Trang Chính

TTPV 33: Jātakapāḷi - Bổn Sanh tập II

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

KHUDDAKANIKĀYA - TIỂU BỘ

JĀTAKAPĀḶI - BỔN SANH tập II

* TTPV tập 33 *

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

Cập Nhật: Sunday, July 24, 2016

 

XXI. ASĪTINIPĀTO - NHÓM TÁM MƯƠI KỆ NGÔN (tiếp theo)

 

Nguồn: Tam Tạng Pāli - Sinhala thuộc Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS)

Lời tiếng Việt: Tỳ khưu Indacanda

Trang 412:

 

Trang 413:

 

 

▪ 5. MAHĀSUTASOMAJĀTAKAṂ

 

 

▪ 5. ĐẠI BỔN SANH SUTASOMA

537. Chuyện đại Sutasoma (Tiền thân Mahà-Sutasoma)

4196. Kasmā tuvaṃ rasaka edisāni
karosi kammāni sudāruṇāni,
hanāsi itthī purise ca mūḷho
maṃsassa hetu ādu dhanassa kāraṇā.

 

 

4196. “Này đầu bếp, tại sao ngươi lại làm những hành động vô cùng tàn bạo như thế này? Ngươi giết những người đàn bà và đàn ông do ngươi bị mê muội, v́ nguyên nhân miếng thịt hay là v́ lư do tài sản?”

1. Hỡi người sành các món cao lương,
Đ̣i hỏi ǵ sao thật khẩn trương
Đă giục ngươi làm điều khủng khiếp?
Chỉ v́ thực phẩm hoặc tiền vàng
Ngươi tàn sát những người này vậy,
Hỡi kẻ khốn kia lạc bước đàng?

4197. Na attahetu na dhanassa kāraṇā
na puttadārassa sahāyañātinaṃ,
bhattā ca me bhagavā bhūmipālo
so khādatī maṃsaṃ bhadante edisaṃ.

 

4197. “Không v́ nguyên nhân miếng thịt, không v́ lư do tài sản,

không v́ lư do vợ, con, bạn bè, hay thân quyến,

chủ nhân của tôi là đấng hộ quốc có quyền uy,

vị ấy ăn thịt như thế này, thưa ngài.”

 

2. Chẳng v́ thê tử hoặc thân bằng,
Quyến thuộc, bản thân hoặc bạc vàng,
Thần giết bà này v́ Chúa thượng,
V́ vua ngự trị cả giang san
Vẫn ăn thịt ấy, thần gây tội
Chính là do lệnh của vua ban.

4198. Sace tuvaṃ bhatturatthe payutto
karosi kammāni sudāruṇāni,
pāto va antepuraṃ pāpuṇitvā
lapeyyāsi me rājino sammukhe taṃ.

 

4198. “Nếu bị gắn bó với lợi ích của chủ nhân mà ngươi

làm những hành động vô cùng tàn bạo như thế này,

vào sáng sớm mai, sau khi đi đến hoàng cung,

ngươi có thể nói với ta điều ấy trước mặt đức vua.”

 

3. Nếu do mua chuộc để ch́u ḷng
Thèm khát tham tàn của Chúa công,
Ngươi đă phạm hành vi khủng khiếp,
Vậy ngày mai đến lúc hừng đông,
Chúng ta t́m Chúa công tham kiến,
Đưa cáo trạng ra trước mặt rồng.

4199. Tathā karissāmi ahaṃ bhadante
yameva tvaṃ bhāsasi kāḷahatthi,
pāto va antepuraṃ pāpuṇitvā
vakkhāmi te rājino sammukhe taṃ.

 

4199. “Thưa ngài, tôi sẽ làm như thế ấy, 

đúng với điều mà ngài nói, thưa tướng quân Kāḷahatthi.

vào sáng sớm mai, sau khi đi đến hoàng cung,

tôi sẽ nói với ngài điều ấy trước mặt đức vua.”

 

4. Kà-la đại tướng đáng tôn sùng,
Thần sẽ tuân lời của tướng công,
Đến rạng đông thần t́m Chúa thượng
Và đưa cáo trạng trước sân rồng.

4200. Tato ratyā vivasane suriyassuggamanaṃ pati,
kāḷo rasakamādāya rājānaṃ upasaṅkami,
upasaṅkamitvā rājānaṃ idaṃ vacanamabruvī.

 

 

5. Vầng nhật vừa lên, mới rạng đông,
Đem theo đầu bếp đến sân rồng,
Kà-la tiến lại gần thiên tử,
Tâu những lời này với chúa công:

4201. Saccaṃ kira mahārāja rasako pesito tayā,
hanāti itthī purise tuvaṃ maṃsāni khādasi.

 

 

6."Hỏa đầu quân, có đúng vậy chăng
Đưa lệnh vua ra tận phố phường,
Tàn sát nam nhi cùng phụ nữ,
Để dâng chúa thượng món cao lương.

4202. Evamevaṃ tathā kāḷa rasako pesito mayā,
mama atthaṃ karontassa kimetaṃ paribhāsasi.

 

 

7."Điều này thật đúng đấy, Kà-la,
Việc ấy được làm bởi lệnh ta,
Sao khiển trách tên đầu bếp nọ,
V́ làm theo lệnh của ta mà?".

4203. Ānando sabbamacchānaṃ khāditvā rasagiddhimā,
parikkhīṇāya parisāya attānaṃ khādiyā mato.

 

4203. “Con cá Ānanda, có sự thèm khát mùi vị của mọi loài cá, đă ăn thịt các con cá. Khi loài cá bị cạn kiệt hoàn toàn, nó đă ăn chính ḿnh và chết đi.

8. A-nan ăn cá biết bao loài,
Lúc đám tùy tùng trốn thoát rồi,
Nó cắn đuôi ḿnh nhai ngấu nghiến
Đến khi thủy quái phải ĺa đời.

4204. Evaṃ pamatto rasagārave rato
bālo yadi āyatiṃ nāvabujjhati,
vidhamma putte caji ñātake ca
parivattiya attānameva khādati.
 

 

9. Nô lệ dục tham, chẳng biết ǵ
Thú vui nào khác, kẻ ngu si
Đui mù, phóng dật, gây đau khổ
Hủy diệt họ hàng, cả thiếu nhi,
Rồi biến thân thành mồi béo bở
Cho ḷng tham quái ác ly kỳ.

Trang 414:

Trang 415:

 

4205. Idaṃ te sutvāna vihetu chando
mā bhakkhasi rāja manussamaṃsaṃ,
mā tvaṃ imaṃ kevalaṃ vārijova
dipadādhipa suññamakāsi raṭṭhaṃ.

 

4205. Sau khi nghe ví dụ này của thần, tâu bệ hạ, xin bệ hạ chớ thọ thực thịt người bởi ḷng mong muốn không có nguyên nhân. Tựa như con cá Ānanda (đă khiến cho đại dương trở nên trống vắng), tâu vị lănh tụ của loài hai chân, xin bệ hạ chớ làm cho đất nước trở thành trống không.”

10. Nghe lời thần nói, tấu Quân vương,
Món thịt người, xin chúa chờ ăn,
Việc ác kiêng làm, e ngại phải
Cùng chung số phận thật kinh hoàng
Của con thủy quái và đành để
Đất nước Chúa công phải mạt tàn.

4206. Sujāto nāma nāmena oraso tassa atrajo,
jambupesiṃ aladdhāna mato so tassa saṅkhaye.

 
 

11. Nam nhi thừa kế Su-jà-ta
Đ̣i quả hồng đào, cứ hét la,
Cậu bé buồn phiền v́ mất chúng,
Phải đành thiệt mạng, hóa ra ma.

4207. Evameva ahaṃ kāḷa bhutvā bhakkhaṃ rasuttamaṃ,
aladdhā mānusaṃ maṃsaṃ maññe hessāmi jīvitaṃ.

 

4207. Tương tự y như vậy, này tướng quân Kāḷa, sau khi ăn món ăn có hương vị tối thượng, trẫm nghĩ rằng, không đạt được thịt người, trẫm sẽ từ bỏ mạng sống.”

12. Vậy xưa nay trẫm vẫn ăn luôn
Những món, Kà-la hỡi, cực sang,
Thiếu món thịt người, e có lẽ
Không c̣n đời sống để lo toan.

4208. Māṇava abhirūposi kule jātosi sotthiye,
na tvaṃ arahasi tāta abhakkhaṃ bhakkhayetave.

 

4208. “‘Này Bà-la-môn trai trẻ, con có dáng vóc xinh đẹp, con được sinh ra ở gia tộc hưng thịnh. Này con yêu, con không thích hợp để thọ dụng vật không đáng thọ dụng.’

13. Nam tử La-môn tộc quư cao,
Là trai khả ái, lại thanh tao,
Con đừng uống vật đầy ghê tởm
Không một La-môn hưởng thụ nào.
Sau những lời này, ông lại bảo:

4209. Rasānamaññataraṃ etaṃ yasmā maṃ tvaṃ nivāraye,
sohaṃ tattha gamissāmi yattha lacchāmi edisaṃ.

 

4209. ‘Bởi v́ cha ngăn cấm con về rượu, vật có một hương vị nào đó trong bảy loại hương vị, con đây sẽ đi đến nơi nào con sẽ đạt được vật như thế ấy.

 

14. Bởi v́ cha muốn cản ngăn con,
Uống thứ này hương vị tuyệt ngon,
Con sẽ đi xa bất kể số,
T́m nơi đâu rượu vẫn trường tồn!

4210. So vāhaṃ nippatissāmi na te vacchāmi santike,
yassa me dassanena tvaṃ nābhinandasi brāhmaṇa.

 

4210. Chính con đây sẽ ra đi, con sẽ không sống bên cạnh cha. Thưa vị Bà-la-môn, do việc nh́n thấy con đây, cha không vui thích.’

15. Con sẽ ra đi vội bước chân,
Chẳng c̣n ở lại với song thân,
V́ nay thấy mặt con, e hẳn
Cha ghét con cay đắng bội phần!

4211. Addhā aññepi dāyāde putte lacchāma māṇava,
tvañca jamma vinassassu yattha pattaṃ na taṃ suṇe.

 

4211. ‘Này Bà-la-môn trai trẻ, đương nhiên cha sẽ đạt được những đứa con trai khác làm kẻ thừa kế. C̣n ngươi, này kẻ hèn hạ, ngươi hăy biến mất đi. Ngươi đi đến nơi nào, ta sẽ không nghe ngóng về ngươi ở nơi ấy nữa.’

 

16. Ta sẽ t́m vài cậu thiếu niên
Để cho thừa kế mọi kim tiền,
Cút đi, đồ khốn, nơi ta chẳng
Nghe thấy tên ngươi đáng rủa nguyền!

4212. Evameva tuvaṃ rāja dipadinda suṇohi me,
pabbājessanti taṃ raṭṭhā soṇḍaṃ māṇavakaṃ yathā.

 

 

17. Vậy lắng nghe này, tấu Đại vương,
Tuân theo lời dặn của ngu thần,
Nếu không sẽ giống chàng say rượu
Ngài bị đuổi ra khỏi thổ cương.

4213. Sujāto nāma nāmena bhāvitattāna sāvako,
accharaṃ kāmayantova na so bhuñji na so pivi.

 

 

18. Đồ đệ của chư Đại Thánh hiền,
Su-jà ta, cổ tích lưu truyền,
Nhịn luôn thực phẩm cùng đồ uống,
V́ đă đắm say một nữ tiên.

4214. Kusagge udakamādāya samudde udakaṃ mine,
evaṃ mānusakā kāmā dibbakāmāna santike.

 

 

19. Như đầu ngọn cỏ đọng hơi sương
So với mọi nguồn nước đại dương,
Cũng vậy t́nh người đem sánh với
Ái t́nh dâng tặng một tiên nương.

4215. Evameva ahaṃ kāḷa bhutvā bhakkhaṃ rasuttamaṃ,
aladdhā mānusaṃ maṃsaṃ maññe hessāmi jīvitaṃ.

 

4215. Tương tự y như thế, này tướng quân Kāḷa, sau khi ăn món ăn có hương vị tối thượng, trẫm nghĩ rằng, không đạt được thịt người, trẫm sẽ từ bỏ mạng sống.”

20. Vậy xưa nay trẫm vẫn ăn luôn
Những món, Kà-la hỡi, cực sang,
Thiếu món thịt người, e có lư
Không c̣n đời sống để lo toan.

4216. Yathāpi te dhataraṭṭhā haṃsā vehāsayaṃ gamā,
avutti paribhogena sabbe abbhatthataṃ gatā.
 

 

21. Như các thiên nga có sắc vàng
Du hành qua giữa cơi không gian,
Thảy đều phải chết v́ sinh sống
Bằng thực phẩm kia trái lẽ thường.

Trang 416:

Trang 417:

 

4217. Evameva tuvaṃ rāja dipadinda suṇohi me,
abhakkhaṃ rāja bhakkhesi tasmā pabbājayanti taṃ.

 
 

22. Cũng vậy, xin ngài hỡi Đại vương,
Lắng nghe thần nói thật tinh tường;
V́ ăn thực phẩm này phi pháp
Dân sẽ đuổi ngài khỏi thổ cương.

4218. Tiṭṭhāhīti mayā vutto so tvaṃ gacchasi pammukho,
aṭṭhito tvaṃ ṭhitomhīti lapasi brahmacārinī,
idaṃ te samaṇa ayuttaṃ asiñca me maññasi kaṅkapattaṃ.

 

4218. “Đă được trẫm bảo: ‘Hăy đứng lại,’ ngài đây vẫn đi tới, mặt nh́n hướng khác. Này vị hành Phạm hạnh, ngài không đứng yên, nhưng lại nói: ‘Ta đang đứng.’ Này vị Sa-môn, điều này không thích hợp đối với ngài. Và ngài nghĩ rằng thanh gươm của trẫm là cọng lông chim diệc hay sao?”

23. Mặc dù ta bảo đứng yên ngay,
Ngài vẫn phóng ḿnh tựa gió bay,
Ngài lại thét: "Này! Ta đứng đó!"
Chắc là ngài nói dối ta đây.
Chuyện này quả thật không phù hợp.
Ẩn sĩ ôi! Mang lấy kiếm này,
Ngài phải giả làm tên bất hại
Điểm lông chim hạc trắng, con mây.

4219. Ṭhitohamasmi sadhammesu rāja
na nāmagottaṃ parivattayāmi,
corañca loke aṭṭhitaṃ vadanti
āpāyikaṃ nerayikaṃ ito cutaṃ.

 
 

24. Ta vẫn ḷng theo đạo chánh chân,
Chẳng thay tên họ hoặc thân nhân,
Cường gian đây sống đời phù phiếm,
Phút chốc đọa vào ngục khổ thân.

4220. Sace tuvaṃ saddahasi rāja sutaṃ gaṇhāhi khattiya,
tena yaññaṃ yajitvāna evaṃ saggaṃ gamissasi.

 
 

25. Can đảm lên đi, hỡi Chúa công,
Bắt So-ma vĩ đại anh hùng,
Đem về đây để ngài dâng lễ
Sẽ đạt thiên đường, có biết không?

4221. Kasmiṃ nu raṭṭhe tava jātabhūmi
atha kena atthena idhānupatto,
akkhāhi me brāhmaṇa etamatthaṃ
kimacchasi demi tayajja patthitaṃ.

 
 

26. Trẫm hỏi ngài sinh ở xứ nào,
Đến đây, Đạo sĩ hỡi, v́ sao?
Nói rồi, nay trẫm liền ban tặng
Bất cứ điều chi đấy nguyện cầu.

4222. Gāthā catasso dharaṇīmahissara
sugambhiratthā varasāgarūpamā,
taveva atthāya idhāgatosmi
suṇohi gāthā paramatthasaṃhitā.

 

 

27. Bốn vần thi kệ, tấu Quân vương,
Ư nghĩa sâu xa tựa hải dương,
Mang đến đây, xin nghe thật kỹ
Cao siêu huyền bí thảy am tường.

4223. Na ve rudanti matimanto sapaññā
bahussutā ye bahuṭhāna cintino,
dīpaṃ hi etaṃ paramaṃ narānaṃ
yaṃ paṇḍitā sokanudā bhavanti.

 

4223. “Những người trí thức, có trí tuệ, có kiến thức, có nhiều sự suy xét về nguyên nhân, chắc chắn không than khóc, bởi v́ sự sáng suốt ấy là ḥn đảo (nương tựa) tối cao của những người nam, và các bậc sáng suốt là những người xua đi nỗi sầu muộn (cho những chúng sanh có sự sầu muộn).

28. Những bậc uyên thâm, các trí nhân
Tư duy cao cả phát sinh luôn,
Chẳng bao giờ khóc, t́m an trú
Bậc Thánh xua tan nỗi khổ buồn.

4224. Attānaṃ ñātī uda puttadāraṃ
dhaññaṃ dhanaṃ rajataṃ jātarūpaṃ,
kimo nu tvaṃ sutasomānutappe
koravyaseṭṭha vacanaṃ suṇoma te.

 

4224. Này đại vương Sutasoma, vậy bệ hạcó thể hối tiếc về điều ǵ,

về bản thân, thân quyến, hay là vợ con,

về lúa gạo, tài sản, bạc, hay vàng?

Này vị đứng đầu của cư dân Kuru, chúng tôi lắng nghe lời nói của bệ hạ.”

 

29. Có phải vợ con hoặc họ hàng,
Bản thân, kho thóc, bạc hay vàng,
Đă làm lệ chảy, So-ma hỡi,
Đại đế Ku-ru, đáp rơ ràng.

4225. Nevāhamattānam anutthunāmi
na puttadāraṃ na dhanaṃ na raṭṭhaṃ,
satañca dhammo carito purāṇo
taṃ saṅgaraṃ brāhmaṇassānutappe.
 

 

30. Không khóc ǵ cho chính bản thân,
Vợ con, đất nước hoặc kho tàng,
Thánh hạnh ngày xưa ta vẫn giữ,
Khóc v́ lời hứa chẳng chu toàn.

Trang 418:

Trang 419:

 

4226. Kato mayā saṅgaro brāhmaṇena
raṭṭhe sake issariye ṭhitena,
taṃ saṅgāraṃ brāhmaṇassappadāya
saccānurakkhī punarāvajissaṃ.

 
 

31. Trước một La-môn, đă hứa lời,
Khi ta trị nước với quyền oai,
Lời kia ta ước mong ǵn giữ
Danh dự cứu xong, trở lại ngài!

4227. Nevāhametaṃ abhisaddahāmi
sukhī naro maccumukhā pamutto,
amittahatthaṃ punarāvajeyya
koravyaseṭṭha nahi maṃ upesi.

 
 

32. Ta chẳng tin rằng có thế nhân
Vận may thoát móng tử ma thần,
Trở về nộp mạng cho cừu địch,
Nếu để ngài đi, chẳng phục hoàn.

4228. Mutto tuvaṃ porisādassa hatthā
gantvā sakaṃ mandiraṃ kāmakāmī,
madhurampiyaṃ jīvitaṃ laddha rāja
kuto tuvaṃ ehisi me sakāsaṃ.

 
 

33. Thoát kè sát nhân ác, trở về
Hoàng cung, mộng ước đẹp tràn trề,
Cuộc đời thân thiết đầy lôi cuốn
Hồi phục cho ngài phải đắm mê.
V́ lư do ǵ trên thế giới
Mà ngài trở lại với ta hề?

4229. Mataṃ vareyya parisuddhasīlo
na hi jīvitaṃ garahito pāpadhammo,
na hi taṃ naraṃ tāyate duggatīhi
yassāpi hetu alikaṃ bhaṇeyya.

 
 

34. Vô tội, con người thích chết hơn
Sống mang đầy tội đáng khinh nhờn,
Nếu v́ cứu mạng, buông lời dối
Người chẳng thoát đâu ngục khổ buồn.

4230. Sacepi vāto girimāvaheyya
cando ca suriyo ca chamā pateyyuṃ,
sabbāva najjo paṭisotaṃ vajeyyuṃ
na tvevahaṃ rāja musā bhaṇeyyaṃ.

 
 

35. Gió có thể lay chuyển núi cao,
Trời, trăng rụng xuống cơi trần lao,
Thưa ngài, và mọi ḍng sông cạn,
Nhưng vọng ngôn, ta chẳng phạm vào.

4231. Nabhaṃ phaleyya udadhī visusse
saṃvatteyya bhūtadharā vasundharā,
siluccayo neru samūlamuppate
natvevahaṃ rāja musā bhaṇeyyaṃ.

 
 

 

4232. Asiñca sattiñca parāmasāmi
sapathampi te samma ahaṃ karomi,
tayā pamutto anaṇo bhavitvā
saccānurakkhī punarāvajissaṃ.

 

 

36. Này! Khi ta chạm kiếm, đao này,
Thề nguyện trang nghiêm trước mặt ngài,
Hăy thả ta và ta thoát nợ,
Cứu xong danh dự, trở về đây.

4233. Yo te kato saṅgaro brāhmaṇena
raṭṭhe sake issariye ṭhitena,
taṃ saṅgaraṃ brāhmaṇassappadāya
saccānurakkhī punarāvajassu.
 

 

37. Trước một La-môn, đă hứa lời,
Khi ngài trị nước với quyền oai,
Lời kia, ta phải bắt ngài giữ,
Danh dự cứu rồi, trở lại thôi.

Trang 420:

Trang 421:

 

4234. Yo me kato saṅgaro brāhmaṇena
raṭṭhe sake issariye ṭhitena,
taṃ saṅgaraṃ brāhmaṇassappadāya
saccānurakkhī punarāvajissaṃ.

 
 

38. Trước một La-môn đă hứa lời,
Khi ta trị nước với quyền oai,
Lời kia ta ước mong ǵn giữ,
Danh dự cứu xong, trở lại ngài.

4235. Mutto ca so porisādassa hatthā
gantvāna taṃ brāhmaṇaṃ etadavoca,
suṇomi gāthāyo satārahāyo
yā me sutā assu hitāya brahme.

 

4235. Và vị ấy đă được thoát khỏi ṿng tay của kẻ ăn thịt người. Đức vua Sutasoma, sau khi đi đến gặp vị Bà-la-môn ấy, đă nói điều này: ‘Hăy cho trẫm nghe các kệ ngôn đáng giá một trăm tiền, này vị Bà-la-môn, các điều được trẫm nghe có thể đem lại lợi ích cho trẫm.’

39. Thoát tay tàn bạo, giết nhân dân,
Đến Đạo sĩ, người bạn thiết thân,
Ngài bảo: "Chúng ta đều ước muốn
Nghe bài thi kệ giá trăm đồng,
Nếu ngài chiếu cố ban lời dạy,
Lợi lạc chúng ta được hưởng phần".

4236. Sakideva sutasoma sabbhi hoti samāgamo,
sā naṃ saṅgati pāleti nāsabbhi bahusaṅgamo.

 

4236. “Thưa ngài Sutasoma, việc gặp gỡ với những người tốt dầu chi một lần, sự hội ngộ ấy hộ tŕ vị ấy. Không gặp gỡ nhiều với những kẻ xấu.

40. Hăy ḥa hợp với Thánh hiền nhân,
Này hỡi So-ma, chỉ một lần,
Và chớ bao giờ thân kẻ ác,
B́nh an tràn ngập khắp toàn thân.

4237. Sabbhireva samāsetha sabbhi kubbetha santhavaṃ,
sataṃ saddhammamaññāya seyyo hoti na pāpiyo.

 

4237. Bệ hạ hăy thân cận chỉ với những người tốt. Bệ hạ hăy thực hiện sự thân thiết với những người tốt. Người hiểu rơ chánh pháp của các bậc thiện nhân trở nên tốt hơn, không trở thành xấu hơn.

41. Thường xuyên giao kết với hiền nhân,
Chỉ nhận hiền nhân chính bạn thân,
Học chánh lư từ bao bậc Thánh,
Mỗi ngày tu tập tốt thêm dần.

4238. Jīranti ve rājarathā sucittā
atho sarīrampi jaraṃ upeti,
satañca dhammo na jaraṃ upeti
santo have sabbhi pavedayanti.

 

4238. Thật vậy, các cỗ vương xa khéo được tô điểm cũng trở thành cũ kỹ,

thậm chí thân xác này cũng đi đến sự già nua,

nhưng pháp của các bậc thiện nhân không đi đến sự lăo hóa,

các bậc thiện nhân quả thật tuyên thuyết về điều tốt lành.

 

 

42. Như các xe vua khéo điểm trang
Cũng thành mờ nhạt, sẽ tan hoang,
Thân ta yếu đuối càng ṃn mỏi,
Và phải chịu nhanh chóng lụi tàn.
Song Đạo Thánh hiền nhân vĩnh cửu,
Chẳng hề tàn tạ với thời gian,
Thiên nhân tuyên thuyết cùng người thiện
Qua các thời chưa được bảo ban.

4239. Nabhañca dūre paṭhavī ca dūre
pāraṃ samuddassa tadāhu dūre,
tato have dūrataraṃ vadanti
satañca dhammaṃ asatañca rāja. 

 

4239. Bầu trời là xa vời, và trái đất là xa vời,

bờ kia của biển cả là xa vời, các vị đă nói điều ấy.

Thật vậy, các vị nói về điều c̣n xa vời hơn thế nữa,

về pháp của các bậc thiện nhân và của những kẻ xấu xa, tâu bệ hạ.”

 

43. Bầu trời giăng rộng răi bao la,
Quả đất trải dài ở dưới ta,
Lănh thổ bên kia bờ đại hải,
Chúng ta đều biết thật là xa.
Song c̣n vĩ đại hơn muôn vật,
Tầm mức ấy càng tỏa rộng ra
Là Đạo lư về điều thiện, ác
Người hiền, kẻ ác dạy cho ta.

4240. Sahassiyo imā gāthā na imā gāthā satārahā,
cattāri tvaṃ sahassāni khippaṃ gaṇhāhi brāhmaṇa.

 

4240. “Các câu kệ này là tiền ngàn, các câu kệ này không phải giá tiền trăm. Này vị Bà-la-môn, ông hăy mau nhận lấy bốn ngàn.”

44. Các kệ này không chỉ bốn trăm,
Đúng hơn, phải nói giá hàng ngàn,
Bốn ngàn đây, Đạo Sư, cầm lấy,
Đem chúng đi ngay, hăy vội vàng.

4241. Āsītiyā nāvutiyā ca gāthā
satārahā cāpi bhaveyyu gāthā,
paccattameva sutasoma jānahi
sahassiyo nāma kudhatthi gāthā.

 

 

45. Kệ thường mỗi khúc tám mươi đồng,
Hoặc đến một trăm, giá tận cùng,
Song hởi So-ma, nên tự chủ,
Một ngàn là giá kệ chưa từng!

4242. Icchāmi vohaṃ sutavuddhimattano
santo ca maṃ sappurisā bhajeyyuṃ,
ahaṃ savantīhi mahodadhīva
nahi tāta tappāmi subhāsitena.
 

4242. “Con mong muốn sự tiến bộ về kiến thức cho bản thân,

và các bậc thiện nhân, những người tốt lành, có thể chia sớt cho con.

Con tựa như đại dương (không bị tràn đầy) với những ḍng sông,

thưa cha, bởi v́ con không nhàm chán đối với thiện ngôn.

 

46. Con mong Thánh kiến cứ tăng dần,
Bầu bạn thiết thân với Thánh nhân,
Chẳng có sông nào đầy biển cả,
Thiện ngôn con học măi không cùng.

Trang 422:

 

Trang 423:

 

4243. Aggi yathā tiṇakaṭṭhaṃ ḍahanto
na tappatī sāgaro vā nadīhi,
evampi te paṇḍitā rājaseṭṭha
sutvā na tappanti subhāsitena.

 
 

47. Như lửa khát khao réo củi rơm,
Biển đ̣i sông, lạch đổ nhiều hơn,
Hiền nhân cũng vậy, tâu Hoàng thượng,
Khao khát nghe lời nói thiện chơn.

4244. Sakassa dāsassa yadā suṇomi
gāthā ahaṃ atthavatī janinda,
tameva sakkacca nisāmayāmi
nahi tāta dhammesu mamatthi titti.

 

 

48. Từ miệng nô tỳ, nếu được nghe
Tối cao ư nghĩa kệ tràn trề,
Lời kia con nhận đầy cung kính,
Đạo lư thiện chân thỏa chẳng hề.

4245. Idante raṭṭhaṃ sadhanaṃ sayoggaṃ
sakāyuraṃ sabbakāmūpapannaṃ,
kiṃ kāmahetu paribhāsase maṃ
gacchāmahaṃ porisādassa kante.

 

 

49. Đất nước của cha lắm bạc vàng,
Cân đai, quốc phục, lạc vô ngàn,
Sao c̣n khiển trách khi con bỏ
Dục lạc, chết vào tay sát nhân?

4246. Attānurakkhāya bhavanti hete
hatthārohā rathikā pattikā ca,
assārohā ye ca dhanuggahāse
senaṃ payuñjāma hanāma sattuṃ.

 

4246. “Bởi v́, những người này là để bảo vệ bản thân:

các tượng binh, các xa binh, và các bộ binh,

các kỵ mă, và các cung thủ.

Chúng ta hăy sử dụng quân đội, chúng ta hăy giết chết kẻ thù.”

 

50. Dũng sĩ đến đây bảo vệ ta!
Kẻ th́ cỡi tượng, kẻ lên xa,
Bộ binh, kỵ mă đầy cung tiễn,
Thống lănh đạo quân, giết địch nhà!

4247. Sudukkaraṃ porisādo akāsi
jīvaṃ gahetvāna avissajī maṃ,
taṃ tādisaṃ pubbakiccaṃ saranto
dubbhe ahaṃ tassa kathaṃ janinda.

 

 

51. Hành động cừu nhân ăn thịt người
Bắt con, rồi thả, thật cao vời,
Khắc ghi thuở trước t́nh bằng hữu,
Đă hứa, làm sao con nuốt lời?

4248. Vanditvā so pitaraṃ mātarañca
anusāsitvā negamañca balañca,
saccavādī saccānurakkhamāno
agamāsi so yena so porisādo.

 

 

52. Lời khéo khuyên, từ biệt lăo thân,
Chân thành nhắn nhủ cả quân, dân,
Giữ lời thệ ước, không lừa dối,
Vội trở về bên kẻ sát nhân.

4249. Kato mayā saṅgaro brāhmaṇena
raṭṭhe sake issariye ṭhitena,
taṃ saṅgaraṃ brāhmaṇassappadāya
saccānurakkhī punarāgatosmi.
yajassu yaññaṃ khāda maṃ porisāda.

 

 

53. Trước một La-môn đă hứa lời,
Khi ta trị nước với quyền oai,
Nay ta đă trọn lời thề ước,
Danh dự cứu xong, trở lại rồi.
Vậy hăy giết ta và tế lễ
Dâng thần cây gỗ của nhà ngài,
Hay là thỏa măn ḷng tham muốn
Độc ác bạo hung với thịt người!

4250. Na hāyate khādituṃ mayhaṃ pacchā
citakā ayaṃ tāva sadhūmikā ca,
niddhūmake pacitaṃ sādhu pakkaṃ
suṇāmi gāthāyo satārahāyo.
 

 

54. Dù ta tŕ hoăn một hai ngày,
Lửa vẫn c̣n làm khói tỏa bay,
Chẳng mất quyền ăn mồi thịt ấy,
Thịt quay than nóng thật ngon thay!
Các vần kệ giá trăm đồng chẵn
Ngài hăy mau lên, đọc kệ ngay!

Trang 424:

 

Trang 425:

 

4251. Adhammiko tvaṃ porisādakāsi
raṭṭhā ca bhaṭṭho udarassa hetu,
dhammañcimā abhivadanti gāthā
dhammo adhammo ca kuhiṃ sameti.

 
 

55. Kẻ ăn đồng loại, bạo tàn thay,
Thèm thịt, đă rơi khỏi chiếc ngai,
Vần kệ dạy cho ta Chánh lư,
Chánh, Tà phải kết hợp sau đây?

4252. Adhammikassa luddassa niccaṃ lohitapāṇino,
natthi saccaṃ kuto dhammo kiṃ sutena karissasi.

 
 

56. Với kẻ cướp hung ác bạo tàn,
Bàn tay đă nhúng máu đầy tràn,
Lợi ǵ Thánh kiến này đem đến,
Phát xuất từ đâu lẽ Chánh Chân

4253. Yo maṃsahetu migavaṃ careyya
yo vā hane purisaṃ attahetu,
ubhopi te pecca samā bhavanti
kasmā no adhammikaṃ brūhi maṃ tvaṃ.

 

 

57. Kẻ nọ đi săn bắt thú rừng
Để làm thành món thịt thơm lừng,
Và người kia giết người đồng loại
Lấy thịt bà con để nấu ăn,
Khi chết, cả hai đồng tội lỗi,
Sao riêng ta bị trách cùng hung?

4254. Pañca pañca nakhā bhakkhā khattiyena pajānatā,
abhakkhaṃ rāja bhakkhesi tasmā adhammiko tuvaṃ.

 

4254. “Không được ăn mười loại thịt, đă được vị Sát- đế- lỵ biết đến. Này vị chúa tể, ngươi ăn loại thịt không nên ăn; v́ thế, ngươi là kẻ phi pháp.”

58. Trong ngũ thú, loài có móng, răng,
Khôn ngoan, vương tử cứ dùng ăn,
C̣n ngài ăn thịt đà kiêng kỵ,
Này Đại vương ôi, thật bạo hung!

4255. Mutto tuvaṃ porisādassa hatthā
gantvā sakaṃ mandiraṃ kāmakāmī,
amittahatthaṃ punarāgatosi
na khatta dhamme kusalosi rāja.

 

4255. “Bệ hạ đă được thoát khỏi ṿng tay của kẻ ăn thịt người,

sau khi đi đến cung điện của ḿnh, là người có sự ham muốn các dục,

bệ hạ c̣n quay trở lại trong ṿng tay của kẻ thù.

Tâu bệ hạ, bệ hạ không thiện xảo về pháp của vị Sát- đế- lỵ.”

 

59. Thoát kẻ bạo hung nuốt thịt người,
Về cung, đầy mộng ước xinh tươi,
Sao c̣n nộp mạng cho cừu địch,
Ngài chắc tinh thông đạo lư trời?

4256. Ye khattadhamme kusalā bhavanti
pāyena te nerayikā bhavanti,
tasmā ahaṃ khattadhammaṃ pahāya
saccānurakkhī punarāgatosmi
yajassu yaññaṃ khāda maṃ porisāda.

 

4256. “Những người nào thiện xảo về pháp của vị Sát- đế- lỵ,

phần đông những người ấy trở thành những kẻ sanh vào địa ngục.

V́ thế, trẫm từ bỏ pháp của vị Sát- đế- lỵ.

Là người ǵn giữ sự chân thật, trẫm đă tự ḿnh quay trở lại.

Này kẻ ăn thịt người, hăy dâng cúng lễ tế thần, hăy ăn thịt trẫm.”

 

60. Ai thông đạo Khat-ti-ya vầy,
Đều xuống ngục sâu sống đọa đày,
Ta vốn ghét căm truyền thống ấy,
Theo lời đă hứa, trở về đây.
Hăy làm tế lễ và ăn thịt
Ta trọn, Đại vương khủng khiếp này.

4257. Pāsādavāsā paṭhavīgavāssaṃ
kāmitthiyo kāsikacandanañca,
sabbaṃ tahiṃ labhasi sāmitāya
saccena kiṃ passasi ānisaṃsaṃ.

 

4257. “Với các ṭa lâu đài là chỗ trú ngụ, với đất đai, ḅ, ngựa,

với các nữ nhân là nguồn của dục vọng, với vải Kāsi, và trầm hương,

bệ hạ đạt được mọi thứ ở nơi ấy với tư cách chủ nhân,

bệ hạ nh́n thấy lợi ích ǵ với sự chân thật?”

 

61. Đất rộng, cung đ́nh, ḅ, ngựa, trâu,
Hương thơm, áo đẹp, lắm nàng hầu,
Đại vương đầy đủ bao điều ấy,
Chánh pháp ngài t́m hạnh phúc đâu?

4258. Ye keci me atthi rasā pathavyā
saccaṃ tesaṃ sādutaraṃ rasānaṃ,
sacce ṭhitā samaṇabrāhmaṇā ca
taranti jātimaraṇassa pāraṃ.
 

4258. “Bất cứ những hương vị nào có cho trẫm ở trên trái đất,

trong số các hương vị ấy, sự chân thật là ngọt ngào hơn cả.

Và đứng vững ở sự chân thật, các vị Sa-môn và Bà-la-môn

vượt qua bờ kia của sanh và tử.”

 

62. Mọi lạc thú mà cơi thế gian
Tặng ta, chẳng có thú nào hơn
Niềm vui Chánh pháp ta t́m thấy:
Ẩn sĩ, La-môn vẫn trú an
Trong đạo Chánh chân và giải thoát
Tử sinh, bờ nọ đến an toàn.

Trang 426:

 

Trang 427:

 

4259. Mutto tuvaṃ porisādassa hatthā
gantvā sakaṃ mandiraṃ kāmakāmī,
amittahatthaṃ punarāgatosi
naha nūna te maraṇabhayaṃ janinda
alīnacitto casi saccavādī.

 

4259. “Bệ hạ đă được thoát khỏi ṿng tay của kẻ ăn thịt người,

sau khi đi đến cung điện của ḿnh, là người có sự ham muốn các dục,

bệ hạ c̣n quay trở lại trong ṿng tay của kẻ thù,

tâu vị chúa của loài người, chắc hẳn bệ hạ không có sự sợ hăi cái chết,

và bệ hạ có tâm không nhút nhát, có lời nói chân thật.”

 

63. Thoát kẻ bạo hung nuốt thịt người
Về cung, tràn mộng ước xin tươi,
Sao c̣n trở lại thăm thù địch?
Vương tử chắc không sợ chết rồi,
Để giữ trọn lời ngài đă hứa,
Bỏ qua dục lạc ở trên đời.

4260. Katā me kaḷyāṇā anekarūpā
yaññā yiṭṭhā ye vipulā pasatthā,
visodhito paralokassa maggo
dhamme ṭhito ko maraṇassa bhāye.

 

4260. “Các hành động tốt lành với nhiều h́nh thức đă được trẫm làm,

các lễ tế thần đă được trẫm dâng cúng là to lớn, đă được ca ngợi,

con đường đi đến thế giới khác đă được sạch sẽ,

đă đứng vững ở sự chân thật, ai có thể sợ hăi đối với cái chết?

 

64. Ta phát nguyện làm muôn ngàn công đức,
Lễ dồi dào được danh tiếng lừng vang,
Đến đời sau, ta giữ thẳng con đường,
Ai sợ chết khi trú an Chánh pháp?

4261. Katā me kalyāṇā anekarūpā
yaññā yiṭṭhā ye vipulā pasatthā,
anānutappaṃ paralokaṃ gamissaṃ
yajassu yaññaṃ khāda maṃ porisāda.

 
 

65. Ta phát nguyện làm muôn ngàn công đức,
Lễ dồi dào được danh vọng vẻ vang,
Không ăn năn, ta tiến đến thiên đàng,
Hăy tế lễ và xé mồi ăn thịt.

4262. Pitā ca mātā ca upaṭṭhitā me
dhammena me issariyaṃ pasatthaṃ,
visodhito paralokassa maggo
dhamme ṭhito ko maraṇassa bhāye.

 
 

66. Song thân, ta đă thương yêu khắng khít,
Ta được khen cai trị tuyệt công b́nh,
Đến đời sau ta chọn lối quang vinh,
Ai sợ chết khi trú an Đạo giáo?

4263. Pitā ca mātā ca upaṭṭhitā me
dhammena me issariyaṃ pasatthaṃ,
anānutappaṃ paralokaṃ gamissaṃ
yajassu yaññaṃ khāda maṃ porisāda.

 
 

67. Song thân, ta đă phụng thờ chu đáo,
Ta được khen cai trị tuyệt công b́nh,
Không ăn năn, ta tiến đến thiên đ́nh,
Hăy tế lễ và xé mồi ngon ngọt.

4264. Ñātīsu mittesu katā me kārā
dhammena me issariyaṃ pasatthaṃ,
visodhito paralokassa maggo
dhamme ṭhito ko maraṇassa bhāye.

 
   

4265. Ñātīsu mittesu katā me kārā
dhammena me issariyaṃ pasatthaṃ,
anānutappaṃ paralokaṃ gamissaṃ
yajassu yaññaṃ khāda maṃ porisāda.

 
 

68. Ta phục vụ đám thân bằng quyến thuộc,
Cai trị công b́nh được mọi người khen,
Không ăn năn, ta chọn lối thăng thiên,
Hăy tế lễ và xé mồi ăn gấp.

 

4266. Dinnaṃ me dānaṃ bahudhā bahunnaṃ
santappitā samaṇabrāhmaṇā ca,
visodhito paralokasa maggo
dhamme ṭhito ko maraṇassa bhāye.
 

 

69. Biết bao người, ta cúng dường cung cấp:
Bà-la-môn, đạo sĩ, thảy hân hoan
Đến đời sau, ta chọn lối thiên đàng,
Ai sợ chết khi trú an Chánh pháp?

Trang 428:

 

Trang 429:

 

4267. Dinnaṃ me dānaṃ bahudhā bahunnaṃ
santappitā samaṇabrāhmaṇā ca,
anānutappaṃ paralokaṃ gamissaṃ
yajassu yaññaṃ khāda maṃ porisāda.

 
 

70. Biết bao người, ta cúng dường cung cấp,
Bà-la-môn, đạo sĩ, thảy hân hoan,
Không ăn năn, ta tiến tới thiên đàng,
Hăy tế lễ và xé mồi ăn thịt.

4268. Visaṃ pajānaṃ puriso adeyya
āsīvisaṃ jalitaṃ uggatejaṃ,
muddhāpi tassa vipateyya sattadhā
yo tādisaṃ saccavādiṃ adeyya.

 

4268. “Giống như người nhận biết chất độc hại mà vẫn ăn vào, hoặc nhận biết con rắn độc có uy lực hung bạo tựa như ngọn lửa cháy rực, mà vẫn nắm giữ, (tương tự y như vậy) kẻ nào ăn thịt người có lời nói chân thật như bệ hạ, thậm chí cái đầu của kẻ ấy cũng có thể vỡ tan thành bảy mảnh.

71. Thuốc độc kẻ nào uống chủ tâm,
Độc xà hung bạo, lấy tay cầm,
Tan thành bảy mảnh ngay đầu nó,
Người chẳng dối lời, lại dám ăn!

4269. Sutvā dhammaṃ vijānanti narā kalyāṇapāpakaṃ,
api gāthā suṇitvāna dhamme me ramatī mano.

 
 

72. Những người nghe giáo lư như chân,
Thiện, ác sẽ mau chóng biệt phân,
Có lẽ nếu nghe vần kệ ấy,
Tâm ta sẽ hỷ lạc vô ngần.

4270. Sakideva sutasoma sabbhi hoti samāgamo,
sā naṃ saṅgati pāleti nāsabbhi bahu saṅgamo.

 
 

73. Hăy ḥa hợp với Thánh hiền nhân,
Này hỡi So-ma, chỉ một lần,
Và chớ bao giờ thân kẻ ác,
B́nh an tràn ngập khắp toàn thân.

4271. Sabbhireva samāsetha sabbhi kubbetha santhavaṃ,
sataṃ saddhammamaññāya seyyo hoti na pāpiyo.

 

 

74. Thường xuyên giao kết với hiền nhân,
Chỉ nhận hiền nhân chính bạn thân,
Học chánh lư từ bao bậc Thánh,
Mỗi ngày tu tập tốt thêm dần.

4272. Jīranti ve rājarathā sucittā
atho sarīrampi jaraṃ upeti,
satañca dhammo na jaraṃ upeti
santo have sabbhi pavedayanti.

 

 

75. Như các xe vua khéo điểm trang
Cũng thành mờ nhạt, sẽ tan hoang,
Thân ta yếu đuối càng ṃn mỏi,
Và phải chịu nhanh chóng lụi tàn.
Song Đạo Thánh hiền nhân vĩnh cửu,
Chẳng hề tàn tạ với thời gian,
Thiên nhân tuyên thuyết cùng người thiện
Qua các thời chưa được bảo ban.

4273. Nabhañca dūre paṭhavī ca dūre
pāraṃ samuddassa tadāhu dūre,
tato have dūrataraṃ vadanti
satañca dhammaṃ asatañca rāja.

 

 

76. Bầu trời giăng rộng răi bao la,
Quả đất trải dài ở dưới ta,
Lănh thổ bên kia bờ đại hải
Chúng ta đều biết thật là xa.
Song c̣n vĩ đại hơn muôn vật,
Tầm mức ấy càng tỏa rộng ra
Là Đạo lư về điều thiện, ác
Người hiền, kẻ ác dạy cho ta.

4274. Gāthā imā atthavatī suvyañjanā
subhāsitā tuyhaṃ janinda sutvā,
ānandi citto sumano patīto
cattāri te samma vare dadāmi.

 

 

77. Ư nghĩa chứa chan, giọng sáng trong,
Lọt tai, vương tử, các chân ngôn,
Tâm ta hoan hỷ, ta thích thú,
Muốn tặng bạn hiền bốn đặc ân.

4275. Yo nattano maraṇaṃ bujjhasi tvaṃ
hitāhitaṃ vinipātañca saggaṃ,
giddho rase duccarite niviṭṭho
kiṃ tvaṃ varaṃ dassasi pāpadhamma.
 

 

78. Người chẳng biết ǵ phận bản thân,
Điều lành, điều ác chẳng hề phân,
Chẳng phân địa ngục cùng thiên giới,
Nô lệ cho ḷng dục hám ăn,
Sao kẻ đê hèn như bạn vậy
Biết ban ân huệ đến tha nhân?

Trang 430:

 

Trang 431:

 

4276. Ahañca taṃ dehi varanti vajjaṃ
tvañcāpi datvāna avākareyya,
sandiṭṭhikaṃ kalahamimaṃ vivādaṃ
ko paṇḍito jānamupabbajeyya.

 
 

79. Nếu bảo:"Cho ta ân huệ này",
Rồi ngài lấy lại lời thề ngay,
Ai khôn ngoan muốn đành ḷng chịu
Liều lĩnh phân tranh vậy hỡi ngài?

4277. Na taṃ varaṃ arahati jantu dātuṃ
yaṃ vāpi datvāna avākareyya,
varassu samma avikampamāno
pāṇaṃ cajitvānapi dassameva.

 
 

80. Chẳng ai đ̣i tặng một hồng ân,
Rồi lại nuốt lời hứa, giả nhân,
Bạo dạn chọn hồng ân, hỡi bạn,
Dù ta mất mạng, vẫn ban phần.

4278. Ariyassa ariyena sameti sakkhi
paññassa paññāṇavatā sameti,
passeyya taṃ vassasataṃ arogaṃ
etaṃ varānaṃ paṭhamaṃ varāmi.

 

4278. “T́nh thân hữu được hội tụ giữa người thánh thiện với người thánh thiện, được hội tụ giữa người có trí tuệ với người có trí tuệ, (ước ǵ) có thể nh́n thấy ngươi một trăm tuổi, không bệnh tật; trẫm chọn điều này là điều thứ nhất trong bốn điều ân huệ.”

81. Ai kẻ sống cùng một Thánh nhân,
Thường xuyên đối diện với đồng tâm,
Vậy là người trí luôn tin chắc
Làm đẹp ư ḷng bậc trí chân
Ta nguyện cầu ngài luôn tráng kiện,
Sống lâu đến cả một trăm năm,
Đây lời cầu nguyện đầu tiên vậy,
Ta muốn ngài ban tặng đặc ân.

4279. Ariyassa ariyena sameti sakkhi
paññassa paññāṇavatā sameti,
passapi maṃ vassasataṃ arogaṃ
etaṃ varānaṃ paṭhamaṃ dadāmi.

 

4279. “T́nh thân hữu được hội tụ giữa người thánh thiện với người thánh thiện, được hội tụ giữa người có trí tuệ với người có trí tuệ, bệ hạ hăy nh́n thấy ta một trăm tuổi, không bệnh tật; ta ban cho điều này là điều thứ nhất trong bốn điều ân huệ.”

82. Ai kẻ sống cùng một Thánh nhân,
Thường xuyên đối diện với đồng tâm,
Vậy là người trí luôn tin chắc
Làm đẹp ư ḷng bậc trí chân.
Ngài nguyện cầu ta luôn tráng kiện
Sống lâu đến cả một trăm năm,
Trước lời cầu nguyện đầu tiên ấy
Hoan hỷ ta ban tặng đặc ân.

4280. Ye khattiyāse idha bhūmipālā
muddhābhisittā katanāmadheyyā,
na tādise bhūmipatī adesi
etaṃ varānaṃ dutiyaṃ varāmi.

 

4280. “Những vị Sát-đế-lỵ nào là các bậc hộ tŕ lănh thổ ở nơi này,

đă được làm lễ phong vương, đă được đặt danh hiệu,

ngươi chớ ăn thịt các vị lănh chúa như thế ấy;

trẫm chọn điều này là điều thứ nh́ trong bốn điều ân huệ.”

83. Các vua bị bắt dưới tay ngài
Nhiều nước phong vương, quán đảnh rồi,
Những vị vua hùng trên cơi đất
Chớ nên ăn thịt, Đại vương ôi!
Đây là điều kế ta cầu khẩn
Như một lời nguyền ước thứ hai.

4281. Ye khattiyāse idha bhūmipālā
muddhābhisittā katanāmadheyyā,
na tādise bhūmipatī ademi
etaṃ varānaṃ dutiyaṃ dadāmi.

 

4281. “Những vị Sát-đế-lỵ nào là các bậc hộ tŕ lănh thổ ở nơi này,

đă được làm lễ phong vương, đă được đặt danh hiệu,

ta sẽ không ăn thịt các vị lănh chúa như thế ấy;

ta ban cho điều này là điều thứ nh́ trong bốn điều ân huệ.”

84. Các vua bị bắt dưới tay ta
Nhiều nước phong vương, quán đảnh xưa,
Những vua hùng mạnh, ta thề nguyện,
Ta sẽ không ăn thịt nữa mà.
Ước thứ hai này ta cũng tặng
Thể theo lời bạn nguyện cầu ta.

4282. Parosataṃ khattiyā te gahītā
talāvutā assumukhā rudantā,
sake te raṭṭhe paṭipādayāhi
etaṃ varānaṃ tatiyaṃ varāmi.

 

4282. “Hơn một trăm vị Sát-đế-lỵ đă bị ngươi bắt giữ,

bị đâm xuyên ḷng bàn tay, có khuôn mặt đẫm nước mắt, đang khóc lóc.

Ngươi hăy đưa họ về lại đất nước của họ;

trẫm chọn điều này là điều thứ ba trong bốn điều ân huệ.”

85. Hơn trăm vua ấy bị ngài giam
Đều bị trói tay, lại khóc than,
Xin trả mỗi người về cố quốc,
Đệ tam ân huệ, ước ngài ban.

4283. Parosataṃ khattiyā me gahītā
talāvutā assumukhā rudantā,
sakena raṭṭhena paṭipādayāmi te
etaṃ varānaṃ tatiyaṃ dadāmi.
 

4283. “Hơn một trăm vị Sát-đế-lỵ đă bị ta bắt giữ,

bị đâm xuyên ḷng bàn tay, có khuôn mặt đẫm nước mắt, đang khóc lóc.

Ta sẽ đưa họ về lại đất nước của họ;

ta ban cho điều này là điều thứ ba trong bốn điều ân huệ.”

86. Hơn trăm vua ấy bị ta giam,
Đều bị trói tay, lại khóc than,
Ta sẽ phục hồi về cố quốc,
Đệ tam ân huệ được ta ban.

Trang 432:

 

Trang 433:

 

4284. Chiddante raṭṭhaṃ byadhitaṃ bhayāhi
puthū narā leṇamanuppaviṭṭhā,
manussamaṃsaṃ viramehi rāja.
etaṃ varānaṃ catutthaṃ varāmi.

 

4284. “Đất nước của ngươi bị tan hoang, bị đè nặng bởi các nỗi sợ hăi,

số đông người bỏ trốn vào hang động.

Này vị chúa tể, ngươi hăy chừa bỏ thịt người

trẫm chọn điều này là điều thứ tư trong bốn điều ân huệ.”

 

87. Vương quốc hăi kinh, hóa dại cuồng,
Trốn ngài, dân chúng ẩn trong hang,
Thịt người, Chúa thượng, xin kiêng ky,
Ấy nguyện thứ tư, ước được ban.

4285. Addhā hi so bhakkho mamaṃ manāpo
etassa hetumhi vanaṃ paviṭṭho,
sohaṃ kathaṃ etto upārameyyaṃ
aññaṃ varānaṃ catutthaṃ varassu.

 

4285. “Món ăn ấy thật sự được thích ư đối với ta.

V́ nguyên nhân của việc này mà ta đi vào sống trong rừng.

Làm thế nào ta đây có thể kiêng cử vật này?

Bệ hạ hăy chọn điều khác là điều thứ tư trong bốn điều ân huệ.”

88. Ta thấy món này, hợp vị ta,
Nếu ta ẩn náu chốn rừng già,
Làm sao lạc thú ta kiêng kỵ,
Nguyện ước thứ tư, chọn lại mà!

4286. Na ve piyaṃ meti janinda tādiso
attaṃ niraṃkatvā piyāni sevati,
attāva seyyo paramāva seyyo
labbhā piyā ocitatthena pacchā.

 

4286. “Này vị chúa của loài người, người như ngươi quả thật không nên nghĩ rằng: ‘Là vật yêu quư của ta,’ rồi quên đi bản thân và phụng sự các vật yêu quư. Chính bản thân là tốt hơn, cao cả hơn vật yêu quư. Các vật yêu quư có thể đạt được sau này nhờ vào phước thiện đă được tích lũy.”

89. Vua chúa như ngài chẳng được chơi,
Hy sinh cuộc sống chỉ v́ vui.
Hăy t́m ư nghĩa cao siêu nhất
Cuộc sống tặng ban quư tuyệt vời
Lạc thú vị lai đời kế tiếp
Rồi ngài hưởng phước đức này thôi.

4287. Piyaṃ me mānusaṃ maṃsaṃ sutasoma vijānahi,
namhi sakko nivāretuṃ aññaṃ tuvaṃ samma varaṃ varassu.

 
 

90. Ngài biết ta yêu thích thịt người,
Su-ta Đại Sĩ, thế này thôi,
Ta không bỏ nó bao giờ nữa,
Suy nghĩ, chọn điều khác, bạn ôi!

4288. Yo ve piyaṃ meti piyānukaṅkhī
attaṃ niraṃkatvā piyāni sevati,
soṇḍova pītvāna visassa thālaṃ
teneva so hoti dukhī parattha.

 
 

91. Người nào luôn hưởng thú vui chơi,
Hủy diệt cuộc đời để được vui,
Như kẻ say dùng liều thuốc độc,
Về sau phải chịu khổ không nguôi.

4289. Yo cīdha saṅkhāya piyāni hitvā
kicchenapi sevati ariyadhammaṃ,
dukkhitova pītvāna yathosadhāni
teneva so hoti sukhī parattha.

 

4289. Và người nào, sau khi suy xét về điều này, rồi từ bỏ các vật yêu quư,

và c̣n phụng sự Thánh pháp bằng những việc cần phải làm,

tựa như người bị khổ đau đă được uống các loại thuốc chữa bệnh,

chính v́ điều ấy, kẻ ấy được an lạc vào thời gian sau đó.”

92. Người quyết tâm chừa lạc thú đời,
Con đường phận sự khó theo hoài,
Như người đau uống liều điều trị,
Sống lại đời sau cực lạc thôi.

4290. Ohāyahaṃ pitaraṃ mātarañca
manāpike kāmaguṇe ca pañca,
etassa hetumhi vanaṃ paviṭṭho
tante varaṃ kintimahaṃ dadāmi.

 

4290. “Sau khi bỏ bê người cha và người mẹ,

và năm loại dục làm cho thích thú,

v́ nguyên nhân của việc này mà ta đi vào sống trong rừng,

làm thế nào ta lại ban cho bệ hạ ân huệ ấy?”

93. Ngũ lạc phát sinh tự giác quan,
Ta đều từ bỏ cả song thân,
Ta vào rừng ở v́ nhân ấy,
Lời bạn ước sao có thể ban?

4291. Na paṇḍitā dviguṇaṃ āhu vākyaṃ
saccappaṭiññāva bhavanti santo,
varassu samma iti maṃ avoca
iccabravī tvaṃ na hi te sameti.

 

4291. “Các bậc sáng suốt đă không nói lời nói theo hai cách,

các bậc thiện nhân có lời hứa hẹn với sự chân thật.

Ngươi đă nói với trẫm rằng: ‘Này bạn tốt, bệ hạ hăy chọn lấy,’

ngươi đă nói như thế, nhưng lời nói không đồng hành với ngươi.”

94. Trí nhân không thể nói hai lời,
Ta biết thiện nhân đúng ước thôi:
"Hiền hữu chọn đi vài nguyện ước"
Là điều ngài đă bảo ta rồi,
Giờ đây những chuyện ngài đang nói
Khó hợp điều này, Chúa thượng ôi!

4292. Apuññalābhaṃ ayasaṃ akittiṃ
pāpaṃ bahuṃ duccaritaṃ kilesaṃ,
manussamaṃsassa kate upāgā
tante varaṃ kintimahaṃ dadeyyaṃ.
 

4292. “Sự nhận lănh điều vô phước, sự mất danh vọng, mất tiếng tăm,

điều tội lỗi, nhiều việc làm xấu xa, sự ô uế,

v́ nguyên nhân thịt người, ta đă đi đến (t́nh trạng như thế),

làm thế nào ta có thể ban cho bệ hạ ân huệ ấy?”

95. Tổn đức, ô danh, khổ nhục tràn,
Tham lam, tà hạnh, tội muôn vàn,
Ta đều phạm, để ăn đồng loại,
Lời bạn ước, sao ta phải ban?

Trang 434:

 

Trang 435:

 

4293. Na taṃ varaṃ arahati jantu dātuṃ
yaṃ vāpi datvāna avākareyya,
varassu samma avikampamāno
pāṇaṃ cajitvānapi dassameva.

 
 

96. "Không ai đ̣i tự nguyện ban ân,
Rồi lấy lại lời, kẻ giả nhân,
Bạo dạn chọn ân này, bạn hỡi,
Dù ta mất mạng, cũng ban phần.

4294. Pāṇaṃ cajanti santo nāpi dhammaṃ
saccappaṭiññā ca bhavanti santo,
datvā varaṃ khippamavākarohi
etena sampajja surājaseṭṭha.

 

4294. Các bậc thiện nhân buông bỏ mạng sống, chứ thiện pháp th́ không,

các bậc thiện nhân có lời hứa hẹn với sự chân thật.

sau khi ban cho điều ân huệ, ngươi hăy mau chóng thực thi,

này chúa thượng tốt lành, ngươi hăy hoàn thành điều này.

97. Thiện nhân đành mất cả ḍng đời
Song giữ lời xưa, dẫu thiệt tḥi,
Chúa thượng, nếu ngài ban ước nguyện,
Làm ngay chuyện ấy trọn công ngài.

4295. Dhanaṃ caje yo pana aṅgahetu
aṅgaṃ caje jīvitaṃ rakkhamāno,
aṅgaṃ dhanaṃ jīvitaṃ cāpi sabbaṃ
caje naro dhammamanussaranto.

 

4295. Hơn nữa, người nào từ bỏ tài sản v́ lư do (bảo vệ) tay chân,

th́ nên từ bỏ tay chân trong khi bảo vệ mạng sống,

trong khi suy niệm về thiện pháp, người ấy nên từ bỏ

tay chân, tài sản, và mạng sống, thậm chí tất cả.

98. Ai đem tài sản cứu tay chân,
Sẽ bỏ tay chân cứu lấy thân,
Tài sản, tứ chi, thân sẽ mất,
Chỉ c̣n Chân lư khẩn cầu ân.

4296. Yassā hi dhammaṃ puriso vijaññā
ye cassa kaṅkhaṃ vinayanti santo,
taṃ hissa dīpañca parāyaṇañca
na tena mittiṃ jarayetha pañño.

 

4296. Nhờ vào vị nào mà một người có thể nhận thức được lẽ phải,

và các bậc thiện nhân dẹp bỏ mối nghi ngờ đối với người này,

chính vị ấy là ḥn đảo và là nơi nương tựa của người này;

người có sự hiểu biết không nên hủy hoại t́nh bạn với vị ấy.”

99. Miệng kẻ nào minh chứng Thật chân,
Đoạn nghi nhờ các bậc hiền nhân,
Kẻ ấy chính là nơi ẩn trú,
Chính là điểm tựa, chốn nương thân.
Ḷng hiền nhân mến thương người ấy
Sẽ chẳng bao giờ phải diệt vong.

4297. Addhā hi so bhakkho mamaṃ manāpo
etassa hetumhi vanaṃ paviṭṭho,
saceva maṃ yācasi etamatthaṃ
etampi te samma varaṃ dadāmi.

 

 

100. Thực phẩm ngọt ngon, thú vị thay,
V́ duyên cớ ấy, ẩn rừng cây,
Nhưng nay bạn bảo ta làm vậy,
Ta tặng bạn - thầy ân huệ đây.

4298. Satthā ca me hosi sakhā ca mesi
vacanampi te samma ahaṃ akāsiṃ,
tuvampi me samma karohi vākyaṃ
ubhopi gantvāna pamocayāma.

 

 

101. Ngài là thầy giáo của riêng ta,
Cùng với bạn thân, chỉ một mà.
Hăy ngắm, thưa ngài, lời bạn bảo
Ta vừa mới thực hiện bây giờ.
Lượt ngài thực hiện lời ta bảo:
Ta sẽ đi cùng thả các vua.

4299. Satthā ca te homi sakhā ca tyamhi
vacanampi me samma tuvaṃ akāsi,
ahampi te samma karomi vākyaṃ
ubhopi gantvāna pamocayāma.

 

 

102. Ta là thầy giáo của ngày xưa
Cùng với bạn thân, chỉ một mà.
Quả thật, thưa ngài, lời dạy bảo
Ngài vừa mới thực hiện bây giờ.
Lượt ta thực hiện lời ngài bảo:
Ta sẽ cùng đi thả các vua.

4300. Kammāsapādena viheṭhitattha
talāvutā assumukhā rudantā,
na jātu dubbhetha imassa rañño
saccappaṭiññaṃ me paṭissuṇātha.
 

4300. “Do vị Kammāsapāda (này), các ngài đă bị quấy nhiễu,

bị đâm xuyên ḷng bàn tay, có khuôn mặt đẫm nước mắt, đang khóc lóc.  

các ngài dứt khoát không được gây hấn với vị chúa tể này,

Các ngài hăy tuyên bố với trẫm lời hứa hẹn với sự chân thật.”

103. Các ngài bị trói trên cây này,
Nước mắt chảy tuôn đă ngập đầy,
V́ ác quỷ này làm hại vậy,
Song ta vẫn muốn các ngài hay
Một lời ước hẹn cùng vua ấy
Chẳng có bao giờ đụng ngón tay.

Trang 436:

 

Trang 437:

 

4301. Kammāsapādena viheṭhitamhā
talāvutā assumukhā rudantā,
na jātu dubbhema imassa rañño
saccappaṭiññante paṭissuṇāma.

 

4301. “Do vị Kammāsapāda (này), chúng tôi đă bị quấy nhiễu,

bị đâm xuyên ḷng bàn tay, có khuôn mặt đẫm nước mắt, đang khóc lóc. 

Chúng tôi dứt khoát không gây hấn với vị chúa tể này.

Chúng tôi tuyên bố với bệ hạ lời hứa hẹn với sự chân thật.”

104. Khóc than v́ bị trói trên cây,
Ác quỷ hại người, đáng ghét thay,
Tuy thế, chúng ta long trọng hứa:
Nếu c̣n sống, chẳng hại người này.

4302. Yathā pitā vā athavāpi mātā
anukampakā atthakāmā pajānaṃ,
evameva vo hotu ayañca rājā
tumhe ca vo hotha yatheva puttā.

 

4302. “Giống như người cha, hoặc thậm chí là người mẹ,

là bậc có ḷng thương tưởng, mong mỏi điều lợi ích cho các con,

vị chúa tể này hăy tỏ ra tương tự y như vậy đối với các ngài,

và các ngài hăy tỏ ra giống y như những người con.”

105. Như với bầy con, bậc mẹ cha
Tỏ t́nh yêu thắm thiết, bao la,
Ước mong vua ấy luôn minh chứng
Là một người cha đúng nghĩa mà.
Mong ước các ngài như lũ trẻ
Thương yêu vua ấy thật sâu xa.

4303. Yathā pitā vā athavāpi mātā
anukampakā atthakāmā pajānaṃ,
evameva no hotu ayañca rājā
mayampi hessāma yatheva puttā.

 

4303. “Giống như người cha, hoặc thậm chí là người mẹ,

là bậc có ḷng thương tưởng, mong mỏi điều lợi ích cho các con,

vị chúa tể này hăy tỏ ra tương tự y như vậy đối với chúng tôi,

và chúng tôi cũng sẽ tỏ ra giống y như là những người con.”

106. Như với bầy con, bậc mẹ cha
Tỏ t́nh yêu thắm thiết, bao la,
Ước mong vua ấy luôn minh chứng
Là một người cha đúng nghĩa mà.
Mong ước chúng ta như lũ trẻ
Thương yêu vua ấy thật sâu xa.

4304. Catuppadaṃ sakuṇañcāpi maṃsaṃ
sūdehi randhaṃ sukataṃ suniṭṭhitaṃ,
sudhaṃva indo paribhuñjiyāna
hitvā katheko ramasī araññe.

 

 

107. Thú vật, chim muông, đủ mọi nơi,
Ngày xưa thịt của chúng ngài xơi
Do đầu bếp khéo tài đun nấu,
Thật đúng cao lương vị tuyệt vời
Tạo nỗi hân hoan như Đế Thích
Hưởng bao tiên thực ở trên trời.
Tại sao ngài bỏ rơi tất cả,
T́m lạc thú rừng vắng lẻ loi?

4305. Tā khattiyā vellivilākamajjhā
alaṅkatā samparivārayitvā,
indaṃva devesu pamodayiṃsu
hitvā katheko ramasī araññe.

 

 

108. Cung nữ cao sang, dáng mảnh mai,
Xiêm y lộng lẫy khoác h́nh hài,
Chung quanh Chúa thượng ngày xưa ấy,
Cả đám vây quanh chật ních người,
Như Đế Thích trong Thiên chúng nọ,
Ngài đi, ḷng hạnh phúc vui tươi,
Sao ngài ĺa bỏ đời như vậy,
T́m lạc thú rừng vắng lẻ loi?

4306. Tambūpadhāne bahugoṇakamhi
sucimhi sabbassayanamhi saññate,
sayanassa majjhamhi sukhaṃ sayitvā
hitvā katheko ramasī araññe.

 

 

109. Giữa vương sàng rộng răi mênh mông,
Ngài ngự, ngày xưa, hỡi Chúa công,
Nhiều lớp chăn màn lông thú quư,
Chất lên cao phủ cả ḿnh rồng,
Dưới đầu ngài gối màu hồng thắm,
Giường nệm sạch tinh, trắng tựa bông,
Sao lại giă từ tất cả vậy,
T́m vui đơn độc ở trong rừng?

4307. Pāṇissaraṃ kumbhathūnaṃ nisīthe
athopi ve nippurisampi turiyaṃ,
bahuṃ sugītañca suvāditañca
hitvā katheko ramasī araññe.

 

4307. Rồi tiếng âm nhạc, tiếng trống vào lúc nửa đêm

thêm vào dàn nhạc ḥa tấu không có nam nhân,

với nhiều bài ca hay và điệu tấu nhạc khéo léo,

tại sao một người (như ngươi) lại từ bỏ và thích thú ở trong rừng?

110. Nơi kia nhiều lúc giữa đêm thanh,
Ngài vẫn thường nghe tiếng trống canh,
Và những âm thanh siêu thế tục
Vẫn thường vang dội đến tai ḿnh,
Lời ca, tiếng nhạc đồng ḥa điệu,
Khơi dậy tâm tư rộn ră t́nh.
Sao lại giă từ tất cả vậy,
T́m vui đơn độc giữa rừng xanh

4308. Uyyānasampannaṃ pahūtamālyaṃ
migācirūpena puraṃ surammaṃ,
hayehi nāgehi rathehupetaṃ
hitvā katheko ramasī araññe.
 

 

111. Ngài có hoa viên đẹp đắm say,
Nơi kia phong phú cỏ hoa đầy,
Mi-gà vốn đă từng danh tiếng
Là chốn ngự viên, đô thị này,
Xa pháo dập d́u vô số kể,
Ngựa, voi lũ lượt đứng từng bầy,
Sao ngài lại bỏ rơi tất cả,
T́m thú rừng hoang cô độc vầy.

Trang 438:

 

Trang 439:

 

4309. Kāḷapakkhe yathā cando hāyateva suve suve,
kāḷapakkhūpamo rāja asataṃ hoti samāgamo.

 

4309. “Giống như vào nửa tháng thuộc hạ huyền, mặt trăng bị khuyết dần từng ngày một, tâu bệ hạ, việc gặp gỡ với những kẻ xấu là tương tự như nửa tháng thuộc hạ huyền.

112. Giống như trong nửa tháng đêm đen,
Mặt nguyệt mỗi ngày một khuyết thêm,
Cũng vậy kết giao cùng kẻ ác
Chịu bao hủy hoại, hỡi vua hiền!

4310. Yathā rasakamāgamma sūdakaṃ purisādhamaṃ,
akāsiṃ pāpakaṃ kammaṃ yena gacchāmi duggatiṃ.

 

4310. Giống như sau khi đi đến với gă đầu bếp, kẻ nấu ăn, hạng người hạ liệt, ta đă tạo ra nghiệp ác, v́ việc ấy ta sẽ đi đến cảnh giới khổ đau.

113. Như ta kết bạn hỏa đầu quân,
Kẻ tối liệt trong bọn hạ tầng,
Ta đă phạm vào bao ác nghiệp
Kịp thời xuống địa ngục đày thân.

4311. Sukkapakkhe yathā cando vaḍḍhateva suve suve,
sukkapakkhūpamo rāja sataṃ hoti samāgamo.

 

4311. Giống như vào nửa tháng thuộc thượng huyền, mặt trăng tăng trưởng từng ngày một, tâu bệ hạ, việc gặp gỡ với những người tốt là tương tự như nửa tháng thuộc thượng huyền.

114. Ví như trong nửa tháng trời quang,
Mặt nguyệt ngày thêm một sáng dần,
Cũng vậy, kết giao cùng bậc thiện,
Đại vương ôi, sẽ chẳng suy tàn.

4312. Yathāhaṃ tava māgamma sutasoma vijānahi,
kāhāmi kusalaṃ kammaṃ yena gacchāmi suggatiṃ.

 

4312. Giống như ta sau khi đi đến với bệ hạ, thưa ngài Sutasoma, bệ hạ hăy nhận biết rằng ta sẽ tạo ra nghiệp thiện, nhờ thế ta sẽ đi đến cảnh giới an vui.

115. Như với bạn, ta được kết đôi,
Này Su-ta, phải biết ngay thôi:
Sau khi thành tựu điều chân chánh,
Tất cả an vui đến cơi trời.

4313. Thale yathā vāri janinda vaṭṭaṃ
anaddhaneyyaṃ aciraṭṭhitīkaṃ,
evampi ce hoti asataṃ samāgamo
anaddhaneyyo udakaṃ thaleva.

 

4313. Giống như nước luân chuyển ở đất g̣, tâu vị chúa của loài người,

không thể duy tŕ thời gian dài, không tồn tại lâu,

cũng như vậy, nếu là việc gặp gỡ với những kẻ xấu,

th́ không thể duy tŕ thời gian dài, tựa như nước ở đất g̣.

116. Như lũ lụt tràn mặt đất khô,
Thấy thường tạm bợ, chóng trôi qua,
Cũng vầy kết bạn cùng người ác
Là việc phù du, nước nổi mà.

4314. Sare yathā vāri janinda vaṭṭaṃ
ciraṭṭhitīkaṃ naraviriyaseṭṭha,
evampi ve hoti sataṃ samāgamo
ciraṭṭhitīko udakaṃ sareva.

 

4314. Giống như nước luân chuyển ở trong hồ, tâu vị chúa của loài người,

được tồn tại lâu dài, tâu vị tinh tấn hạng nhất của loài người,

cũng như vậy, nếu là việc gặp gỡ với những người tốt,

th́ được tồn tại lâu dài, tựa như nước ở trong hồ

117. Song nước lụt tràn khắp hải dương
Thấy bền lâu ấy chuyện b́nh thường
Cũng như giao kết cùng người thiện,
Là chuyện lâu dài, hỡi Đại vương.

4315. Avyāyiko hoti sataṃ samāgamo
yāvampi tiṭṭheyya tatheva hoti,
khippaṃ hi veti asataṃ samāgamo
tasmā sataṃ dhammo asabbhi ārakā.

 

4315. Việc gặp gỡ với những người tốt là không bị hư hoại,

có thể tồn tại cho đến hết mạng sống, và giữ nguyên như thế.

C̣n việc gặp gỡ với những kẻ xấu tàn tạ thật nhanh chóng,

v́ thế, bản chất của những người tốt là xa lạ với những kẻ xấu.”

118. Giao kết thiện nhân chẳng chóng qua,
T́nh huynh đệ vững suốt đời ta,
Kết giao kẻ ác mau tàn lụi,
Kẻ ác thường đi lạc hướng tà.

4316. Na so rājā yo ajeyyaṃ jināti
na so sakhā yo sakhāraṃ jināti,
na sā bhariyā yā patino vibheti
na te puttā ye na bharanti jiṇṇaṃ.

 

 

119. Không vua nào được quyền chinh phục
Người chẳng nên xâm phạm suốt đời;
Không bạn nào nên lừa dối bạn
Bằng hành vi bội bạc t́nh người.

120. Nàng nào có ư sợ phu quân,
Ta bảo chẳng là vợ chánh chân;
Khi phụ thân già không cấp dưỡng,
Làm con chẳng đúng với danh xưng.

4317. Na sā sabhā yattha na santi santo
santo na te ye na bhananti dhammaṃ,
rāgañca dosañca pahāya mohaṃ
dhammaṃ bhaṇantova bhananti santo.
 

 

121. Chẳng phải là nơi chốn hội trường,
Nếu hiền nhân chẳng văng lai luôn,
Những ai không giảng bày Chân lư
Rộng khắp, chẳng là bậc trí nhân.
122. Những bậc ly tham dục, hận sân,
Si mê, là những Thánh hiền nhân
Chẳng hề quên giảng bày Chân lư
Cho các thế nhân khắp mọi vùng.

Trang 440:

 

Trang 441:

 

4318. Na bhāsamānaṃ jānanti missaṃ bālehi paṇḍitaṃ,
bhāsamānañca jānanti desentaṃ amataṃ padaṃ.

 

4318. Người ta không biết về vị không nói, (v́ thế) bậc sáng suốt bị lẫn lộn với những kẻ ngu dốt; và người ta biết được vị đang nói, đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử.

123. Bậc hiền ở giữa đám ngu đần,
Nếu lặng thinh, ai biết trí nhân,
Vị ấy nói lên th́ tất cả
Nhận ra Thầy dạy Pháp như chân.

4319. Bhāsaye jotaye dhammaṃ paggaṇhe isinaṃ dhajaṃ,
subhāsitaddhajā isayo dhammo hi isinaṃ dhajo ”ti.

 

4319. Vị có thể giảng giải, có thể làm rơ giáo pháp, có thể giương lên ngọn cờ của các bậc ẩn sĩ. Các bậc ẩn sĩ có thiện ngôn là ngọn cờ, chính giáo pháp là ngọn cờ của các bậc ẩn sĩ.”

124. Thuyết giảng, tôn vinh Pháp chánh chân,
Giương cao cờ hiệu của hiền nhân,
Thánh nhân biểu tượng là lời thiện,
Ngài phất ngọn cờ Chánh pháp luôn.

Câu chuyện 537

Mahāsutasomajātakaṃ.

*****
 

Đại Bổn Sanh Sutasoma. [537]

*****

TASSUDDĀNAṂ


Sumukho pana haṃsavaro ca mahā
sudhābhojaniko ca paro pavaro,
sakuṇāladijādhipativhayano
sutasomavaruttamasavhayano ”ti.

 

TÓM LƯỢC NHÓM NÀY


Chim tướng quân Sumukha, thêm nữa là chuyện Đại Thiên Nga,
và bổn sanh Thức Ăn của Thần Tiên là chuyện quư báu khác,
với chuyện có tên là chim chúa Kuṇāla,
và chuyện có tên vị Sutasoma cao quư tối thượng.
 

Asītinipāto niṭṭhito.

 

--ooOoo--

 

Nhóm Tám Mươi Kệ Ngôn được chấm dứt.

 

--ooOoo--

<Trang trước>

<Trang Kế>

 

<Mục Lục Jātakapāḷi - Bổn Sanh tập II>

<Đầu Trang>