|
III. MAHĀVAGGO - ĐẠI PHẨM
|
|
Buddha
Jayanti Tripitaka Series (BJTS) - Tạng Sri Lanka
|
Lời tiếng Việt:
(văn xuôi) Tỳ khưu Indacanda
|
Lời tiếng Việt:
(văn vần) HT. Thích Minh Châu
|
|
1. PABBAJJĀSUTTAṂ
|
1. KINH XUẤT
GIA
|
1. KINH XUẤT
GIA
|
|
407. Pabbajjaṃ kittayissāmi yathā
pabbaji cakkhumā,
yathā vīmaṃsamāno so pabbajjaṃ samarocayi. |
407. Tôi
sẽ thuật lại việc xuất gia: Bậc Hữu Nhăn đă xuất
gia ra sao, trong khi suy xét thế nào mà Ngài đă tỏ ra thích thú
việc xuất gia.
|
Ananda:
405. Xuất gia, tôi tán thán,
Như Pháp nhăn xuất gia,
Sau khi Ngài quán sát,
Chấp thuận hạnh xuất gia. |
|
408. Sambādho ’yaṃ gharāvāso
rajassāyatanaṃ iti,
abbhokāso va pabbajjā iti disvāna pabbaji. |
408. Ngài đă xuất gia sau khi
nh́n thấy rằng: ‘Cuộc sống tại gia này có sự chướng ngại, là địa
bàn của ô nhiễm; việc xuất gia quả là bầu trời mở rộng.’ |
406.Trói buộc, sống gia đ́nh,
Tụ hội mọi bụi đời,
Phóng khoáng, đời xuất gia,
Thấy vậy nên xuất gia. |
|
409. Pabbajitvāna kāyena pāpaṃ
kammaṃ vivajjayi,
vacīduccaritaṃ hitvā ājīvaṃ parisodhayi. |
409. Sau khi xuất gia, Ngài đă
lánh xa nghiệp ác do thân. Sau khi từ bỏ uế hạnh về khẩu, Ngài
đă làm trong sạch việc nuôi mạng. |
407. Sau khi Ngài xuất gia,
Thân ác nghiệp Ngài tránh,
Từ bỏ lời nói ác,
Mạng sống Ngài thanh tịnh. |
|
410. Agamā rājagahaṃ buddho
magadhānaṃ giribbajaṃ,
piṇḍāya abhihāresi ākiṇṇavaralakkhaṇo. |
410. Đức Phật đă đi đến thành
Rājagaha, vùng đất ở giữa các ngọn núi của xứ Magadha. Ngài đă
dấn thân vào việc khất thực, với tướng mạo cao quư nổi bật.
|
408. Phật đi đến Vương Xá,
Đến chỗ núi bao vây,
Tại nước Ma-kiệt-đà,
Ngài sống hạnh khất sĩ,
Mang theo thật đầy đủ,
Các tướng tốt quang minh. |
|
411. Tamaddasā bimbisāro
pāsādasmiṃ patiṭṭhito,
disvā lakkhaṇasampannaṃ imamatthaṃ abhāsatha. |
411. Đứng ở ṭa lâu đài, đức vua
Bimbisāra đă nh́n thấy Ngài. Sau khi nh́n thấy bậc có đầy đủ
tướng mạo, đức vua đă nói lên ư nghĩa này: |
409. B́nh Sa vương thấy Ngài,
Đứng trên sân lầu thượng,
Thấy đầy đủ tướng tốt,
Bèn nói lên lời này: |
|
412. Imaṃ bhonto nisāmetha
abhirūpo brahā suci,
caraṇena ceva sampanno yugamattaṃ ca pekkhati. |
412. ‘Này các khanh, hăy nh́n xem
người này, vị có vóc dáng đẹp, cao cả, (làn da) trong sáng, và
c̣n thành tựu về cử chỉ nữa; và vị này nh́n chỉ trong tầm của
một cán cày. |
410. Các Ông hăy chăm sóc
Người đẹp, lớn, thanh tịnh,
Thành tựu với hạnh đức,
Chỉ nh́n vừa một tầm. |
|
413. Okkhittacakkhu satimā nāyaṃ
nīcā kulāmiva,
rājadūtā vidhāvantu kuhiṃ bhikkhu gamissati. |
413. Với mắt nh́n xuống, có niệm,
vị này dường như không thuộc gia tộc hạ liệt. Hăy cho các sứ giả
của vua chạy đến (hỏi xem) vị tỳ khưu (ấy) sẽ đi đến nơi nào?' |
411. Mắt nh́n xuống, chánh
niệm,
Gia đ́nh không hạ tiện,
Hăy cho sứ giả theo,
Tỷ-kheo sẽ đi đâu? |
|
414. Te pesitā rājadūtā piṭṭhito
anubandhisuṃ,
kuhiṃ gamissati bhikkhu kattha vāso bhavissati. |
414. Được phái đi, các sứ giả ấy
của vua đă đi theo sát ở phía sau (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu sẽ đi
đến nơi nào? Chỗ trú ngụ sẽ là nơi đâu?’ |
412. Được sai, sứ giả ấy
Đi theo sau lưng Ngài,
Tỷ-kheo sẽ đi đâu?
Trú xứ sẽ chỗ nào? |
|
415. Sapadānaṃ caramāno
guttadvāro susaṃvuto,
khippaṃ pattaṃ apūresi sampajāno patissato. |
415. Trong khi bước đi (khất thực)
tuần tự theo từng nhà, vị ấy có các căn đă được canh pḥng, khéo
thu thúc ở các giác quan, đă nhận đầy b́nh bát một cách nhanh
chóng, có sự nhận biết rơ, có niệm.
|
413. Khất thực, từng nhà một,
Căn hộ tŕ chế ngự,
B́nh bát được mau đầy,
Tỉnh giác và chánh niệm. |
|
416. Piṇḍacāraṃ caritvāna
nikkhamma nagarā muni,
paṇḍavaṃ abhihāresi ettha vāso bhavissati. |
416. Sau khi đi khất thực, vị
hiền trí đă rời khỏi thành phố rồi đă leo lên núi Paṇḍava (nghĩ
rằng): ‘Nơi này sẽ là chỗ trú ngụ.’
|
414. Sau khi đi khất thực,
Ẩn sĩ ra khỏi thành,
Leo lên Pandava,
Sẽ trú xứ tại đấy. |
|
417. Disvāna vāsūpagataṃ tato
dūtā upāvisuṃ,
ekova dūto āgantvā rājino paṭivedayi.
|
417. Sau khi nh́n thấy vị ấy đi
đến gần chỗ trú ngụ, do đó các sứ giả đă dừng lại. Và chỉ một vị
sứ giả đă trở về thông báo cho đức vua rằng:
|
415. Thấy vị ấy đến chỗ,
Các sứ giả ngồi chờ,
C̣n một vị đi về,
Kể lại chuyện vua hay. |
|
418. Esa bhikkhu māhārāja
paṇḍavassa purakkhato,
nisinno vyagghusabhova sīhova girigabbhare.
|
418. ‘Tâu đại vương, vị tỳ khưu
ấy ngồi tựa như con hổ hay con ḅ mộng ở phía trước núi Paṇḍava,
tựa như con sư tử ở trong hang núi.’
|
416. Đại vương, Tỷ-kheo ấy,
Phía đông Pandava,
Ngồi như cọp, ḅ chúa,
Như sư tử trong hang. |
|
419. Sutvāna dūtavacanaṃ
bhaddayānena khattiyo,
taramānarūpo niyyāsi yena paṇḍavapabbato. |
419. Sau khi đă nghe lời nói của
viên sứ giả, vị Sát-đế-lỵ với dáng vẻ vội vă đă ra đi về phía
núi Paṇḍava bằng cỗ xe xinh đẹp.
|
417. Nghe sứ giả, đức vua
Với cỗ xe thù thắng,
Vội vàng ra khỏi thành,
Đi đến Pandava. |
|
420. Sa yānabhūmiṃ yāyitvā yānā
oruyha khattiyo,
pattiko upasaṅkamma āsajja taṃ upāvisi. |
420. Sau khi đă đi hết vùng đất
có thể đi bằng cỗ xe, đức vua ấy đă leo xuống cỗ xe rồi đă đi bộ
đến gần, sau khi đến nơi đă ngồi kế cận vị tỳ khưu ấy.
|
418. Đi được, vua đi xe,
Rồi xuống xe đi bộ,
Đức vua tiến lại gần,
Và vào chỗ Ngài ở. |
|
421. Nisajja rājā sammodi kathaṃ
sārāṇīyaṃ tato,
kathaṃ so vītisāretvā imamatthaṃ abhāsatha.
|
421. Sau khi ngồi xuống, đức vua
đă nói lời xă giao thân thiện. Kế đó, sau khi trao đổi lời chào
hỏi, đức vua ấy đă nói ư nghĩa này: |
419. Ngồi xuống, vua nói lên
Lời hỏi thăm chào đón,
Lời lẽ chào đón xong,
Vua nói lên nghĩa này. |
|
422. Yuvā ca daharo cāsi
paṭhamuppatito susu,
vaṇṇārohena sampanno jātimā viya khattiyo.
|
422. ‘Ngươi là thanh niên và trẻ
trung, vừa mới lớn, c̣n non trẻ, đươc thành tựu màu da và dáng
vóc, có ḍng dơi tựa như là Sát đế-lỵ.
|
420. Người thanh niên tuổi trẻ,
Ngây thơ, bước vào đời,
Đẹp cao được đầy đủ,
Thiện sanh ḍng Sát-ly. |
|
423. Sobhayanto aṇikaggaṃ
nāgasaṃghapurakkhato,
dadāmi bhoge bhuñjassu jātiṃ vakkhāhi pucchito.
|
423. Dẫn đầu đoàn voi trận, ngươi
làm rạng rỡ đội binh tiên phong. Trẫm ban cho các của cải, ngươi
hăy hưởng thụ. Đă được hỏi, ngươi hăy nói về ḍng dơi.’
|
421. Trang hoàng binh đội ngũ,
Trước mắt cả binh đoàn,
Tài sản ta cho Người,
Hăy hưởng và trả lời
Về vấn đề thọ sanh. |
|
424. Ujuṃ jānapado rājā
himavantassa passato,
dhanaviriyena sampanno kosalesu niketino. |
424. ‘Tâu đức vua, thẳng ngay
hướng này có một chủng tộc (sống) ở sườn núi Hi-mă-lạp, có đầy
đủ tài sản và nghị lực, thuộc dân bản địa của xứ sở Kosala.
|
Thế Tôn:
422. Trên sườn núi Tuyết sơn,
Sống dân tộc đoạn trực,
Tài sản nghị lực đủ,
Ở xứ Kosala. |
|
425. Ādiccā nāma gottena sākiyā
nāma jātiyā,
tamhā kulā pabbajitomhi rāja na kāme abhipatthayaṃ.
|
425. Với ḍng họ có tên là Mặt
Trời, với ḍng dơi có tên là Sākiya (Thích Ca), tâu đức vua,
trong khi không mong mỏi các dục, từ gia tộc ấy tôi đă xuất gia.
|
423. Ḍng họ thuộc mặt trời,
Sanh tộc là Thích-ca,
Từ bỏ gia tộc ấy,
Thưa vua, Ta xuất gia,
Ta không có tha thiết,
Đối với các loại dục. |
|
426. Kāmesvādīnavaṃ disvā
nekkhammaṃ daṭṭhu khemato,
padhānāya gamissāmi ettha me rajjatī manoti. |
426. Sau khi nh́n thấy sự tai
hại ở các dục, sau khi nh́n thấy sự xuất ly là an toàn, tôi sẽ
ra đi nhằm (mục đích) ra sức nỗ lực, trong việc này tâm ư của
tôi được vui thích.’
|
424. Thấy nguy hiểm trong dục,
Bỏ chúng, là an ổn,
Ta sẽ đi, tinh tấn,
Ư Ta, được hoan hỷ. |
|
Pabbajjāsuttaṃ
niṭṭhitaṃ.
|
Dứt Kinh Xuất Gia.
|
|
|
|
|
|
|
2. PADHĀNASUTTAṂ
|
2. KINH NỖ LỰC
|
2. KINH TINH CẦN
|
|
427. Taṃ maṃ padhānapahitattaṃ
nadiṃ nerañjaraṃ pati,
viparakkamma jhāyantaṃ yogakkhemassa pattiyā. |
427. Trong
lúc ta đây,
với
bản tánh cương quyết về việc nỗ lực, đang gắng hết sức tham
thiền cạnh ḍng sông Nerañjarā nhằm đạt đến sự an toàn đối với
các trói buộc (Niết Bàn).
|
Thế Tôn:
425. Bên sông Ni-liên-thuyền,
Ta tinh cần tinh tấn,
Cố gắng, Ta thiền định,
Đạt an ổn khổ ách. |
|
428. Namucī karuṇaṃ vācaṃ
bhāsamāno upāgamī,
kiso tvamasi dubbaṇṇo santike maraṇaṃ tava. |
428. Namuci
đă đi
đến gần, thốt lên lời nói thương xót rằng: ‘Ông trở nên ốm o,
xuống sắc; cái chết là ở cạnh ông rồi.’
|
426. Ác ma đến gần Ta,
Nói lên lời từ mẫn,
Ông ốm không dung sắc,
Ông đă gần chết rồi. |
|
429. Sahassabhāgo maraṇassa
ekaṃso tava jīvitaṃ,
jīva bho jīvitaṃ seyyo jīvaṃ puññāni kāhasi. |
429. Đối với ông, có đến một ngàn phần chết, chỉ c̣n một phần
sống. Này ông, hăy sống đi, mạng sống là tốt hơn. Trong khi sống,
ông sẽ làm các việc phước đức. |
427. Cả ngàn phần, Ông chết,
Chỉ một phần c̣n sống,
Hăy sống, sống tốt hơn,
Sẽ làm các công đức. |
|
430. Carato va te brahmacariyaṃ
aggihuttañca juhano,
pahūtaṃ cīyate puññaṃ kimpadhānena kāhasi. |
430. Nhiều phước báu (sẽ) được tích lũy cho ông ngay trong khi
ông thực hành Phạm hạnh,và dâng cúng vật tế thần lửa, ông sẽ làm
ǵ với việc nỗ lực? |
428. Như Ông sống Phạm hạnh,
Hăy đốt lửa tế tự,
Hăy chất chứa công đức,
Ông tinh tấn làm ǵ? |
|
431. Duggo maggo padhānāya
dukkaro durabhisambhavo,
imā gāthā bhaṇaṃ māro aṭṭhā buddhassa santike. |
431. Con đường đưa đến sự nỗ lực là khó đi, khó làm, khó hoàn
thành,’ trong khi nói những lời kệ này Ma Vương đă đứng gần đức
Phật. |
429. Khó thay, đường tinh tấn,
Khó làm, khó đạt được.
Ác ma đứng gần Phật,
Nói lên những kệ này. |
|
432. Taṃ tathāvādīnaṃ māraṃ
bhagavā etadabravī,
pamattabandhu pāpima yenatthena idhāgato. |
432. Khi Ác ma có lời nói như thế, đức Thế Tôn đă nói với Ác Ma
ấy điều này: ‘Này kẻ thân quyến của xao lăng, này Ác Ma, ngươi
đến đây với mục dích ǵ? |
430. Thế Tôn đă đáp lại
Lời Ác ma như sau:
Bà con ác phóng dật,
Ngươi đến đây làm ǵ? |
|
433. Aṇumattenapi puññena attho
mayhaṃ na vijjati,
yesaṃ ca attho puññānaṃ te māro vattumarahati.
|
433. Ta
không có mục đích về phước báu dầu chỉ là một phần nhỏ nhoi, Ma
Vương nên nói với những người nào có mục đích về các việc phước
báu. |
431. Với công đức nhỏ bé,
Ta đâu có cần đến?
Với ai cần công đức,
Ác ma đáng nói chúng. |
|
434. Atthi saddhā tathā viriyaṃ
paññā ca mama vijjati,
evaṃ maṃ pahitattampi kiṃ jīva mama pucchasi.
|
434. Ta có đức tin cũng như tinh tấn, và trí tuệ được t́m thấy ở
ta, ta c̣n là người có bản tánh cương quyết như vậy, sao ngươi
c̣n hỏi ‘hăy sống’ đối với ta? |
432. Đây có tín, tinh tấn,
Và Ta có trí tuệ,
Như vậy, Ta tinh tấn,
Sao Ngươi hỏi Ta sống? |
|
435. Nadīnamapi sotāni ayaṃ vāto
visosaye,
kiñca me pahitattassa lohitaṃ nūpasussaye. |
435. Gió này có thể làm khô cạn các ḍng nước thậm chí của các
con sông, nhưng sao máu của người có bản tánh cương quyết như ta
không bị làm khô kiệt? |
433. Gió này làm khô cạn,
Cho đến các ḍng sông,
Làm sao khô cạn máu,
Khi Ta sống tinh tấn? |
|
436. Lohite sussamānamhi pittaṃ
semhañca sussati,
maṃsesu khīyamānesu bhiyyo cittaṃ pasīdati,
bhiyyo sati ca paññā ca samādhi mama tiṭṭhati. |
436. Trong khi máu bị khô cạn, mật và đàm bị khô cạn, trong khi
các phần xác thịt bị hủy hoại, th́ tâm (của ta) càng thêm tịnh
tín; niệm, tuệ, và định của ta càng thêm vững chải. |
434. Dầu máu có khô cạn,
Mật, đàm Ta khô cạn,
Dầu thịt có hủy hoại,
Tâm Ta càng tịnh tín,
Ta lại càng vững trú,
Niệm, tuệ và thiền định. |
|
437. Tassa mevaṃ viharato
pattassuttamavedanaṃ,
kāme nāpekkhate cittaṃ passa sattassa suddhataṃ, |
437. Trong khi sống như vậy ta đây đă đạt đến cảm thọ (khổ) cùng
tột, tâm của ta (vẫn) không mong cầu các dục. Ngươi hăy nh́n xem
trạng thái trong sạch của chúng sanh. |
435. Do Ta sống như vậy,
Đạt được thọ tối thượng,
Tâm không cầu các dục,
Nh́n chúng sanh thanh tịnh. |
|
438. Kāmā te paṭhamā senā dutiyā
arati vuccati,
tatiyā khuppipāsā te catutthī taṇhā pavuccati. |
438.
Các dục là đạo binh thứ nhất của ngươi, thứ nh́ gọi là sự không
hứng thú, thứ ba của ngươi là đói và khát, thứ tư gọi là tham ái.
|
436. Dục, đội quân thứ nhất.
Thứ hai, gọi bất lạc,
Thứ ba, đói và khát,
Thứ tư, gọi tham ái. |
|
439. Pañcamī thīnamiddhaṃ te
chaṭṭhā bhīrū pavuccati,
sattamī vicikicchā te makkho thambho te aṭṭhamī. |
439.
Thứ năm của ngươi là dă dượi và buồn ngủ, thứ sáu gọi là sợ sệt,
thứ bảy của ngươi là hoài nghi, thứ tám của ngươi là gièm pha,
bướng bỉnh. |
437. Năm, hôn trầm thụy miên,
Thứ sáu, gọi sợ hăi,
Thứ bảy, gọi nghi ngờ,
Tám, dèm pha ngoan cố. |
|
440. Lābho siloko sakkāro micchā
laddho ca yo yaso,
yo cattānaṃ samukkaṃse pare ca avajānati.
|
440.
Lợi lộc, danh tiếng, tôn vinh, và danh vọng nào đă đạt được sai
trái, kẻ nào đề cao bản thân và khi dễ những người khác,
... |
438. Lợi, danh và cung kính,
Danh vọng được tà vạy,
Ai tự đề cao ḿnh,
Hủy báng các người khác. |
|
441. Esā namuci te senā
kaṇhassābhippahāriṇī,
na taṃ asūro jināti jetvā ca labhate sukhaṃ. |
441. ...
Này
Namuci, chúng là đạo binh của ngươi, là toán xung kích của Kaṇha.
Kẻ khiếp nhược không chiến thắng nó, c̣n (người nào) sau khi
chiến thắng th́ đạt được sự an lạc. |
439. Ôi, này Na-mu-ci,
Đây là quân đội Ngươi,
Đây quân đội chiến trận,
Của ḍng họ Kanhà,
Kẻ nhát, không thắng Ngươi,
Ai thắng Ngươi, được lạc. |
|
442. Esa muñjaṃ parihare
dhiratthu mama jīvitaṃ,
saṅgāme me mataṃ seyyo yañce jīve parājito.
|
442. Ta đây có nên gắn lên cọng cỏ
muñja?
Thật xấu hổ thay mạng sống của ta! Đối với ta,
việc chết ở chiến trường là tốt hơn việc có thể sống c̣n mà bị
thua trận.
|
440. Ta mang cỏ munja,
Vững thay, đây đời sống,
Thà Ta chết chiến trận,
Tốt hơn, sống thất bại. |
|
443. Pagāḷhā ettha na dissanti
eke samaṇabrāhmaṇā.
tañca maggaṃ na jānanti yena gacchanti subbatā.
|
443. Bị ch́m đắm ở đây, một số Sa-môn và
Bà-la-môn không được tỏa sáng và họ không biết được đạo lộ mà
những vị có sự hành tŕ tốt đẹp
đă đi qua.
|
441. Bị thấy đắm ở đây,
Số Sa-môn, Phạm chí,
Không biết được con đường,
Bậc giới đức thường đi. |
|
444. Samantā dhajiniṃ disvā
yuttaṃ māraṃ savāhiniṃ,
yuddhāya paccuggacchāmi mā maṃ ṭhānā acāvayi. |
444. Sau khi nh́n thấy Ma Vương cùng với đạo quân binh có cờ
hiệu dàn trận ở xung quanh, ta tiến ra đối đầu ở chiến trường.
Chớ để Ma Vương loại ta rời khỏi vị trí. |
442. Thấy khắp quân đội dàn,
Ác ma trên lưng voi,
Ta bước vào chiến trận,
Không để ai chiếm đoạt. |
|
445. Yante taṃ nappasahati senaṃ
loko sadevako,
tante paññāya gacchāmi āmaṃ pattaṃva asmanā.
|
445. Thế gian luôn cả chư Thiên không chế ngự được đạo binh ấy
của ngươi. Ta sẽ phá tan đạo binh ấy của ngươi bằng trí tuệ, tựa
như đập vỡ cái b́nh bát chưa nung bằng viên đá.
|
443. Đội ngũ quân nhà Ngươi,
Đời này và chư Thiên,
Không một ai thắng nổi,
Ta đến Ngươi với tuệ,
Như ḥn đá dập nát,
Chiếc bát chưa nung chín. |
|
446. Vasiṃ karitvā saṃkappaṃ
satiñca suppatiṭṭhitaṃ,
raṭṭhā raṭṭhaṃ vicarissaṃ sāvake vinayaṃ puthu.
|
446. Sau khi chế ngự được tầm (sự suy tư), và niệm đă khéo được
thiết lập, trong khi huấn luyện các đệ tử đông đảo, ta sẽ du
hành từ xứ sở này đến xứ sở khác.
|
444. Nhiếp phục được tâm tư,
Khéo an trú chánh niệm,
Ta sẽ đi bộ hành,
Nước này qua nước khác,
Để huấn luyện rộng răi,
Cho những người đệ tử. |
|
447. Te appamattā pahitattā mama
sāsanakārakā,
akāmassa te gamissanti yattha gantvā na socare.
|
447.
Họ là những người hành theo lời chỉ dạy của ta, không xao lăng,
có bản tánh cương quyết. Dầu ngươi không muốn, họ sẽ đi đến nơi
mà họ không sầu muộn sau khi đi đến.
|
445. Không phóng dật, tinh cần,
Họ hành lời Ta dạy,
Dầu Ngươi không muốn vậy,
Họ vẫn sẽ đi tới,
Chỗ nào họ đi tới,
Chỗ ấy không sầu muộn. |
|
448. Sattavassāni bhagavantaṃ
anubandhiṃ padā padaṃ,
otāraṃ nādhigacchissaṃ sambuddhassa satīmato.
|
447. ‘Suốt bảy năm,
ta đă theo sát đức Thế Tôn từng bước chân một. Ta
đă không t́m được khuyết điểm nào của đấng Chánh Đẳng Giác, bậc
có niệm.
|
Ác-ma:
446. Bảy năm, ta bước theo,
Chân theo chân Thế Tôn,
Không t́m được lỗi lầm,
Nơi Thế Tôn chánh niệm. |
|
449. Medavaṇṇaṃva pāsāṇaṃ vāyaso
anupariyagā,
apettha mudu vindema api assādanā siyā. |
449. Ví như con quạ lượn ṿng ṿng quanh ḥn đá giống như miếng
mỡ (nghĩ rằng): ‘Ở đây chúng ta cũng có thể kiếm được vật ǵ mềm
mại, thậm chí là miếng ăn ngọt ngào?’ |
447. Như quạ bay xung quanh,
Ḥn đá như đống mỡ,
Có thể có ǵ mềm?
Có thể có ǵ ngọt? |
|
450. Aladdhā tattha assādaṃ
vāyasetto apakkami,
kākova selaṃ āsajja nibbijjāpema gotamaṃ. |
450. Không đạt được miếng ăn ngọt ngào ở nơi ấy, con quạ đă ĺa
bỏ nơi ấy. Tựa như con quạ với ḥn đá, chúng ta đă đến với
Gotama, đă chán nản và đă bỏ đi.’ |
448. Không t́m được ǵ ngọt,
Quạ từ đó bay đi,
Như quạ mổ ḥn đá,
Ta bỏ Gotama. |
|
451. Tassa sokaparetassa vīṇā
kacchā abhassatha,
tato so dummano yakkho tatthevantaradhāyathāti.
|
451. Khi ấy, cây đàn
vīṇā đă rơi xuống từ nách của kẻ bị sầu muộn tác động ấy.
Sau đó, với tâm trí buồn bă, gă Dạ Xoa ấy đă biến mất ngay tại
chỗ ấy. |
449. Bị sầu muộn chi phối,
Cây đàn rơi khỏi nách,
Kẻ Dạ-xoa ác ư,
Tại đấy liền biến mất. |
|
Padhānasuttaṃ niṭṭhitaṃ.
|
Dứt Kinh
Nỗ Lực.
|
|
|
|
|
|
|
3. SUBHĀSITASUTTAṂ
|
3. KINH KHÉO
NÓI
|
3. KINH KHÉO
THUYẾT
|
|
Evaṃ me sutaṃ: Ekaṃ samayaṃ
bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane ―pe― Bhagavā etadavoca:
|
Tôi đă nghe như vầy: Một thời đức
Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông
Anāthapiṇḍika. ―như trên― Đức Thế Tôn đă nói điều này:
|
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở
Sàvatthi, tại Jetavana... Thế Tôn nói như sau: |
|
“Catuhi bhikkhave aṅgehi
samannāgatā vācā subhāsitā hoti na dubbhāsitā, anavajjā ca
ananuvajjā ca viññūnaṃ. Katamehi catuhi? |
“Này các tỳ khưu, hội đủ với bốn
yếu tố lời nói là được khéo nói, không bị vụng nói, không có lỗi
lầm, và không có sự chê trách của các bậc hiểu biết. Với bốn (yếu
tố) nào?
|
- Thành tựu bốn chi phần, này các
Tỷ-kheo, lời nói được khéo nói, không phải vụng nói, không có
lỗi lầm, không bị người trí quở trách. Thế nào là bốn? |
|
Idha bhikkhave bhikkhu subhāsitaṃ
yeva bhāsati no dubbhāsitaṃ dhammaṃ yeva bhāsati no adhammaṃ,
piyaṃ yeva bhāsati no appiyaṃ, saccaṃ yeva bhāsati no alikaṃ.
Imehi kho bhikkhave catuhi aṅgehi samannāgatā vācā subhāsitā
hoti na dubbhāsitā, anavajjā ca ananuvajjā ca viññūnan ”ti.
|
Này các tỳ khưu, ở đây (trong
Giáo Pháp này), vị tỳ khưu chỉ nói lời khéo nói, không bị vụng
nói, chỉ nói lời chính đáng, không phải sái quấy, chỉ nói lời
khả ái, không phải không khả ái, chỉ nói lời chân thật, không
phải giả dối. Này các tỳ khưu, hội đủ với bốn yếu tố này lời nói
là được khéo nói, không bị vụng nói, không có lỗi lầm, và không
có sự chê trách của các bậc hiểu biết.”
|
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
chỉ nói lời khéo nói, không nói lời vụng nói; chỉ nói lời đúng
pháp, không nói lời phi pháp; chỉ nói lời khả ái, không nói lời
phi khả ái; chỉ nói lời đúng sự thật, không nói lời không đúng
sự thật. Thành tựu với bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, lời
nói là được khéo nói không phải vụng nói, không có lỗi lầm,
không bị người trí quở trách. |
|
Idamavoca bhagavā idaṃ vatvā
sugato athāparaṃ etadavoca satthā:
|
Đức Thế Tôn đă nói điều này. Sau
khi nói điều này, đấng Thiện Thệ, bậc Đạo Sư c̣n nói thêm điều
này nữa:
|
Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ
thuyết như vậy xong bậc Đạo Sư lại nói thêm như sau: |
|
452. Subhāsitaṃ uttamamāhu santo
dhammaṃ bhaṇe nādhammaṃ taṃ dutiyaṃ,
piyaṃ bhaṇe nāppiyaṃ taṃ tatiyaṃ
saccaṃ bhaṇe nālikaṃ taṃ catutthanti.
|
452. Các bậc đức độ đă nói lời
khéo nói là tối thượng.
Nên nói lời chính đáng, không
phải sái quấy; điều ấy là thứ nh́,
nên nói lời khả ái, không phải
không khả ái; điều ấy là thứ ba,
nên
nói lời chân thật, không phải giả dối; điều ấy là thứ tư.
|
450. Bậc Thiện nhân nói lên,
Lời khéo nói tối thượng,
Thứ hai, nói đúng pháp,
Thứ ba, nói khả ái
Không nói phi khả ái,
Thứ tư, nói chân thật
Không nói không chân thật. |
|
Atha kho āyasmā vaṅgīso
uṭṭhāyāsanā ekaṃsaṃ cīvaraṃ katvā yena bhagavā tenañjaliṃ
paṇāmetvā bhagavantaṃ etadavoca: |
Khi ấy, đại đức Vaṅgīsa đă từ chỗ
ngồi đứng dậy, đắp y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn,
và đă nói với đức Thế Tôn điều này:
|
Rồi Tôn giả Vanǵsa từ chỗ
ngồi đứng dậy đắp y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn
và bạch Thế Tôn:
|
|
‘Paṭibhāti maṃ bhagavā paṭibhāti
maṃ bhagavā ’ti.
|
“Bạch đức Thế Tôn, có điều này
sáng tỏ cho con. Bạch đức Thế Tôn, có điều này sáng tỏ cho con.”
|
- Ư nghĩ này đến với con, bạch
Thiện Thệ. |
|
‘Paṭibhātu taṃ vaṅgīsā ’ti
bhagavā avoca. |
Đức Thế Tôn đă nói rằng: “Này
Vaṅgīsa, hăy làm sáng tỏ điều ấy cho ngươi.”
|
- Hăy nói lên ư kiến ấy, này
Vanǵsa!.
|
|
Atha kho āyasmā vaṅgīso
bhagavantaṃ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi: |
Khi ấy, đại đức Vaṅgīsa đă trực
diện ca ngợi đức Thế Tôn bằng những lời kệ thích hợp rằng:
|
Rồi Tôn giả Vanǵsa, trước mặt
Thế Tôn, nói lên lời tán thán với những bài kệ thích ứng:
|
|
453. Tameva bhāsaṃ bhāseyya
yāyattātaṃ na tāpaye,
pare ca na vihiṃseyya sā ve vācā subhāsitā. |
453. Chỉ nên nói lời nói nào
không làm bản thân nóng nảy, và không hăm hại những người khác;
chính lời nói ấy là khéo nói. |
Vanǵsa:
451. Hăy nói lên lời nói,
Không thiêu đốt tự ngă,
Không làm hại người khác,
Lời nói ấy khéo nói. |
|
454. Piyavācameva bhāseyya yā
vācā patinanditā,
yaṃ anādāya pāpāni paresaṃ bhāsate piyaṃ. |
454. Chỉ nên nói lời nói khả
ái, là lời nói làm cho vui thích. Nên nói lời khả ái, là lời nói
không mang lại những điều xấu xa cho những người khác.
|
452. Hăy nói lời khả ái,
Nói lời khiến hoan hỷ,
Không mang theo ác hại,
Khiến người khác ưa thích. |
|
455. Saccaṃ ve amatā vācā esa
dhammo sanantano,
sacce atthe ca dhamme ca āhu santo patiṭṭhitā.
|
455. Quả vậy, chân thật là lời
nói bất tử. Điều này là quy luật muôn đời, Người ta đă nói rằng
các bậc đức độ được thiết lập ở sự chân thật, ở mục đích, và ở
sự chính trực. |
453. Chân thật, lời bất tử,
Đây thường pháp là vậy,
Họ nói, bậc Thiện nhân,
An trú trên chân thật,
Trên mục đích, trên pháp. |
|
456. Yaṃ buddho bhāsati vācaṃ
khemaṃ nibbānapattiyā,
dukkhassantakiriyāya sā ve vācānamuttamāti.
|
456. Lời
nói nào đức Phật nói về sự an toàn đưa đến sự chứng đạt Niết Bàn,
đưa đến việc làm chấm dứt khổ đau, lời nói ấy quả là tối thượng
trong số các lời nói. |
454. Lời ǵ đức Phật nói,
An ổn, đạt Niết-bàn,
Đoạn tận các khổ đau,
Đấy lời nói tối thượng. |
|
Subhāsitasuttaṃ
niṭṭhitaṃ.
|
Dứt
Kinh Khéo Nói.
|
|
|
|
|
|
4. SUNDARIKABHĀRADVĀJASUTTAṂ
|
4. KINH
SUNDARIKABHĀRADVĀJA
|
4.
KINH SUNDARIKA BHĀRADVĀJA |
|
Evaṃ me sutaṃ: Ekaṃ samayaṃ
bhagavā kosalesu viharati sundarikāya nadiyā tīre. Tena kho pana
samayena sundarikabhāradvājo brāhmaṇo sundarikāya nadiyā tīre
aggiṃ juhati, aggihuttaṃ paricarati. Atha kho
sundarikabhāradvājo brāhmaṇo aggiṃ juhitvā aggihuttaṃ
paricaritvā uṭṭhāyāsanā samantā catuddisā anuvilokesi: “Ko nu
kho imaṃ havyasesaṃ bhuñjeyyā ”ti. |
Tôi đă nghe
như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại xứ sở Kosala, bên bờ sông
Sundarikā. Vào lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja
cúng
tế lửa, chăm sóc việc cúng tế lửa ở bờ sông Sundarikā. Lúc ấy,
sau khi đă cúng tế lửa, sau khi đă chăm sóc việc cúng tế lửa,
Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja đă từ chỗ ngồi đứng dậy nh́n ngắm
bốn phương ở xung quanh (rồi nghĩ rằng): “Người nào có thể ăn
phần c̣n lại của phẩm vật cúng tế này?”
|
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế
Tôn trú ở phía dân chúng Kosala, trên bờ sông
Sundarikà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja
đốt lửa thiêng trên bờ sông Sundarikà và đang cử hành các
tế lễ lửa. Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradavàja, sau khi
đốt lửa thiêng, sau khi cử hành các lễ tế lửa, từ chỗ ngồi đứng
dậy và ngó xung quanh bốn phương nghĩ rằng: "Ai có thể ăn đồ ăn
c̣n lại của lễ tế tự này?". |
|
Addasā kho sundarikabhāradvājo
brāhmaṇo bhagavantaṃ avidūre aññatarasmiṃ rukkhamūle sasīsaṃ
pārutaṃ nisinnaṃ disvāna vāmena hatthena havyasesaṃ gahetvā
dakkhiṇena hatthena kamaṇḍalaṃ gahetvā yena bhagavā
tenupasaṅkami.
|
Rồi Bà-la-môn
Sundarikabhāradvāja đă nh́n thấy đức Thế Tôn, có đầu được trùm
lại, đang ngồi ở gốc cây nọ không xa lắm, sau khi nh́n thấy đă
cầm lấy phần c̣n lại của phẩm vật cúng tế bằng tay trái, và cầm
lấy b́nh nước bằng tay phải, rồi đă đi về phía đức Thế Tôn.
|
Rồi Bà-la-môn
Sundarikabhàradvàja thấy Thế Tôn ngồi dưới một gốc cây,
không bao xa, đầu che trùm lại; thấy vậy, tay trái cầm đồ tế tự
c̣n lại, tay mặt cầm cái b́nh nước, đi đến Thế Tôn. |
|
Atha kho bhagavā
sundarikabhāradvājassa brāhmaṇassa padasaddena sīsaṃ vivari.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo “muṇḍo ayaṃ bhavaṃ muṇḍako
ayaṃ bhavan ”ti tato va puna nivattitukāmo ahosi. Atha kho
sundarikabhāradvājassa brāhmaṇassa etadahosi:
|
Khi ấy, do tiếng chân của
Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja, đức Thế Tôn đă cởi (vải trùm) đầu
ra. Khi ấy, Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja (nghĩ rằng): “Vị này
trọc đầu! Vị này là kẻ đầu trọc!” ngay tại nơi ấy đă có ư định
quay trở lại. Khi ấy, Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja đă khởi ư
điều này:
|
Thế Tôn nghe tiếng chân của
Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja liền mở đầu ra. Bà-la-môn
Sundarikabhàradvàja nghĩ rằng: "Đầu trọc là vị này. Một kẻ
đầu trọc là vị này", và muốn đi trở lại. Rồi Bà-la-môn
Sundarikabhàradvàja suy nghĩ: |
|
“Muṇḍāpi hi idhekacce brāhmaṇā
bhavanti yannūnāhaṃ upasaṅkamitvā jātiṃ puccheyyan ”ti. Atha kho
sundarikabhāradvājo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅgami,
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ etadavoca:
|
“Ở đây, một số Bà-la-môn cũng
trọc đầu vậy, hay là ta nên đi đến gần và hỏi về ḍng dơi?” Rồi
Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja đă đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi
đến đă nói với đức Thế Tôn điều này:
|
"Ở đây, cũng có một số Bà-la-môn
trọc đầu. Vậy ta hăy đi đến vị này và hỏi về thọ sanh". Rồi
Bà-la-môn Sundaikabhàradvàja đi đến Thế Tôn, sau khi đến,
nói với Thế Tôn: |
|
“Kiṃjacco bhavan ”ti.
|
“Ông thuộc ḍng dơi nào?” |
- Thọ sanh của Tôn giả là thế nào? |
|
Atha kho bhagavā
sundarikabhāradvājaṃ brāhmaṇaṃ gāthāhi ajjhabhāsi:
|
Khi ấy, đức Thế Tôn đă nói với
Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja bằng những lời kệ này: |
Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn
Sundarikabhàradvàja những bài kệ: |
|
457. Na brāhmaṇo no’mhi na
rājaputto
na vessāyano uda koci no’mhi,
gottaṃ pariññāya puthujjanānaṃ
akiñcano manta carāmi loke. |
457. “Ta
không là Bà-la-môn, không là con của vua chúa,
Ta
không là thương buôn hay bất cứ hạng người nào.
Sau
khi biết toàn diện về ḍng dơi của những kẻ phàm phu,
Ta
không sở hữu ǵ, là bậc trí, Ta du hành ở thế gian.
|
Thế Tôn:
455. Ta không phải Phạm chí,
Cũng không phải con vua,
Cũng không phải buôn bán,
Không phải là ai hết,
Do liễu tri giai cấp,
Của các hàng phàm phu,
Ta kẻ trí ở đời,
Bộ hành, không sở hữu. |
|
458. Saṅghāṭivāsī agaho carāmi
nivuttakeso abhinibbutatto,
alippamāno idha mānavehi
akallaṃ maṃ brāhmaṇa pucchasi gottapañhaṃ. |
458.
Khoác tấm y hai lớp, không nhà, Ta du hành,
có tóc
đă được cạo sạch, có bản thân đă được tịch tịnh,
không
bị vướng bận ở đời này với loài người,
này
Bà-la-môn, ông hỏi Ta câu hỏi về ḍng dơi là không hợp lẽ.”
|
456. Mang áo Tăng-già-lê,
Ta sống, không gia đ́nh,
Với tóc được cạo sạch,
Tự ngă được an tịnh,
Ở đời Ta không nhiễm,
Với các thiếu niên nào,
Không xứng đáng, Ông hỏi,
Hỏi Ta về thọ sanh. |
|
459. Pucchanti ve bho brāhmaṇā
brāhmaṇehi
saha brāhmaṇo no bhavanti brāhmaṇo, |
459. “Thưa
ông, quả thật các Bà-la-môn có hỏi với các Bà-la-môn rằng: ‘Vậy
ông có phải là Bà-la-môn?”
|
Bà-la-môn:
457. Thật sự, thưa Tôn giả,
Các vị Bà-la-môn
Thường hỏi Bà-la-môn,
Có phải người Phạm chí? |
|
ce tvaṃ brūsi mañca brūsi
abrāhmaṇantaṃ
sāvittiṃ pucchāmi tipadaṃ catuvīsatakkharaṃ. |
“Nếu
ông xưng là Bà-la-môn và bảo Ta không phải là Bà-la-môn, vậy hăy
để Ta hỏi ông về Kinh Sāvittī gồm ba câu và hai mươi bốn chữ.”
|
Thế Tôn:
Nếu Ông nói lên rằng:
Ông là Bà-la-môn,
Và nếu Ông hỏi Ta
Không phải Bà-la-môn,
Vậy Ta sẽ hỏi Ông
Về Sàvitti này,
Gồm có mười hai câu,
Và hai mươi bốn chữ. |
|
460. Kiṃ nissitā isayo manujā
khattiyā brāhmaṇā
devatānaṃ yaññamakappayiṃsu puthū idha loke, |
460. “Mục
đích ǵ mà số đông các ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các
Bà-la-môn đă chuẩn bị lễ hiến tế đến chư Thiên ở nơi này, tại
thế gian?” |
Bà-la-môn:
458. Do y tựa vào ǵ,
Các ẩn sĩ, loài Người,
Sát-đế-lị Phạm chí,
Đă tổ chức tế đàn,
Cho các hàng chư Thiên,
Rộng răi trong đời này? |
|
yadantagū vedagū yaññakāle,
yassāhutiṃ tassijjheti brūmi. |
“Vào
thời điểm của lễ hiến tế, vật cúng tế của người nào (được dâng)
đến vị đă đạt được mục đích cuối cùng, đến vị đă đạt được sự
thông hiểu, Ta nói rằng vật cúng tế ấy có thể thành tựu kết quả
cho người ấy.”
|
Thế Tôn:
Vị nào đạt cứu cánh,
Vị nào hiểu Vệ-đà,
Trong lễ tế đàn này,
Thọ hưởng đồ cúng dường,
Ta tuyên bố, nói rằng
Lễ ấy được tăng thịnh. |
|
461. Addhā hi tassa hutamijjhe (iti
brāhmaṇo)
yaṃ tādisaṃ vedaguṃ addasāmi,
tumhādisānaṃ hi adassanena
añño jano bhuñjati pūraḷāsaṃ. |
461. (Vị Bà-la-môn nói): “Đương
nhiên vật cúng tế của tôi đây có thể đạt kết quả v́ tôi đă nh́n
thấy vị đạt được sự thông hiểu như thế ấy. Với việc không gặp
được vị tương tự như ông th́ người nào khác sẽ thọ hưởng phần
bánh cúng tế.” |
Bà-la-môn:
459. Chắc chắn tế đàn ấy,
Cúng dường được tăng thịnh.
V́ chúng ta thấy được,
Vị am hiểu Vệ-đà,
Nếu chúng ta không thấy,
Được một ngựi như Ông,
Một người khác thọ hưởng
Đồ cúng dường tế đàn. |
|
462. Tasmātiha tvaṃ brāhmaṇa
atthena
atthiko upasaṅkamma puccha,
antaṃ vidhūmaṃ anīghaṃ nirāsaṃ
appevidha abhivinde sumedhaṃ. |
462. “Bởi
thế, này Bà-la-môn, ở đây ông là người tầm cầu lợi ích, nên ông
hăy đến gần và hăy hỏi. Biết đâu ở nơi đây ông có thể t́m được
bậc an tịnh, không c̣n sân hận, không phiền muộn, không mong cầu,
có trí tuệ cao cả.” |
Thế Tôn:
460. V́ Ông, này Phạm chí,
Đến Ta v́ cần thiết,
Với mục đích rơ ràng,
Vậy nay Ta hỏi Ông,
Ông có thể t́m được
Một bậc trí ở đây,
An tịnh, không sân hận,
Không khổ, không tầm cầu? |
|
463. Yaññe ratāhaṃ bho gotama
yaññaṃ yaṭṭhukāmo,
nāhaṃ pajānāmi anusāsatu maṃ bhavaṃ
yattha hutaṃ ijjhe brūhi metaṃ. |
463. “Thưa
ngài Gotama, tôi ưa thích các lễ hiến tế, có sự mong muốn cống
hiến lễ hiến tế. Tôi không biết rơ, xin ngài hăy chỉ dạy tôi.
Vật cống hiến ở nơi nào có thể đạt kết quả, xin ngài hăy nói cho
tôi điều ấy.” |
Bà-la-môn:
461. Tôi vui trong tế đàn,
Tôn giả Gotama,
Tôi tha thiết ao ước,
Được cúng dường tế đàn,
Nhưng tôi không được biết,
Tôn giả hăy dạy tôi!
Hăy nói lên cho tôi,
Chỗ cúng dường tăng thịnh. |
|
464. Tena hi tvaṃ brāhmaṇa
odahassu sotaṃ
dhammaṃ te desissāmi: |
464. “Này
Bà-la-môn, như thế th́ người hăy lắng tai nghe, Ta sẽ giảng giải
Giáo Pháp cho ngươi.”
|
Thế Tôn:
Vậy này Bà-la-môn,
Hăy lắng tai mà nghe,
Ta nay sẽ v́ Ông,
Tuyên thuyết pháp vi diệu. |
|
465. Mā jātiṃ pucchi caraṇañca
puccha
kaṭṭhā have jāyati jātavedo,
nīcā kulīnopi munī dhitīmā
ājāniyo hoti hirīnisedho. |
465. “Chớ
hỏi về ḍng giống, hăy hỏi về tánh hạnh. Thật vậy, ngọn lửa được
sanh ra từ khúc củi gỗ. Bậc hiền trí, dầu có gia tộc hạ liệt,
cũng vẫn có trí hiểu biết, là vị thuần chủng, có sự ngăn ngừa
nhờ vào hổ thẹn (tội lỗi). |
462. Chớ hỏi về thọ sanh,
Hăy hỏi về hạnh đức,
Thật vậy, từ củi gỗ,
Một ngọn lửa được sanh,
Từ gia đ́nh thấp kém,
Bậc ẩn sĩ, có trí,
Được huấn luyện thuần thục,
Được xấu hổ chế ngự. |
|
466. Saccena danto damasā upeto
vedantagū vusitabrahmacariyo,
kālena tamhi havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
466.
Được thuần thục với sự chân thật, đă đạt đến sự chế ngự các giác
quan, là người đă đi đến tận cùng của hiểu biết, đă sống đời
Phạm hạnh, vào đúng thời điểm nên dâng vật cúng hiến đến vị ấy,
người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên hiến dâng.
|
463. Được chân thật huấn luyện,
Được nhiếp phục chế ngự,
Bậc đạt đến hiểu biết,
Phạm hạnh được viên thành,
Hăy đúng thời cúng dường,
Đồ cúng dường vị ấy.
Vậy vị Phạm chí nào
Muốn nguyện cầu công đức,
Hăy tổ chức tế đàn,
Với cúng dường như vậy. |
|
467. Ye kāme hitvā agahā caranti
susaññatattā tasaraṃ va ujjuṃ,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
467.
Những vị nào đă từ bỏ các dục, sống không nhà, có bản thân đă
khéo tự chế ngự, ngay thẳng tựa như con thoi,
vào đúng thời điểm nên dâng vật cúng
hiến đến các vị ấy, người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước
báu nên hiến dâng.
|
464. Những vị nào, bỏ dục,
Du hành, không gia đ́nh,
Khéo chế ngự nhiếp phục,
Như con thoi trực chỉ.
Đúng thời đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự,
Vị Phạm chỉ cầu phước,
Hăy bố thí như vậy,
Hăy tổ chức tế đàn,
Với cúng dường như vậy. |
|
468. Ye vītarāgā susamāhitindriyā
cando ’va rāhuggahaṇā pamuttā,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
468.
Những vị nào đă xa ĺa
luyến ái, có các giác quan đă khéo được tập trung, đă được giải
thoát tựa như mặt trăng đă thoát khỏi sự nắm giữ của thần Rāhu,
vào đúng thời điểm nên dâng vật cúng hiến đến các
vị ấy, người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên hiến
dâng.
|
465. Những vị đă ly tham,
Các căn khéo định tĩnh,
Như trăng được giải thoát,
Khỏi nanh vuốt Ràhu,
Hăy đúng thời cúng dường,
Đồ cúng dường vị ấy,
Vậy vị Phạm hạnh nào,
Muốn nguyện cầu công đức,
Hăy tổ chức tế đàn,
Với cúng dường như vậy. |
|
469. Asajjamānā vicaranti loke
sadā satā hitvā mamāyitāni,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
469.
Các vị du hành ở thế gian, không bám víu, luôn luôn có niệm, sau
khi đă từ bỏ các vật đă được chấp là của tôi,
vào đúng thời điểm nên dâng vật cúng hiến đến các
vị ấy, người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên hiến
dâng.
|
466. Không tham dính vật ǵ,
Họ du hành ở đời,
Luôn luôn giữ chánh niệm,
Từ bỏ ngă sở kiến,
Hăy đúng thời cúng dường,
Đồ cúng dường vị ấy.
Vậy vị Phạm chí nào,
Muốn cầu nguyện công đức,
Hăy tổ chức tế đàn,
Với cúng dường như vậy. |
|
470. Ye kāme hitvā abhibhuyyacārī
yo vedi jātimaraṇassa antaṃ,
parinibbuto udakarahadova sīto
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
470.
Là vị du hành sau khi đă từ bỏ và chế ngự các dục,
là vị
biết sự chấm dứt của sanh và tử,
đă
được tịch tịnh tựa như hồ nước mát lạnh,
đức
Như Lai xứng đáng phần bánh cúng tế.
|
467. Ai từ bỏ các dục,
Tự nhiếp phục, du hành.
Ai biết sự chấm dứt,
Của sanh và sự chết,
Tịch tịnh và mát lạnh.
Mát lạnh như nước hồ.
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
471. Samo samehi visamehi dūre
tathāgato hoti anantapañño,
anūpalitto idha vā huraṃ vā
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
471.
Đồng đẳng với những vị đồng đẳng, cách xa những kẻ không đồng
đẳng, đức Như Lai là vị có tuệ vô biên, không bị nhiễm ô ở đời
này hoặc đời sau, đức Như Lai xứng đáng phần bánh cúng tế.
|
468. B́nh đẳng kẻ b́nh đẳng,
Xa lánh không b́nh đẳng,
Như Lai chứng đạt được,
Trí tuệ không giới hạn,
Không bị dính, uế nhiễm,
Đời này hay đời sau.
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
472. Yamhi na māyā vasatī na māno
yo vītalobho amamo nirāso,
panuṇṇakodho abhinibbutatto
yo brāhmaṇo sokamalaṃ ahāsi
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
472. Ở
vị nào không có sự xảo quyệt trú ngụ, không có ngă mạn,
là vị
có tham đă được xa ĺa, không sở hữu, không mong cầu,
có sự
giận dữ đă được xua đi, có bản thân đă được tịch tịnh,
là vị
Bà-la-môn đă từ bỏ vết nhơ của sầu muộn,
đức
Như Lai xứng đáng phần bánh cúng tế. |
469. Trong ai không man trá,
Không sống với kiêu mạn,
Ai không có tham dục,
Không của ta, không cầu,
Phẫn nộ được đoạn trừ,
Tự ngă thật tịch tịnh,
Vị Bà-la-môn ấy,
Cấu uế, sầu muộn đoạn,
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
473. Nivesanaṃ yo manaso ahāsi
pariggahā yassa na santi keci,
anupādiyāno idha vā huraṃ vā
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
473.
Là vị đă từ bỏ chỗ cư trú của ư,
là vị
không có bất cứ các vật sở hữu nào,
trong
khi không chấp thủ đời này hoặc đời sau,
đức
Như Lai xứng đáng phần bánh cúng tế. |
470. Ai đoạn diệt hoàn toàn
Mọi trú xứ của ư,
Không c̣n có nắm giữ,
Sự vật ǵ ở đời,
Không c̣n có chấp thủ,
Đời này hay đời sau.
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
474. Samāhito yo udatāri oghaṃ
dhammaṃ caññāsi paramāya diṭṭhiyā,
khīṇāsavo antimadehadhārī
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
474.
Là vị đă được định tĩnh, đă vượt lên trên ḍng lũ,
đă
hiểu được pháp bằng sự nhận thức cùng tột,
có lậu
hoặc đă được cạn kiệt, mang thân mạng cuối cùng,
đức
Như Lai xứng đáng phần bánh cúng tế. |
471. Tâm ai thật định tĩnh,
Vượt khỏi được bộc lưu,
Rơ biết được Chánh pháp,
Với tri kiến tối thượng,
Lậu hoặc được đoạn trừ,
Mang thân này tối hậu.
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
475. Bhavāsavā yassa vacī kharā
ca
vidhūpitā atthagatā na santi,
sa vedagū sabbadhi vippamutto
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
475.
Là vị có các hữu lậu và các lời nói thô lỗ đă được thiêu hủy, đă
được tiêu hoại, không c̣n hiện hữu, vị ấy đă đạt được sự thông
hiểu, đă được giải thoát về mọi phương diện,đức Như Lai xứng
đáng phần bánh cúng tế. |
472. Với ai, các hữu lậu,
Và lời nói thô ác,
Được đoạn tận chấm dứt,
Không c̣n có tồn tại,
Vị ấy đạt hiểu biết,
Giải thoát mọi khía cạnh.
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
476. Saṅgātigo yassa na santi
saṅgā
so mānasattesu amānasatto,
dukkhaṃ pariññāya sakhettavatthuṃ
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
476.
Là vị đă vượt qua các sự dính líu, không c̣n các sự dính líu, vị
ấy không bị dính mắc ở ngă mạn giữa những kẻ bị dính mắc ở ngă
mạn, vị đă biết toàn diện về khổ cùng với chốn hoạt động và nền
tảng của nó, đức Như Lai xứng đáng phần bánh cúng tế.
|
473. Giữa những người nhiễm
trước,
Vị ấy không nhiễm trước,
Giữa chúng sanh kiêu mạn,
Vị ấy không kiêu mạn,
Liễu tri được đau khổ,
Kể cả ruộng và đất.
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
477. Āsaṃ anissāya vivekadassī
paravediyaṃ diṭṭhimupātivatto,
ārammaṇā yassa na santi keci
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
477.
Không trông cậy vào sự mong mỏi, là vị đă nh́n thấy sự tách biệt,
đă vượt qua kiến thức có thể hiểu biểt được bởi những người khác,
là vị không c̣n có bất cứ duyên cớ (tái sanh) nào nữa, đức Như
Lai xứng đáng phần bánh cúng tế. |
474. Không dựa vào ước vọng,
Vị ấy thấy viễn ly,
Vượt qua sự hiểu biết,
Cùng tri kiến người khác,
Đối với mọi sở duyên,
Vị ấy đều không có,
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
478. Parovarā yassa samecca
dhammā
vidhūpitā atthagatā na santi,
santo upādānakhaye vimutto
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
478.
Là vị đă thấu suốt về các pháp từ
nội phần đến ngoại phần đă được
thiêu hủy, đă được tiêu hoại, không c̣n hiện hữu, là vị an tịnh,
đă được giải thoát ở sự cạn kiệt của chấp thủ, đức Như Lai xứng
đáng phần bánh cúng tế. |
475. Vị ấy chứng tri được
Các pháp gần hay xa,
Được đoạn trừ, chấm dứt,
Không c̣n có hiện hữu,
An tịnh, không chấp thủ,
Được hoàn toàn giải thoát
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
479. Saṃyojanaṃ jātikhayantadassī
yopānudi rāgapathaṃ asesaṃ,
suddho niddoso vimalo akāco
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
479.
Là vị nh́n thấy sự cạn kiệt và chấm dứt của sự trói buộc và của
sự sanh, là vị đă xua đuổi trọn vẹn đường đi của luyến ái, là vị
trong sạch, hết lỗi lầm, ĺa khỏi vết nhơ, không khuyết điểm,
đức Như Lai xứng đáng phần bánh cúng tế.
|
476. Thấy được sự đoạn tận,
Sanh diệt các kiết sử,
Trừ được đường tham dục,
Không c̣n lại dư tàn.
Thanh tịnh, không lỗi lầm,
Không cấu uế, không nhiễm.
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
480. Yo attanāttānaṃ nānupassati
samāhito ujjugato ṭhitatto,
sa ve anejo akhilo akaṅkho
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
480.
Là vị không nh́n thấy tự ngă (ở năm uẩn) của bản thân, được định
tĩnh, đă đi đến sự ngay thẳng, có bản thân vững chăi, vị ấy quả
thật không có dục vọng, không bướng bỉnh, không nghi ngờ, đức
Như Lai xứng đáng phần bánh cúng tế. |
477. Ai không thấy tự ngă,
Với tự ngă của ḿnh,
Định tâm và chánh trực,
Kiên tŕ không dao động,
Vị ấy không có dục,
Không cứng cỏi, phân vân.
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
481. Mohantarā yassa na santi
keci
sabbesu dhammesu ca ñāṇadassī,
sarīrañca antimaṃ dhāreti
patto ca sambodhim anuttaraṃ sivaṃ,
ettāvatā yakkhassa suddhi
tathāgato arahati pūraḷāsaṃ. |
481.
Là vị không c̣n có bất cứ những lư do si mê nào nữa,
có sự
nh́n thấy bằng trí tuệ về tất cả các pháp,
đang
mang thân mạng cuối cùng,
và đă
đạt đến quả vị Toàn Giác là sự an toàn tối thượng;
trạng
thái trong sạch của con người là đến mức này,
đức
Như Lai xứng đáng phần bánh cúng tế.” |
478. Với ai không c̣n nữa,
Nguyên nhân của si mê,
Biết rơ và thấy rơ,
Đối với hết thảy pháp,
Và mang nặng thân này,
Thân này thân cuối cùng.
Chứng đạt Chánh Đẳng Giác,
Vô thượng an ổn xứ,
Đạt cho đến như vậy,
Bậc Dạ-xoa thanh tịnh.
Như Lai thật xứng đáng,
Đồ cúng dường tế tự. |
|
482. Hutaṃ ca mayhaṃ hutamatthu
saccaṃ
yaṃ tādisaṃ vedagunaṃ alatthaṃ,
brahmā hi sakkhi patigaṇhātu me bhagavā
bhuñjatu me bhagavā pūraḷāsaṃ. |
482. “Mong
rằng vật hiến cúng của tôi hăy là vật hiến cúng thật sự, là việc
tôi đă đạt được người có sự thông hiểu như là ngài, rơ ràng ngài
chính là Phạm Thiên, xin đức Thế Tôn hăy thọ nhận cho tôi,
xin đức Thế
Tôn hăy thọ hưởng phần bánh cúng tế của tôi.”
|
Bà-la-môn:
479. Đây đồ con cúng dường,
Đồ cúng dường chân thật,
Con đă t́m thấy được,
Bậc trí đức như vậy,
Phạm thiên hăy chứng giám,
Thế Tôn hăy chấp nhận,
Thế Tôn hăy thọ hưởng,
Đồ cúng dường của con. |
|
483. Gāthābhigītaṃ me
abhojaneyyaṃ
sampassataṃ brahmaṇa nesa dhammo,
gāthābhigītaṃ panudanti buddhā
dhamme satī brāhmaṇa vuttiresā. |
483. “Vật
nhận được sau khi ngâm nga kệ ngôn là không được thọ dụng bởi
Ta. Này Bà-la-môn, điều ấy không phải là pháp của những bậc có
nhận thức đúng đắn. Chư Phật khước từ vật nhận được sau khi ngâm
nga kệ ngôn. Này Bà-la-môn, khi Giáo Pháp hiện hữu, điều ấy là
cung cách thực hành. |
Thế Tôn:
480. Ta không có thọ dụng
Đồ ăn từ kệ tụng,
Hỡi này Bà-la-môn,
Đây không phải là pháp,
Của những người có trí,
Chư Phật đều từ bỏ,
Ca hát các bài kệ,
Chỗ nào pháp an trú,
Hỡi này Bà-la-môn,
Đấy chính là truyền thống. |
|
484. Aññena ca kevalinaṃ mahesiṃ
khīṇāsavaṃ kukkuccavūpasantaṃ,
annena pānena upaṭṭhahassu
khettaṃ hi taṃ puññapekhassa hoti. |
484.
Ngươi hăy dâng cúng với cơm ăn nước uống khác đến vị toàn hảo (đức
hạnh), đến bậc đại ẩn sĩ có các lậu hoặc đă được cạn kiệt, có
các trạng thái hối hận đă được lắng dịu, bởi v́ đó chính là thửa
ruộng của người mong mỏi phước báu.”
|
481. Ông cần phải cúng dường,
Đồ ăn, đồ uống khác,
Bậc Đại sĩ toàn vẹn,
Đoạn tận các lậu hoặc,
Đă đoạn tận trao hối,
Không c̣n bị dao động,
Ngài chính là thửa ruộng,
Cho người cầu công đức. |
|
485. Sādhāhaṃ bhagavā tathā
vijaññaṃ
yo dakkhiṇaṃ bhuñjeyya mādisassa,
yaṃ yaññakāle pariyesamāno
pappuyya tava sāsanaṃ.
|
485. “Lành
thay, thưa Thế Tôn! như vậy tôi có thể biết được vị nào có thể
thọ dụng vật cúng dường của người như tôi, trong khi tôi đang
t́m kiếm vị ấy vào thời điểm của lễ hiến tế, sau khi đă có được
lời chỉ dạy của ngài.”
|
Bà-la-môn:
482. Thế Tôn, con muốn biết,
Người có tin như con,
Ai có thể hưởng thọ,
Đồ cúng dường của con,
Trong khi lễ tế đàn,
Con phải t́m đến ai?
Lời Ngài dạy thế nào,
Con sẽ đạt cho được. |
|
486. Sārambhā yassa vigatā cittaṃ
yassa anāvilaṃ,
vippamutto ca kāmehi thīnaṃ yassa panūditaṃ. |
486. “Tánh
nóng nảy của vị nào đă được xa ĺa, tâm của vị nào không bị vẩn
đục, vị nào đă được thoát ra khỏi các dục, sự dă dượi của vị nào
đă được xua đi, ... |
Thế Tôn:
483. Với ai, không xông xáo,
Với ai, tâm không động,
Giải thoát khỏi các dục,
Với ai bỏ hôn trầm, |
|
487. Sīmantānaṃ vinetāraṃ
jātimaraṇakovidaṃ,
muniṃ moneyyasampannaṃ tādisaṃ yaññamāgataṃ. |
487. ...
vị rèn luyện về giới hạn và kỹ cương,
vị rành rẽ về sanh và tử, khi bậc hiền trí đầy đủ trí tuệ như
thế ấy đi đến lễ hiến tế, ... |
484. Lănh đạo kẻ biên giới,
Thiện xảo trong sanh tử,
Ẩn sĩ đầy đủ tuệ,
Đă đến lễ tế đàn. |
|
488. Bhukuṭiṃ vinayitvāna
pañjalikā namassatha,
pūjetha annapānena evaṃ ijjhanti dakkhiṇā. |
488. ...
nên ngăn lại việc nhíu mày, nên chắp
tay cúi chào, nên cúng dường với cơm nước, như vậy các việc cúng
dường được thành tựu.” |
485. Nhiếp phục kiêu ngạo xong,
Hăy chắp tay đảnh lễ,
Cúng dường đồ ăn uống,
Cúng dường vậy tăng trưởng |
|
489. Buddho bhavaṃ arahati pūraḷāsaṃ
puññakkhettamanuttaraṃ,
āyāgo sabbalokassa
bhoto dinnaṃ mahapphalanti. |
489. “Đức
Phật, bậc đức độ, xứng đáng phần bánh cúng tế,
Ngài
là thửa ruộng phước tối thượng,
bậc
đáng được hiến cúng của khắp cả thế gian,
vật đă
được bố thí đến Ngài có quả báu lớn lao.” |
Bà-la-môn:
486. Ngài là bậc Giác Ngộ,
Xứng đáng được cúng dường,
Ngài là ruộng phước đức,
Vô thượng, không ǵ hơn,
Vị tiếp nhận cúng dường,
Xứng đáng toàn thế giới.
Bố thí cho Tôn giả,
Kết quả thật to lớn. |
|
Atha kho sundarikabhāradvājo
brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca:
|
Khi ấy,
Bà-la-môn đă nói với đức Thế Tôn điều này: |
Rồi Bà-la-môn
Sundarikabhàradvàja bạch Thế Tôn: |
|
“Abhikkantaṃ bho gotama,
abhikkantaṃ bho gotama, seyyathāpi bho gotama nikkujjitaṃ vā
ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ
ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya cakkhumanto
rūpāni dakkhintīti, evamevaṃ bhotā gotamena anekapariyāyena
dhammo pakāsito. Esāhaṃ bhavantaṃ gotamaṃ saraṇaṃ gacchāmi
dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṃ bhoto gotamassa santike
pabbajjaṃ labheyyaṃ upasampadanti. |
“Bạch ngài
Gotama, thật là tuyệt vời! Bạch ngài Gotama, thật là tuyệt vời!
Bạch ngài Gotama, cũng giống như người có thể lật ngửa vật đă
được úp lại, mở ra vật đă bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối,
đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những người có
mắt sẽ nh́n thấy được các h́nh dáng;’ tương tự như thế Pháp đă
được ngài Gotama giảng rơ bằng nhiều phương tiện. Tôi đây xin đi
đến nương nhờ ngài Gotama, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Tôi
có thể xuất gia trong sự hiện diện của ngài Gotama không? Tôi có
thể tu lên bậc trên không?”
|
- Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn
giả Gotama, như người dựng đứng lại những ǵ bị quăng ngă
xuống, hay phơi bày ra những ǵ bị che kín, hay chỉ đường cho kẻ
lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có
mặt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp được Tôn giả Gotama
dùng nhiều phương tiện tŕnh bày giải thích. Con nay quy y
Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Hăy cho
con được xuất gia với Tôn giả Gotama. Hăy cho con thọ đại
giới. |
|
Alattha kho sundarikabhāradvājo
brāhmaṇo —pe— arahataṃ ahosīti.
|
Rồi Bà-la-môn
Sundarikabhāradvāja đă đạt được —như trên— đă trở thành vị A-la-hán.
|
Và Bà-la-môn
Sundarikabhàradvàja... trở thành một vị A-la-hán. |
|
Sundarikabhāradvājasuttaṃ
niṭṭhitaṃ.
|
Dứt
Kinh Sundarikabhāradvāja.
|
|
|
|
|
|
|
5. MĀGHASUTTAṂ
|
5. KINH
MĀGHA |
5. KINH
MĀGHA |
|
Evaṃ me sutaṃ Ekaṃ samayaṃ
bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate. Atha kho māgho
māṇavo yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavatā
saddhiṃ sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ sārāṇīyaṃ vītisāretvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho māgho māṇavo bhagavantaṃ
etadavoca: |
Tôi đă nghe như vầy: Một thời đức
Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, ở núi Gijjhakūṭa. Lúc bấy giờ,
thanh niên Bà-la-môn Māgha đă đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi
đến đă tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xă
giao thân thiện rồi đă ngồi xuống ở một bên. Khi đă ngồi xuống ở
một bên, thanh niên Bà-la-môn Māgha đă nói với đức Thế Tôn điều
này:
|
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở
Ràjagaha, trên núi Gijjhakàta. Rồi thanh niên
Màgha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những
lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi
thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh
niên Màgha bạch Thế Tôn: |
|
Ahaṃ hi bho gotama, dāyako
dānapatī vadaññū yācayogo dhammena bhoge pariyesāmi, dhammena
bhoge pariyesitvā dhammaladdhehi bhogehi dhammādhigatehi
ekassāpi dadāmi dvinnampi dadāmi tiṇṇampi dadāmi catunnampi
dadāmi pañcannampi dadāmi channampi dadāmi sattannampi dadāmi
aṭṭhannampi dadāmi navannampi dadāmi dasannampi dadāmi vīsāyapi
dadāmi tiṃsāyapi dadāmi cattārīsāyapi dadāmi paññāsāyapi dadāmi
satassapi dadāmi bhiyyopi dadāmi. Kaccāhaṃ gotama evaṃ dadanto
evaṃ yajanto bahuṃ puññaṃ pasavāmīti. |
“Thưa ngài Gotama, chính tôi là
người bố thí, người thí chủ, ân cần, hào phóng, tôi tầm cầu các
của cải một cách chân chánh; sau khi tầm cầu các của cải một
cách chân chánh, với các của cải đă nhận được một cách chân
chánh, đă thành đạt một cách chân chánh, tôi cho đến một người,
tôi cho đến hai người, tôi cho đến ba người, tôi cho đến bốn
người, tôi cho đến năm người, tôi cho đến sáu người, tôi cho đến
bảy người, tôi cho đến tám người, tôi cho đến chín người, tôi
cho đến mười người, tôi cho đến hai chục người, tôi cho đến ba
chục người, tôi cho đến bốn chục người, tôi cho đến năm chục
người, tôi cho đến một trăm người, tôi cho dến nhiều người hơn
nữa. Thưa vị Gotama, trong khi cho như vậy, trong khi cống hiến
như vậy, phải chăng tôi tạo ra được nhiều phước báu?”
|
- Thưa Tôn giả Gotama, con
là người bố thí, là thí chủ, rộng răi, mong muốn được yêu cầu.
Con tầm cầu tài sản đúng pháp, sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp,
với những tài sản thâu hoạch đúng pháp, tạo dựng đúng pháp, con
cho một nguời, con cho hai người, con cho ba người, con cho bốn
người, con cho năm người, con cho sáu người, con cho bảy người,
con cho tám người, con cho chín người, con cho mười người, con
cho hai mươi người, con cho ba mươi người, con cho bốn mươi
người, con cho năm mươi người, con cho một trăm người, con cho
nhiều hơn nữa. Thưa Tôn giả Gotama, con cho như vậy, con
bố thí như vậy, con có được nhiều phưóc đức không? |
|
Taggha tvaṃ māṇava, evaṃ dadanto
evaṃ yajanto bahuṃ puññaṃ pasavasi; yo ca kho māṇava dāyako
dānapatī vadaññū yācayogo dhammena bhoge pariyesati dhammena
bhoge pariyesitvā dhammaladdhehi bhogehi dhammādhigatehi
ekassapi dadāti —pe— satassapi dadāti bhiyyopi dadāti, bahuṃ so
puññaṃ pasavatīti. |
“Này thanh niên Bà-la-môn, đúng
thế. Trong khi cho như vậy, trong khi cống hiến như vậy, ngươi
tạo ra được nhiều phước báu. Và này thanh niên Bà-la-môn, người
nào là người bố thí, người thí chủ, rộng răi, hào phóng, tầm cầu
các của cải một cách chân chánh; sau khi tầm cầu các của cải một
cách chân chánh, với các của cải đă nhận được một cách chân
chánh, đă thành đạt một cách chân chánh, (người ấy) cho đến một
người, —như trên—cho đến một trăm người, cho dến nhiều người hơn
nữa, người ấy tạo ra được nhiều phước báu.”
|
- Này thanh niên, Con cho như vậy,
Con bố thí như vậy Con được nhiều phước đức. Này thanh niên, ai
là người bố thí, là người thí chủ rộng răi, mong muốn được yêu
cầu, ai tầm cầu tài sản đúng pháp sau khi tầm cầu tài sản đúng
pháp, với những tài sản thâu hoạch đúng pháp, tạo dựng đúng pháp,
ngựi ấy cho một người... cho một trăm người, cho nhiều hơn nữa,
người ấy được nhiều công đức. |
|
Atha kho māgho māṇavo bhagavantaṃ
gāthāya ajjhabhāsi:
|
Khi ấy, thanh niên Bà-la-môn
Māgha đă nói với đức Thế Tôn bằng lời kệ này:
|
Rồi thanh niên Màgha nói
lên lời Thế Tôn những bài kệ: |
|
490. Pucchāmahaṃ gotamaṃ vadaññuṃ
(iti māgho māṇavo)
kāsāyavāsiṃ agihaṃ carantaṃ
yo yācayogo dānapatī gahaṭṭho,
puññatthiko yajati puññapekho
dadaṃ paresaṃ idha annapānaṃ
kattha hutaṃ yajamānassa sujjhe. |
490. (Lời thanh niên Bà-la-môn
Māgha) “Tôi hỏi vị Gotama ân cần, mặc
y màu ca-sa, không nhà, đang du hành rằng: Người thí chủ hào
phóng, sống tại gia, có sự tầm cầu phước báu, cống hiến có sự
mong mỏi phước báu, đang cho cơm nước đến những kẻ khác ở đây,
như thế nào để vật cúng tế của người đang cống hiến có thể được
trong sạch (có thể thành đạt phước báu)?” |
Thanh niên Màgha:
487. Thanh niên Màgha thưa:
Tôn giả Gotama,
Con hỏi bậc Hiền ḥa,
Mặc cà sa không nhà,
Ai ưa muốn được cầu,
Là thí chủ, gia chủ
Mong muốn được phước đức,
Bố thí, mong cầu phước.
Ở đây, thí người khác,
Đồ ăn và đồ uống,
Tại đâu nên bố thí,
Để đồ cúng được tịnh. |
|
491. Yo yācayogo dānapatī
gahaṭṭho (māghāti bhagavā)
puññatthiko yajati puññapekho,
dadaṃ paresaṃ idha annapānaṃ
ārādhaye dakkhiṇeyye hi tādi. |
491. (Lời đức Thế Tôn: “Này
Māgha,) người thí chủ hào
phóng, sống tại gia, có sự tầm cầu phước báu, cống hiến có sự
mong mỏi phước báu, đang cho cơm nước đến những những kẻ khác ở
đây, người như thế ấy có thể thành đạt (phước báu) nhờ vào những
bậc xứng đáng được cúng dường.” |
Thế Tôn:
488. Thế Tôn bèn trả lời:
Này thanh niên Màgha,
Ai ưa muốn được cầu,
Là thí chủ, gia chủ,
Mong muốn được phước đức,
Bố thí, mong cầu phước,
Ở đây, thí người khác
Đồ ăn và đồ uống,
Người ấy cần phải thí,
Người xứng đáng cúng dường. |
|
492. Yo yācayogo dānapatī
gahaṭṭho (iti māgho māṇavo)
puññatthiko yajati puññapekho,
dadaṃ paresaṃ idha annapānaṃ
akkhāhi me bhagavā dakkhiṇeyye. |
492. (Lời thanh niên Bà-la-môn
Māgha) “Người thí chủ hào phóng, sống
tại gia, có sự tầm cầu phước báu, cống hiến có sự mong mỏi phước
báu, đang cho cơm nước đến những những kẻ khác ở đây, xin đức
Thế Tôn hăy giải thích cho tôi về những bậc xứng đáng được cúng
dường.” |
Màgha:
489. Thanh niên Màgha thưa:
Tôn giả Gotama,
Ai ưa muốn được cầu,
Là thí chủ, gia chủ,
Mong muốn được phước đức,
Bố thí, mong cầu phước,
Ở đây, thí người khác
Đồ ăn và đồ uống,
Thế Tôn hăy nói con
Nên cúng dường cho ai? |
|
493. Ye ve asattā vicaranti loke
akiñcanā kevalino yatattā,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
493. “Quả
vậy, những vị nào không bị dính mắc, du hành ở thế gian, không
sở hữu ǵ, toàn hảo (đức hạnh), có bản thân đă được chế ngự, vào
đúng thời điểm nên dâng phẩm vật hiến cúng đến các vị ấy. Người
Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên hiến dâng.
|
Thế Tôn:
490. Những ai sống ở đời,
Thật sự không nhiễm trước,
Hoàn toàn không sở hữu,
Tự ngă được nhiếp phục,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
494. Ye
sabbasaṃyojanabandhanacchidā
dantā vimuttā anīghā nirāsā,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha.
|
494.
Những vị nào đă cắt đứt tất cả các sự trói buộc, đă được huấn
luyện, đă được giải thoát, không phiền muộn, không mong cầu, vào
đúng thời điểm nên dâng phẩm vật hiến cúng đến các vị ấy. Người
Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên hiến dâng.
|
491. Những ai đă chặt đứt,
Mọi kiết sử trói buộc,
Nhiếp phục được giải thoát,
Không dao động, mong cầu.
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
495. Ye sabbasaṃyojanavippamuttā
dantā vimuttā anīghā nirāsā,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
495.
Những vị nào đă được thoát ra khỏi tất cả các sự trói buộc, đă
được huấn luyện, đă được giải thoát, không phiền muộn, không
mong cầu, vào đúng thời điểm nên dâng phẩm vật hiến cúng đến các
vị ấy. Người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên hiến
dâng.
|
492. Những ai đă giải thoát
Mọi kiết sử trói buộc,
Nhiếp phục được giải thoát,
Không khổ, không mong cầu,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
496. Rāgañca dosañca pahāya mohaṃ
khīṇāsavā vusitabrahmacariyā,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
496. (Những
vị nào) sau khi từ bỏ tham ái sân hận và si mê, có lậu hoặc đă
được cạn kiệt, đă sống đời Phạm hạnh, vào đúng thời điểm nên
dâng phẩm vật hiến cúng đến các vị ấy. Người Bà-la-môn nào có sự
mong mỏi về phước báu nên hiến dâng. |
493. Vị nào đă đoạn tận,
Tham, sân và cả si,
Các lậu hoặc đă đoạn,
Phạm hạnh đă thành tựu,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
497. Yesu na māyā vasati na māno
ye vītalobhā amamā nirāsā,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
497.
Ở những vị nào không có sự xảo quyệt trú ngụ, không có ngă mạn,
là những vị có tham đă được xa ĺa, không ích kỷ, không mong cầu,
vào đúng thời điểm nên dâng phẩm vật hiến cúng đến các vị ấy.
Người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên hiến dâng.
|
494. Ai sống không man trá,
Và không có kiêu mạn,
Những vị sống không tham,
Không ngă sở, không cầu,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
498. Ye ve na taṇhāsu upātipannā
vitareyya oghaṃ amamā caranti,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
498.
Thật vậy, những vị nào không bị sa đọa ở các tham ái, sau khi đă
vượt qua ḍng lũ, sống không ích kỷ, vào đúng thời điểm nên dâng
phẩm vật hiến cúng đến các vị ấy. Người Bà-la-môn nào có sự mong
mỏi về phước báu nên hiến dâng. |
495. Những ai đối với ai,
Không rơi vào hệ lụy,
Vượt khỏi được bộc lưu,
Du hành không ngă sở,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự,
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
499. Yesaṃ taṇhā natthi kuhiñci
loke
bhavābhavāya idha vā huraṃ vā,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
499.
Những vị nào không có tham ái về bất cứ điều ǵ ở thế gian, ở
hữu hoặc phi hữu, ở đời này hoặc đời sau, vào đúng thời điểm nên
dâng phẩm vật hiến cúng đến các vị ấy. Người Bà-la-môn nào có sự
mong mỏi về phước báu nên hiến dâng. |
496. Với ai không tham ái,
Một vật ǵ ở đời,
Không ái hữu, phi hữu,
Đời này hay đời sau,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
500. Ye kāme hitvā agihā caranti
susaññatattā tasaraṃva ujjuṃ,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
500.
Những vị nào, sau khi từ bỏ các dục, không nhà, đang du hành, có
bản thân đă khéo tự chế ngự, ngay thẳng tựa như con thoi, vào
đúng thời điểm nên dâng phẩm vật hiến cúng đến các vị ấy. Người
Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên hiến dâng.
|
497. Những ai từ bỏ dục,
Sống không có gia đ́nh,
Khéo léo biết chế ngự,
Như con thoi, chính trực,
Đúng thời, đối vị ấy.
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
501. Ye vītarāgā susamāhit’
indriyā
candova rāhuggahaṇā pamuttā,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
501.
Những vị nào đă xa ĺa luyến ái, có các giác quan đă khéo được
định tĩnh, đă được giải thoát tựa như mặt trăng đă thoát khỏi sự
nắm giữ của thần Rāhu, vào đúng thời điểm nên dâng phẩm vật hiến
cúng đến các vị ấy. Người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước
báu nên hiến dâng. |
498. Những ai, ly tham ái,
Các căn khéo định tĩnh,
Như mặt trăng thoát khỏi,
Nanh vuốt của Ràhu,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
502. Samitāvino vītarāgā akopā
yesaṃ gatī natthi idha vippahāya,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
502.
Những vị đă được yên lặng, đă xa ĺa luyến ái, không c̣n giận dữ,
là những vị không có cảnh giới tái sanh sau khi ĺa bỏ nơi này,
vào đúng thời điểm nên dâng phẩm vật hiến cúng đến các vị ấy.
Người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên hiến dâng.
|
499. Những ai được an tịnh,
Ly tham, ly phẩn nộ,
Sau khi bỏ đời này,
Không c̣n có sanh thú,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
503. Jahitvā jātimaraṇaṃ asesaṃ
kathaṃkathaṃ sabbamupātivattā,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
503. (Những
vị nào) sau khi đă từ bỏ hoàn toàn sanh và tử, đă vượt lên trên
tất cả hoài nghi, vào đúng thời điểm nên dâng phẩm vật hiến cúng
đến các vị ấy. Người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu
nên hiến dâng. |
500. Đoạn sanh tử đă xong,
Không c̣n chút dư tàn,
Nghi ngờ và phân vân,
Tất cả được nhiếp phục,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
504. Ye attadīpā cīvaranti loke
akiñcanā sabbadhi vippamuttā,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
504.
Những vị nào du hành ở thế gian, có (đức hạnh là) ḥn đảo (nương
nhờ) của bản thân, không sở hữu ǵ, đă được giải thoát về mọi
phương diện, vào đúng thời điểm nên dâng phẩm vật hiến cúng đến
các vị ấy. Người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên
hiến dâng. |
501. Những ai sống ở đời
Tự ḿnh làm ḥn đảo,
Không có vật sở hữu,
Giải thoát được trọn vẹn,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự.
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
505. Ye hettha jānanti yathā
yathā idaṃ
ayamantimā natthi punabbhavoti,
kālena tesu havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
505.
Những vị nào ở đây biết được điều này đúng theo bản thể: ‘Đây là
lần cuối cùng, không c̣n tái sanh lại nữa,’ vào đúng thời điểm
nên dâng phẩm vật hiến cúng đến các vị ấy. Người Bà-la-môn nào
có sự mong mỏi về phước báu nên hiến dâng. |
502. Những ai ngay đời này,
Như thật rơ biết được,
Đây đời sống cuối cùng,
Không c̣n có tái sanh,
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
506. Yo vedagū jhānarato satīmā
sambodhipatto saraṇaṃ bahunnaṃ,
kālena tamhi havyaṃ pavecche
yo brāhmaṇo puññapekho yajetha. |
506. Vị
nào là bậc đă đạt được sự thông hiểu, ưa thích việc tham thiền,
có niệm, đă đạt đến quả vị Toàn Giác, nơi nương nhờ của nhiều
người, vào đúng thời điểm nên dâng phẩm vật hiến cúng đến vị ấy.
Người Bà-la-môn nào có sự mong mỏi về phước báu nên hiến dâng.”
|
503. Ai đạt tuệ tối thượng,
Ưa thiền, giữ chánh niệm,
Đạt được sự giác ngộ,
Chỗ quy ngưỡng nhiều người.
Đúng thời, đối vị ấy,
Hăy cúng đồ tế tự,
Vị Phạm chí cầu phước,
Hăy bố thí như vậy. |
|
507. Addhā amoghā mama pucchanā
ahū (iti māgho māṇāvo)
akkhāsi me bhagavā dakkhiṇeyye,
tvaṃ hettha jānāsi yathā tathā idaṃ
tathā hi te vidito esa dhammo. |
507. (Lời thanh niên Bà-la-môn
Māgha) “Thật vậy, câu hỏi của tôi đă
không vô ích, đức Thế Tôn giải thích cho tôi về những bậc xứng
đáng được cúng dường, bởi v́ ở đây ngài biết điều này đúng theo
bản thể, ngài biết pháp ấy đúng như thế. |
Màgha:
504. Thật sự câu con hỏi,
Không trống không, vô ích,
Thế Tôn nói cho con,
Những ai đáng cúng dường.
Ở đây Ngài đă biết,
Sự thật như thế nào.
Như vậy chính là pháp,
Ngài được biết như vậy. |
|
508. Yo yācayogo dānapatī
gahaṭṭho
puññatthiko yajati puññapekho,
dadaṃ paresaṃ idha annapānaṃ
akkhāhi me bhagavā yaññasampadaṃ. |
508.
Người nào là thí chủ hào phóng, sống tại gia, có sự tầm cầu
phước báu, cống hiến có sự mong mỏi phước báu, đang cho cơm nước
đến những những kẻ khác ở đây, xin đức Thế Tôn hăy giải thích
cho tôi về sự thành tựu của lễ hiến tế.” |
505. Rồi thanh niên Màgha,
Lại thưa thêm như sau:
Ai ưa muốn được cầu,
Là thí chủ, gia chủ,
Mong muốn được phước đức,
Bố thí, mong cầu phước,
Ở đây, thí người khác,
Đồ ăn và đồ uống,
Thế Tôn hăy nói con,
Pháp tế tự hoàn toàn. |
|
509. Yajassu yajamāno māghāti
bhagavā
sabbattha ca vippasādehi cittaṃ,
ārammaṇaṃ yajamānassa yaññaṃ
ettha patiṭṭhāya jahāti dosaṃ. |
509. Đức Thế Tôn: “Này
Māgha, hăy hiến dâng; trong lúc hiến dâng hăy khiến cho tâm được
tịnh tín về mọi phương diện. Đối tượng của người đang hiến dâng
là lễ hiến tế, do sự đứng vững ở tại nơi này người (ấy) từ bỏ
sân hận.
|
Thế Tôn:
506. Thế Tôn nói Màgha,
Hăy tế đàn, tế tự,
Phải làm cho trong sạch,
Hoàn toàn mọi tâm tư,
Đối người lễ tế đàn,
Đối tượng là đồ cúng,
Hăy an trú ở đây,
Từ bỏ sự sân hận. |
|
510. So vītarāgo pavineyya dosaṃ
mettaṃ cittaṃ bhāvayaṃ appamāṇaṃ,
rattindivaṃ satataṃ appamatto
sabbādisā pharate appamaññaṃ. |
510.
Người ấy có luyến ái đă được xa ĺa, có thể loại trừ sân hận.
Trong khi phát triển tâm từ ái vô lượng, đêm và ngày, thường
xuyên, không xao lăng, (người ấy) nên lan tỏa (tâm từ ái) không
hạn lượng khắp tất cả các phương.” |
507. Vị ấy đoạn tận tham,
Nhiếp phục cả sân hận,
Tu tập tâm từ bi,
Vô lượng khắp tất cả,
Với hạnh không phóng dật,
Ngày đêm luôn tu tập,
Cùng khắp mọi phương hướng,
Biến măn vô lượng tâm. |
|
511. Ko sujjhati muccati bajjhatī
ca
kenattanā gacchati brahmalokaṃ,
ajānato me muni brūhi puṭṭho
bhagavā hi me sakkhi brahmajja diṭṭho,
tuvaṃ hi no brahmasamoti saccaṃ
kathaṃ upapajjati brahmalokaṃ jutīmā. |
511. “Ai
trở nên trong sạch, ai được giải thoát, và ai bị trói buộc?
Tự
ḿnh đi đến thế giới Phạm Thiên bằng cách nào?
Thưa
bậc hiền trí, được hỏi xin ngài hăy nói cho tôi, là kẻ không
biết.
Bởi v́
đức Thế Tôn được tôi thấy rơ ràng hôm nay là đấng Phạm Thiên,
bởi v́
ngài ngang bằng dấng Phạm Thiên của chúng tôi’ là sự thật.
Thưa
bậc sáng chói, làm thế nào để được sanh về thế giới Phạm Thiên?” |
Màgha:
508. Ai trong sạch, giải thoát,
Ai c̣n bị trói buộc,
Ai với tự thân ḿnh,
Đi đến Phạm Thiên giới?
V́ không biết, con hỏi.
Hăy nói lên, ẩn sĩ,
Mong Thế Tôn chứng giám,
Cho con ngày hôm nay,
Con được thấy Phạm thiên,
Ngài đối với chúng con,
Thật sự Ngài ngang bằng,
Với Phạm thiên không khác,
Ôi! Bậc chói hào quang,
Làm thế nào được sanh,
Lên cảnh giới Phạm thiên? |
|
512. Yo yajati tividhaṃ
puññasampadaṃ (māghāti bhagavā)
ārādhaye dakkhiṇeyyehi tādi,
evaṃ yajitvā sammā yācayogo
upapajjati brahmalokanti brūmīti. |
512. (Lời đức Thế Tôn: “Này
Māgha,) người nào cống hiến có
sự thành tựu phước báu với ba yếu tố (ở vào ba thời điểm), người
như thế ấy có thể thành đạt (phước báu) nhờ vào những bậc xứng
đáng được cúng dường. Ta nói rằng: ‘Sau khi cống hiến một cách
đúng đắn như vậy, người hào phóng được sanh về thế giới Phạm
Thiên.’” |
Thế Tôn:
509. Thế Tôn đáp Màgha:
Ai tổ chức tế đàn,
Đầy đủ cả ba phần,
Tế đàn ấy tăng thịnh,
Với những người được cúng.
Xứng đáng được cúng dường.
Tế đàn như vậy xong,
Chơn chánh muốn được cầu,
Ta nói vị ấy sanh,
Tại cảnh giới Phạm thiên. |
|
Evaṃ vutte māgho māṇavo
bhagavantaṃ etadavoca:
|
Khi được nói như vậy, thanh niên
Bà-la-môn đă nói với đức Thế Tôn điều này: |
Khi nói được như vậy, thanh niên
Màgha bạch Thế Tôn: |
|
“Abhikkantaṃ bho gotama —pe—
ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatanti. |
“Bạch ngài Gotama, thật là
tuyệt vời!—như trên— đă đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến
trọn đời.”
|
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama!.
Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama!... Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy
ngưỡng. |
|
Māghasuttaṃ niṭṭhitaṃ.
|
Dứt
Kinh Māgha.
|
|
|
|
|
|
|
<Trang
Trước> |
<Mục Lục><Đầu
Trang> |
<Trang Kế> |