|
II. CULLAVAGGO - TIỂU PHẨM
|
|
Buddha
Jayanti Tripitaka Series (BJTS) - Tạng Sri Lanka
|
Lời tiếng Việt:
(văn xuôi) Tỳ khưu Indacanda
|
Lời tiếng Việt:
(văn vần) HT. Thích Minh Châu
|
|
1. RATANASUTTAṂ
|
1. KINH CHÂU
BÁU
|
1. KINH CHÂU
BÁU
|
|
224. Yānīdha bhūtāni samāgatāni
bhummāni vā yāni va antalikkhe,
sabbeva bhūtā sumanā bhavantu
athopi sakkacca suṇantu bhāsitaṃ. |
224. Các hạng sanh linh
[*] nào đă tụ hội
nơi đây,
là các hạng ở địa cầu, hoặc các
hạng nào ở hư không,
mong rằng toàn thể tất cả sanh
linh đều được hoan hỷ,
rồi xin hăy nghiêm trang lắng
nghe lời nói này. |
222. Phàm ở tại đời này,
Có sanh linh tụ hội,
Hoặc trên cơi đất này,
Hoặc chính giữa hư không
Mong rằng mọi sanh linh,
Được đẹp ư vui ḷng,
Vậy, hăy nên cẩn thận,
Lắng nghe lời dạy này. |
|
[*] Các hạng sanh linh (bhūtāni):
nói đến các hàng chư
Thiên (amanussesu)
không có phân biệt (KhpA. 166). |
|
225. Tasmā hi bhūtā nisāmetha sabbe
mettaṃ karotha mānusiyā pajāya,
divā ca ratto ca haranti ye baliṃ
tasmā hi ne rakkhatha appamattā.
|
225. Chính v́ thế, hỡi các sanh
linh, mong rằng tất cả hăy lắng tai,
xin các vị hăy thể hiện ḷng từ
ái đến ḍng dơi nhân loại,
là những người ngày và đêm mang
lại vật phẩm cúng tế,
chính v́ thế, xin các vị hăy hộ
tŕ những người ấy, không xao lăng.
|
223. Do vậy các sanh linh,
Tất cả hăy chú tâm,
Khởi lên ḷng từ mẫn,
Đối với mọi loài, người.
Ban ngày và ban đêm,
Họ đem vật cúng dường,
Do vậy không phóng dật,
Hăy giúp hộ tŕ họ. |
|
226. Yaṃ kiñci vittaṃ idha vā huraṃ vā
saggesu vā yaṃ ratanaṃ paṇītaṃ,
na no samaṃ atthi tathāgatena
idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu. |
226. Bất cứ của cải nào ở đời này
hoặc đời sau,
hoặc loại châu báu hảo hạng nào ở
các cơi Trời,
thật vậy, không có ǵ sánh bằng
đức Như Lai.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
đức Phật;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh. |
224. Phàm có tài sản ǵ,
Đời này hay đời sau,
Hay ở tại thiên giới,
Có châu báu thù thắng,
Không ǵ sánh bằng được,
Với Như Lai, Thiện Thệ
Như vậy, nơi Đức Phật,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
227. Khayaṃ virāgaṃ amataṃ paṇītaṃ
yadajjhagā sakyamunī samāhito,
na tena dhammena samatthi kiñci
idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu. |
227. Sự diệt trừ, sự xa ĺa tham
ái, sự Bất Tử hảo hạng,
bậc Hiền Trí ḍng Sakya, (với
tâm) định tĩnh, đă chứng đắc điều ấy,
không có bất cứ cái ǵ sánh bằng
Pháp ấy.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
Giáo Pháp;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh.
|
225. Đoạn diệt và ly tham,
Bất tử và thù diệu,
Phật Thích Ca Mâu-Ni,
Chứng pháp ấy trong thiền.
Không ǵ sánh bằng được,
Với pháp thù diệu ấy.
Như vậy, nơi Chánh pháp,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
228. Yaṃ buddhaseṭṭho parivaṇṇayī suciṃ
samādhimānantarikaññamāhu,
samādhinā tena samo na vijjati
idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.
|
228. Điều mà đức Phật tối thắng
đă ca ngợi là trong sạch,
Ngài đă nói điều ấy là định cho
quả không bị gián đoạn,
pháp sánh bằng định ấy không được
biết đến.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
Giáo Pháp;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh.
|
226. Phật Thế Tôn thù thắng,
Nói lên lời tán thán,
Pháp thiền định trong sạch,
Liên tục không gián đoạn,
Không ǵ sánh bằng được,
Pháp thiền vi diệu ấy,
Như vậy, nơi Chánh pháp,
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
229. Ye puggalā aṭṭha sataṃ pasatthā
cattāri etāni yugāni honti,
te dakkhiṇeyyā sugatassa sāvakā
etesu dinnāni mahapphalāni,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu. |
229. Tám hạng người nào đă được
các bậc thiện nhân ca tụng,
các vị này là bốn cặp;[*]
họ là các đệ tử của đấng Thiện
Thệ, xứng đáng cúng dường,
các sự bố thí ở các vị này có quả
báu lớn lao.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
Tăng Chúng;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh. |
227. Tám vị bốn đôi này,
Được bậc thiện tán thán,
Chúng đệ tử Thiện Thệ,
Xứng đáng được cúng dường.
Bố thí các vị ấy,
Được kết quả to lớn.
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
|
|
[*] Tức là các bậc Thánh nhân, gồm có bốn
Đạo và bốn Quả (ND). |
|
230. Ye suppayuttā manasā daḷhena
nikkāmino gotamasāsanamhi,
te pattipattā amataṃ vigayha
laddhā mudhā nibbutiṃ bhuñjamānā,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu. |
230. Các vị nào đă khéo gắn bó
với tâm ư vững chăi,
không c̣n dục vọng, theo lời dạy
của đức Gotama,
các vị ấy đă đạt được sự chứng
đạt, sau khi đă thể nhập Bất Tử,
các vị đă đạt được không nhọc
sức, đang thọ hưởng trạng thái Tịch Diệt.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
Tăng Chúng;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh.
|
228. Các vị ḷng ít dục,
Với ư thật kiên tŕ,
Khéo liên hệ mật thiết,
Lời dạy Gotama!.
Họ đạt được quả vị,
Họ thể nhập bất tử,
Họ chứng đắc dễ dàng,
Hưởng thọ sự tịch tịnh,
Như vậy, nơi tăng chúng,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
231. Yathindakhīlo paṭhaviṃsito siyā
catubbhi vātehi asampakampiyo,
tathūpamaṃ sappurisaṃ vadāmi
yo ariyasaccāni avecca passati,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu. |
231. Giống như cột trụ đá được
nương vào ḷng đất,
sẽ không bị lay động bởi các cơn
gió từ bốn phương,
với sự so sánh như thế Ta nói về
bậc chân nhân,
là vị nào nh́n thấy rơ ràng bốn
Chân Lư Cao Thượng.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
Tăng Chúng;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh. |
229. Như vậy cột trụ đá,
Khéo y tựa ḷng đất,
Dầu có gió bốn phương,
Cũng không thể dao động,
Ta nói bậc chơn nhân,
Giống như ví dụ này.
Vị thể nhập với tuệ,
Thấy được những Thánh đế,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
232. Ye ariyasaccāni
vibhāvayanti
gambhīrapaññena sudesitāni,
kiñcāpi te honti bhusappamattā
na te bhavaṃ aṭṭhamaṃ ādiyanti,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu. |
232. Các vị nào hiểu rơ về bốn
Chân Lư Cao Thượng
đă khéo được thuyết giảng bởi tuệ
thâm sâu,
dầu cho các vị ấy thường xuyên bị
xao lăng,
các vị ấy cũng không nhận lấy
kiếp sống thứ tám.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
Tăng Chúng;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh. |
230. Những vị khéo giải thích,
Những sự thật Thánh đế,
Những vị khéo thuyết giảng,
Với trí tuệ thâm sâu,
Dầu họ có hết sức,
Phóng dật không tự chế,
Họ cũng không đến nỗi,
Sanh hữu lần thứ tám.
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
233. Sahāvassa
dassanasampadāya
tayassu dhammā jahitā bhavanti
sakkāyadiṭṭhi vicikicchitañca
sīlabbataṃ vāpi yadatthi kiñci,
catūhapāyehi ca vippamutto
cha cābhiṭhānāni abhabbo kātuṃ
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu. |
233. Đối với vị này, nhờ thành
tựu về nhận thức,
có ba pháp được từ bỏ:
sự nhận thức sai trái về thân, sự
hoài nghi,
giới và phận sự, hoặc thậm chí
bất cứ điều ǵ có liên quan,
và (vị này) được thoát khỏi bốn
khổ cảnh,[*]
không thể nào gây nên sáu tội
nghiêm trọng.[*]
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
Tăng Chúng;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh. |
231. Vị ấy nhờ đầy đủ,
Với chánh kiến sáng suốt,
Do vậy, có ba pháp,
Được hoàn toàn từ bỏ.
Thân kiến và nghi hoặc,
Giới cấm thủ cũng không;
Đối với bốn đọa xứ,
Hoàn toàn được giải thoát;
Vị ấy không thể làm,
Sáu điều ác căn bản.
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
|
|
234. Kiñcāpi so
kammaṃ karoti pāpakaṃ
kāyena vācā uda cetasā vā,
abhabbo so tassa paṭicchādāya
abhabbatā diṭṭhapadassa vuttā,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.
|
234. Ngay cả khi vị ấy tạo nên
bất cứ nghiệp ǵ ác xấu,
bằng thân, bằng khẩu, hoặc bằng
ư,
vị ấy không thể nào che giấu điều
ấy,
tính chất không thể của vị chứng
đạt Niết Bàn đă được nói đến.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
Tăng Chúng;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh.
|
232. Dầu vị ấy có làm
Điều ác ǵ đi nữa,
Với thân hay với lời,
Kể cả với tâm ư,
Vị ấy không có thể
Che đậy việc làm ấy,
Vị ấy được nói rằng,
Không thể thấy ác đạo.
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
235. Vanappagumbe
yathā phussitagge
gimhānamāse paṭhamasmiṃ gimhe,
tathūpamaṃ dhammavaraṃ adesayi
nibbānagāmiṃ paramaṃ hitāya,
idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.
|
235. Giống như cây cối ở trong
rừng đă được trổ hoa ở ngọn
trong cái nóng ở tháng đầu tiên
của mùa hạ,
với sự so sánh như thế, Ngài đă
thuyết giảng về Giáo Pháp cao quư,
có khả năng dẫn đến Niết Bàn, tối
thắng về lợi ích.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
đức Phật;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh.
|
233. Đẹp là những cây rừng
Có bông hoa đầu ngọn,
Trong tháng ba nóng bức,
Những ngày hạ đầu tiên,
Pháp thù thắng thuyết giảng,
Được ví dụ như vậy,
Pháp đưa đến Niết-bàn,
Pháp hạnh phúc tối thượng.
Như vậy, nơi Đức Phật,
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
236. Varo varaññū
varado varāharo
anuttaro dhammavaraṃ adesayi,
idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu. |
236. Bậc cao quư, biết pháp cao
quư, thí pháp cao quư, đem lại pháp cao quư, đấng Vô Thượng đă
thuyết giảng về Giáo Pháp cao quư.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
đức Phật;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh.
|
234. Cao thượng, biết cao
thượng,
Cho, đem lại cao thượng,
Bậc vô thượng thuyết giảng,
Pháp cao thượng thù thắng.
Như vậy, nơi đức Phật,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
237. Khīṇaṃ purāṇaṃ
navaṃ natthi sambhavaṃ
virattacittā āyatike bhavasmiṃ,
te khīṇabījā avirūḷhicchandā
nibbanti dhīrā yathāyam padīpo,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu. |
237. Nghiệp cũ đă được cạn kiệt,
nguồn sanh khởi mới không có,
với tâm không c̣n luyến ái vào sự
hiện hữu ở tương lai,
các vị ấy có mầm giống đă cạn
kiệt, mong muốn tăng trưởng không c̣n,
các bậc sáng trí tịch diệt, giống
như ngọn đèn này vậy.
Châu báu hảo hạng này cũng có ở
Tăng Chúng;
do sự chân thật này mong rằng hăy
có sự hưng thịnh.
|
235. Nghiệp cũ đă đoạn tận,
Nghiệp mới không tạo nên,
Với tâm tư từ bỏ,
Trong sanh hữu tương lai.
Các hột giống đoạn tận,
Ước muốn không tăng trưởng,
Bậc trí chứng Niết-bàn,
Ví như ngọn đèn này.
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc. |
|
238. Yānīdha bhūtāni
samāgatāni
bhummāni vā yāni va antalikkhe,
tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ
buddhaṃ namassāma suvatthi hotu.
|
238. Các hạng sanh linh nào đă
tụ hội nơi đây, là các hạng ở địa cầu hoặc các hạng nào ở hư
không, chúng ta hăy lễ bái đức Phật đă ngự đến như thế, được chư
Thiên và nhân loại cúng dường, mong rằng hăy có sự hưng thịnh.
|
236. Phàm ở tại đời này,
Có sanh linh tụ hội,
Hoặc trên cơi đất này,
Hoặc chính giữa hư không,
Hăy đảnh lễ đức Phật,
Đă như thực đến đây,
Được loài Trời, loài Người,
Đảnh lễ và cúng dường.
Mong rằng với hạnh này,
Mọi loài được hạnh phúc. |
|
239. Yānīdha bhūtāni
samāgatāni
bhummāni vā yāni va antajikkhe,
tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ
dhammaṃ namassāma suvatthi hotu.
|
239. Các hạng sanh linh nào đă tụ
hội nơi đây, là các hạng ở địa cầu hoặc các hạng nào ở hư không,
chúng ta hăy lễ bái Giáo Pháp đă ngự đến như thế, được chư Thiên
và nhân loại cúng dường, mong rằng hăy có sự hưng thịnh.
|
237. Phàm ở tại nơi này,
Có sanh linh tụ hội,
Hoặc trên cơi đất này,
Hoặc chính giữa hư không.
Hăy đảnh lễ Chánh pháp,
Đă như thực đến đây,
Được loài Trời, loài Người,
Đảnh lễ và cúng dường.
Mong rằng với hạnh này,
Mọi loài được hạnh phúc. |
|
240. Yānīdha bhūtāni samāgatāni
bhummāni vā yāni va antajikkhe,
tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ
saṅghaṃ namassāma suvatthi hotu.
|
240. Các hạng sanh linh nào đă tụ
hội nơi đây, là các hạng ở địa cầu hoặc các hạng nào ở hư không,
chúng ta hăy lễ bái Tăng Chúng đă ngự đến như thế, được chư
Thiên và nhân loại cúng dường, mong rằng hăy có sự hưng thịnh.
|
238. Phàm ở tại nơi này,
Có sanh linh tụ hội,
Hoặc trên cơi đất này,
Hoặc chính giữa hư không.
Hăy đảnh lễ chúng Tăng
Đă như thực đến đây,
Được loài Trời, loài Người,
Đảnh lễ và cúng dường.
Mong rằng với hạnh này,
Mọi loài được hạnh phúc. |
|
Ratatanasuttaṃ
niṭṭhitaṃ.
|
Dứt Kinh Châu Báu.
|
|
|
2. ĀMAGANDHASUTTAṂ
|
2. KINH MÙI TANH
HÔI
|
2. KINH HÔI THỐI
|
|
241. Sāmākaciṅguḷaka cīnakāni ca
pattapphalaṃ mūlapphalaṃ gavipphalaṃ,
dhammena laddhaṃ satamasnamānā
na kāmakāmā alikaṃ bhaṇanti. |
241. “Các bậc đức hạnh, trong khi
ăn các loại hạt kê, hạt cỏ, đậu núi, lá cây, rễ củ, trái cây đă
nhận được đúng pháp, các vị không v́ ham muốn ngũ dục mà nói
điều dối trá. |
Bà-la-môn:
239. Các bậc Thiện chơn chánh,
Ăn hạt giống cây thuốc,
Ăn đậu đũa, đậu rừng,
Ăn lá, ăn rễ cây,
Ăn trái các dây leo,
Nhận được thật đúng pháp.
Vị ấy không nói láo,
V́ các dục thúc đẩy. |
|
242. Yadasnamāno sukataṃ
suniṭṭhitaṃ
parehi dinnaṃ payataṃ paṇītaṃ,
sālīnamannaṃ paribhuñjamāno
so bhuñjatī kassapa āmagandhaṃ. |
242. C̣n kẻ
nào, trong khi ăn vật thực hảo hạng được khéo làm, được khéo sửa
soạn, được bố thí, được dâng hiến bởi những người khác, trong
khi thọ dụng cơm nấu bằng gạo sālī,
thưa Ngài Kassapa, kẻ ấy thọ thực vật có mùi tanh hôi.
|
240. Ôi ngài Kassapa,
Ai ăn các món ăn,
Do người khác bố thí,
Khéo làm, khéo chưng dọn,
Trong sạch và thù thắng;
Ăn lúa gạo thơm ngon.
Ai ăn uống như vậy
Là ăn thịt hôi thối. |
|
243. Na āmagandho mama kappatīti
icceva tvaṃ bhāsasi brahmabandhu,
sālīnamannaṃ paribhuñjamāno
sakuntamaṃsehi susaṃkhatehi,
pucchāmi taṃ kassapa etamatthaṃ
kathaṃpakāro tava āmagandho. |
243. ‘Vật có mùi tanh hôi không
được phép đối với Ta,’
Ngài nói y như thế, thưa đấng quyến thuộc của Phạm Thiên,
trong khi Ngài thọ dụng cơm nấu bằng gạo sālī
với các miếng thịt chim khéo được nấu nướng.
Thưa Ngài Kassapa, tôi hỏi Ngài ư nghĩa này,
đối với Ngài kiểu cách như thế nào là có mùi tanh hôi?”
|
241. Này bà con Phạm thiên,
Chính Ngài tuyên bố rằng:
Ta không ăn đồ thối,
Để nuôi sống thân Ta.
Nhưng Ngài ăn món ăn
Bằng lúa gạo thơm ngon,
Ăn thịt các loài chim,
Nấu ăn thật khéo léo
Ta hỏi Kassapa:
Ư nghĩa sự kiện này,
Ngài định nghĩa thế nào,
Là ăn đồ hôi thối? |
|
244. Pāṇātipāto
vadhachedabandhanaṃ
theyyaṃ musāvādo nikatī vañcanāni,
ajjhenakujjhaṃ paradārasevanā
esāmagandho na hi maṃsabhojanaṃ. |
244.
“Việc giết hại mạng sống,
hành hạ, chặt chém, trói giam,
trộm cướp, nói dối, gian lận,
các sự lường gạt,
làm ra vẻ
học thức, ve văn vợ người
khác,
việc ấy là có mùi tanh hôi,
chẳng phải thức ăn thịt.
|
Đức Phật Kassapa:
242. Sát sanh và hành h́nh,
Đả thương và bắt trói,
Trộm cắp và nói láo,
Man trá và lừa đảo,
Giả bộ kẻ học thức,
Đi lại với vợ người,
Đây là đồ ăn thối,
Ăn thịt không phải thối. |
|
245. Ye idha kāmesu asaññatā janā
rasesu giddhā asucīkamissitā,
natthikadiṭṭhi visamā durannayā
esāmagandho na hi maṃsabhojanaṃ. |
245. Ở đây, những kẻ nào không tự
kiềm chế trong các dục,
thèm khát ở các vị nếm, xen lẫn với sự (nuôi mạng) không trong
sạch,
theo tà kiến ‘không có ǵ hiện hữu,’ sái quấy, khó chỉ bảo,
việc ấy là có mùi tanh hôi, chẳng phải việc ăn thịt
. |
243. Ở đời, các hạng người,
Không chế ngự ḷng dục,
Đam mê các vị ngon,
Liên hệ đến bất tịnh,
Theo chủ nghĩa hư vô,
Bất chánh khó hướng dẫn,
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối. |
|
246. Ye lūkhasā dāruṇā
piṭṭhimaṃsikā,
mittadduno nikkaruṇātimānino,
adānasīlā na ca denti kassaci
esāmagandho na hi maṃsabhojanaṃ. |
246. Những kẻ nào thô lỗ, bạo
tàn, nói xấu sau lưng,
hăm hại bạn bè, nhẫn tâm, ngă mạn
thái quá,
có bản tánh keo kiệt và không bố
thí đến bất cứ ai,
việc ấy là có mùi tanh hôi, chẳng
phải việc ăn thịt.
|
244. Ai thô bạo, dă man,
Sau lưng nói gièm pha,
Phản bạn không từ bi,
Lại cống cao ngạo mạn,
Tánh không có bố thí,
Không cho ai vật ǵ,
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối. |
|
247. Kodho mado thambho
paccuṭṭhāpanā ca
māyā usūyā bhassasamussayo ca,
mānātimāno ca asabbhi santhavo
esāmagandho na hi maṃsayojanaṃ. |
247. Giận dữ, đam mê, bướng bỉnh,
và đối địch,
xảo trá, ganh ghét, và nói khoác
lác,
ngă mạn, kiêu căng, và thân thiết
với những kẻ không tốt,
việc ấy là có mùi tanh hôi, chẳng
phải việc ăn thịt. |
245. Phẫn nộ và kiêu mạn,
Cứng đầu và chống đối
Man trá và tật đố,
Nói vô ích, huênh hoang,
Kiêu mạn và quá mạn,
Thân mật với kẻ ác,
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối, |
|
248. Ye pāpasīlā iṇaghātasūcakā
vohārakūṭā idha pāṭirūpikā,
narādhamā ye ’dha karonti kibbisaṃ
esāmagandho na hi maṃsabhojanaṃ. |
248. Những kẻ nào có hành vi ác
độc, quỵt nợ, vu khống,
gian lận trong giao dịch, những
kẻ giả mạo trong giáo pháp,
những kẻ đê tiện làm điều sái
quấy ở thế gian này,
việc ấy là có
mùi tanh hôi, chẳng phải việc ăn thịt.
|
246. Ác giói, nợ không trả,
Làm người điểm chỉ viên,
Làm những nghề dối trá,
Ở đây, kẻ giả vờ,
Ở đây người bần tiện,
Những người làm ác nghiệp,
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối. |
|
249. Ye idha pāṇesu asaññatā janā
paresamādāya vihesamuyyutā,
dussīlaluddā pharusā anādarā
esāmagandho na hi maṃsabhojanaṃ.
|
249. Những kẻ nào ở đời này không
tự kiềm chế đối với các sinh mạng,
sau khi đoạt lấy vật sở hữu của
những người khác c̣n ra sức hăm hại,
có bản tánh tồi tệ, tàn bạo, thô
lỗ, không có sự tôn trọng,
việc ấy là có
mùi tanh hôi, chẳng phải việc ăn thịt. |
247. Ở đời đối hữu t́nh,
Người không biết kiềm chế,
Lấy cướp sở hữu người,
Chú tâm làm hại người,
Ác giới và tàn nhẫn
Ác ngữ, thiếu lễ độ,
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối, |
|
250. Etesu giddhā
viruddhātipātino
niccuyyutā pecca tamaṃ vajanti ye,
patanti sattā nirayaṃ avaṃsirā
esāmagandho na hi maṃsabhojanaṃ. |
250. Những kẻ
nào thèm khát ở những mạng sống này rồi chống đối, giết hại,
thường xuyên ra sức (làm ác), sau khi chết đi về nơi tăm tối, là
các chúng sanh rơi vào địa ngục, đầu đi xuống trước, việc ấy là
có mùi tanh hôi, chẳng phải việc ăn thịt. |
248. Hạng tham ô, thù nghịch,
T́m cách để giết hại,
Luôn luôn hướng về ác,
Sau chết sanh tối tăm,
Chúng sanh ấy rơi vào,
Địa ngục đầu xuống trước.
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối, |
|
251. Na macchamaṃsaṃ nānāsakattaṃ
na naggiyaṃ na muṇḍiyaṃ jaṭājallaṃ,
kharājināni nāggihuttassūpasevanā vā
ye vāpi loke amarā bahū tapā,
mant ’āhutī yaññamutūpavesanā
sodhenti maccaṃ avitiṇṇakaṅkhaṃ. |
251. Không
phải cá và thịt, không phải việc nhịn ăn, không phải việc lơa
thể, không phải cái đầu cạo, tóc bện và cáu đất, các y da dê thô
cứng, hoặc không phải việc thờ phượng cúng tế ngọn lửa, hoặc
thậm chí vô số sự khổ hạnh cho việc bất tử ở thế gian, các chú
thuật, các đồ hiến cúng, sự hy sinh, các việc hành xác rửa tội
theo mùa tiết, mà (có thể) làm trong sạch con người c̣n chưa
vượt qua sự nghi hoặc. |
249. Không phải do cá thịt,
Cùng các loại nhịn ăn,
Không phải do lơa thể,
Đầu trọc và bện tóc,
Không do tro trét ḿnh,
Mặc da thú khô cứng,
Không phải do săn sóc,
Nuôi dưỡng lửa tế tự,
Không do nhiều khổ hạnh,
Để được chứng bất tử,
Không bùa chú tế tự,
Các tế đàn thời tiết,
Làm con người trong sạch,
Nếu nghi hoặc chưa đoạn. |
|
252. Sotesu gutto viditindriyo
care
dhamme ṭhito ajjavamaddave rato,
saṅgātigo sabbadukkhappahīno
na lippatī diṭṭhasutesu dhīro. |
252. Vị đă
bảo vệ ở các ḍng chảy (giác quan), có (sáu) căn đă được nhận
biết, nên sống vững vàng ở Giáo Pháp, thích thú ở sự ngay thẳng
và mềm mỏng, đă vượt qua sự quyến luyến, đă dứt bỏ tất cả khổ
đau, bậc sáng trí không bị lấm lem bởi các điều đă được thấy
hoặc đă được nghe.” |
250. Do sống hộ tŕ căn,
Với các căn nhiếp phục,
Vững trú trên Chánh pháp,
Thích chân trực, hiền ḥa,
Vượt khỏi các tham ái,
Đoạn tận mọi khổ đâu,
Bậc trí không nhiễm dính,
Điều được thấy, được nghe. |
|
253. Iccetamatthaṃ bhagavā
punappunaṃ
akkhāsi naṃ vedayi mantapāragū,
citrāhi gāthāhi munī pakāsayī
nirāmagandho asito durannayo. |
253. Đức Thế Tôn đă nói lập đi
lập lại ư nghĩa này như thế, vị tinh thông chú thuật đă hiểu
được điều ấy. Bậc Hiền Trí, không có mùi tanh hôi, không bị lệ
thuộc, khó bị lôi kéo, đă giảng giải bằng các kệ ngôn đa dạng.
|
251. Nhiều lần, Thế Tôn
thuyết,
Ư nghĩa lời dạy này,
Bậc bác học kệ chú,
Thâm hiểu ư nghĩa ấy.
Bậc ẩn sĩ nói lên,
Với những kệ tuyệt diệu,
Bậc không ăn đồ thối,
Độc lập, khó hướng dẫn. |
|
254. Sutvāna buddhassa subhāsitaṃ
padaṃ
nirāmagandhaṃ sabbadukkhappanūdanaṃ,
nīcamano vandi tathāgatassa
tattheva pabbajjamarocayitthāti.
|
254. Sau khi lắng nghe lời nói
không có mùi tanh hôi, có sự xua đi tất cả sự khổ đau, đă khéo
được nói lên của đức Phật, (vị đạo sĩ khổ hạnh) với tâm ư
khiêm nhượng đă đảnh lễ đấng Như Lai, rồi ngay tại nơi ấy đă tuyên bố
việc xuất gia. |
252. Nghe xong những lời dạy,
Lời Thế Tôn khéo nói,
Chấm dứt ăn đồ thối,
Đoạn tận mọi khổ đau,
Vị ấy đảnh lễ Phật,
Với tâm ư nhún nhường,
Thỉnh cầu được cho pháp,
Xuất gia tại nơi đây. |
|
Āmagandhasuttaṃ niṭṭhitaṃ.
|
Dứt Kinh Mùi
Tanh Hôi.
|
|
|
3. HIRISUTTAṂ
|
3. KINH HỔ
THẸN
|
3. KINH XẤU HỔ
|
|
255. Hiriṃ tarantaṃ
vijigucchamānaṃ
sakhāhamasmi iti bhāsamānaṃ,
sayhāni kammāni anādiyantaṃ
neso mamanti iti taṃ vijaññā. |
255. Kẻ (nào) vượt qua sự hổ
thẹn, kinh tởm sự hổ thẹn,
trong khi nói rằng: ‘Tôi là bạn,’
(nhưng) không nhận lấy các việc
làm trong khả năng,
nên nhận biết về kẻ ấy rằng:
‘Người này không là (bạn) của tôi.’ |
253. Ai mở miệng tuyên bố:
Tôi là bạn của anh,
Sở hành vượt xấu hổ,
Lại khinh chán bạn ḿnh,
Không chịu khó gắng làm,
Công việc có thể làm.
Cần biết người như vậy,
Không phải bạn của tôi.
|
|
256. Ananvayaṃ piyaṃ vācaṃ yo
mittesu pakubbati,
akarontaṃ bhāsamānaṃ parijānanti paṇḍitā. |
256. Kẻ nào thể hiện lời nói tŕu
mến ở giữa bạn bè nhưng không làm theo, các bậc sáng suốt biết
rơ là kẻ nói mà không làm. |
254. Ai đối với bạn hữu,
Chỉ làm với lời nói,
Lời nói đẹp, khả ái,
Nhưng chỉ lời nói suông,
Bậc trí biết người ấy,
Người chỉ nói, không làm. |
|
257. Na so mitto yo sadā
appamatto
bhedāsaṅkī randhamevānupassī,
yasmiñca seti urasīva putto
sa ve mitto so parehi abhejjo. |
257. Kẻ nào thường xuyên chú ư,
nghi ngờ sự chia rẽ, chuyên soi mói khuyết điểm, kẻ ấy không
phải là bạn. Và ở người nào (có thể) trông cậy được tựa như đứa
con trai nằm dựa vào ngực (cha), người ấy quả thật là bạn, người
ấy không bị chia cắt bởi những kẻ khác. |
255. Người luôn luôn chú ư,
Nghi ngờ sự thiếu sót,
T́m kiếm các nhược điểm,
Người ấy không phải bạn,
Với ai có thể nắm,
Như con nằm trên ngực,
Người ấy mới thật bạn,
Không bị ai chia ly. |
|
258. Pāmujjakaraṇaṃ ṭhānaṃ
pasaṃsāvahanaṃ sukhaṃ,
phalānisaṃso bhāveti vahanto porisaṃ dhuraṃ. |
258. Trong khi gồng gánh phận sự
của nam nhân, người mong cầu Quả Vị làm tăng trưởng (sự tinh
tấn), nền tảng tạo ra sự hoan hỷ, (làm tăng trưởng) sự an lạc
(Niết Bàn), nguồn mang lại sự khen ngợi. |
256. Ai mong lợi ích quả,
Tu tập các sự kiện,
Đem lại sự hân hoan,
Tu tập sự an lạc,
Đem lại thưởng, tán thán,
Gánh trách nhiệm làm người. |
|
259. Pavivekarasaṃ pītvā rasaṃ
upasamassa ca,
niddaro hoti nippāpo dhammapīti rasaṃ pibanti. |
259. Sau khi đă uống hương vị của
sự ẩn cư và hương vị của sự an tịnh, người uống hương vị hoan hỷ
của Giáo Pháp trở nên không c̣n buồn bực, không c̣n ác xấu.
|
257. Uống xong vị viễn ly,
Uống xong vị an tịnh,
Không sợ hăi, không ác,
Hưởng vị ngọt, pháp hỷ. |
|
Hirisuttaṃ
niṭṭhitaṃ.
|
Dứt
Kinh Hổ Thẹn.
|
|
4. MAṄGALASUTTAṂ
|
4. KINH ĐIỀM LÀNH
|
4.
KINH ĐIỀM LÀNH LỚN (KINH ĐẠI HẠNH PHÚC) |
|
Evaṃ me sutaṃ: Ekaṃ samayaṃ
bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā
kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami,
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi.
Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi.
|
Tôi đă nghe như vầy: Một thời đức
Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông
Anāthapiṇḍika. Khi ấy, lúc đêm đă khuya, một vị Thiên nhân nọ
với màu sắc vượt trội đă làm cho toàn bộ Jetavana rực sáng rồi
đă đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đă đảnh lễ đức Thế Tôn
rồi đứng ở một bên. Đứng ở một bên, vị Thiên nhân ấy đă bạch với
đức Thế Tôn bằng lời kệ rằng: |
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú tại
Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika.
Rồi một Thiên nhân, khi đêm đă gần măn, với dung sắc thù
thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau
khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên
nhân ấy với bài kệ bạch Thế Tôn:
|
|
260. Bahū devā manussā ca
maṅgalāni acintayuṃ,
ākaṅkhamānā sotthānaṃ brūhi maṅgalamuttamaṃ. |
260. “Nhiều chư Thiên và nhân
loại, trong khi mong mỏi các điều hưng thịnh, đă suy nghĩ về các
điềm lành, xin Ngài hăy nói về điềm lành tối thượng.” |
Thiên nhân:
258. Nhiều Thiên nhân và
Người,
Suy nghĩ đến điềm lành,
Mong ước và đợi chờ,
Một nếp sống an toàn,
Xin Ngài hăy nói lên
Về điềm lành tối thượng. |
|
261. Asevanā ca bālānaṃ
paṇḍitānañca sevanā,
pūjā ca pūjanīyānaṃ etaṃ maṅgalamuttamaṃ.
|
261. “Không thân cận những kẻ ác,
thân cận các bậc sáng suốt, và cúng dường các bậc xứng đáng cúng
dường, điều này là điềm lành tối thượng. |
Thế Tôn:
259. Không thân cận kẻ ngu,
Nhưng gần gũi bậc trí,
Đảnh lễ người đáng lễ
Là điềm lành tối thượng. |
|
262. Patirūpadesavāso ca pubbe ca
katapuññatā,
attasammāpaṇidhi ca etaṃ maṅgalamuttamaṃ. |
262. Cư ngụ ở địa phương thích
hợp, tính cách đă làm việc phước thiện trong quá khứ, và quyết
định đúng đắn cho bản thân, điều này là điềm lành tối thượng.
|
260. Ở trú xứ thích hợp,
Công đức trước đă làm,
Chân chánh hướng tụ tâm,
Là điều lành tối thượng. |
|
263. Bāhusaccañca sippañca vinayo
ca susikkhito,
subhāsitā ca yā vācā etaṃ maṅgalamuttamaṃ. |
263. Kiến thức rộng và (giỏi)
nghề thủ công, việc rèn luyện khéo được học tập, và lời nói được
khéo nói, điều này là điềm lành tối thượng. |
261. Học nhiều, nghề nghiệp
giỏi,
Khéo huấn luyện học tập,
Nói những lời khéo nói
Là điềm lành tối thượng. |
|
264. Mātāpitū upaṭṭhānaṃ
puttadārassa saṅgaho,
anākulā ca kammantā etaṃ maṅgalamuttamaṃ. |
264. Phụng dưỡng mẹ và cha, cấp
dưỡng các con và vợ, các nghề nghiệp không có xung đột (thuần là
công việc), điều này là điềm lành tối thượng. |
262. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Nuôi dưỡng vợ và con,
Làm nghề không rắc rối
Là điềm lành tối thượng. |
|
265. Dānañca dhammacariyā ca
ñātakānañca saṅgaho,
anavajjāni kammāni etaṃ maṅgalamuttamaṃ. |
265. Bố thí và thực hành Giáo
Pháp, trợ giúp các thân quyến, những việc làm không bị chê
trách, điều này là điềm lành tối thượng. |
263. Bố thí, hành đúng pháp,
Săn sóc các bà con,
Làm nghiệp không lỗi lầm
Là điềm lành tối thượng. |
|
266. Ārati virati pāpā majjapānā
ca saññamo,
appamādo ca dhammesu etaṃ maṅgalamuttamaṃ. |
266. Sự kiêng cữ, xa lánh điều
ác, tự chế ngự trong việc uống các chất say, và không xao lăng
trong các (thiện) pháp, điều này là điềm lành tối thượng. |
264. Chấm dứt, từ bỏ ác,
Chế ngự đam mê rượu,
Trong pháp, không phóng dật
Là điềm lành tối thượng. |
|
267. Gāravo ca nivāto ca
santuṭṭhi ca kataññutā,
kālena dhammasavaṇaṃ etaṃ maṅgalamuttamaṃ. |
267. Sự cung
kính, khiêm nhường, tự biết đủ, và biết ơn, sự lắng nghe Giáo
Pháp vào đúng thời điểm, điều này là điềm lành tối thượng.
|
265. Kính lễ và hạ ḿnh,
Biết đủ và biết ơn,
Đúng thời, nghe Chánh pháp
Là điềm lành tối thượng. |
|
268. Khantī ca sovacassatā
samaṇānañca dassanaṃ,
kālena dhammasākacchā etaṃ maṅgalamuttamaṃ. |
268. Sự nhẫn nại, trạng thái
người dễ dạy, và việc yết kiến các bậc Sa-môn, sự bàn luận Giáo
Pháp lúc hợp thời, điều này là điềm lành tối thượng.
|
266. Nhẫn nhục, lời ḥa nhă,
Yết kiến các Sa-môn,
Đúng thời, đàm luận pháp,
Là điềm lành tối thượng. |
|
269. Tapo ca brahmacariyañca
ariyasaccānadassanaṃ,
nibbānasacchikiriyā ca etaṃ maṅgalamuttamaṃ.
|
269. Sự khắc khổ, và thực hành
Phạm hạnh, sự nhận thức các Chân Lư Cao Thượng, và việc chứng
ngộ Niết Bàn, điều này là điềm lành tối thượng. |
267. Khắc khổ và Phạm hạnh,
Thấy được lư Thánh đế,
Giác ngộ quả Niết bàn
Là điềm lành tối thượng. |
|
270. Phuṭṭhassa lokadhammehi
cittaṃ yassa na kampati,
asokaṃ virajaṃ khemaṃ etaṃ maṅgalamuttamaṃ. |
270. Tâm không dao động khi tiếp
xúc với các pháp thế gian, không sầu muộn, có sự xa ĺa bợn nhơ,
được an ổn, điều này là điềm lành tối thượng. |
268. Khi xúc chạm việc đời,
Tâm không động, không sầu,
Không uế nhiễm, an ổn
Là điềm lành tối thượng. |
|
271. Etādisāni katvāna
sabbatthamaparājitā,
sabbattha sotthiṃ gacchanti taṃ tesaṃ maṅgalamuttaman ”ti.
|
271. (Những người) đă thực hành
những điều như thế này th́ không bị thất bại ở mọi nơi, đi đến
mọi nơi một cách hưng thịnh; đối với họ (những) điều ấy là điềm
lành tối thượng.” |
269. Làm sự việc như vậy,
Không chỗ nào thất bại,
Khắp nơi được an toàn,
Là điềm lành tối thượng. |
|
Maṅgalasuttaṃ
niṭṭhitaṃ. |
Dứt
Kinh Điềm Lành.
|
|
|
5. SŪCILOMASUTTAṂ
|
5. KINH SŪCILOMA |
5. KINH
SŪCILOMA |
|
Evaṃ me sutaṃ: Ekaṃ samayaṃ
bhagavā gayāyaṃ viharati ṭaṃkitamañce sūcilomassa yakkhassa
bhavane. Tena kho pana samayena kharo ca yakkho sūcilomo ca
yakkho bhagavato avidūre atikkamanti. |
Tôi đă nghe như vầy: Một thời đức
Thế Tôn ngự tại làng Gayā, ở tảng đá Ṭaṃkitamañca, nơi trú ngụ
của Dạ-xoa Sūciloma. Vào lúc bấy giờ, Dạ-xoa Khara và Dạ-xoa
Sūciloma đi ngang qua ở nơi không xa đức Thế Tôn. |
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú tại Gayà,
ở Tamkitamanca tại trú xứ của Dạ-xoa Sùciloma. Lúc
bấy giờ, Dạ-xoa Khara, Dạ-xoa Sùciloma đi qua Thế
Tôn không bao xa.
|
|
Atha kho kharo yakkho sūcilomaṃ
yakkhaṃ etadavoca: Eso samaṇoti. Neso samaṇo samaṇako eso. Yāva
jānāmi yadi vā so samaṇo yadi vā samaṇakoti.
|
Khi ấy, Dạ-xoa Khara đă nói với
Dạ-xoa Sūciloma điều này:
“Người này là Sa-môn.”
“Người này không phải là Sa-môn.
Người này là Sa-môn giả. Lát nữa th́ ta sẽ biết người ấy là
Sa-môn hay Sa-môn giả.”
|
Dạ-xoa Khara nói với
Dạ-xoa Sùciloma: Đây là Sa-môn. Đây không phải là Sa-môn.
Đây là Sa-môn hay là Sa-môn giả hiệu. |
|
Atha kho sūcilomo yakkho yena
bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavato kāyaṃ upanāmesi.
|
Sau đó, Dạ-xoa Sūciloma đă đi đến
gần đức Thế Tôn, sau khi đến gần đă nghiêng người về phía thân
của đức Thế Tôn. |
Rồi Dạ-xoa Sùciloma đi đến
Thế Tôn, sau khi đến cọ xát thân Thế Tôn.
|
|
Atha kho bhagavā kāyaṃ apanāmesi.
Atha kho sūcilomo yakkho bhagavantaṃ etadavoca:
|
Khi ấy, đức Thế Tôn đă nghiêng
thân ra xa.
Sau đó, Dạ-xoa Sūciloma đă nói
với đức Thế Tôn điều này:
|
Thế Tôn tránh né thân của ḿnh,
rồi Dạ-xoa Sùciloma nói với Thế Tôn:
|
|
Bhāyasi maṃ samaṇāti.
Na khvāhantaṃ āvuso bhāyāmi, api ca te samphasso pāpakoti.
|
“Này Sa-môn, ông sợ ta sao?”
“Này đạo hữu, Ta quả không sợ
ngươi. Tuy nhiên, sự xúc chạm của ngươi là xấu xa.”
|
- Có phải Sa-môn sợ ta?
- Này Hiền giả, Ta không sợ Ông,
nhưng xúc phạm với Ông là ác. |
|
Pañhaṃ taṃ samaṇa pucchissāmi
sace me na vyākarissasi cittaṃ vā te khipissāmi hadayaṃ vā te
phālessāmi pādesu vā gahetvā pāragaṅgāya khipissāmīti.
|
“Này Sa-môn, ta sẽ hỏi ông câu
hỏi. Nếu ông không trả lời ta, th́ ta sẽ khuấy động tâm của ông,
hoặc ta sẽ chẻ đôi trái tim của ông, hoặc ta sẽ nắm ở hai bàn
chân rồi ném qua bên kia sông Gaṅgā.”
|
- Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ngài, nếu
Ngài không trả lời cho ta, ta sẽ làm cho tâm Ngài điên loạn, hay
bóp nát quả tim của Ngài, hay nắm chân của Ngài, ta sẽ quăng qua
bờ bên kia sông Hằng.
|
|
Na khvāhaṃ taṃ āvuso passāmi,
sadevāke loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya yo me cittaṃ vā khipeyya hadayaṃ vā phāleyya
pādesu vā gahetvā pāragaṅgāya khipeyya, api ca tvaṃ āvuso puccha
yadākaṅkhasīti. |
“Này đạo hữu, Ta quả không nh́n
thấy người nào trong thế gian tính luôn cơi của chư Thiên, cơi
Ma Vương, cơi Phạm Thiên, cho đến ḍng dơi Sa-môn, Bà-la-môn,
các hạng chư Thiên và loài người, có thể khuấy động tâm của Ta,
hoặc có thể chẻ đôi trái tim của Ta, hoặc có thể nắm ở hai bàn
chân rồi ném qua bên kia sông Gaṅgā. Này đạo hữu, tuy vậy ngươi
hăy hỏi điều mà ngươi muốn.”
|
- Này Hiền giả, Ta không thấy một
ai trong thế giới chư Thiên, với chư Thiên, Ác ma và Phạm Thiên,
trong quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người,
lại có thể làm cho tâm Ta điên loạn hay bóp nát quả tim của Ta,
hay nắm chân của Ta, sẽ quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy
vậy, này Hiền giả, Ông cứ hỏi Ta như ư Ông muốn.
|
|
Atha kho sūciloma yakkho
bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi:
|
Khi ấy, Dạ-xoa Sūciloma đă nói
với đức Thế Tôn bằng lời kệ rằng: |
Rồi Dạ-xoa Sùciloma với
câu kệ nói với Thế Tôn:
|
|
272. Rāgo ca doso ca kutonidānā
aratī ratī lomahaṃso kutojā,
kuto samuṭṭhāya mano vitakkā
kumārakā dhaṅkam ivossajanti.
|
272. “Luyến ái và sân hận có căn
nguyên từ đâu?
Ghét, thương, sự rởn lông (v́ sợ
hăi) sanh ra từ đâu?
Phát khởi từ nơi nào, các suy tầm
(về dục) khuấy rối tâm,
tựa như những bé trai tung lên
con quạ (đă bị cột chân bởi sợi chỉ dài)?”
|
Sùciloma:
270. Từ những nguyên nhân nào,
Tham và sân khởi lên?
Không ưa thích, ưa thích,
Sợ hăi từ đâu sanh?
Từ đâu được sanh khởi,
Các suy tầm của ư,
Như đứa trẻ độc ác,
Thả cho con quạ bay? |
|
273. Rāgo ca doso ca itonidānā
aratī ratī lomahaṃso itojā,
ito samuṭṭhāya mano vitakkā
kumārakā dhaṅkam1ivossajanti. |
273. “Luyến ái và sân hận có căn
nguyên từ nơi (bản ngă) này.
Ghét, thương, sự rởn lông (v́ sợ
hăi) sanh ra từ nơi (bản ngă) này.
Phát khởi từ nơi (bản ngă) này,
các suy tầm (về dục) khuấy rối tâm,
tựa như những bé trai thả lỏng
con quạ (đă bị cột chân bởi sợi chỉ dài).
|
Thế Tôn:
271. Từ những nguyên nhân này,
Tham, sân được khởi lên,
Không ưa thích, ưa thích,
Sợ hăi từ đây sanh,
Từ đây được sanh khởi,
Các suy tầm của ư,
Như đứa trẻ độc ác,
Thả cho con quạ bay. |
|
274. Snehajā attasambhūtā
nigrodhasseva khandhajā,
puthu visattā kāmesu māluvā ’va vitatā vane. |
274. Chúng sanh ra từ sự thương
yêu, được h́nh thành ở bản ngă, tựa như việc sanh ra từ thân của
giống cây nigrodha. Chúng
nhiều vô số, bị vướng mắc vào các dục, tựa như loài dây leo lan
rộng ở khu rừng. |
272. Sự hiện hữu của ngă,
Chính do thân ái sanh,
Như các loại cây bàng,
Do thân cây bàng sanh.
Sự triền phược các dục,
Thật rộng lớn vô cùng,
Như cây Màluvà,
Tỏa rộng lan khắp rừng. |
|
275. Ye naṃ pajānanti yato
nidānaṃ
te naṃ vinodenti suṇohi yakkha,
te duttaraṃ oghamimaṃ taranti
atiṇṇapubbaṃ apunabbhavāyāti. |
275. Những ai nhận biết điều ấy
có căn nguyên từ đâu,
những vị ấy xua đuổi nó, này
Dạ-xoa, ngươi hăy lắng nghe,
những vị ấy vượt qua ḍng lũ này,
(ḍng lũ) khó vượt qua được,
chưa được vượt qua trước đây, để
không c̣n hiện hữu lại nữa.”
|
273. Hăy nghe! Này Dạ-xoa,
Những ai được rơ biết
Từ đâu, khiến sanh khởi,
Họ tẩy sạch nhân ấy.
Họ vượt qua ḍng nước,
Chảy mạnh khổ vượt này,
Trước chưa được vượt qua,
Không c̣n có tái sanh. |
|
Sūcilomasuttaṃ niṭṭhitaṃ.
|
Dứt
Kinh Sūciloma.
|
|
|
6. KAPILASUTTAṂ
(Dhammacariyasuttaṃ
) |
6. KINH KAPILA
|
6. KINH HÀNH
CHÁNH PHÁP
(Dhammacariyasuttaṃ) |
|
276. Dhammacariyaṃ brahmacariyaṃ
etadāhu vasuttamaṃ,
pabbajitopi ce hoti agārasmā anagāriyaṃ. |
276. Việc hành Pháp, việc hành
Phạm hạnh, các vị (Thánh nhân) đă nói việc này là tài sản tối
thượng, nếu là bậc xuất gia, rời nhà sống không nhà. |
274. Pháp hạnh và Phạm hạnh,
Được gọi là tối thượng hạnh,
Nếu là người xuất gia,
Bỏ nhà, sống không nhà. |
|
277. So ce mukharajātiko
vihesābhirato mago,
jīvitaṃ tassa pāpiyo rajaṃ vaḍḍheti attano. |
277. Nếu kẻ ấy có bản tánh nói
nhiều, thích thú việc hăm hại (như là) loài thú, cuộc sống của
kẻ ấy là xấu xa, làm gia tăng ô nhiễm cho chính ḿnh. |
275. Nếu bản tánh lắm mồm,
Ưa làm hại như thú,
Đời sống ấy ác độc,
Làm ngă tăng bụi trần. |
|
278. Kalahābhirato bhikkhu
mohadhammena āvaṭo,
akkhātampi na jānāti dhammaṃ buddhena desitaṃ. |
278. Vị tỳ khưu thích thú việc
căi cọ, bị ngăn che bởi pháp si mê, thậm chí không biết đến Giáo
Pháp đă được công bố, đă được thuyết giảng bởi đức Phật. |
276. Tỷ-kheo ưa căi nhau,
Bị vô minh che đậy,
Không biết pháp luật dạy,
Pháp do Phật tuyên thuyết. |
|
279. Vihesaṃ bhāvitattānaṃ
avijjāya purakkhato,
saṃkilesaṃ na jānāti maggaṃ nirayagāminaṃ. |
279. Trong khi hăm hại vị có bản
thân đă được tu tập, (kẻ ấy) bị thúc đẩy bởi vô minh, không biết
về phiền năo, về con đường đưa đến địa ngục. |
277. Bị vô minh lănh đạo,
Hại bậc tu tập ngă,
Không biết đường ô nhiễm,
Đưa đến cơi địa ngục. |
|
280. Vinipātaṃ samāpanno gabbhā
gabbhaṃ tamā tamaṃ,
sa ve tādisako bhikkhu pecca dukkhaṃ nigacchati. |
280. (Kẻ ấy) bị đưa đến đọa xứ,
từ thai bào (này) đến thai bào (khác), từ tăm tối (này) đến tăm
tối (khác). Thật vậy vị tỳ khưu thuộc loại như thế ấy sau khi
chết bị đọa vào khổ đau. |
278. Vị Tỷ-kheo như vậy,
Rơi vào chỗ đọa xứ,
Đi đầu thai chỗ này,
Đến đầu thai chỗ khác,
Đi từ tối tăm này,
Đến chỗ tối tăm khác.
Vị ấy sau khi chết,
Rơi vào chỗ khổ đau. |
|
281. Gūthakūpo yathā assa
sampuṇṇo gaṇavassiko,
yo ca evarūpo assa dubbisodho hi sāṅgaṇo. |
281. Giống như hố phân đă sử dụng
nhiều năm có thể bị đầy tràn, kẻ nào thuộc loại như vậy, có sự ô
uế, quả khó làm cho trong sạch. |
279. Như hố phân đầy tràn,
Sau nhiều năm chất chứa,
Cũng vậy, kẻ uế nhiễm,
Thật khó ḷng gột sạch. |
|
282. Yaṃ evarūpaṃ jānātha
bhikkhavo gehanissitaṃ,
pāpicchaṃ pāpasaṅkappaṃ pāpa-ācāragocaraṃ. |
282. Này các tỳ khưu, các ngươi
hăy biết kẻ nào thuộc loại như vậy, thiên về cuộc sống gia đ́nh,
có ước muốn xấu xa, có suy tư xấu xa, có hành vi và nơi lai văng
xấu xa. |
280. Hỡi này các Tỷ-kheo,
Hăy biết người như vậy,
Hệ lụy với gia đ́nh,
Ác dục, ác tư duy,
Ác uy nghi cử chi,
Ác sở hành, hành xứ. |
|
283. Sabbe samaggā hutvāna
abhinibbijjayātha naṃ,
kāraṇḍavaṃ niddhamatha kasambuṃ cāpakassatha. |
283. Tất cả các ngươi hăy hợp
nhất lại, hăy xa lánh kẻ ấy, hăy tống đi bụi bặm, và hăy lùa bỏ
rác rưởi. |
281. Tất cả đều đồng t́nh,
Tránh xa ngựi như vậy,
Hăy thổi nó như bụi,
Hăy quăng nó như rác. |
|
284. Tato palāpe vāhetha assamaṇe
samaṇamānine,
niddhamitvāna pāpicche pāpa-ācāragocare. |
284. Sau đó, các ngươi hăy loại
bỏ các cặn bă, những kẻ không phải Sa-môn giả mạo như là Sa-môn,
hăy tống đi những kẻ có ước muốn ác xấu, có hành vi và nơi lai
văng xấu xa. |
282. Hăy đuổi kẻ nói nhiều,
Kẻ Sa-môn giả hiệu,
Sau khi đuổi ác dục,
Ác uy nghi hành xứ. |
|
285. Suddhā suddhehi saṃvāsaṃ
kappayavho patissatā,
tato samaggā nipakā dukkhassantaṃ karissathāti. |
285. Là những người trong sạch
các ngươi hăy sắp xếp việc cộng trú với những vị trong sạch, có
sự tôn trọng lẫn nhau. Từ đó, có sự hợp nhất, chín chắn, các
ngươi sẽ thực hiện việc chấm dứt khổ đau. |
283. Hăy giữ ḿnh trong sạch,
Chung sống kẻ trong sạch,
Sống thích đáng, chánh niệm,
Rồi ḥa hợp, sáng suốt,
Hăy chấm dứt khổ đau. |
|
Kapilasuttaṃ
niṭṭhitaṃ.
|
Dứt
Kinh Kapila.
|
|
|
7. BRĀHMAṆADHAMMIKASUTTAṂ
|
7. KINH
TRUYỀN THỐNG BÀ-LA-MÔN
|
7. KINH
PHÁP BÀ-LA-MÔN |
|
Evaṃ me sutaṃ: Ekaṃ samayaṃ
bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā kosalakā brāhmaṇamāhāsāḷā jiṇṇā vuddhā
mahallakā addhagatā vayo anuppattā yena bhagavā
tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ sammodiṃsu,
sammodanīyaṃ kathaṃ sārānīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃsu.
Ekamantaṃ nisinnā kho te brāhmaṇamahāsāḷā bhagavantaṃ
etadavocuṃ: |
Tôi đă nghe như vầy: Một thời
đức Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông
Anāthapiṇḍika. Khi ấy, nhiều vị Bà-la-môn giàu có, cư dân xứ
Kosala, già cả, uy tín, lớn tuổi, sống thọ, đă đạt đến giai đoạn
cuối của cuộc đời, đă đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đă tỏ
vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xă giao thân
thiện rồi đă ngồi xuống ở một bên. Khi đă ngồi xuống ở một bên,
các vị Bà-la-môn giàu có ấy đă nói với đức Thế Tôn điều này:
|
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở
Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông
Anàthapindika. Rồi nhiều Bà-la-môn đại phú ở Kosala
già yếu, cao niên, trưởng lăo, đă đến tuổi trưởng thượng, đă gần
măn cuộc đời, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn
những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón
hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
các Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:
|
|
Sandissanti nu kho bho gotama
etarahi brāhmaṇā porāṇānaṃ brāhmaṇānaṃ brāhmaṇadhammeti.
|
- Thưa ngài Gotama, các vị
Bà-la-môn hiện nay có sống theo pháp Bà-la-môn của các vị
Bà-la-môn thời xưa không? |
- Thưa Tôn giả Gotama,
hiện nay c̣n có những Bà-la-môn nào được thấy là theo pháp
Bà-la-môn của những Bà-la-môn thời xưa? |
|
Na kho brāhmaṇā sandissanti
etarahi brāhmaṇā porāṇānaṃ brāhmaṇānaṃ brāhmaṇadhammeti.
|
- Này các Bà-la-môn, các vị
Bà-la-môn hiện nay không sống theo pháp Bà-la-môn của các vị
Bà-la-môn thời xưa. |
- Này các Bà-la-môn, hiện nay
không c̣n thấy các Bà-la-môn theo pháp Bà-la-môn của các
Bà-la-môn thời xưa? |
|
Sādhu no bhavaṃ gotamo porāṇānaṃ
brāhmaṇānaṃ brāhmaṇadhammaṃ bhāsatu sace bhoto gotamassa
agarūti.
|
- Thưa ngài Gotama, lành thay xin
ngài Gotama hăy nói cho chúng tôi về pháp Bà-la-môn của các vị
Bà-la-môn thời xưa, nếu đối với ngài Gotama là không trở ngại.
|
- Lành thay, Tôn giả Gotama
hăy nói cho pháp Bà-la-môn của các Bà-la-môn thời xưa. Nếu Tôn
giả Gotama không thấy ǵ phiền phức.
|
|
Tena hi brāhmaṇā suṇātha sādhukaṃ
manasikarotha bhāsissāmīti.
|
- Này các Bà-la-môn, như thế th́
các người hăy lắng nghe, các người hăy khéo chú ư, Ta sẽ nói.
|
- Vậy này các Bà-la-môn, hăy nghe
và khéo tác ư. Ta sẽ nói. |
|
Evaṃ bhoti kho te
brāhmaṇamahāsāḷā bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca:
|
“Thưa ngài, xin vâng,” các vị
Bà-la-môn giàu có ấy đă đáp lại đức Thế Tôn Đức Thế Tôn đă nói
điều này: |
- Thưa vâng, Tôn giả. Các
Bà-la-môn đại phú ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
|
|
286. Isayo pubbakā āsuṃ
saṃyatattā tapassino,
pañcakāmaguṇe hitvā attadatthamacārisuṃ. |
286. Các vị ẩn sĩ thời quá khứ có
bản thân đă được chế ngự, có sự khắc khổ, sau khi từ bỏ năm loại
dục, các vị đă thực hành điều lợi ích cho bản thân.
|
284. Các ẩn sĩ thời xưa,
Chế ngự, sống khắc khổ,
Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
Hành lư tưởng tự ngă. |
|
287. Na pasū brāhmaṇānāsuṃ na
hiraññaṃ na dhāniyaṃ,
sajjhāyadhanadhaññāsuṃ brahmaṃ nidhimapālayuṃ. |
287. Không
gia súc, không vàng, không tài sản đối với các vị Bà-la-môn. Có
việc học là tài sản và lúa gạo, các vị đă bảo vệ kho báu cao
thượng. |
285. Phạm chí, không gia súc,
Không vàng bạc lúa gạo,
Học hỏi là tài sản,
Họ che chở hộ tŕ,
Kho tàng tối thượng ấy. |
|
288. Yaṃ tesaṃ pakataṃ āsi
dvārabhattaṃ upaṭṭhitaṃ,
saddhāpakatamesānaṃ dātave tadamaññisuṃ. |
288. Vật nào đă được làm ra dành
cho các vị ấy, vật thực được đặt gần ở cánh cửa (của ngôi nhà),
vật đă được làm ra bởi niềm tin, (các thí chủ) nghĩ rằng vật ấy
sẽ được bố thí đến những vị đang tầm cầu. |
286. Đồ ăn được sửa soạn,
Được đặt tại ngưỡng cửa,
Với ḷng tin, họ soạn
Để cúng bậc Thánh cầu. |
|
289. Nānārattehi vatthehi
sayaneh’ āvasathehi ca,
phītā janapadā raṭṭhā te namassiṃsu brāhmaṇe. |
289. Với các vải vóc nhuộm nhiều
màu, với các giường nằm, và với các chỗ trú ngụ, các xứ sở, các
vương quốc thịnh vượng đă tôn vinh các vị Bà-la-môn ấy. |
287. Với vải mặc nhiều màu,
Với giường nằm trú xứ,
Từ quốc độ giàu có,
Họ đảnh lễ Phạm chí. |
|
290. Avajjhā brāhmaṇā āsuṃ ajeyyā
dhammarakkhitā,
na te koci nivāresi kuladvāresu sabbaso. |
290. Các vị Bà-la-môn đă không bị
giết hại, không bị áp bức, được pháp luật bảo vệ, hoàn toàn
không có bất cứ người nào đă ngăn cản các vị ấy ở các ngưỡng cửa
của các gia đ́nh. |
288. Không bị ai xâm phạm
Là Phạm chí thời ấy,
Không bị ai chiến hại,
Họ được pháp che chở,
Không ai ngăn chận họ,
Tại ngưỡng cửa gia đ́nh. |
|
291. Aṭṭhacattārisaṃ vassāni
komāraṃ brahmacariyaṃ cariṃsu te,
vijjācaraṇapariyeṭṭhiṃ acaruṃ brāhmaṇā pure. |
291. Các vị ấy đă thực hành Phạm
hạnh từ thời niên thiếu cho đến bốn mươi tám tuổi.
Các vị
Bà-la-môn trước đây đă tầm cầu kiến thức và đức hạnh. |
289. Từ trẻ đến bốn tám,
Các Phạm chí thời xưa,
Họ sống hành Phạm hạnh,
Tầm cầu minh và hạnh. |
|
292. Na brāhmaṇā aññamagamuṃ napi
bharīyaṃ kiṇiṃsu te,
sampiyeneva saṃvāsaṃ saṃgantvā samarocayuṃ. |
292. Các vị
Bà-la-môn đă không đi đến với (giai cấp) khác, các vị ấy cũng đă
không mua người vợ. Chi do sự yêu thương lẫn
nhau, họ đă đi đến với nhau và cùng vui thích sự chung sống với
nhau.
|
290. Các vị Bà-la-môn,
Không đến giai cấp khác,
Không mua người làm vợ,
Chung sống trong t́nh thương,
Họ đi đến với nhau,
Trong niềm hoan hỷ chung. |
|
293. Aññatra tamhā samayā
utuveramaṇimpati,
antarā methunaṃ dhammaṃ nāssu gacchanti brāhmaṇā. |
293. Trừ ra thời điểm ấy, lúc dứt
kinh kỳ của người vợ, khoảng giữa (chu kỳ ấy), các vị Bà-la-môn
không bao giờ đi đến việc đôi lứa. |
291. Ngoại trừ thời gian ấy,
Thời có thể thụ thai,
Là người Bà-la-môn,
Không đi đến giao cấu. |
|
294. Brahmacariyañca sīlañca
ajjavaṃ maddavaṃ tapaṃ,
soraccaṃ avihiṃsañca khantiñcāpi avaṇṇayuṃ. |
294. Các vị đă ca ngợi Phạm hạnh,
giới hạnh, sự ngay thẳng, sự mềm mỏng, sự khắc khổ, sự nhă nhặn,
sự không hăm hại, và luôn cả sự kham nhẫn. |
292. Họ tán thán Phạm hạnh,
Giới, học thức, nhu ḥa,
Khắc khổ và ḥa nhă,
Bất hại và nhẫn nhục. |
|
295. Yo nesaṃ paramo āsi brahmā
daḷhaparakkamo,
sa vāpi methunaṃ dhammaṃ supinantepi nāgamā. |
295. Trong số các vị ấy, vị nào
là tối thắng, cao cả, có sự nỗ lực vững chải, chính vị ấy đă
không c̣n đi đến việc đôi lứa, dầu là trong giấc mơ. |
293. Vị tối thắng trong họ,
Là Phạm thiên, nỗ lực,
Vị ấy không giao hợp,
Cho đến trong cơn mộng. |
|
296. Tassa vattamanusikkhantā
idheke viññujātikā,
brahmacariyañca sīlañca khantiñcāpi avaṇṇayuṃ. |
296. Trong khi học tập theo sự
thực hành của vị ấy, nhiều vị ở đây, có bản tánh hiểu biết, đă
ca ngợi Phạm hạnh, giới hạnh, và luôn cả sự kham nhẫn. |
294. Ở đời, bậc có trí,
Học theo hạnh vị ấy,
Họ tán thán Phạm hạnh,
Giới đức và nhẫn nhục. |
|
297. Taṇḍulaṃ sayanaṃ vatthaṃ
sappitelañca yāciya,
dhammena samodhānetvā tato yaññamakappayuṃ,
upaṭṭhitasmiṃ yaññasmiṃ nāssu gāvo haniṃsu te. |
297. Sau khi yêu cầu gạo, giường
nằm, vải vóc, bơ lỏng và dầu ăn, sau khi đă thu thập đúng pháp,
từ đó các vị đă chuẩn bị lễ hiến tế. Khi lễ hiến tế được sẵn
sàng, các vị ấy đă không bao giờ giết hại các con ḅ. |
295. Họ xin cơm, sàng tọa,
Vải mặc, bơ và dầu,
Thâu nhiếp thật đúng pháp,
Họ tổ chức tế tự,
Trong lễ tế tự ấy,
Họ không giết ḅ cái. |
|
298. Yathā mātā pitā bhātā aññe
vāpi ca ñātakā,
gāvo no paramā mittā yāsu jāyanti osadhā. |
298.
298. Giống
như mẹ, cha, anh (em) trai, hoặc luôn cả những người bà con
khác, những con ḅ là bạn bè tốt nhất của chúng ta, (bởi v́) từ
nơi chúng các thuốc chữa bệnh được sản xuất ra. |
296. Như mẹ và như cha,
Như anh, như bà con,
Ḅ là bạn tối thượng,
Từ chúng, sanh được vị. |
|
299. Annadā baladā cetā vaṇṇadā
sukhadā tathā,
etamatthavasaṃ ñatvā nāssu gāvo haniṃsu te. |
299.
Tương tự như
thế, chúng c̣n cho thức ăn, cho sức mạnh, cho dung sắc, và cho
sự an lạc. Sau khi biết được lợi ích này, các vị Bà-la-môn đă
không bao giờ giết hại những con ḅ. |
297. Ḅ cho ăn, cho sức,
Cho dung sắc, cho lạc
Biết được lợi ích này,
Họ không giết hại ḅ. |
|
300. Sukhumālā mahākāyā
vaṇṇavanto yasassino,
brāhmaṇā sehi dhammehi kiccākiccesu ussukā,
yāva loke avattiṃsu sukhamedhitthayampajā. |
300. Có vóc
dáng thanh tú, có thân h́nh cao lớn, có dung sắc, có danh tiếng,
các vị Bà-la-môn năng nổ ở phận sự và không phải là phận sự đối
với các truyền thống của ḿnh. Chừng nào các truyền thống ấy c̣n
vận hành ở thế gian, th́ ḍng dơi (con người) này c̣n đạt được
sự an lạc. |
298. Họ đoan trang thân lớn,
Có dung sắc, danh xưng,
Bản tánh là nhiệt t́nh,
Trong hành thiện dứt ác,
Họ c̣n sống ở đời,
Dân chúng hưởng an lạc. |
|
301. Tesaṃ āsi vipallāso disvāna
aṇuto aṇuṃ,
rājino va viyākāraṃ nāriyo samalaṅkatā. |
301. Trong số
các vị Bà-la-môn đă có sự đổi thay. (Trước đây) các vị đă nh́n
thấy nhỏ nhoi là nhỏ nhoi, ví như sự huy hoàng của nhà vua, các
người phụ nữ đă được trang điểm, ... |
299. Giữa họ có đảo lộn,
Họ thấy vật nhỏ nhen.
Thấy huy hoàng nhà vua,
Thấy trang sức phụ nữ. |
|
302. Rathe cājaññasaṃyutte sukate
cittasibbane,
nivesane nivese ca vibhatte bhāgaso mite. |
302. ... các cỗ xe đă được thắng
ngựa thuần chủng, đă khéo được kiến tạo, các tấm thảm may nhiều
màu sắc, các chỗ trú ngụ và các ngôi nhà đă được phân chia, đă
được đo đạc theo từng phần. |
300. Các cỗ xe khéo làm,
Thắng với ngựa thuần thục,
Trang hoàng với tấm thảm,
Nhiều sắc lại nhiều màu.
Các trú xứ pḥng ốc,
Khéo chia, khéo ngăn cách. |
|
303. Gomaṇḍalaparibbūḷhaṃ
nārīvaragaṇāyutaṃ,
uḷāraṃ mānusaṃ bhogaṃ abhijjhāyiṃsu brāhmaṇā. |
303. (Giờ
đây) các vị Bà-la-môn đă tham lam của cải sung túc của loài
người, được vây quanh bởi những bầy gia súc, được kết hợp với
những nhóm phụ nữ sang trọng. |
301. Đàn bà mập vây quanh,
Chúng người đẹp hầu hạ,
Bà-la-môn tham đắm,
Tài sản lớn của người. |
|
304. Te tattha mante ganthetvā
okkākaṃ tadupāgamuṃ pahūtadhanadhaññosi,
yajassu bahu te vittaṃ yajassu bahu te dhanaṃ. |
304. Các vị ấy, sau khi đă soạn
thảo các chú thuật về việc ấy, rồi đă đi đến gặp vua Okkāka (nói
rằng): ‘Ngài có nhiều tài sản và lúa gạo. Ngài hăy cúng tế, sẽ
có nhiều của cải cho ngài. Ngài hăy cúng tế, sẽ có nhiều tài sản
cho ngài.’ |
302. Đọc các bài kệ tụng,
Họ đến Okkàla,
Ngài được tài sản lớn,
Ngài được lúa gạo nhiều.
Hăy thiết lập tế đàn,
V́ tài sản ngài lớn,
Hăy thiết lập tế đàn,
V́ tiền bạc ngài lớn. |
|
305. Tato ca rājā saññatto
brāhmaṇehi rathesabho,
assamedhaṃ purisamedhaṃ sammāpāsaṃ vājapeyyaṃ niraggalaṃ,
ete yāge yajitvāna brāhmaṇānaṃ adā dhanaṃ. |
305. Và sau đó, đức vua, vị chúa
tể của các xa phu, được các vị Bà-la-môn thuyết phục, đă cúng tế
những sự hiến cúng này: lễ tế ngựa, lễ tế người, lễ ném cái nêm,
lễ uống rượu thánh, lễ hiệp tế, rồi đă bố thí đến các vị
Bà-la-môn tài sản (gồm có): |
303. Rồi vua, bậc lănh tụ,
Vương chủ các xa binh,
Được các Bà-la-môn
Nhiếp phục và cảm hóa,
Tổ chức các tế đàn,
Về ngựa và về người,
Quăng con nêm, nước thánh,
Với các cửa then cài.
Lễ tế đàn này xong,
Họ cho các Phạm chí,
Rất nhiều loại tài sản. |
|
306. Gāvo sayanañca vatthañca
nāriyo samalaṅkatā,
rathe cājaññasaṃyutte sukate cittasibbane. |
306. Đàn ḅ, giường nằm, vải vóc,
và những người phụ nữ đă được trang điểm, các cỗ xe đă được
thắng ngựa thuần chủng, đă khéo được kiến tạo, các tấm thảm may
nhiều màu sắc. |
304. Ḅ, giường nằm, áo mặc,
Nữ nhân trang sức đẹp,
Các cỗ xe khéo làm,
Thắng với ngựa thuần thục,
Trang hoàng với tấm thảm,
Nhiều sắc lại nhiều màu. |
|
307. Nivesanāni rammāni
suvibhattāni bhāgaso,
nānādhaññassa pūretvā brāhmaṇānaṃ adā dhanaṃ. |
307. Sau khi chứa đầy các chỗ trú
ngụ xinh xắn đă khéo được phân chia thành từng phần với các loại
mễ cốc khác nhau, đức vua đă bố thí tài sản đến các vị
Bà-la-môn. |
305. Các trú xứ đẹp đẽ,
Khéo chia, khéo ngăn cách,
Đầy các loại lúa gạo,
Họ cho các Phạm chí,
Rất nhiều là tài sản. |
|
308. Te ca tattha dhanaṃ laddhā
sannidhiṃ samarocayuṃ,
tesaṃ icchāvatiṇṇānaṃ bhiyyo taṇhā pavaḍḍhatha,
te tattha manne ganthetvā okkākaṃ punupāgamuṃ. |
308. Và các vị ấy, sau khi nhận
được tài sản tại nơi ấy, đă vui thích việc tích trữ (của cải).
Đối với các vị bị tác động bởi ước muốn, tham ái đă tăng trưởng
nhiều hơn đến các vị ấy. Các vị ấy, sau khi soạn thảo các chú
thuật về việc ấy, đă đi đến gặp vua Okkāka lần nữa (nói rằng):
|
306. Ở đây, được tài sản,
Phạm chí thích cất chứa,
Ḷng dục chúng thỏa măn,
Khát ái càng tăng trưởng,
Họ lại đọc kệ tụng,
Họ đến Okkàka. |
|
309. Yathā āpo ca paṭhavī
hiraññaṃ dhanadhāniyaṃ,
evaṃ gāvo manussānaṃ parikkhāro so hi pāṇinaṃ,
yajassu bahu te vittaṃ yajassu bahu te dhanaṃ. |
309. ‘Nước và đất, vàng, tài sản
và mễ cốc (quan trọng) đối với con người như thế nào, th́ bầy ḅ
là như vậy, bởi v́ nó là vật cần thiết cho các sinh mạng. Ngài
hăy cúng tế, sẽ có nhiều của cải cho ngài. Ngài hăy cúng tế, sẽ
có nhiều tài sản cho ngài.’ |
307. Như nước, đất và vàng,
Tài sản và lúa gạo,
Cũng vậy là các ḅ,
Đối với các loài, người.
Chúng là những vật dụng,
Cần thiết cho hữu t́nh.
Hăy thiết lập tế đàn,
V́ tài sản ngài lớn,
Hăy thiết lập tế đàn,
V́ tiền bạc ngài lớn? |
|
310. Tato ca rājā saññatto
brāhmaṇehi rathesabho,
neka satasahassiyo gāvo yaññe aghātayi. |
310. Và sau đó, đức vua, vị chúa
tể của các xa phu, được các vị Bà-la-môn thuyết phục, đă giết
hại hàng trăm ngàn con ḅ trong lễ cúng tế. |
308. Rồi vua, bậc lănh tụ,
Vương chủ các xa binh,
Được các Bà-la-môn,
Nhiếp phục và cảm hóa,
Tổ chức các tế đàn,
Trăm ngàn ḅ bị giết. |
|
311. Na pādā na visāṇena nāssu
hiṃsanti kenaci,
gāvo eḷakasamānā soratā kumbhadūhanā,
tā visāṇe gahetvāna rājā satthena ghātayi. |
311. Không bằng gót chân, không
bằng cái sừng, các con ḅ đă không bao giờ hăm hại (ai) bằng bất
cứ vật ǵ. Chúng hiền ḥa giống như loài cừu, cho vắt sữa từng
chậu. Sau khi nắm lấy chúng ở cái sừng, đức vua đă giết chúng
bằng dao. |
309. Không phải với bàn chân,
Cũng không phải với sừng.
Con ḅ hại một ai,
Chúng được khéo nhiếp phục
Như con dê, con cừu,
Chúng cho nhiều ghè sữa,
Tuy vậy, vua ra lệnh,
Nắm sừng bắt lấy chúng,
Giết chúng bằng dao gươm. |
|
312. Tato ca devā pitaro indo
asurarakkhasā,
adhammo iti pakkanduṃ yaṃ satthaṃ nipatī gave. |
312. Và do đó, chư Thiên, các
Phạm Thiên, Thiên Chủ Inda, các A-tu-la, và các quỷ thần đă thét
lên: ‘Phi pháp’ về việc cắm xuống con dao ở các con ḅ. |
310. Rồi chư Thiên, Tổ tiên,
Đế Thích, A-tu-la,
Với các hàng Dạ-xoa,
Đồng thanh cùng la lớn,
Như vậy là phi pháp,
Khi gươm giết hại ḅ. |
|
313. Tayo rogā pure āsuṃ icchā
anasanaṃ jarā,
pasūnañca samārambhā aṭṭhānavutimāgamuṃ. |
313. Trước đây đă có ba căn bệnh:
ước muốn, thiếu ăn, già nua. Do việc giết hại các con thú, các
căn bệnh đă lên đến chín mươi tám loại. |
311. Trước đă có ba bệnh,
Dục, ăn không đủ già,
Do giết hại muôn thú,
Chúng lên đến chín tám. |
|
314. Eso adhammo daṇḍānaṃ okkanto
purāṇo ahu,
adūsikāyo haññanti dhammā dhaṃsanti yājakā. |
314. Trong số
các h́nh phạt, việc phi pháp này đă là cổ xưa được lưu truyền
lại. Các loài vô hại bị giết chết, các vị thực hiện lễ tế hủy
hoại truyền thống.
|
312. Trượng phạt phi pháp này,
Từ xưa truyền đến nay,
Vật vô tội bị giết,
C̣n người lễ tế đàn,
Thối thất khỏi Chánh pháp, |
|
315. Evameso aṇudhammo porāṇo
viññūgarahito,
yattha edisakaṃ passati yājakaṃ garahatī jano. |
315. Như vậy, truyền thống thấp
kém cổ xưa này bị những bậc có sự hiểu biết quở trách. Nơi nào
nh́n thấy việc làm như thế người ta đă quở trách vị thực hiện lễ
tế. |
313. Vậy tùy pháp cổ này,
Bị bậc trí khiển trách,
Chỗ nào lễ tế đàn,
Như vậy, được xem thấy,
Quần chúng liền chỉ trích,
Các vị lễ tế đàn. |
|
316. Evaṃ dhamme viyāpanne
vibhinnā suddavessikā,
puthu vibhinnā khattiyā patiṃ bhariyā ’vamaññatha. |
316. Khi truyền thống bị đảo lộn
như vậy, các giai cấp Thủ-đà-la và Vệ-xá bị phân chia, các
Sát-đế-lỵ bị phân chia riêng rẽ, vợ đă xem thường chồng. |
314. Như vậy, pháp bị hoại,
Hạng Thủ-đà, Phệ-xá,
Bị phân ly chia rẽ,
Các hạng Sát-đế-lị
Bị chia năm, chẻ bảy
C̣n vợ khinh rẽ chồng. |
|
317. Khattiyā brahmabandhū ca ye
caññe gottarakkhitā,
jātivādaṃ niraṃkatvā kāmānaṃ vasamanvagunti. |
317. Các Sát-đế-lỵ, các thân
quyến của Phạm Thiên (Bà-la-môn), và những người khác được bảo
vệ bởi ḍng họ (Thủ-đà-la và Vệ-xá), đă bỏ bê việc nói đến ḍng
dơi và đă đi theo sự thống trị của các dục.” |
315. Các Sát-lị hoàng tộc,
Các bà con Phạm thiên,
Cùng với hạng người khác,
Được gia tộc che chở,
Họ bỏ quên sanh chủng,
Họ rơi vào các dục. |
|
Evaṃ vutte te brāhmaṇamahāsāḷā
bhagavantaṃ etadavocuṃ: |
Khi được nói như vậy, các vị
Bà-la-môn giàu có ấy đă nói với đức Thế Tôn điều này: |
Khi nghe nói vậy, các Bà-la-môn
đại phú ấy bạch Thế Tôn;
|
|
Abhikkantaṃ bho gotama
abhikkantaṃ bho gotama. Seyyathāpi bho gotama, nikkujjitaṃ vā
ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ
ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya cakkhumanto
rūpāni dakkhintīti, evamevaṃ bhotā gotamena anekapariyāyena
dhammo pakāsito, ete mayaṃ bhavantaṃ gotamaṃ saraṇaṃ gacchāma
dhammañca bhikkhusaṅghañca, upāsake no bhavaṃ gotamo dhāretu
ajjatagge pāṇupete saraṇaṃ gate ”ti. |
“Thưa Ngài Gotama, thật là tuyệt
vời! Thưa Ngài Gotama, thật là tuyệt vời! Thưa Ngài Gotama, cũng
giống như người có thể lật ngửa vật đă được úp lại, hoặc mở ra
vật đă bị che kín, hoặc chỉ đường cho kẻ lạc lối, hoặc đem lại
cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những người có mắt sẽ
nh́n thấy được các h́nh dáng;’ tương tự như thế Pháp đă được
Ngài Gotama giảng rơ bằng nhiều phương tiện. Chúng tôi đây xin
đi đến nương nhờ Ngài Gotama, Giáo Pháp, và Tăng Chúng tỳ khưu.
Xin Ngài Gotama hăy ghi nhận chúng tôi là những người cư sĩ đă
đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
|
- Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn
giả Gotama, như người dựng đứng lại những ǵ bị quăng ngă
xuống, tŕnh bày rơ những ǵ bị che kín chỉ đường cho kẻ bị lạc
hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối đễ những ai có mắt có
thể nh́n thấy sắc. Cũng vậy, Pháp được Tôn giả Gotama với
nhiều pháp môn tŕnh bày giải thích. Chúng con xin quy y Tôn giả
Gotama quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả
Gotama nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng
chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
|
|
Brāhmaṇadhammikasuttaṃ niṭṭhitaṃ.
|
Dứt Kinh
Truyền Thống Bà-la-môn.
|
|
|
<Trang
Trước> |
<Mục Lục><Đầu
Trang> |
<Trang Kế> |