thọ dụng vật thực vào lúc sái thời phạm tội pācittiya; vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, tự tay nhận lănh vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến đă đi vào xóm nhà, rồi thọ dụng phạm tội pāṭidesanīya. Do nguồn sanh tội thứ nhất vi phạm năm loại tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được tổng hợp vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào năm nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, không do khẩu không do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

2. Do nguồn sanh tội thứ nh́ vi phạm bao nhiêu loại tội? - Do nguồn sanh tội thứ nh́ vi phạm bốn loại tội: Vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, rồi chỉ thị rằng: ‘Các người hăy xây dựng cốc liêu cho tôi.’ Họ xây dựng cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành (vị tỳ khưu) phạm tội dukkaṭa; c̣n cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đă được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, rồi dạy người chưa tu lên bậc trên đọc Pháp theo từng câu phạm tội pācittiya. Do nguồn sanh tội thứ nh́ vi phạm bốn loại tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào bốn nhóm tội trong 7 nhóm tội: có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do khẩu, không do thân không do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

3. Do nguồn sanh tội thứ ba vi phạm bao nhiêu loại tội? - Do nguồn sanh tội thứ ba vi phạm năm loại tội: Vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, rồi sắp xếp và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa; c̣n cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đă được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, yêu cầu các loại vật thực hảo hạng cho nhu cầu của bản thân, rồi thọ dụng phạm tội pācittiya; vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, không ngăn cản vị tỳ khưu ni đang hướng dẫn sự phục vụ, rồi thọ thực phạm tội pāṭidesanīya. Do nguồn sanh tội thứ ba vi phạm năm loại tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào năm nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân và do khẩu, không do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

4. Do nguồn sanh tội thứ tư vi phạm bao nhiêu loại tội? - Do nguồn sanh tội thứ tư vi phạm sáu loại tội: Vị tỳ khưu thực hiện việc đôi lứa phạm tội pārājika; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi tự xin (vật liệu) và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa; c̣n cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đă được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi thọ dụng vật thực lúc sái thời phạm tội pācittiya; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, tự tay nhận lănh vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến đă đi vào xóm nhà, rồi thọ dụng phạm tội pāṭidesanīya. Do nguồn sanh tội thứ tư vi phạm sáu loại tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân và do ư, không do khẩu. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

5. Do nguồn sanh tội thứ năm vi phạm bao nhiêu loại tội? - Do nguồn sanh tội thứ năm vi phạm sáu loại tội: Vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng phạm tội pārājika; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi chỉ thị rằng: ‘Các người hăy xây dựng cốc liêu cho tôi,’ họ xây dựng cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành (vị tỳ khưu) phạm tội dukkaṭa; c̣n cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đă được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi dạy người chưa tu lên bậc trên đọc Pháp theo từng câu phạm tội pācittiya; vị không có ư định chửi rủa, không có ư định khinh bỉ, không có ư định hạ nhục, có ư muốn đùa giỡn rồi nói vị thấp kém theo sự thấp kém phạm tội dubbhāsita. Do nguồn sanh tội thứ năm vi phạm sáu loại tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa, có thể là nhóm tội dubbhāsita. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do khẩu và do ư, không do thân. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

6. Do nguồn sanh tội thứ sáu vi phạm bao nhiêu loại tội? - Do nguồn sanh tội thứ sáu vi phạm sáu loại tội: Vị tỳ khưu tính toán rồi lấy trộm gói đồ phạm tội pārājika; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi sắp xếp và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa; c̣n cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đă được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi yêu cầu các loại vật thực hảo hạng cho nhu cầu của bản thân, và thọ dụng phạm tội pācittiya; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi không ngăn cản vị tỳ khưu ni đang hướng dẫn sự phục vụ, và thọ thực phạm tội pāṭidesanīya. Do nguồn sanh tội thứ sáu vi phạm sáu loại tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được tổng hợp vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

Dứt phần Bao Nhiêu Tội thuộc Sáu Nguồn Sanh Tội là thứ nh́.

 

*****

 

 

 

3. BÀI KỆ VỀ NGUỒN SANH TỘI

 

 

1. Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên v́ điều ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hăy nói về điều ấy.

 

2. Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có năm tội được sanh lên v́ điều ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.

 

3. Các nguồn sanh tội có liên quan đến khẩu đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên v́ nhân ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hăy nói về điều ấy.

 

4. Các nguồn sanh tội có liên quan đến khẩu đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bốn tội được sanh lên v́ điều ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.

 

5. Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến khẩu đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên v́ nhân ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hăy nói về điều ấy.

 

6. Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến khẩu đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có năm tội được sanh lên v́ điều ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.

 

7. Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến ư đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên v́ nhân ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hăy nói về điều ấy.

 

8. Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến ư đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có sáu tội được sanh lên v́ nhân ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.

 

9. Các nguồn sanh tội có liên quan đến khẩu có liên quan đến ư đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên v́ điều ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hăy nói về điều ấy.

 

10. Các nguồn sanh tội có liên quan đến khẩu có liên quan đến ư đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có sáu tội được sanh lên v́ điều ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.

 

11. Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến khẩu có liên quan đến ư đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên v́ điều ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hăy nói về điều ấy.

 

12. Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến khẩu có liên quan đến ư đă được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có sáu tội được sanh lên v́ điều ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.

 

Dứt Bài Kệ về Nguồn Sanh Tội là thứ ba.

 

*****

 

 

 

4. PHẦN DO DUYÊN HƯ HỎNG

 

 

1. Do duyên hư hỏng về giới vi phạm bao nhiêu loại tội? – Do duyên hư hỏng về giới vi phạm bốn loại tội: Vị tỳ khưu ni biết mà che giấu tội pārājika (của tỳ khưu ni khác) phạm tội pārājika; có sự hoài nghi rồi che giấu phạm tội thullaccaya; vị tỳ khưu che giấu tội saṅghādisesa phạm tội pācittiya; vị che giấu tội xấu của bản thân phạm tội dukkaṭa. Do duyên hư hỏng về giới vi phạm bốn loại tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào bốn nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

2. Do duyên hư hỏng về hạnh kiểm vi phạm bao nhiêu loại tội? – Do duyên hư hỏng về hạnh kiểm vi phạm một loại tội: Vị che giấu sự hư hỏng về hạnh kiểm phạm tội dukkaṭa. Do duyên hư hỏng về hạnh kiểm vi phạm một loại tội này.

 

Tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

 - Tội ấy liên hệ với một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào một nhóm tội trong bảy nhóm tội là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

3. Do duyên hư hỏng về tri kiến vi phạm bao nhiêu loại tội? – Do duyên hư hỏng về tri kiến vi phạm hai loại tội: Vị không dứt bỏ tà kiến ác với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự phạm các tội dukkaṭa; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự phạm tội pācittiya. Do duyên hư hỏng về tri kiến vi phạm hai loại tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào hai nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

4. Do duyên hư hỏng về nuôi mạng vi phạm bao nhiêu loại tội? – Do duyên hư hỏng về nuôi mạng vi phạm sáu loại tội: V́ nguyên nhân nuôi mạng v́ lư do nuôi mạng, vị (tỳ khưu) có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng phạm tội pārājika; v́ nguyên nhân nuôi mạng v́ lư do nuôi mạng, vị thực hành việc mai mối phạm tội saṅghādisesa; v́ nguyên nhân nuôi mạng v́ lư do nuôi mạng, vị nói rằng: ‘Vị (tỳ khưu) nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán,’ (người nghe) hiểu được phạm tội thullaccaya; v́ nguyên nhân nuôi mạng v́ lư do nuôi mạng, vị tỳ khưu yêu cầu các loại vật thực hảo hạng cho nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng phạm tội pācittiya; v́ nguyên nhân nuôi mạng v́ lư do nuôi mạng, vị tỳ khưu ni yêu cầu các loại vật thực hảo hạng cho nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng phạm tội pāṭidesanīya; v́ nguyên nhân nuôi mạng v́ lư do nuôi mạng, vị tỳ khưu không bị bệnh yêu cầu xúp và cơm cho nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng phạm tội dukkaṭa. Do duyên hư hỏng về nuôi mạng vi phạm sáu loại tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

 - Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do sáu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội: có thể sanh lên do thân, không do khẩu không do ư; có thể sanh lên do khẩu, không do thân không do ư; có thể sanh lên do thân và do khẩu, không do ư; có thể sanh lên do thân và do ư, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do ư, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

Dứt phần Do Duyên Hư Hỏng là thứ tư.

 

*****

 

 

 

5. PHẦN DO DUYÊN TRANH TỤNG

 

 

1. Do duyên tranh tụng liên quan đến tranh căi vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên tranh tụng liên quan đến tranh căi vi phạm hai tội: Vị mắng nhiếc vị đă tu lên bậc trên phạm tội pācittiya; vị mắng nhiếc người chưa tu lên bậc trên phạm tội dukkaṭa. Do duyên tranh tụng liên quan đến tranh căi vi phạm hai tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào hai nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do ba nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội: có thể sanh lên do thân và do ư, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do ư, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

2. Do duyên tranh tụng liên quan đến khiển trách vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên tranh tụng liên quan đến khiển trách vi phạm ba tội: Vị bôi nhọ vị tỳ khưu về tội pārājika không có nguyên cớ phạm tội saṅghādisesa; vị bôi nhọ vị tỳ khưu về tội saṅghādisesa không có nguyên cớ phạm tội pācittiya; vị bôi nhọ vị tỳ khưu với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ phạm tội dukkaṭa. Do duyên tranh tụng liên quan đến khiển trách vi phạm ba tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào ba nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do ba nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội: có thể sanh lên do thân và do ư, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do ư, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

3. Do duyên tranh tụng liên quan đến tội vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên tranh tụng liên quan đến tội vi phạm bốn tội: Vị tỳ khưu ni biết mà che giấu tội pārājika (của tỳ khưu ni khác) phạm tội pārājika; có sự hoài nghi rồi che giấu phạm tội thullaccaya; vị tỳ khưu che giấu tội saṅghādisesa (của vị tỳ khưu khác) phạm tội pācittiya; vị che giấu sự hư hỏng về hạnh kiểm phạm tội dukkaṭa. Do duyên tranh tụng liên quan đến tội vi phạm bốn tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào bốn nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

4. Do duyên tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ vi phạm bao nhiêu tội? Do duyên tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ vi phạm năm tội: Vị tỳ khưu ni là người xu hướng theo kẻ bị phạt án treo không chịu dứt bỏ với lời nhắc nhở đến lần thứ ba, do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa, do hai lời tuyên ngôn của hành sự phạm các tội thullaccaya, vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự phạm tội pārājika; các tỳ khưu là những người xu hướng theo kẻ chia rẽ (hội chúng) không chịu dứt bỏ với lời nhắc nhở đến lần thứ ba phạm tội saṅghādisesa; vị không chịu dứt bỏ tà kiến ác với lời nhắc nhở đến lần thứ ba phạm tội pācittiya. Do duyên tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ vi phạm năm tội này.

 

Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? ―(như trên)― Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào năm nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ư. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đă được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.

 

Trừ ra bảy loại tội và bảy nhóm tội, các tội c̣n lại liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được tổng hợp vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?

 

- Trừ ra bảy loại tội và bảy nhóm tội, các tội c̣n lại không liên hệ với sự hư hỏng nào trong bốn sự hư hỏng, không được tổng hợp vào nhóm tội nào trong bảy nhóm tội, không được sanh lên do nguồn sanh tội nào trong sáu nguồn sanh tội, không là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng, không được làm lắng dịu bởi cách dàn xếp nào trong bảy cách dàn xếp. Nguyên nhân của điều ấy là ǵ? - Trừ ra bảy loại tội và bảy nhóm tội, các tội khác không có.

 

Dứt phần Do Duyên Tranh Tụng là thứ năm.

 

Dứt Sự Trùng Lặp Liên Tục.

 

*****

 

 

TÓM LƯỢC PHẦN NÀY

 

Câu hỏi về bao nhiêu, các nguồn sanh (tội), và bao nhiêu tội là tương tợ y như thế. (Bài kệ) các nguồn sanh tội, và sự hư hỏng, và tương tợ về sự tranh tụng.

 

--ooOoo--

 

 

 


[1] Do ba cửa thân khẩu ư có được sáu nguồn sanh tội. Các điều học có nguồn sanh tội giống nhau đă được phân loại thành 13 nhóm. Chúng tôi đă thêm từ trong ngoặc đơn ở bài kệ để dễ nhận ra điều học có liên quan. Về việc này, Chú Giải Sư Buddhaghosa có giải thích rơ hơn về các điều học và ở bản dịch tiếng Anh cô I.B. Horner có ghi tên điều học và số thứ tự (ND).

[2] Pārājika 4 của tỳ khưu ni về việc thực hiện đầy đủ tám sự việc (ND).

[3] Pācittiya 14 và 15 của tỳ khưu về việc ra đi chưa thu dọn lại giường ghế đă bày ra (ND).

[4] Pācittiya 80 của tỳ khưu ni về việc tiếp độ cô ni tu tập sự không được cha mẹ và người chồng cho phép (ND).

[5] Là sanh lên do thân, không do khẩu không do ư (ND).

 

 

 

 

   
 

| 00 | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 |

 
 

<Mục Lục><Đầu Trang>