Trang Chính

Trang Hiệu Đính

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

DĪGHANIKĀYA & TRƯỜNG BỘ tập 3

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Thursday, October 25, 2018

 

Pāthikasuttaṃ

24. Kinh Ba-lê

 

24. Pāṭika Sutta: About Pāṭikaputta The Charlatan

...

Te evamāhaṃsu – evaṃ kho no, āvuso gotama, sutaṃ yathevāyasmā gotamo āhā’ti. ‘‘Aggaññañcāhaṃ, bhaggava, pajānāmi tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṃ pajānāmi, tañca pajānaṃ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā. Yadabhijānaṃ tathāgato no anayaṃ āpajjati.

 

...

Họ trả lời: "- Này Hiền giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đă nói: "Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta c̣n biết hơn thế nữa. Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. V́ không chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy. Chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi".

 

...

And they said: "We have heard this, Reverend Gotama, as you have explained." But I know the first beginning of things, and I know not only that, but what surpasses it in value. And I am not under the sway of what I know, and not being under its sway I have come to know for myself that quenching, by the realisation of which the Tathagata cannot fall into perilous paths.

 

47. ‘‘Evaṃvādiṃ kho maṃ, bhaggava, evamakkhāyiṃ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti – ‘viparīto samaṇo gotamo bhikkhavo ca. Samaṇo gotamo evamāha – yasmiṃ samaye subhaṃ vimokkhaṃ upasampajja viharati, sabbaṃ tasmiṃ samaye asubhantveva [asubhanteva (sī. syā. pī.)] pajānātī’ti [sañjānātīti (sī. pī.)]. Na kho panāhaṃ, bhaggava, evaṃ vadāmi – ‘yasmiṃ samaye subhaṃ vimokkhaṃ upasampajja viharati, sabbaṃ tasmiṃ samaye asubhantveva pajānātī’ti. Evañca khvāhaṃ, bhaggava, vadāmi – ‘yasmiṃ samaye subhaṃ vimokkhaṃ upasampajja viharati, subhantveva tasmiṃ samaye pajānātī’ti.

 

21. Này Bhaggava, Ta tuyên bố như vậy, Ta quan niệm như vậy. Nhưng một số Sa môn, Bà la môn lại bài xích Ta một cách không thật, trống không, hư ngụy, giả dối: "Sa môn Gotama và các vị Tỷ kheo là điên đảo. Sa môn Gotama đă tuyên bố: "Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh". Nhưng này Bhaggava, Ta không có nói như vậy: "Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh." Này Bhaggava, Ta nói như sau: "Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vậtthanh tịnh"

 

2.21. 'And I, Bhaggava, who teach this and declare this am wrongly, vainly, lyingly and falsely accused by some ascetics and Brahmins who say: "The ascetic Gotama is on the wrong track (756) and so are his monks. He has declared that whoever has attained to the stage of deliverance called 'the Be a u t i f u l ' (757) finds everything repulsive." But I do not say this. What I say is that whenever anyone has attained to the stage of deliverance called "the Beautiful", he knows that it is beautiful.'

 

‘‘Te ca, bhante, viparītā, ye bhagavantaṃ viparītato dahanti bhikkhavo ca. Evaṃpasanno ahaṃ, bhante, bhagavati. Pahoti me bhagavā tathā dhammaṃ desetuṃ, yathā ahaṃ subhaṃ vimokkhaṃ upasampajja vihareyya’’nti. (D. PTS: iii, 33).

 

- Bạch Thế Tôn, chính họ là điên đảo khi họ chỉ trích Thế Tôn và các Tỷ kheo là điên đảo. Con tin tưởng hoan hỷ đối với Thế Tôn khiến con tin rằng Thế Tôn có thể dạy cho con đến thanh tịnh giải thoát.

Ḥa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

 

'Indeed, Lord, they are on the wrong track themselves who accuse the Lord and his monks of error: I am so delighted with the Lord [35] that I think the Lord is able to teach me to attain and remain in the deliverance called "the Beautiful".'

(Maurice Walshe, The Long Discourses of the Buddha, pp. 382-3)
 

Nguồn: CSCD, https://www.tipitaka.org/romn/

Nguồn: www.budsas.net/uni/u-kinh-truongbo/truong24.htm

 

 

CHÚ GIẢI PĀLI (ATTHAKATHĀ):

47. Asatāti avijjamānena, asaṃvijjamānaṭṭhenāti attho. Tucchāti tucchena antosāravirahitena. Musāti musāvādena. Abhūtenāti bhūtatthavirahitena. Abbhācikkhantīti abhiācikkhanti. Viparītoti viparītasañño viparītacitto. Bhikkhavo cāti na kevalaṃ samaṇo gotamoyeva, ye ca assa anusiṭṭhiṃ karonti, te bhikkhū ca viparītā. Atha yaṃ sandhāya viparītoti vadanti, taṃ dassetuṃ samaṇo gotamotiādi vuttaṃ. Subhaṃ vimokkhanti vaṇṇakasiṇaṃ. Asubhantvevāti subhañca asubhañca sabbaṃ asubhanti evaṃ pajānāti. Subhantveva tasmiṃ samayeti subhanti eva ca tasmiṃ samaye pajānāti, na asubhaṃ. Bhikkhavo cāti ye te evaṃ vadanti, tesaṃ bhikkhavo ca antevāsikasamaṇā viparītā. Pahotīti samattho paṭibalo. (DA. PTS: iii, 830)

 

1/ sự an tịnh: (nibbuti): Từ "sự an tịnh" được thấy đă được ghi nghĩa cho từ santipassaddhi. Trong khi đó, nibbuti là từ có liên quan đến Niết Bàn. Có lẽ nên dùng từ "sự tịch tịnh" để tránh nhầm lẫn. Bản tiếng Anh dùng từ quenching (sự dập tắt).
2/ thanh tịnh (subha) và bất tịnh (asubhaṃ): từ subha (trong sáng, sạch sẽ, liên quan đến động từ sobhati = chiếu sáng được rực rỡ, nh́n xem rất đẹp), c̣n từ asubha (xấu xī, không đẹp đẽ, không sạch sẽ) có liên quan đến hiện tượng biến hoại của tử thi. Chữ tịnh ở đây không có nghĩa "yên tịnh." Bản dịch tiếng Anh dịch subha là "the Beautiful" và asubha là "repulsive."

3/ mọi vật: từ này đă được dịch thừa v́ không có ở bản Pali.
 

 

SỚ GIẢI PĀLI (ṬĪKĀ):

47. Yena vacanena abbhācikkhanti, tassa avijjamānatā nāma atthavasenevāti āha ‘‘asaṃvijjamānaṭṭhenā’’ti. Tucchā, musāti ca karaṇatthe paccattavacananti āha ‘‘tucchena, musāvādenā’’ti. Vacanassa antosāraṃ nāma aviparīto atthoti tadabhāvenāha ‘‘antosāravirahitenā’’ti. Abhiācikkhantīti abhibhavitvā ghaṭṭentā kathenti, akkosantīti attho. Viparītasaññoti ayāthāvasañño. Subhaṃ vimokkhanti ‘‘subha’’nti vuttavimokkhaṃ. Vaṇṇakasiṇanti sunīlakasupītakādivaṇṇakasiṇaṃ. Sabbanti yaṃ subhaṃ, asubhañca vaṇṇakasiṇaṃ, tañca sabbaṃ. Na asubhanti asubhampi ‘‘asubha’’nti tasmiṃ samaye na sañjānāti, atha kho ‘‘subhaṃ’’ tveva sañjānātīti attho. Viparītā ayāthāvagāhitāya, ayāthāvavāditāya ca. (DṬ. PTS: iii, 15).

 

   

 

Aggaññasuttaṃ

 

27. Kinh Khởi thế nhân bổn

 
 

Vāseṭṭhabhāradvājā

 

   

111. Evaṃ me sutaṃ –

Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati pubbārāme migāramātupāsāde. Tena kho pana samayena vāseṭṭhabhāradvājā bhikkhūsu parivasanti bhikkhubhāvaṃ ākaṅkhamānā. Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṃ [pāsādacchāyāyaṃ (ka.)] abbhokāse caṅkamati.

 

Như vầy tôi nghe:

1. Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi (Xá-vệ), Pubbàràma (Thành Tín Viên lâm), ở lầu của Migàramàtu (Lộc Mẫu Giảng đường). Lúc bấy giờ, Vàsettha và Bhàradvàjà sống giữa các vị Tỷ kheo và muốn trở thành Tỷ kheo. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu.

 
 

...

Vào lúc bấy giờ, Vāseṭṭha và Bhāradvāja sống giữa các vị tỳ khưu, trong khi mong muốn trở thành tỳ khưu.

112. Addasā kho vāseṭṭho bhagavantaṃ sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhitaṃ pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṃ abbhokāse caṅkamantaṃ. Disvāna bhāradvājaṃ āmantesi –

 

2. Vàsettha thấy Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi ngôi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Thấy vậy Vàsettha nói với Bhàradvàja:

 

 

‘‘ ayaṃ, āvuso bhāradvāja, bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṃ abbhokāse caṅkamati. Āyāmāvuso bhāradvāja, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; appeva nāma labheyyāma bhagavato santikā [sammukhā (syā. ka.)] dhammiṃ kathaṃ savanāyā ’’ ti. ‘‘ Evamāvuso ’’ ti kho bhāradvājo vāseṭṭhassa paccassosi.

 

- Này bạn Bhàradvàja, Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Này bạn Bhàradvàja, chúng ta hăy đến yết kiến Thế Tôn. Rất có thể chúng ta được nghe một thời pháp từ Thế Tôn. 

- Thưa vâng, Hiền giả!

Bhàradvàja vâng theo lời Vàsettha.

 

 

113. Atha kho vāseṭṭhabhāradvājā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā bhagavantaṃ caṅkamantaṃ anucaṅkamiṃsu.

 

Rồi cả Vàsettha và Bhàradvàja cùng đến gần Thế Tôn, khi đến xong đảnh lễ Ngài và đi theo sau lưng Thế Tôn, khi Ngài đang đi qua đi lại.

 
 

Atha kho bhagavā vāseṭṭhaṃ āmantesi – ‘‘ tumhe khvattha, vāseṭṭha, brāhmaṇajaccā brāhmaṇakulīnā brāhmaṇakulā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā, kacci vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā na akkosanti na paribhāsantī ’’ ti?

 

3. Rồi Thế Tôn nói với Vàsettha:

- Này Vàsettha, Ngươi sanh trưởng là Bà-la-môn và thuộc gia tộc Bà-la-môn, xuất gia từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh từ gia tộc Bà-la-môn. Này Vàsettha, người Bà-la-môn có chỉ trích Ngươi, phỉ báng Ngươi chăng?

 

Rồi đức Thế Tôn đă nói với Vāseṭṭha rằng:

- Này Vāseṭṭha, quả thật hai ngươi là ḍng dơi Bà-la-môn, thuộc gia tộc Bà-la-môn, đă xuất gia từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh từ gia tộc Bà-la-môn. Này Vāseṭṭha, chẳng lẽ các vị Bà-la-môn không chỉ trích, không phỉ báng hai ngươi sao?

 

‘‘ Taggha no, bhante, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā ’’ ti. (D., PTS: iii, 81)

 

- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn thật có chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí t́nh, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.

 

“Đúng vậy, bạch Ngài, các vị Bà-la-môn chỉ trích chúng con và phỉ báng (chúng con) với lời phỉ báng với sự cố ư của bản thân, có tích chất toàn diện, chớ không phải không toàn diện,.”

Nguồn: CSCD, https://www.tipitaka.org/romn/

Nguồn: www.budsas.net/uni/u-kinh-truongbo/truong27.htm

 

 

CHÚ GIẢI PĀLI (ATTHAKATHĀ):

113. Anucaṅkamiṃsūti añjaliṃ paggayha onatasarīrā hutvā anuvattamānā caṅkamiṃsu. Vāseṭṭhaṃ āmantesīti so tesaṃ paṇḍitataro gahetabbaṃ vissajjetabbañca jānāti, tasmā taṃ āmantesi. Tumhe khvatthāti tumhe kho attha. Brāhmaṇajaccāti, brāhmaṇajātikā. Brāhmaṇakulīnāti brāhmaṇesu kulīnā kulasampannā. Brāhmaṇakulāti brāhmaṇakulato, bhogādisampannaṃ brāhmaṇakulaṃ pahāyāti attho. Na akkosantīti dasavidhena akkosavatthunā na akkosanti. Na paribhāsantīti nānāvidhāya paribhavakathāya na paribhāsantīti attho. Iti bhagavā ‘‘brāhmaṇā ime sāmaṇere akkosanti paribhāsantī’’ti jānamānova pucchati. Kasmā? Ime mayā apucchitā paṭhamataraṃ na kathessanti, akathite kathā na samuṭṭhātīti kathāsamuṭṭhāpanatthāya. Tagghāti ekaṃsavacane nipāto, ekaṃseneva no, bhante, brāhmaṇā akkosanti paribhāsantīti vuttaṃ hoti. Attarūpāyāti attano anurūpāya. Paripuṇṇāyāti yathāruci padabyañjanāni āropetvā āropetvā paripūritāya. No aparipuṇṇāyāti antarā aṭṭhapitāya nirantaraṃ pavattāya. (DA: PTS, iii, 860)

 

GIẢI THÍCH:

♦ Đức Thế Tôn nói với cả hai người, chứ không nói riêng với Vāseṭṭha.

Lư do: tumhe, attha, vo, pabbajitā đều là ngôi thứ hai, số nhiều, chủ cách.

 

♦ Câu hỏi của đức Phật bắt đầu với chữ KACCI, chứ không phải là câu hỏi CÓ/KHÔNG.

KACCI:

: [ind.] an indefinite interrogative particle expressing doubt. (Often it is followed by some other particle such as nu, nukho).

: phân từ dùng để hỏi khi hoài nghi (thường theo sao có vài phân từ như nu, nukho)

---------

paribhāsāya (cách thứ 3, số ít) = “với lời phỉ báng” CHỨ KHÔNG PHẢI “với những lời phỉ báng”

attarūpāya = “có sự cố ư của bản thân” CHỨ KHÔNG PHẢI “thật chí t́nh.”

 

 

SỚ GIẢI PĀLI (ṬĪKĀ):

113. Anuvattamānā caṅkamiṃsu ananucaṅkamane yathādhippetassa atthassa pucchanādīnaṃ asakkuṇeyyattā. Tesanti tesaṃ dvinnaṃ. Tenāha ‘‘paṇḍitataro’’ti. Atthāti bhavattha. Kulasampannāti sampannakulā uditodite brāhmaṇakule uppannā. Brāhmaṇakulāti kenaci pārijuññena anupaddutā eva brāhmaṇakulā. Tenāha ‘‘bhogādisampanna’’ntiādi. Ime brāhmaṇā uccā hutvā ‘‘imaṃ vasalaṃ pabbajjaṃ pabbajiṃsū’’tiādinā jātiādīni ghaṭṭentā akkosanti. Paribhāsantīti paribhavitvā bhāsanti. Attano anurūpāyāti attano ajjhāsayassa anurūpāya. Antarantarā vicchijja pavattiyamānā paribhāsā paripuṇṇā nāma na hoti khaṇḍabhāvato, tabbipariyāyato paripuṇṇā nāma hotīti āha ‘‘antarā’’tiādi. (DṬ: VRI, iii, 34)

 

   

 

132. ‘‘Atha kho tesaṃ, vāseṭṭha, sattānaṃyeva [tesaṃ yeva kho vāseṭṭha sattānaṃ (sī. pī.)] ekaccānaṃ etadahosi –

 

22. Này Vàsettha, một số các vị hữu t́nh suy nghĩ:

-----------------

22. 'Then some of these beings thought:

 

Này Vāseṭṭha, rồi điều này đă khởi đến một số trong các chúng sanh ấy rằng:

 ‘pāpakā vata, bho, dhammā sattesu pātubhūtā, yatra hi nāma adinnādānaṃ paññāyissati, garahā paññāyissati, musāvādo paññāyissati, daṇḍādānaṃ paññāyissati, pabbājanaṃ paññāyissati. Yaṃnūna mayaṃ pāpake akusale dhamme vāheyyāmā’ti.

 

- Này các Tôn giả, các ác, bất thiện pháp đă hiện ra giữa các loại hữu t́nh, như lấy của không cho, khiển trách, nói láo, h́nh phạt, tẩn xuất. Chúng ta hăy loại bỏ các ác, bất thiện pháp.

-------------

"Evil things have appeared among beings, such as taking what is not given, censuring, lying, punishment and banishment. We ought to put aside evil and unwholesome things."

 

- “Này các ông, quả thật các ác, bất thiện pháp đă hiện ra ở các chúng sanh, chính ở nơi chúng việc lấy của không cho sẽ được nhận biết, việc khiển trách sẽ được nhận biết, việc nói láo sẽ được nhận biết, h́nh phạt sẽ được nhận biết, việc lưu đày sẽ được nhận biết. Có lẽ chúng ta nên loại bỏ các ác, bất thiện pháp.”

 

Te pāpake akusale dhamme vāhesuṃ. Pāpake akusale dhamme vāhentīti kho, vāseṭṭha, ‘brāhmaṇā, brāhmaṇā’ tveva paṭhamaṃ akkharaṃ upanibbattaṃ (D. PTS: iii, 94).

 

 

Các vị ấy loại bỏ các ác, bất thiện pháp, tức là Bràhmanà (Bà-la-môn), và chữ Bràhmanà là danh từ đầu tiên được khởi lên. 

----------

And they did [94] so. They Put side'^' Evil And Uwholesome Things" is the meaning of Brahmin,s43 which is the first regular title to be introduced for such people. (Maurice Walshe, The Long Discourses of the Buddha, 413).
 

Những người ấy đă loại bỏ các ác, bất thiện pháp. “Những người loại bỏ các ác, bất thiện pháp” tức là “các Bà-la-môn, các Bà-la-môn;” chính đây là danh xưng đầu tiên được khởi lên. 

 

Nguồn: CSCD, https://www.tipitaka.org/romn/

 

Nguồn: www.budsas.net/uni/u-kinh-truongbo/truong27.htm

 
 

 

Te araññāyatane paṇṇakuṭiyo karitvā paṇṇakuṭīsu jhāyanti vītaṅgārā vītadhūmā pannamusalā sāyaṃ sāyamāsāya pāto pātarāsāya gāmanigamarājadhāniyo osaranti ghāsamesamānā [ghāsamesanā (sī. syā. pī.)].

 

Những vị nầy lập lên những cḥi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những nhà cḥi bằng lá ấy. Đối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xă, vào kinh đô để khất thực.

 

Các vị ấy làm những cḥi lá ở rừng và tham thiền trong những cḥi lá. Họ có ḷ than hừng đă được dập tắt, có khói bếp đă được dập tắt, có chày giă đă được bỏ xó, trong khi t́m kiếm thức ăn, họ đi vào làng, thị trấn, kinh thành (để khất thực), vào buổi chiều cho bữa ăn chiều, vào buổi sáng cho bữa ăn sáng.

 

Te ghāsaṃ paṭilabhitvā punadeva araññāyatane paṇṇakuṭīsu jhāyanti. Tamenaṃ manussā disvā evamāhaṃsu –

 

Khi họ xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các cḥi lá trong các khu rừng để tu thiền. Các người khác thấy vậy, nói như sau:

 

Sau khi nhận được thức ăn, họ lại tiếp tục tham thiền trong những cḥi lá ở rừng. Dân chúng, sau khi thấy những người ấy, đă nói như vầy: 

 

‘Ime kho, bho, sattā araññāyatane paṇṇakuṭiyo karitvā paṇṇakuṭīsu jhāyanti, vītaṅgārā vītadhūmā pannamusalā sāyaṃ sāyamāsāya pāto pātarāsāya gāmanigamarājadhāniyo osaranti ghāsamesamānā.
Te ghāsaṃ paṭilabhitvā punadeva araññāyatane paṇṇakuṭīsu jhāyantī’ti, jhāyantīti kho [paṇṇakuṭīsu jhāyanti jhāyantīti kho (sī. pī.), paṇṇakuṭīsu jhāyantīti kho (ka.)], vāseṭṭha, ‘jhāyakā, jhāyakā’ tveva dutiyaṃ akkharaṃ upanibbattaṃ.
 

- Này các Tôn giả, những loài hữu t́nh này lập lên những cḥi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những cḥi bằng lá ấy.

 

Đối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xă, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các cḥi lá trong khu rừng để tu thiền. Này Vàsettha, họ "Jhàyanti", tu thiền, tức là họ suy tư Jhàyakà. Jhàyakà là danh từ thứ hai được khởi lên.

 

- ‘Này quư ông, các chúng sanh này làm những cḥi lá ở rừng và tham thiền trong những cḥi lá. Họ có ḷ than hừng đă được dập tắt, có khói bếp đă được dập tắt, có chày giă đă được bỏ xó, trong khi t́m kiếm thức ăn, họ đi vào làng, thị trấn, kinh thành (để khất thực), vào buổi chiều cho bữa ăn chiều, vào buổi sáng cho bữa ăn sáng. Sau khi nhận được thức ăn, họ lại tiếp tục tham thiền trong những cḥi lá ở rừng.’

 

Quả thật, ‘họ tham thiền,’ này Vāseṭṭha, tức là ‘những người tham thiền, những người tham thiền;’[*] chính đây là danh xưng thứ hai được khởi lên.

---------

* Những vị này tham thiền (jhāyanti) nên được gọi là “jhāyakā” (những người tham thiền).

 

Tesaṃyeva kho, vāseṭṭha, sattānaṃ ekacce sattā araññāyatane paṇṇakuṭīsu taṃ jhānaṃ anabhisambhuṇamānā [anabhisaṃbhūnamānā (katthaci)] gāmasāmantaṃ nigamasāmantaṃ osaritvā ganthe karontā acchanti. Tamenaṃ manussā disvā evamāhaṃsu –

 

23. Này Vàsettha, một số loài hữu t́nh này, không thể tu thiền trong các cḥi bằng lá tại khu rừng, liền đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xă để làm sách. Các người khác thấy vậy bèn nói:

 

Quả thật, này Vāseṭṭha, ngay trong số các chúng sanh ấy, có một số chúng sanh không đủ sức chịu đựng việc tham thiền ấy trong những cḥi lá ở rừng, họ đi xuống xung quanh làng, xung quanh thị trấn, sống và làm sách. Dân chúng, sau khi thấy những người ấy, đă nói như vầy:

 

‘Ime kho, bho, sattā araññāyatane paṇṇakuṭīsu taṃ jhānaṃ anabhisambhuṇamānā gāmasāmantaṃ nigamasāmantaṃ osaritvā ganthe karontā acchanti, na dānime jhāyantī’ti.

 

"Này các Tôn giả, những loài hữu t́nh này, không thể tu thiền trong các cḥi bằng lá tại khu rừng, đă đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xă để làm sách. Nay những vị này không tu thiền.

 

- ‘Này quư ông, các chúng sanh này không đủ sức chịu đựng việc tham thiền ấy trong những cḥi lá ở rừng, họ đi xuống xung quanh làng, xung quanh thị trấn, sống và làm sách. Giờ đây, những người này không tham thiền.’

 

Na dānime [na dānime jhāyantī na dānime (sī. pī. ka.)] jhāyantīti kho, vāseṭṭha, ‘ajjhāyakā ajjhāyakā’ tveva tatiyaṃ akkharaṃ upanibbattaṃ (D. PTS: iii, 94)

 

Này Vàsettha, "Na dàn ime Jhàyanti" tức là ajjhàyaka, và ajjàyakà (các vị lập lại các tập sách Vedà), cũng có nghĩa là những người không tu thiền, là chữ thứ ba được khởi lên.

 

Quả thật, ‘giờ đây, những người này không tham thiền,’ này Vāseṭṭha, tức là ‘những người không tham thiền, những người không tham thiền;’[**] chính đây là danh xưng thứ ba được khởi lên.

---------------

** Những vị này được gọi là “ajjhāyakā” (những người không tham thiền, a-j- jhāyakā). Về sau, khi nói đến những vị ajjhāyaka này, người ta không hiểu theo nghĩa ban đầu “những người không tham thiền” mà hiểu theo các hoạt động của họ và từ “ajjhāyakā” được hiểu là “những người giảng huấn, thầy giáo, giảng sư.”

 

CHÚ GIẢI PĀLI (ATTHAKATHĀ):

132. Vītaṅgārā vītadhūmāti pacitvā khāditabbābhāvato vigatadhūmaṅgārā. Pannamusalāti koṭṭetvā pacitabbābhāvato patitamusalā. Ghāsamesamānāti bhikkhācariyavasena yāgubhattaṃ pariyesantā. Tamenaṃ manussā disvāti te ete manussā passitvā. Anabhisambhuṇamānāti asahamānā asakkontā. Ganthe karontāti tayo vede abhisaṅkharontā ceva vācentā ca. Acchantīti vasanti, ‘‘acchentī’’tipi pāṭho. Esevattho. Hīnasammatanti ‘‘mante dhārenti mante vācentī’’ti kho, vāseṭṭha, idaṃ tena samayena hīnasammataṃ. Tadetarahi seṭṭhasammatanti taṃ idāni ‘‘ettake mante dhārenti ettake mante vācentī’’ti seṭṭhasammataṃ jātaṃ. Brāhmaṇamaṇḍalassāti brāhmaṇagaṇassa (DA. PTS: iii, 870).

 

BẢN DỊCH TIẾNG ANH:
They made leaf-huts in forest places and meditated in them. With the smoking fire gone out, with pestle cast aside, gathering alms for their evening and morning meals, they went away to a village, town or royal city to seek their food, and then they returned to their leafhuts to meditate. People saw this and noted how they meditated. ''They Meditate" is the meaning of Jhāyaka, which is the second regular title to be introduced.

23. 'However, some of those beings, not being able to meditate in leaf-huts, settled around towns and villages and compiled books. People saw them doing this and not meditating. "Now These Do Not Meditate" is the meaning of Ajjhayaka, which is the third regular title to be introduced.
(Maurice Walshe, The Long Discourses of the Buddha, 413-414)
 

 

SỚ GIẢI PĀLI (ṬĪKĀ):

132. Yena anārambhabhāvena bāhitākusalā ‘‘brāhmaṇā’’ti vuttā, tameva tāva dassetuṃ pāḷiyaṃ ‘‘vītaṅgārā’’tiādi vuttanti tadatthaṃ dassento ‘‘pacitvā’’tiādimāha. Tamenanti vacanavipallāsena niddesoti āha ‘‘te ete’’ti. Abhisaṅkharontāti cittamantabhāvena aññamaññaṃ abhivisiṭṭhe karontā, brāhmaṇākappabhāvena saṅkharontā ca. Vācentāti paresaṃ kathentā, ye tathā ganthe kātuṃ na jānanti. Acchantīti āsanti, upavisantīti attho. Tenāha ‘‘vasantī’’ti. Acchentīti kālaṃ khepenti. Hīnasammataṃ jhānabhāvanānuyogaṃ chaḍḍetvā ganthe pasutatādīpanato. Seṭṭhasammataṃ jātaṃ ‘‘vedadharā sottiyā subrāhmaṇāti evaṃ seṭṭhasammataṃ jātaṃ (DṬ., PTS: iii, 60).

 

 

 

 

Nguồn: CSCD, https://www.tipitaka.org/romn/

 

Nguồn: www.budsas.net/uni/u-kinh-truongbo/truong27.htm

 

 

 

Pāsādikasuttaṃ

 

29. Kinh Thanh tịnh

 

 

...

Atītaṃ kho, cunda, addhānaṃ ārabbha tathāgatassa satānusārī ñāṇaṃ hoti; so yāvatakaṃ ākaṅkhati tāvatakaṃ anussarati. Anāgatañca kho addhānaṃ ārabbha tathāgatassa bodhijaṃ ñāṇaṃ uppajjati – ‘ayamantimā jāti, natthidāni punabbhavo’ti. (D., PTS: iii, 135)

 

...

27. ... Này Cunda, về vấn đề quá khứ, Như Lai có thể nhớ đến đời sống quá khứ. Ngài muốn như thế nào, Ngài có thể nhớ xa được như vậy. Về vấn đề vị lai, Như Lai có trí do tuệ sanh: "Đây là đời sống cuối cùng, nay không c̣n đời sống nào khác nữa".

 

...

Này Cunda, liên quan đến thời kỳ quá khứ, đức Như Lai có trí nhớ lại các kiếp sống trước. Vị ấy muốn (nhớ lại) chừng nào th́ nhớ lại chừng ấy. Và này Cunda, liên quan đến thời kỳ vị lai, trí do giác ngộ sanh của đức Như Lai khởi lên rằng: ‘Đây là kiếp sống cuối cùng, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.’” (Tk. Indacanda)

 

CHÚ GIẢI PĀLI (ATTHAKATHĀ):

Satānusārīti pubbenivāsānussatisampayuttakaṃ. Yāvatakaṃ ākaṅkhatīti yattakaṃ ñātuṃ icchati, tattakaṃ jānissāmīti ñāṇaṃ pesesi. Athassa dubbalapattapuṭe pakkhandanārāco viya appaṭihataṃ anivāritaṃ ñāṇaṃ gacchati, tena yāvatakaṃ ākaṅkhati tāvatakaṃ anussarati. Bodhijanti bodhimūle jātaṃ. Ñāṇaṃ uppajjatīti catumaggañāṇaṃ uppajjati. Ayamantimā jātīti tena ñāṇena jātimūlassa pahīnattā puna ayamantimā jāti. Natthidāni punabbhavoti aparampi ñāṇaṃ uppajjati. (DA, PTS: iii, 913).

 

BẢN DỊCH TIẾNG ANH:

As regards the past, the Tathagata has knowledge of past lives. He can remember as far back as he wishes. As for the future, this knowledge, born of enlightenment, arises in him: "This is the last birth, there will be no more becoming." (Maurice Walshe, The Long Discourses of the Buddha, 436)

 

CHÚ THÍCH:

♦ “ trí do giác ngộ sanh” (chứ không phải) “trí do tuệ sanh” (bodhijaṃ ñāṇaṃ)

♦ Chú Giải giải thích rằng: bodhijaṃ (do giác ngộ sanh) = đă được sanh ra ở cội cây Bồ Đề.

 

 

 

Nguồn: CSCD, https://www.tipitaka.org/romn/

Nguồn: www.budsas.net/uni/u-kinh-truongbo/truong29.htm

 

 

 

 

 

 

 

 | Trang Hiệu Đính |
 

<Đầu Trang>