Trang Chính

TTPV 33: Jātakapāḷi - Bổn Sanh tập II

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

KHUDDAKANIKĀYA - TIỂU BỘ

JĀTAKAPĀḶI - BỔN SANH tập II

* TTPV tập 33 *

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

Cập Nhật: Wednesday, July 06, 2016

 

XXI. ASĪTINIPĀTO - NHÓM TÁM MƯƠI KỆ NGÔN (tiếp theo)

 

Nguồn: Tam Tạng Pāli - Sinhala thuộc Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS)

Lời tiếng Việt: Tỳ khưu Indacanda

Trang 354:

 

Trang 355:

 

 

▪ 3. SUDHĀBHOJANAJĀTAKAṂ

 

 

▪ 3. BỔN SANH THỨC ĂN CỦA THẦN TIÊN

535. Chuyện thực phẩm Thiên giới

(Tiền thân Sudhàbhojana)

4016. Neva kiṇāmi napi vikkiṇāmi
na cāpi me sannicayo ca atthi,
sukiccharūpaṃ catidaṃ parittaṃ
patthodano nālamayaṃ duvinnaṃ.
 

 

1. Ta không phải kẻ bán buôn rong,
Không của cho vay hoặc biếu không,
Chút cháo thí này rất khó kiếm,
Chẳng vừa dọn đủ cả ta, ông!

Trang 356:

Trang 357:

 

4017. Appamhā appakaṃ dajjā anumajjhato majjhakaṃ,
bahumhā bahukaṃ dajjā adānaṃ nūpapajjati.

 
 

2. Của ít cũng nên bố thí mà,
Của vừa cũng phải lấy cho vừa,
Của nhiều càng phải cho nhiều nữa,
Không thí, vấn đề chẳng đặt ra.

4018. Taṃ taṃ vadāmi kosiya dehi dānāni bhuñja ca,
ariyaṃ maggaṃ samārūha nekāsī labhate sukhaṃ.

 

4018. Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hăy bố thí các vật thí và ông hăy hưởng thụ. Ông hăy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một ḿnh không đạt được hạnh phúc.”

3. Ko-si, ta nói một đôi lời:
Bố thí của ông một chút thôi,
Ông chớ một ḿnh ăn thực phẩm,
Ăn riêng chẳng hưởng lạc cao vời,
Chính nhờ bố thí, ông thăng tiến
Đạo lộ thanh cao đến cơi trời.

4019. Moghañcassa hutaṃ hoti moghañcāpi samīhitaṃ,
atithismiṃ yo nisinnasmiṃ eko bhuñjati bhojanaṃ.

 

4019. “Kẻ nào một ḿnh thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), việc cúng tế của kẻ này là rỗng không, việc gắng sức (tạo lập tài sản) cũng là rỗng không.

4. Nào có ích chi lễ tế thần,
Hoài công ước vọng ở trong tâm,
Nếu ông ăn cháo và không muốn
Cho thực khách đây một ít phần.

4020. Taṃ taṃ vadāmi kosiya dehi dānāni bhuñja ca,
ariyaṃ maggaṃ samārūha nekāsī labhate sukhaṃ.

 

4020. Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hăy bố thí các vật thí và ông hăy hưởng thụ. Ông hăy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một ḿnh không đạt được hạnh phúc.”

 

5. Ko-si, ta nói một đôi lời:
Bố thí của ông một chút thôi,
Ông chớ một ḿnh ăn thực phẩm
Ăn riêng chẳng hưởng lạc cao vời,
Chính nhờ bố thí, ông thăng tiến
Đạo lộ thanh cao đến cơi trời.

4021. Saccaṃ tassa hutaṃ hoti saccañcāpi samīhitaṃ,
atithismiṃ yo nisinnasmiṃ neko bhuñjati bhojanaṃ.

 

4021. “Người nào không một ḿnh thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), việc cúng tế của người ấy là chân thật, việc gắng sức (tạo lập tài sản) cũng là chân thật.

6. Chân thật ông dâng lễ tế thần,
Chẳng hoài công ước nguyện trong tâm,
Nếu ông không một ḿnh ăn cháo,
Mà biếu khách đây một ít phần.

4022. Taṃ taṃ vadāmi kosiya dehi dānāni bhuñja ca,
ariyaṃ maggaṃ samārūha nekāsī labhate sukhaṃ.

 

4022. Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hăy bố thí các vật thí và ông hăy hưởng thụ. Ông hăy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một ḿnh không đạt được hạnh phúc.”

 

7. Ko-si, ta nói một đôi lời:
Bố thí của ông một chút thôi,
Ông chớ một ḿnh ăn thực phẩm,
Ăn riêng chẳng hưởng lạc cao vời,
Chính nhờ bố thí, ông thăng tiến
Đạo lộ thanh cao đến cơi trời.

4023. Sarañca juhati yo so bahukāya gayāya ca,
doṇe timbarutitthasmiṃ sīghasote mahāvahe.

 

 

8. Hồ, lạch Ga-yà chảy xiết ḍng,
Ai đem dâng lễ cúng chư thần,
Đến Tim-ba hoặc Do-na ấy
Sóng nước trôi nhanh lớp chập chùng,

4024. Atra cassa hutaṃ hoti atra cassa samīhitaṃ
atithismiṃ yo nisinnasmiṃ neko bhuñjati bhojanaṃ.

 

4024. Người nào không một ḿnh thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), việc cúng tế của người này là có kết quả, việc gắng sức (tạo lập tài sản) là có kết quả.

Hưởng kết quả do dâng lễ vật,
Đạt thành ước nguyện ở trong ḷng,
Nếu không ngồi một ḿnh ăn cháo,
Mà biếu khách đây một ít phần.

4025. Taṃ taṃ vadāmi kosiya dehi dānāni bhuñja ca,
ariyaṃ maggaṃ samārūha nekāsī labhate sukhaṃ.

 

4025. Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hăy bố thí các vật thí và ông hăy hưởng thụ. Ông hăy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một ḿnh không đạt được hạnh phúc.”

9. Ko-si, ta nói một đôi lời:
Bố thí của ông một chút thôi,
Ông chớ một ḿnh ăn thực phẩm,
Ăn riêng chẳng hưởng lạc cao vời,
Chính nhờ bố thí, ông thăng tiến
Đạo lộ thanh cao đến cơi trời.

4026. Balisaṃ hi so niggilati dīghasuttaṃ sabandhanaṃ,
atithismiṃ yo nisinnasmiṃ eko bhuñjati bhojanaṃ.

 

4026. “Kẻ nào một ḿnh thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), kẻ ấy nuốt vào chính cái lưỡi câu có sợi cước dài, có sự trói buộc.

 

10. Như cá tham ăn vội nuốt mau
Miếng mồi buộc ở chiếc cần câu,
Người ngồi riêng biệt và ăn cháo
Khi có khách này kế cận sao?

4027. Taṃ taṃ vadāmi kosiya dehi dānāni bhuñja ca,
ariyaṃ maggaṃ samārūha nekāsī labhate sukhaṃ.

 

4027. Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hăy bố thí các vật thí và ông hăy hưởng thụ. Ông hăy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một ḿnh không đạt được hạnh phúc.”

11. Ko-si, ta nói một đôi lời:
Bố thí của ông một chút thôi,
Ông chớ một ḿnh ăn thực phẩm,
Ăn riêng chẳng hưởng lạc cao vời,
Chính nhờ bố thí, ông thăng tiến
Đạo lộ thanh cao đến cơi trời.

4028. Uḷāravaṇṇā vata brāhmaṇā ime
ayañca vo sunakho kissa hetu,
uccāvacaṃ vaṇṇanibhaṃ vikubbati
akkhātha no brāhmaṇā kenu tumhe.
 

4028. Các vị Bà-la-môn này quả thật có giai cấp cao quư.

Và đây là con chó của các vị, nguyên nhân là thế nào?

Nó biến hóa thành cao, thấp, có màu sắc và ánh sáng.

Thưa các vị Bà-la-môn, các vị hăy giải thích cho chúng tôi các vị là ai?”

 

12. Các ngài Thánh giả Bà-la-môn
Đang đứng trên cao giữa cơi không,
Con chó các ngài sao lạ vậy
Thay h́nh đổi dạng cả ngàn lần,
Dầu là chỉ một ḿnh con chó,
Các vị là ai, nói thật chân.

Trang 358:

Trang 359:

 

4029. Cando ca suriyo ca ubho idhāgatā
ayaṃ pana mātali devasārathi,
sakkohamasmi tidasānamindo
eso ca kho pañcasikhoti vuccati.

 
 

13. Ḱa! Can-da với Su-ri-ya,
Và nọ, Mà-ta-li quản xa,
Thiên chủ là ta đây, Đế Thích
Ở trên Thiên giới Ba-mươi ba,
Pañ-ca-si chính là Thần nhạc
Ngũ Kế đuổi ngươi chạy đấy mà.

4030. Pāṇissarā mutiṅgā ca murajāḷambarāni ca,
suttamenaṃ pabodhenti paṭibuddho ca nandati.

 
 

14. Trống to, trống nhỏ thảy vang lừng
Đánh thức thần dây khỏi giấc nồng,
Khi tỉnh, nhạc hân hoan trổi khúc
Làm tim chàng rộn ră vui mừng.

4031. Ye kecime maccharino kadariyā
paribhāsakā samaṇabrāhmaṇānaṃ,
idheva nikkhippa sarīradehaṃ
kāyassa bhedā nirayaṃ vajanti.

 
 

15. Sinh ra keo kiệt, kẻ xan tham
Khinh bỉ Bà-la-môn, đạo nhân,
Khi chết, bỏ thân phàm tục ấy,
Phải vào địa ngục trú thân tàn.

4032. Ye kecime suggatimāsasānā
dhamme ṭhitā saṃyame saṃvibhāge,
idheva nikkhippa sarīradehaṃ
kāyassa bhedā sugatiṃ vajanti.

 
 

16. Kiên tŕ chánh hạnh, đạt thiên đàng,
Bố thí, điền thân, tránh lỗi lầm,
Khi chết, bỏ thân phàm tục ấy,
Sẽ lên thiên giới sống b́nh an.

4033. Tvaṃ no ñāti purimāsu jātisu
so maccharī rosako pāpadhammo,
taveva atthāya idhāgatamhā
mā pāpadhammo nirayaṃ apattha.

 
 

17. Dù trong đời trước có thân t́nh,
Ngươi hận sân, keo kiệt, ác hành,
Nên chính v́ ngươi, ta giáng thế,
Ngăn ngươi khỏi địa ngục lai sinh.

4034. Addhā hi maṃ vo hitakāmā yaṃ maṃ samanusāsatha,
sohaṃ tathā karissāmi sabbaṃ vuttaṃ hitesibhi.

 
 

18. Như vầy ngài thuyết giảng cho ta,
Chắc chắn ngài mong lợi lạc mà,
Ta sẽ theo lời ngài khuyến giáo,
Như ta hiểu được ư sâu xa.

4035. Esāhamajjeva upāramāmi
na cāpahaṃ kiñci kareyya pāpaṃ,
na cāpi me kiñci adeyyamatthi
na cāpi datvā udakampahaṃ pibe.

 

 

19. Từ nay ta bỏ thói xan tham,
Kiêng kỵ việc hung ác bạo tàn,
Bố thí gia tài, cho tất cả,
Dù là chén nước cũng chia phần.

4036. Evañca me dadato sabbakālaṃ
bhogā ime vāsava khīyissanti,
tato ahaṃ pabbajissāmi sakka
hitvāna kāmāni yathodhikāni.

 
 

20. Sak-ka, bố thí măi như vầy,
Tài sản nhà ta giảm sút ngay,
Ta quyết sẽ tu hành xuất thế,
Tham dục loại nào cũng chạy bay.

4037. Naguttame girivare gandhamādane
modanti tā devavarābhipālitā,
athāgamā isivaro sabbalokagū
supupphitaṃ dumavarasākhamādiya.
 

4037. Ở trên đỉnh núi, ở ngọn núi cao quư Gandhamādana,

các nàng tiên nữ ấy vui sướng, được Thiên Chủ Sakka bảo vệ.

Rồi vị ẩn sĩ cao quư, bậc thông hiểu tất cả thế gian, đă đi đến,

cầm theo cành cây cao quư khéo trổ đầy hoa.

 

21. Trên đỉnh Hương Sơn, chúa núi rừng,
Sak-ka ái nữ, các tiên nương
Hân hoan nh́n Thánh nhân lừng lẫy,
Bước đến cầm hoa đẹp dị thường.

Trang 360:

Trang 361:

 

4038. Suciṃ sugandhaṃ tidasehi sakkataṃ
pupphuttamaṃ amaravarehi sevitaṃ,
aladdha maccehi vā dānavehi vā
aññatra devehi tadārahaṃ hidaṃ.

 
 

22. Cành hoa trong sáng ngát mùi hương
Xứng với Thiên tiên, các Thánh thần,
Chẳng quỷ ma hay người thế tục
Dám đ̣i hoa quư giá vô ngần.

4039. Tato catasso kanakattacūpamā
uṭṭhāya nāriyo pamadādhipā muniṃ,
āsā ca saddhā ca tato sirī hirī
iccabravuṃ nārada devabrāhmaṇaṃ.

 

 

23. Tín Thành, Hy Vọng, với Vinh Quang,
Danh Dự, màu da sáng tựa vàng
Giữa các tiên nương là tuyệt sắc,
Đứng lên nói với Bà-la-môn:

4040. Sace anuddiṭṭhaṃ tayā mahāmuni
pupphaṃ imaṃ pārichattassa brahme,
dadāhi no sabbagati te ijjhatu
tvampi no hohi yatheva vāsavo.

 

 

24. Cho đóa san hô, hỡi Thánh nhân,
Nếu cho hoa ấy thuộc oai thần,
Chúng con kính lễ như Thiên chủ,
Ngài sẽ được ban mọi phước phần.

4041. Taṃ yācamānābhisamekkha nārado
iccabravī saṅkalahaṃ udīrayi,
na mayhamatthatthi imehi koci naṃ
yā yeva vo seyyasī sā piḷayhatha.

 

 

25. Na-ra-da thấy chúng mong cầu
Liền khởi ngay tranh chấp lớn lao:
- Ta chẳng cần hoa, ai muốn được,
Phải là vương hậu các nàng bầu.

4042. Tvaṃ nottamovābhisamekkha nārada,
yassicchasi tassaṃ anuppavecchasu,
yassā hi no nārada tvaṃ padassasi
sā yeva no hohiti seṭṭhasammatā.

 

 

26. Nà-ra-da, tối thượng là ngài,
Ngài muốn ban ai ước nguyện này,
Ai được ngài ban quà tặng ấy
Sẽ là tiên đẹp nhất trong bầy!

4043. Akallametaṃ vacanaṃ sugatte
ko brāhmaṇo ko kalahaṃ udīraye,
gantvāna bhūtādhipameva pucchatha
sace na jānātha idhuttamādhamaṃ.

 

 

27. Tiên nương, lời ấy chẳng như chân,
Tu hành nào dấy cuộc tranh phân?
Hăy t́m lập tức ngài Tiên chúa,
Sẽ biết ai dung sắc tuyệt trần.

4044. Tā nāradena paramappakopitā
udīritā vaṇṇamadena mattā,
sakāse gantvāna sahassacakkhuno
pucchiṃsu bhūtādhipaṃ kā nu seyyasi.

 

 

28. Kiêu ngạo về sắc đẹp, phát cuồng,
Nóng ḷng v́ bậc trí tinh khôn,
Chúng đi đến Sak-ka Thiên chủ
Để biết ai xinh đẹp nhất đàn.

4045. Tā disvā āyattamanā purindado
iccabravī devavaro katañjalī,
sabbāva vo hotha sugatte sādisī
ko neva bhadde kalahaṃ udīrayi.
 

 

29. Bầy tiên hăm hở vội đi t́m,
Đế Thích đầy tôn trọng, phán liền:
"Tất cả tiên nương đều tuyệt sắc
Vậy ai phá hoại sự b́nh yên?" .

Trang 362:

 

Trang 363:

 

4046. Yo sabbalokaṃ carako mahāmuni
dhamme ṭhito nārado saccanikkamo,
so no bravī girivare gandhamādane
gantvāna bhūtādhipameva pucchatha
sace na jānātha idhuttamādhamaṃ.

 
 

30. Nà-ra-da, bậc đại hiền nhân
Nhẹ bước du hành giữa cơi không,
Chân lư uyên thâm, chuyên chánh hạnh,
Như vấy, đă nói ở Hương Sơn:
"Hăy t́m Thiên chủ Sak-ka ấy
Để biết ai ưu, liệt giữa đàn".

4047. Asu brahāraññacaro mahāmunī
nādatvā bhattaṃ varagatte bhuñjati,
viceyya dānāni dadāti kosiyo
yassā hi so dassati sāva seyyasī.

 
 

31. Hiền nhân trú ở khóm rừng xa,
Chẳng đụng thức ăn chưa phát ra;
Vừa tặng quà, Ko-si xét đoán
Ai là đệ nhất đám tiên nga.

4048. Asūhi yo sammati dakkhiṇaṃ disaṃ
gaṅgāya tīre himavantapasmani,
sa kosiyo dullabhapānabhojano
tassa sudhaṃ pāpaya devasārathi.

 
 

32. Trên sườn núi Tuyết, chỗ Hằng Hà
Xuôi phía Nam, hiền Thánh ẩn cư;
Tiên thực, Mà-ta-li, đến tặng,
Ngài đang thiếu ẩm thực đây mà.

4049. Sa mātalī devavarena pesito
sahassayuttaṃ abhiruyha sandanaṃ,
sa khippameva upagamma assamaṃ
adissamāno munino sudhaṃ adā.

 
 

33. Mà-ta-li nhận lệnh trời ban,
Lái chiếc thiên xa ngựa cả ngàn,
Thoắt đứng dấu ḿnh am ẩn sĩ,
Và dâng tiên thực tặng hiền nhân.

4050. Udaggihuttaṃ upatiṭṭhato hi me
pabhaṅkaraṃ lokatamonuduttamaṃ,
sabbāni bhūtāni aticca vāsavo
ko neva me pāṇisu kiṃ sudhodahi.

 
 

34. Khi lửa tế đàn, lăo đốt lên
Ngợi ca vầng nhật đuổi đêm đen,
Sak-ka ngự trị trên Thiên giới,
Ai khác? - trao tay thực phẩm tiên.

4051. Saṃkhūpamaṃ setamatulyadassanaṃ
suciṃ sugandhaṃ piyarūpamabbhutaṃ,
adiṭṭhapubbaṃ mama jātacakkhuhi
kā devatā pāṇisu kiṃ sudhodahi.

 
 

35. Như hạt ngọc trai, trắng tuyệt trần,
Ngát hương, thanh tịnh, đẹp vô ngần,
Mắt ta từ trước chưa hề thấy
Ai đặt vào tay thực phẩm thần?

4052. Ahaṃ mahindena mahesi pesito
sudhābhihāsiṃ turito mahāmuni,
jānāsi maṃ mātali devasārathi
bhuñjassu bhattuttamaṃ mā vicārayi.

 
 

36. Ta đến, Sak-ka hạ lệnh truyền,
Vội vàng mang thực phẩm thần tiên,
Cao lương thượng vị, đừng lo sợ,
Xin hăy ăn đi, hỡi bậc hiền,
Ngài thấy Mà-ta-li trước mắt,
Quản xa thần ở cơi chư Thiên.

4053. Bhuttā ca sā dvādasa hanti pāpake
khudaṃ pipāsaṃ aratiṃ daraklamaṃ,
kodhūpanāhañca vivādapesunaṃ
sītuṇhatandiñca rasuttamaṃ idaṃ.
 

 

37. Do thọ dụng đây thực phẩm thần,
Mười hai ác nghiệp thảy tiêu dần:
Đói cơm, khát nước, buồn, đau, mệt,
Nóng, lạnh, đấu tranh, với hận sân,
Lười biếng, nộ cuồng, mồm phỉ báng,
Mời ngài tiên thực, chớ phân vân.

Trang 364:

 

Trang 365:

 

4054. Na kappati mātali mayha bhuñjituṃ
pubbe adatvā iti me vatuttamaṃ,
na cāpi ekāsanamariyapūjitaṃ
asaṃvibhāgī ca sukhaṃ na vindati.

 

4054. “Này Mātali, không đúng đắn đối với ta để thọ hưởng

mà không bố thí trước đă,’ như thế đối với ta là sự hành tŕ tối thượng.

Thêm nữa, việc ăn một ḿnh không phải là sự cúng dường cao thượng;

người không có sự san sẻ không t́m thấy hạnh phúc (nhân thiên).

 

38a. Ăn một ḿnh, ta thấy thật sai,
Nên xưa ta đă nguyện thành lời:
Ta không đụng đến thức ăn nữa,
Nếu chẳng cho ai bớt một vài.
b. Ăn một ḿnh không được tán thành
Bởi người có trí tuệ cao minh,
Ai không san sẻ cho người khác,
Hạnh phúc làm sao đến với ḿnh?

4055. Thīghātakā yecime pāradārikā
mittadduno ye ca sapanti subbate,
sabbeva te maccharīpañcamādhamā
tasmā adatvā udakampi nāsmiye.

 

4055. Những kẻ giết hại phụ nữ và những kẻ nào ngoại t́nh, những kẻ phản bội bạn bè và những kẻ nào chưởi rủa các bậc có sự hành tŕ tốt đẹp, và những kẻ có sự bỏn xẻn là thứ năm, tất cả những kẻ ấy là thấp thỏi. V́ thế, khi không bố thí, ngay cả nước uống ta cũng không thọ dụng.

 

39. Những người nào phạm tội tà dâm,
Hoặc bọn người tàn sát nữ nhân,
Phỉ báng, rủa nguyền bao Thánh giả,
Hoặc người phản bội các thân bằng,
Hoặc tồi tệ nhất: người keo kiệt,
Ta chẳng hề mong xếp hạng chung;
Nước uống cho dù là một giọt,
Ta không đụng nếu chẳng chia phần.

4056. Yo hitthiyā vā purisassa vā pana
dassāmi dānaṃ vidusampavaṇṇitaṃ,
saddhā vadaññū idha vītamaccharā
bhavanti hete sucisammasammatā.

 
 

40. Vật ta đem tặng măi tuôn tràn
Cùng khắp nam nhân lẫn nữ nhân,
Bậc trí sẽ tuyên dương những kẻ
Phát ban của cải để thi ân;
Những ai hào phóng trên trần giới
Và tránh xan tham đủ mọi đàng
Sẽ được mọi người đồng tán thán,
Quư yêu như thiện hữu, chân nhân.

4057. Ato mutā devavarena pesitā
kaññā catasso kanakattacūpamā,
āsā ca saddhā ca sirī tato hirī
taṃ assamaṃ āgamuṃ yattha kosiyo.

 
 

41. Cả bốn tiên nương sắc tựa vàng,
Tên là Hy Vọng với Vinh Quang,
Tín Thành, Danh Dự, tuân Thiên mệnh,
Bước đến Ko-si-ya ẩn am.

4058. Tā disvā sabbo paramappamodito
subhena vaṇṇena sikhārivaggino,
kaññā catasso caturo catuddisā
iccabravī mātalino ca sammukhā.

 
 

42. Thiên nữ h́nh dung rực lửa hồng,
Mỗi phương đến đứng một cô nàng,
Trước Ma-ta quản xa Thiên tử,
Bậc trí vui mừng vội hỏi han:

4059. Purimaṃ disaṃ kā tvaṃ pabhāsi devate
alaṅkatā tāravarāva osadhī,
pucchāmi taṃ kañcanavelliviggahe
ācikkha me tvaṃ katamāsi devatā.

 

4059. “Hỡi vị Thiên nhân, nàng là ai mà chiếu sáng phương Đông?

Nàng được trang điểm tựa như ngôi sao Mai cao quư trong số các v́ sao.

Hỡi cô nàng có thân thể tựa như khối vàng, ta hỏi nàng:

Nàng hăy báo cho ta biết nàng là vị Thiên nhân nào?”

 

43. "Là ai, Thiên nữ tựa sao mai,
Chiếu sáng trời Đông khắp mọi nơi,
Ḿnh khoác xiêm y vàng chói lọi,
Tên ǵ cho biết, gái nhà trời?"

4060. Sirāhaṃ devī manujesu pūjitā
apāpasattūpanisevinī sadā,
sudhāvivādena tavantimāgatā
taṃ maṃ sudhāya varapañña bhājaya.

 
 

44. "Vinh Quang, bạn quư của người đời,
Ta bảo vệ người trong sạch thôi,
Ta đến đây mong cầu thực phẩm,
Xin làm toại nguyện, Thánh nhân ôi!

4061. Yassāhamicchāmi sudhaṃ mahāmuni
sa sabbakāmehi naro pamodati,
sirīti maṃ jānahi jūhatuttama
taṃ maṃ sudhāya varapañña bhājaya.
 

4061. Thưa bậc đại hiền trí, thiếp muốn người nào được sung sướng, th́ người ấy được vui thích với tất cả các dục lạc. Thưa bậc ưu tú trong số các vị cúng tế thần lửa, xin ngài hăy nhận biết thiếp là ‘Nữ thần Sirī.’ Thưa bậc có trí tuệ cao quư, xin ngài hăy chia xẻ phần thức ăn của thần tiên cho thiếp đây.”

 

45. Ta ban hạnh phúc đến người nào
Ta muốn tâm cầu thỏa ước ao,
Tên gọi Vinh Quang, thưa Thánh giả,
Xin đem tiên thực tặng ta nào!

Trang 366:

 

Trang 367:

 

4062. Sippena vijjācaraṇena buddhiyā
narā upetā paguṇā sakammunā,
tayā vihīnā na labhanti kiñcanaṃ
tayidaṃ na sādhu yadidaṃ tayā kataṃ.

 
 

46. Những người tài, đức, lại tinh thông,
Xuất chúng mọi điều trí ước mong,
Song bởi thiếu nàng nên thất bại;
Việc này, ta trách ác phần nàng.

4063. Passāmi posaṃ alasaṃ mahagghasaṃ
sudukkulīnampi arūpimaṃ naraṃ,
tayānugutto siri jātimaṃ api
peseti dāsaṃ viya bhogavā sukhī.

 

4063. Ta nh́n thấy người lười biếng, ham ăn,

người có gia tộc vô cùng thấp kém, không có vóc dáng,

nhưng được nàng bảo hộ nên có sự vẻ vang, có ḍng dơi;

gă sai bảo tôi tớ như là người có của cải, có sự sung sướng.

 

47. Kẻ kia tham dục lại chây lười,
Dị tướng, con ḍng hạ liệt thôi,
Song được nàng ban cho phú quư,
Khiến người quư tộc hóa nô tài.

4064. Taṃ taṃ asaccaṃ avibhajjaseviniṃ
jānāmi mūḷhaṃ vidurānupātiniṃ,
na tādisī arahati āsanūdakaṃ
kuto sudhā gaccha na mayha ruccasi.

 
 

48. Ta thấy nàng hư dối, độn đần,
Cuốn lôi bọn ngốc, thật liều thân,
Lại c̣n đánh bại bao người trí;
Không có quyền đ̣i nước, tọa sàng,
Nói ǵ thực phẩm thần tiên ấy,
Đi gấp, ta không chút thích nàng!

4065. Kā sukkadāṭhā paṭimutta kuṇḍalā
cittaṅgadā kambuvimaṭṭhadhārinī,
osittavaṇṇaṃ paridayha sobhasi
kusaggirattaṃ apiḷayha mañjariṃ.

 

4065. “Nàng là ai mà có răng nhọn trắng ngần, có các bông tai cẩn ngọc trai, có ṿng đeo tay nhiều màu sắc, mặc y phục bóng láng bằng vàng? Nàng chiếu sáng rực rỡ sau khi khoác lên mảnh vải mang màu sắc của những hạt nước lấp lánh, sau khi cài vào chùm hoa màu đỏ rực như ngọn lửa cỏ kusa.

 

49. Nàng là ai, hỡi tiên nga,
Trong sáng, hàm răng trắng mượt mà,
Sáng chói ṿng vàng, khuyên lấp lánh,
Xiêm y rực rỡ gợn thu ba,
Đầu cài thoa đỏ như màu lửa
Được đốt bằng chùm cỏ Ku-sa?

4066. Migīva bhantā saracāpadhārinā
virādhitā mandamiva udikkhasi,
ko te dutiyo idha mandalocane
na bhāyasi ekikā kānane vane.

 
 

50. Trông nàng như một chị nai rừng
Chạm nhẹ mũi tên của thợ săn,
Thơ thẩn mắt nh́n quanh hốt hoảng
Khác nào con vật bị kinh hoàng;
Hỡi nàng Thiên nữ mắt hiền dịu,
Nàng có bạn nào ở đấy chăng,
V́ thế lạc đường không sợ hăi
Một ḿnh phiêu bạt giữa rừng hoang?

4067. Na me dutiyo idhamatthi kosiya
masakkasārappabhavamhi devatā,
āsā sudhāsāya tavantimāgatā
taṃ maṃ sudhāya varapañña bhājaya.

 
 

51. Ta chẳng có đây bạn chí thân,
Từ Sak-ka điện, chốn Thiên cung,
Ma-sak-ka ấy là tên gọi,
Ta chính là Thiên nữ giáng trần,
Hy Vọng giờ đây đang xuất hiện
Để mong cầu thực phẩm thiên thần,
Xin ngài nghe kỹ, thưa Tôn giả,
Và tặng ta điều vẫn ước mong.

4068. Āsāya yanti vāṇijā dhanesino
nāvaṃ samāruyha parenti aṇṇave,
te tattha sīdanti athopi ekadā
jīnādhanā enti vinaṭṭhapābhatā.

 
 

52. Lái buôn hy vọng kiếm kho tàng
Ra biển lên tàu vượt đại dương,
Đôi lúc ch́m tàu đâu thấy nữa,
Mất vàng, thoát chết cũng kêu than.

4069. Āsāya khettāni kasanti kassakā
vapanti bījāni karontupāyaso,
ītīnipātena avuṭṭhitāya vā
na kiñci vindanti tato phalāgamaṃ.
 

 

53. Nông gia cày ruộng vẫn cầu mong
Gieo hạt, cố làm hết khả năng,
Song gặp tai ương hay hạn hán,
Mất mùa gặt hái để bù công.

Trang 368:

 

Trang 369:

 

4070. Athattakārāni karonti bhattusu
āsaṃ purakkhatvā narā sukhesino,
te bhatturatthā atigāḷhitā puna
disā panassanti aladdha kiñcanaṃ.

 
 

54. Kẻ thích giàu, hy vọng hết ḷng
V́ vua chiến đấu thật anh hùng,
Ngă nhào, địch siết ṿng vây hăm,
Chiến đấu v́ vua phải thiệt thân.

4071. Jahitva dhaññañca dhanañca ñātake
āsāya saggādhimanā sukhesino,
tapanti lūkhampi tapaṃ cirantaraṃ
kummaggamāruyha parenti duggatiṃ.

 
 

55. Để vàng, kho lúa tặng bà con,
V́ lạc thiên đường vẫn ước mong,
Chịu đựng lâu ngày bao khổ hạnh,
Do tà pháp dẫn đến đau buồn.

4072. Āsā visaṃvādikasammatā ime
āse sudhāsaṃ vinayassu attani,
na tādisī arahati āsanūdakaṃ
kuto sudhā gaccha na mayha ruccasi.

 
 

56. Lừa dối thế nhân, ước hăo huyền,
Hăy ĺa hư vọng thỏa tâm nguyền,
Không quyền đ̣i hỏi ngay sàng tọa
B́nh nước, nói ǵ thực phẩm tiên!
Ta chẳng thích nàng, Hy Vọng hỡi,
Biến đi, nàng hăy biến đi liền!

4073. Daddallamānā yasasā yasassinī
jighañña nāmavhayanaṃ disaṃ pati,
pucchāmi taṃ kañcanavelliviggahe
ācikkha me tvaṃ katamāsi devatā.

 
 

57. Lừng danh Thiên nữ sắc huy hoàng
Đứng phía trời Tây tướng bất trường,
Ḿnh khoát xiêm y vàng rực rỡ,
Tên ǵ cho biết, hỡi tiên nương.

4074. Saddhāhaṃ devī manujesu pūjitā
apāpasattūpinasevinī sadā,
sudhāvivādena tavantimāgatā
taṃ maṃ sudhāya varapañña bhājaya.

 
 

58. Tín Thành, bạn quư của người đời,
Ta bảo vệ người trong sạch thôi,
Ta đến đây cầu mong thực phẩm,
Xin làm toại nguyện, Thánh nhân ôi!

4075. Dānaṃ damaṃ cāgamathopi saṃyamaṃ
ādāya saddhāya karonti hekadā,
theyyaṃ musā kūṭamathopi pesunaṃ
karonti heke puna viccutā tayā.

 
 

59. Bố thí rộng tay bởi tín tâm,
Cử kiêng, điều phục, hộ pḥng thân;
V́ nàng, có lúc mất ân phước,
Trộm cắp, vu oan, lại vọng ngôn.

4076. Bhariyāsu poso sadisīsu pekkhavā
sīlūpapannāsu patibbatāsupi,
vinetvā chandaṃ kuladhītiyāsupi
karoti saddhaṃ pana kumbhadāsiyā.
 

 

60. Với vợ hiền, cao quư, thục đoan,
Đàn ông thường thận trọng, khôn ngoan,
Dục t́nh chế ngự đầy chu đáo,
Song đặt ḷng tin ả bán hương!

Trang 370:

 

Trang 371:

 

4077. Tvameva saddhe paradārasevinī
pāpaṃ karosi kusalampi rañcasi,
na tādisi arahasi āsanūdakaṃ
kuto sudhā gaccha na mayha ruccasi.

 
 

61. V́ nàng, lan rộng thói tà dâm,
Nàng bỏ thiện lương, sống lỗi lầm.
Không có quyền đ̣i b́nh nước uống,
Cũng chẳng đ̣i đâu được tọa sàng,
Nói ǵ thực phẩm từ thiên giới;
Đi gấp, ta không chút thích nàng!

4078. Jighaññarattiṃ aruṇasmimūhate
yā dissatī uttamarūpavaṇṇinī,
tathūpamā maṃ paṭibhāsi devate
ācikkha me tvaṃ katamāsi accharā.

 
 

62. B́nh minh viền rực bóng đêm tàn,
Như chóa mắt ta, sắc đẹp nàng,
Thiên nữ h́nh dung, ôi tuyệt mỹ,
Nàng là ai, hăy nói danh xưng.

4079. Kāḷā nidāgheriva aggajātiva
anileritā lohitapattamālinī,
kā tiṭṭhasi mandamivāvalokayaṃ
bhāsesamānāva giraṃ na muñcasi.

 

4079. Tựa như loài dây leo kāḷā có chùm hoa với những lá màu đỏ vào mùa khô hạn run rẩy trước gió tựa như ngọn lửa, nàng là ai mà đứng nh́n xuống tựa như kẻ ngây ngô, dường như đang suy tính câu nói mà không thốt nên lời?”

63. Như một cây mềm, dễ mọc ngang
Trên vùng đất lửa đốt lan tràn,
Lá hồng theo gió mùa hè rụng,
Sao cứ nh́n ta dáng thẹn thuồng
Như thể có điều ǵ muốn nói,
Nhưng yên lặng đứng đó, cô nàng?

4080. Hirāhaṃ devī manujesu pūjitā
apāpasattūpanisevinī sadā
sudhāvivādena tavantimāgatā
sā taṃ na sakkomi sudhampi yācituṃ
kopīnarūpā viya yācanatthiyā.

 

4080. “Thiếp là Hirī (liêm sỉ), nữ Thần được tôn vinh bởi loài người, luôn luôn có sự gần gũi với những chúng sanh không ác xấu. Do việc tranh căi về phần thức ăn của thần tiên, thiếp đi đến gặp ngài. Thiếp đây không thể cầu xin ngay cả thức ăn của thần tiên ấy, (bởi v́) việc cầu xin đối với người nữ giống như việc phô bày phần kín đáo của cơ thể.”

64. Danh Dự là ta, bạn chí thân
Vẫn thường giúp đỡ các chân nhân,
Đến đây ta muốn xin tiên thực,
Song ước mơ nào dám nào năng,
Cầu khẩn đáng là điều hổ thẹn,
Nhất là đối với gái hồng quần.

4081. Dhammena ñāyena sugatte lacchasi
eso hi dhammo nahi yācanā sudhā,
taṃ taṃ ayācantimahaṃ nimantaye
sudhāya yampicchasi tampi dammi te.

 

4081. “Hỡi nàng tiên có cơ thể xinh xắn, theo nguyên tắc, theo quy định, nàng sẽ nhận được, bởi v́ điều ấy là nguyên tắc: Không do cầu xin mà có được thức ăn của thần tiên. V́ thế, ta thỉnh mời nàng là người không cầu xin. Nàng muốn loại nào trong thức ăn của thần tiên, ta sẽ cho nàng loại ấy.

 

65. Nàng chẳng cần đ̣i hỏi khẩn van,
Nhận sao cho hợp với quyền nàng,
Ta ban điều dám đâu mơ tưởng,
Hăy nhận món này thỏa ước mong.

4082. Sā tvaṃ mayā ajja sakamhi assame
nimantitā kañcanavelliviggahe,
tuvaṃ hi me sabbarasehi pūjiyā
taṃ pūjayitvāna sudhampi asmiye.

 

4082. Hỡi cô nàng có thân thể tựa như khối vàng, hôm nay nàng đây được ta thỉnh mời đến khu ẩn cư của ta, bởi v́ nàng xứng đáng được cúng dường với tất cả các hương vị. Sau khi cúng dường nàng xong, ta cũng sẽ ăn thức ăn của thần tiên.”

66. Hôm nay dùng tiệc ở trong am,
Xin hạ cố, Thiên nữ sắc vàng,
Ta thiết đăi nàng bao thượng vị,
Món ăn thiên giới cũng chia nàng.

4083. Sā kosiyenānumatā jutīmatā
addhā
hirī rammaṃ pāvisi yassamaṃ,
udaññavantaṃ phalamariyapūjitaṃ
apāpasattūpanisevitaṃ sadā.

 

4083. Nàng tiên ấy đă được vị Kosiya có sự chói sáng (năng lực) cho phép,

nàng Hirī quả thật đă đi vào nơi ẩn cư đáng yêu;

(nơi ấy) có nước uống, có trái cây được cúng dường cao thượng,

luôn luôn có sự gần gũi với những chúng sanh không ác xấu.

67. Danh Dự, tiên nương thật vẻ vang,
Được mời làm khách ở trong am,
Ko-si-ya có nhiều hoa quả,
Khe suối quanh năm chảy ngập tràn,
Lại thấy từng đoàn hiền Thánh giả
Vẫn thường lui tới các thôn làng.

4084. Rukkhaggahaṇā bahukettha pupphitā
ambā piyālā panasā ca kiṃsukā,
sobhañjanā loddamathopi padmakā
kekā ca bhaṅgā tilakā ca pupphitā.
 

4084. Nơi này có nhiều lùm cây rậm đă được trổ hoa:

các cây xoài, các cây piyāla, các cây mít, các cây kiṃsukā,

các cây sobhañjana, các cây lodda, rồi các cây padmaka nữa,

các cây keka, các cây bhaṅga và các cây tilaka đă được trổ hoa.

 

68. Rập rạp khóm cây đang trổ hoa,
Pi-yal, xoài, mít cạnh Ju-da,

Trang 372:

 

Trang 373:

 

4085. Sālā karerī bahukettha jambuyo
assatthanigrodhamadhukā ca vetasā,
uddālakā pāṭalīsindhuvārakā
manuññagandhā mucalindaketakā.

 

4085. Nơi này có nhiều cây sa-la, các cây bông hường, các cây mận đỏ,

các cây bồ-đề, các cây đa, các cây cam thảo, và các cây sậy,

các cây bả đậu, các cây hoa kèn, các cây sindhuvāraka,

các cây mucalinda và các cây ketaka với mùi thơm làm thích ư.

 

Sà-la, đào đỏ tươi tô điểm,
Hùng vĩ, sung, bàng đổ bóng xa.

4086. Hareṇukā veḷukā veṇutindukā
sāmāka nīvāramathopi cīnakā,
mocā kadalī bahuketthasāliyo
pavīhayo ābhujino ca taṇḍulā.

 

4086. Các cây họ đậu, các cây veḷuka, các cây sậy, và các cây tinduka,

các cây cao lương, các cây kê, rồi các cây đậu nành nữa,

các cây moca, các cây chuối, ở đây có nhiều lúa sāli (mọc ven hồ),

các cây lúa pavīhi, các cây liễu, và các cây lúa taṇḍula.

 

69. Theo gió, nhiều hoa tỏa ngát hương,
Đậu kê, gạo đủ thứ, ḱa trông,
Nơi nơi buồng chuối trồng phong phú,
Tre, sậy chen nhau rập nhất vùng.

4087. Tassa ca uttare passe jātā pokkharaṇī sivā,
akakkasā apabbhārā sādhu appaṭigandhiyā.

 

4087. Và ở về phía bắc của nơi này có hồ sen an lành,

không gồ ghề, không hố sâu, tốt lành, không có mùi khó chịu.

 

70. Ở về phía Bắc, được viền quanh
Bờ bến phẳng phiu, mát dịu lành,
Khe suối trong ngần tuôn chảy măi,
Hăy nh́n hồ nước dáng uy linh.

4088. Tattha macchā sanniratā khemino bahubhojanā,
siṅgu savaṅkā sakulā satavaṅkā ca rohitā,
āligaggarakākiṇṇā pāṭhīnā kākamacchakā.

 

4088. Nơi ấy có nhiều thức ăn, các con cá có sự b́nh an cùng nhau nô đùa: các giống cá siṅgu, cá savaṅka, cá sakula, cá satavaṅka, cá hồng, và đông đúc loài cá āli, cá gaggaraka, cá pāṭhīna, và các cá nhỏ mồi của lũ quạ.

 

71. Đàn cá tung tăng hạnh phúc tràn
Tự do nô giỡn thật b́nh an,
Giữa bao thực phẩm đầy phong phú
Hưởng thọ sao cho thỏa ước mong.

4089. Tattha pakkhī sanniratā khemino bahubhojanā,
haṃsā koñcā mayūrā ca cakkavākā ca kukkuhā,
kuṇālakā bahucitrā sikhaṇḍī jīvaṃjīvakā.

 
 

72. Bầy chim hạnh phúc chốn an b́nh
Thưởng thức cao lương thật thỏa t́nh,
Thiên nga, ưng, hạc, chim công quư,
Cu gáy, ngỗng hồng với trĩ xanh.

4090. Tattha pānāyamāyanti nānāmigagaṇā bahū,
sīhā vyagghā varāhā ca acchakokataracchayo.

 
 

73. Cọp, beo, sư tử đến từng bầy
Làm dịu ngay cơn khát chốn này,
Gấu, chó, sói rừng thường lảng vảng,
Đấy là nguồn nước uống tràn đầy.

4091. Palāsādā ca gavajā mahisā rohitā rurū,
eṇeyyā ca varāhā ca gaṇino niṅkasūkarā.

 
 

74. Trâu nghé, tây ngưu cũng đến đây,
Linh dương, nai đỏ, lợn từng bầy,

4092. Kadalimigā bahū cettha biḷārā sasakaṇṇakā,
chamāgirī pupphavicitrasanthatā,
dijābhighuṭṭhā dijasaṅghasevitā.

 
 

Hươu rừng rất lớn và nhiều loại
Xuất hiện mèo tai thỏ lắm thay!

75. Các sườn núi rực rỡ muôn hoa
Tươi thắm bao màu sắc điểm tô,
Vang dội tiếng chim muông ríu rít,
Lượn bay khắp cả chốn rừng thưa.

4093. Sā suttacā nīladumābhilambitā
vijju mahāmegharivānupajjatha,
tassā susambandhasiraṃ kusāmayaṃ
suciṃ sugandhaṃ ajinūpasevitaṃ,
atriccha kocchaṃ hirimetadabravi
nisīda kalyāṇi sukhayidamāsanaṃ.
 

 

76. Nàng Thiên nữ dựa một cây cành
Bao phủ quanh bằng tán lá xanh,
Như chớp từ vầng mây sấm sét
Sáng ḷe lên giữa cảnh am tranh.

77. Tọa sàng thanh lịch soạn cho nàng
Ở phía trên đầu, nệm thật sang
Bằng cỏ Ku-sa thơm sực nức,
Phủ ngoài da quư của linh dương.

78. Vị Thánh ẩn cư lại bảo ban
Cùng nàng Danh Dự, vị tiên nương:
"Tọa sàng đă soạn cho nàng hưởng,
Xin hăy an tâm nhận tọa sàng".

Trang 374:

 

Trang 375:

 

4094. Tassā tadā kocchagatāya kosiyo
yadicchamānāya jaṭājinaṃ dharo,
navehi pattehi sayaṃ sahūdakaṃ
sudhābhihāsī turito mahāmuni.

 

4094. Khi ấy, nàng tiên Hirī đă đi đến ngồi ở chiếc ghế nệm, đang mong muốn mỏi thức ăn của thần tiên. Bậc đại hiền trí Kosiya, tóc bện, mặc y da dê, đă mau mắn đích thân trao thức ăn của thần tiên cùng với nước uống (được mang về) bằng những chiếc lá mới cho nàng tiên nữ ấy.

79. Ẩn sĩ lấy ra nước suối trong
Đựng vào lá mới hái, nhanh chân,
Biết điều thầm kín nàng mơ ước,
Hoan hỷ, người trao thực phẩm thần.

4095. Sā taṃ paggayha ubhohi pāṇihi
iccabravī attamanā jaṭādharaṃ,
handāhaṃ etarahi pūjitā tayā
gaccheyya brahme tidivaṃ jitāvinī.

 

4095. Nàng tiên ấy, sau khi nhận lấy thức ăn bằng cả hai bàn tay,

được hoan hỷ, đă nói với vị mang bện tóc rằng:

“Bây giờ, thiếp đă được ngài cúng dường,

thưa vị Bà-la-môn, người có sự chiến thắng nên đi đến Thiên giới.”

 

80. Tay ôm tặng vật, dạ vui mừng
Thiên nữ hân hoan bảo Thánh nhân:
"Thờ phụng ta rồi ngài thắng lợi
Giờ ta t́m lại cảnh thiên đường".

4096. Sā kosiyānumatā jutīmatā
udīritā vaṇṇamadena mattā,
sakāse gantvāna sahassacakkhuno
ayaṃ sudhā vāsava dehi me jayaṃ.

 

4096. Được vị Kosiya có sự chói sáng (năng lực) cho phép, nàng tiên ấy, đắm say với sự kiêu hănh về sắc đẹp, sau khi đi đến nơi hiện diện của đấng Ngàn Mắt, đă nói rằng: “Thưa Thiên Chủ Vāsava, đây là thức ăn của thần tiên. Xin ngài hăy ban cho thiếp sự chiến thắng.”

81. Thiên nữ say kiêu hănh vẻ vang
Với ân huệ yết kiến Thiên hoàng:
"Hăy nh́n, Thiên đế ngàn con mắt,
Tiên thực đây. Phần thưởng hăy ban".

4097. Tamena sakkopi tadā apūjayi
sahindā ca devā surakaññamuttamaṃ,
sā pañjalī devamanussapūjitā
navamhi kocchamhi yadā upāvisi.

 

4097. Vào lúc nàng đă đi đến ngồi vào chiếc ghế nệm mới, khi ấy, Thiên Chủ Sakka cũng đă cúng dường nàng ấy với chiếc ghế ấy. Và cùng với Thiên Chủ Inda, chư Thiên đă cúng dường đến nàng tiên nữ ưu tú. Được chư Thiên và nhân loại cúng dường, nàng tiên ấy đă chắp tay lại.

 

82. Sak-ka cùng với chúng Thiên thần
Kính lễ nàng Thiên nữ tuyệt luân,
Trong lúc nàng ngồi trên bảo tọa,
Thiên nhân đồng ái mộ dung nhan.

4098. Tameva saṃsī punareva mātalī
sahassanetto tidasānamindo,
gantvāna vākyaṃ mama brūhi kosiyaṃ
āsāya saddhā siriyā ca kosiya
hirī sudhaṃ kena malattha hetunā.

 
 

83. Sak-ka Thiên chủ cơi Băm ba
Phán lệnh Mà-ta-li quản xa,
Truyền: "Đến bảo hiền nhân giải thích
Cớ ǵ Danh Dự được ban quà?

4099. Taṃ suplavatthaṃ udatārayī rathaṃ
daddallamānaṃ upakiriya sādisaṃ,
jambonadīsaṃ tapaneyyasannibhaṃ
alaṅkataṃ kañcanacittasantikaṃ.

 

4099. Mātali đă đưa cỗ xe ấy vượt lên nhằm mục đích lao đi dễ dàng.

Cỗ xe, trong lúc đang chói sáng, tương tự như một ṭa nhà,

với càng xe bằng vàng đỏ Jambu giống như đă được đốt nóng,

đă được trang hoàng, đă được tô điểm bằng vàng và bảy loại bảo ngọc.

 

84. V́ vậy, Mà-ta-li vội vàng
Phóng xe du lịch giữa không gian,
Phụ tùng mọi thứ đều cân xứng
Trong vẻ vinh quang đẹp dị thường,
Càng đúc bằng vàng tinh luyện kỹ,
Khung xe đóng khéo được trang hoàng
Cầu kỳ, đủ các h́nh tô điểm,
Tất cả xe đều chạm trổ vàng.

4100. Suvaṇṇacandettha bahū nipātitā
hatthī gavassā kikivyagghadīpiyo,
eṇeyyakā laṅghimayettha pakkhiyo
migettha veḷuriyamayā yudhāyutā.
 

 

85. Trên vàng được phát họa chim công
Khéo tạo thành con số thật đông,
Ḅ, ngựa, hổ, voi và báo nữa,
Linh dương, nhung lộc sắp tranh hùng,
Ở trong bảo ngọc này đều khắc
Đàn cưỡng cùng chim khác lượn ṿng.

Trang 376:

 

Trang 377:

 

4101. Tatthassarājaharayo ayojayuṃ
dasasatāni susunāgasādise,
alaṅkate kañcanajāluracchade
āveḷike saddagame asaṅgite.

 
 

86. Xe được thắng thiên mă cả ngàn,
Mạnh như voi trẻ, sắc kim hoàng,
Cảnh này xem thực vinh quang quá,
Ngực chúng đều bao mạng lưới vàng
Cùng các tràng hoa treo lủng lẳng,
Được buông lơi lỏng sợi dây cương,
Vừa khi nghe một lời ra lệnh,
Chúng lướt nhanh như gió nhẹ nhàng.

4102. Taṃ yānaseṭṭhaṃ abhiruyha mātalī
dasadisā imā abhinādayittha,
nabhañca selañca vanaspatīni ca
sasāgaraṃ pavyathayittha mediniṃ.

 
 

87. Ngay lúc Mà-ta nhảy vụt nhanh
Cỡi thiên xa ấy, giữa thiên thanh,
Âm thanh mười hướng đồng vang dội
Qua giữa không gian đă tốc hành,
Thiên tử làm trần gian chấn động:
Biển, trời, đất với núi rừng xanh.

4103. Sa khippameva upagamma assamaṃ
pāvāramekaṃsakato katañjalī,
bahussutaṃ vaddhaṃ vinītavantaṃ
iccabravi mātali devabrāhmaṇaṃ.

 
 

88. Chẳng bao lâu đến thảo am kia
Mong ước tỏ ḷng tôn kính ra,
Để một vai trần chào Thánh giả,
Mà-ta-li lại bắt đầu thưa
Với vị Bà-la-môn trí tuệ
Tinh thông Thánh điển thật cao xa.

4104. Indassa vākyaṃ nisāmehi kosiya
dūto ahaṃ pucchati taṃ purindado,
āsāya saddhā siriyā ca kosiya
hirī sudhaṃ kena malattha hetunā.

 
 

89. Nghe đây, Tôn giả Ko-si-ya,
Lời nói của Thiên chủ Sak-ka
Về việc ngài đang mong muốn biết,
Ḱa xem, sứ mạng được giao ta:
"Trong khi Tôn giả không công nhận
Quyền của Tín Thành, Hy Vọng và
Vinh Quang, xin hỏi sao Danh Dự
Riêng nhận từ tay ấy thưởng quà?"

4105. Andhā sirī maṃ paṭibhāti mātalī
saddhā aniccā pana devasārathi,
āsā visaṃvādikasammatā hi me
hirī ca ariyamhi guṇe patiṭṭhitā.

 
 

90. Mà-ta-li hỡi, nàng Vinh Quang
Là ngọc nữ không được vẹn toàn,
Trong lúc Tín Thành tâm bất định,
Hỡi ngài, Thiên tử quản xa thần,
Nàng Hy Vọng vẫn thường lừa dối
Thích phản bội lời hứa của nàng,
Danh Dự riêng ḿnh theo đức hạnh,
Trú thân trong Thánh đạo b́nh an.

4106. Kumāriyo yācimā gottarakkhitā
jiṇṇā ca yā yā ca sabhattuitthiyo,
tā chandarāgaṃ purisesu uggataṃ
hiriyā nivārenti sacittamattano.

 

4106. Các nàng trinh nữ được ḍng họ bảo hộ,

các góa phụ, và các phụ nữ đă có chồng,

các nàng ấy, khi dục vọng và luyến ái ở các nam nhân sanh khởi,

chận đứng tâm của chính ḿnh nhờ vào sự liêm sỉ.

 

91. Sống ở gia môn, gái má hồng
Vẫn luôn được bảo vệ, canh pḥng,
Nữ nhân đă quá thời xuân sắc,
Và những kẻ đang sống với chồng,
Ví thử có khi nào nhục dục
Bỗng nhiên phát khởi ở trong ḷng,
Nghe lời nói của nàng Danh Dự,
Chế ngự dục tâm hạ xuống dần.

4107. Saṅgāmasīse sarasattisaṃyute
parājitānaṃ patataṃ palāyinaṃ,
hiriyā nivattanti jahitva jīvitaṃ
te saṃpaṭicchanti punā hirīmanā.

 
 

92. Khi các dáo, tên ở chiến trường
Phóng nhanh rào rạt tựa mưa tuôn,
Trong cơn trốn chạy, bao đồng đội
Ngă xuống hay đào tẩu loạn cuồng,
Nghe được lời nàng Danh Dự nói,
Nhiều người dừng chạy, dẫu nguy nan,
Và dầu đang ngập tràn kinh hoảng,
Lần nữa xông ra chốn kiếm thương.

4108. Velā yathā sāgaravegavāriṇī
hirāyaṃ hi pāpajanaṃ nivāraṇī,
taṃ sabbaloke hirimariyapūjitaṃ
indassa naṃ vedaya devasārathi.
 

 

93. Giống như bờ biển vẫn thường ngăn
Những đợt ba đào giữa đại dương,
Danh Dự cũng thường hay trấn áp
Con đường của những bọn tà gian;
Mà-ta-li hỡi, mau về gặp
Thiên chủ In-dra, nói rơ ràng:
Bậc Thánh khắp nơi trên thế giới
Thảy đều tôn trọng đại danh nàng.

Trang 378:

 

Trang 379:

 

4109. Ko te imaṃ kosiya diṭṭhimodahi
brahmā mahindo athavā pajāpati,
hirāyaṃ devesu hi seṭṭhasammatā
dhītā mahindassa mahesi jāyatha.

 
 

94. Ko-si-ya, kẻ ấy là ai
Đă gợi ư kia đến với ngài,
Có phải là In-dra Đại đế,
Phạm thiên, đầy tạo hóa cao vời?
Nàng Danh Dự ấy, thưa Tôn giả,
Phải biết được sinh bởi ư trời
Thiên chủ In-dra, trên thượng giới,
Riêng nàng đức hạnh tối cao ngôi.

4110. Handehidāni tidivaṃ samakkama
rathaṃ samāruyha mamāyitaṃ imaṃ,
indo ca taṃ indasagotta kaṅkhati
ajjeva tvaṃ indasahavyataṃ vaja.

 
 

95. Thánh nhân, hăy bước đến bây giờ,
Lập tức lên xe quư của ta,
Ta sẽ dẫn ngài về thượng giới,
Cung đ́nh ngự trị cơi Băm ba
In-dra đang đợi chờ Tôn giả,
Quyến thuộc ln-dra quả thực là.
Thiên đạo hôm nay lên cộng trú
Ngài thành đạt với chúa In-dra.

4111. Evaṃ samijjhanti apāpakammino
atho suciṇṇassa phalaṃ na nassati,
ye keci maddakkhu sudhāya bhojanaṃ
sabbeva te indasahavyataṃ gatā ”ti.

 
 

96. Chính hành động của Thánh hiền nhân
Đưa đến đời sau quả phước ân,
Kết quả thiện hành an trú măi.
Người nh́n thực phẩm của Thiên thần
Được đem trao tặng nàng Danh Dự,
Thân hoại, trú an với Ngọc hoàng.

4112. Hirī uppalavaṇṇāsi kosiyo dānapati bhikkhu,
anuruddho pañcasikho ānando āsi mātalī.

 
 

-Thời ấy Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) là Thiên nữ Danh Dự, vị Tỷ-kheo có tâm bố thí hào phóng là Kosiya, Anuruddha (A-na-luật-đà) là Màtali,

4113. Suriyo kassapo bhikkhu moggallānosi candimā,
nārado sāriputtosi sambuddho āsi vāsavo ”ti.

 
 

Kassapa (Ca-diếp) là Suriya, Moggallàna (Mục-kiền-liên) là Canda, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là Nàrada, và Ta chính là Sakka Thiên chủ.

Câu chuyện 535

Sudhābhojanajātakaṃ.

 

***

Bổn sanh Thức Ăn của Thần Tiên. [535]

 

***

<Trang trước>

<Trang Kế>

 

<Mục Lục Jātakapāḷi - Bổn Sanh tập II>

<Đầu Trang>