Trang Chính

Trang Các Bản Dịch Mới

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT tập 40

 

APADĀNAPĀḶI & THÁNH NHÂN KƯ SỰ

 Tập Hai

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XLVIII. PHẨM NAḶAMĀLĪ

 

471. Kư Sự về Trưởng Lăo Naḷamāliya

4936. Tôi đă nh́n thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Lănh Đạo Thế Gian, đang di chuyển ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng bao la.

4937. Sau khi cầm lấy tràng hoa sậy và ngay trong khi đang đi ra, tôi đă nh́n thấy đấng Toàn Giác, bậc đă vượt qua ḍng lũ, vị không c̣n lậu hoặc ở tại nơi ấy.

4938. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă cúng dường tràng hoa sậy đến đấng Đại Hùng, bậc xứng đáng cúng dường, vị có ḷng thương tưởng đến tất cả thế gian.

4939. (Kể từ khi) tôi đă dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

4940. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4941. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4942. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Naḷamāliya[1] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Naḷamāliya là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

472. Kư Sự về Trưởng Lăo Maṇipūjaka

4943. Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Có ước muốn độc cư, bậc Toàn Giác di chuyển ở trên không trung.

4944. Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có cái hồ thiên nhiên rộng lớn. Ở tại nơi ấy đă là chỗ cư ngụ của tôi, được liên quan đến nghiệp phước thiện.

4945. Sau khi rời khỏi nơi cư ngụ, tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian được chói sáng như là bông hoa súng, được cháy rực như là ngọn lửa tế thần.

4946. Trong lúc xem xét, tôi đă không nh́n thấy bông hoa tôi sẽ cúng dường đến đấng Lănh Đạo. Sau khi làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín, tôi đă đảnh lễ bậc Đạo Sư.

4947. Tôi đă cầm lấy viên ngọc ma-ni ở trên đầu của tôi và đă cúng dường đến đấng Lănh Đạo Thế Gian (ước nguyện rằng): “Do sự cúng dường viên ngọc ma-ni này, cầu mong quả thành tựu được tốt đẹp.”

4948. Đứng ở trên không trung, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Đạo Sư đă nói lên lời kệ này:

4949. “Mong rằng ư định ấy được thành tựu cho ngươi. Ngươi sẽ đạt được sự an lạc lớn lao. Ngươi hăy thọ hưởng danh vọng lớn lao do sự cúng dường ngọc ma-ni này.”

4950. Nói xong điều ấy, đức Thế Tôn tên Padumuttara, vị Phật tối thượng, đă đi đến nơi mà tâm đă dự tính.

4951. Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc sáu mươi kiếp. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương hàng trăm lần.

4952. Trong khi tôi là vị Thiên nhân đang nhớ lại việc làm trước đây th́ ngọc ma-ni, là vật tạo ra ánh sáng của tôi, hiện ra cho tôi.

4953. Tám mươi sáu ngàn nữ nhân có đồ trang sức và vải vóc đủ màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni là những người vợ của tôi.

4954. (Các nàng) có làn mi cong, có nụ cười, có bộ ngực xinh, có eo thon, thường xuyên vây quanh tôi; điều này là quả báu của việc cúng dường ngọc ma-ni.

4955. Các vật dụng và các đồ trang sức của tôi được thực hiện khéo léo làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, và làm bằng hồng ngọc đúng theo ước muốn.

4956. Các ngôi nhà mái nhọn, các hang động đáng yêu, và chỗ nằm ngồi vô cùng xứng đáng, sau khi biết được ước muốn của tôi, chúng hiện ra theo như ước muốn.

4957. Và những người nào đạt được sự lắng nghe đă khéo được thành tựu (v́ sự lắng nghe) là Phước Điền của nhân loại, là phương thuốc cho tất cả các sanh linh, các vị ấy có được những sự lợi ích.

4958. Việc làm của tôi cũng đă được thực hiện tốt đẹp là việc tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo, tôi được thoát khỏi đọa xứ, tôi đạt được vị thế Bất Động.

4959. Nơi nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi luôn luôn có ánh sáng từ bảy loại châu báu ở xung quanh.

4960. Do chính sự cúng dường ngọc ma-ni ấy, tôi đă thọ hưởng sự thành tựu, ánh sáng trí tuệ đă được tôi nh́n thấy, tôi đạt đến vị thế Bất Động.

4961. (Kể từ khi) tôi đă cúng dường ngọc ma-ni trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường ngọc ma-ni.

4962. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4963. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4964. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.  Đại đức trưởng lăo Maṇipūjaka[2] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Maṇipūjaka là phần thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

473. Kư Sự về Trưởng Lăo Ukkāsatika

4965. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn tên là Kosika đă cư ngụ tại núi Cittakūṭa. Đức Phật, bậc Hiền Trí là vị chứng thiền, thỏa thích với thiền, vui thích với sự độc cư.

4966. Tôi đă dẫn đầu nhóm phụ nữ đi sâu vào núi Hi-mă-lạp và tôi đă nh́n thấy đức Phật Kosika tợ như mặt trăng ngày rằm.

4967. Khi ấy, tôi đă cầm lấy một trăm ngọn đuốc và đặt ṿng quanh (đức Phật). Tôi đă đứng bảy ngày đêm và đă ra đi vào ngày thứ tám.

4968. Khi đức Phật Kosika, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại đă xuất khỏi (thiền), với tâm tịnh tín tôi đă đảnh lễ Ngài và đă dâng cúng một phần vật thực.

4969. “Bạch vị Chúa Tể của loài người, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, do việc làm ấy con đă sanh lên cơi trời Đẩu Suất; điều này là quả báu của một phần vật thực.”

4970. Luôn luôn có ánh sáng cho tôi vào ban ngày và cả ban đêm nữa. Tôi tỏa ra ánh sáng ở xung quanh một trăm do-tuần.

4971. Tôi đă là đấng Chuyển Luân Vương, người chinh phục bốn phương, đấng chúa tể của vùng đất Jambu năm mươi lăm kiếp.

4972. Khi ấy, thành phố của tôi đă được sung túc, thịnh vượng, khéo được xây dựng có chiều dài ba mươi do-tuần, và chiều rộng hai mươi do-tuần.

4973. Thành phố tên là Sobhana đă được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma, không thiếu vắng mười loại âm thanh được kết hợp với (âm thanh của) chũm chọe.

4974. Ở trong thành phố ấy không có dây thừng, gỗ, và gạch ngói. Toàn bộ chỉ làm bằng vàng và chiếu sáng trong thời gian liên tục.

4975. Có bốn tường thành bao bọc, ba mặt đă được làm bằng ngọc ma-ni, và ở chính giữa có hàng cây cọ đă được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma.

4976. Có mười ngàn ngàn hồ nước được che đậy bởi sen hồng và sen xanh, được phủ lên bởi những sen trắng, được tỏa ra với nhiều hương thơm khác loại.

4977. (Kể từ khi) tôi đă cầm giữ ngọn đuốc trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cầm giữ cây đuốc.

4978. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4979. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4980. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ukkāsatika[3] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ukkāsatika là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

474. Kư Sự về Trưởng Lăo Sumanavījaniya

4981. Tôi đă cầm lấy cây quạt hoa nhài ở cội cây Bồ Đề tối thượng của đức Thế Tôn Vipassī và đă quạt mát cội cây Bồ Đề tối thượng.

4982. (Kể từ khi) tôi đă quạt mát cội cây Bồ Đề tối thượng trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc hầu quạt.

4983. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4984. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4985. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sumanavījaniya[4] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sumanavījaniya là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

475. Kư Sự về Trưởng Lăo Kummāsadāyaka

4986. Trong khi bậc Đại Ần Sĩ Vipassī đang đi t́m kiếm (vật thực), tôi đă nh́n thấy b́nh bát (của Ngài) trống không và tôi đă đặt đầy sữa đông (ở b́nh bát).

4987. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thực trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của sữa đông.

4988. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4989. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4990. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Kummāsadāyaka[5] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Kummāsadāyaka là phần thứ năm.

 

--ooOoo—

 

476. Kư Sự về Trưởng Lăo Kusaṭṭhadāyaka

4991. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă dâng cúng tám thẻ vật thực đến đức Thế Tôn Kassapa, vị Bà-la-môn toàn hảo.

4992. Ngay trong chính kiếp này (kể từ khi) tôi đă dâng cúng tám thẻ vật thực, tôi không biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của tám thẻ vật thực.

4993. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4994. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4995. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Kusaṭṭhadāyaka[6] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Kusaṭṭhadāyaka là phần thứ sáu.

 

--ooOoo—

 

477. Kư Sự về Trưởng Lăo Giripunnāgiya

4996. Lúc bấy giờ, bậc Toàn Giác tên Sobhita đă cư ngụ tại núi Cittakūṭa. Tôi đă hái bông hoa nguyệt quế mọc ở núi và đă cúng dường đến đấng Tự Chủ.

4997. (Kể từ khi) tôi đă cúng dường đức Phật trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

4998. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4999. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5000. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Giripunnāgiya[7] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Giripunnāgiya là phần thứ bảy.

 

--ooOoo--

 

478. Kư Sự về Trưởng Lăo Vallikāraphaladāyaka

5001. Lúc bấy giờ, bậc Toàn Giác tên Sumana đă cư ngụ tại thành phố Takkarā. Tôi đă cầm lấy trái cây vallikāra và đă dâng cúng đến đấng Tự Chủ.

5002. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

5003. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5004. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5005. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Vallikāraphaladāyaka[8] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Vallikāraphaladāyaka là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

 

479. Kư Sự về Trưởng Lăo Pānadhidāyaka

5006. Sau khi đă rời khỏi việc nghỉ ngơi giữa ngày, đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Hữu Nhăn đă bước lên đường lộ.

5007. Sau khi cầm lấy đôi dép đă được làm khéo léo, tôi đă tiến bước đường xa. Tại nơi ấy, tôi đă nh́n thấy bậc Toàn Giác, vị có ánh nh́n thu hút, đang đi bộ.

5008. Sau khi làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín, tôi đă đem đôi dép lại và đặt xuống ở cạnh bàn chân (đức Phật) rồi đă nói lời nói này:

5009. “Bạch bậc Đại Hùng, vị Chúa của nhàn cảnh, đấng Hướng Đạo, xin Ngài hăy bước lên, mong sao mục đích của con được thành tựu là con sẽ đạt được quả báu do việc này.”

5010. Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đă bước lên đôi dép, rồi đă nói lời nói này:

5011. “Người nào được tịnh tín tự tay ḿnh đă dâng cúng đến Ta đôi đép, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

5012. Nhận biết giọng nói của đức Phật, tất cả chư Thiên đă tụ hội lại, với tâm phấn chấn, với ư vui mừng, tràn đầy niềm phấn khởi, có hai tay chắp lên.

5013. “Do việc dâng cúng đôi dép, người này sẽ được sung sướng và sẽ cai quản Thiên quốc năm mươi lăm lần.

5014. Và sẽ là đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

5015. Vào vô lượng kiếp về sau này, có bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

5016. Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.”

5017. Người có phước báu (này) sẽ được sanh lên ở thế giới chư Thiên hoặc là loài người, sẽ nhận lănh chiếc xe tương tợ chiếc xe của chư Thiên.

5018. Các ṭa lâu đài, các kiệu khiêng, các con voi của tôi là được trang điểm. Các chiếc xe được thắng ngựa giống tốt luôn hiện hữu cho tôi.

5019. Ngay cả trong khi ĺa khỏi gia đ́nh, tôi đă rời khỏi bằng xe ngựa. Trong khi các sợi tóc đang được cạo, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.

5020. Điều lợi ích cho tôi đă được tôi đạt thành một cách tốt đẹp, việc đổi trao đă được gắn liền tốt đẹp. Sau khi dâng cúng một đôi dép, tôi được đạt đến vị thế Bất Động.

5021. (Kể từ khi) tôi đă dâng cúng đôi dép trước đây vô lượng kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của đôi dép.

5022. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5023. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5024. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Pānadhidāyaka[9] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Pānadhidāyaka là phần thứ chín.

 

--ooOoo—

 

480. Kư Sự về Trưởng Lăo Pulinacaṅkamiya

5025. Trong thời quá khứ, tôi đă là thợ săn thú rừng ở trong khu rừng hoang rậm. Trong lúc t́m kiếm loài linh dương, tôi đă nh́n thấy con đường kinh hành.

5026. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă ôm cát ở bên hông (bằng vạt y) và đă rải lên đường kinh hành của đấng Thiện Thệ quang vinh.

5027. (Kể từ khi) tôi đă rải cát trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cát.

5028. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5029. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5030. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Pulinacaṅkamiya[10] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Pulinacaṅkamiya là phần thứ mười.

 

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Vị có tràng hoa sậy, vị dâng ngọc ma-ni, vị có trăm ngọn đuốc, vị có cây quạt, món sữa đông, thẻ vật thực, luôn cả bông hoa nguyệt quế ở núi, trái cây vallikāra, vị dâng đôi dép, và đường kinh hành rải cát. Có chín mươi lăm câu kệ đă được tính đếm bởi các bậc trí.

Phẩm Naḷamālī là phẩm thứ bốn mươi tám.

 

--ooOoo--

 

XLIX. PHẨM PAṂSUKŪLA

 

481. Kư Sự về Trưởng Lăo Paṃsukūlasaññaka

5031. Đức Thế Tôn, bậc Tự Chủ tên Tissa là nhân vật cao cả. Sau khi cởi ra tấm y may từ vải bị quăng bỏ, đấng Chiến Thắng đă đi vào trú xá.

5032. Sau khi cầm lấy cây cung đă được uốn cong, tôi đă bước đi v́ nhu cầu thức ăn. Tôi đă nắm lấy con dao cong và đă đi vào khu rừng rậm.

5033. Khi ấy, tôi đă nh́n thấy tấm y may từ vải bị quăng bỏ được treo ở ngọn cây tại nơi ấy. Tôi đă để cây cung xuống ngay tại nơi ấy và đă chắp tay lên ở đầu.

5034. Với tâm hoan hỷ, với ư vui mừng, tôi đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và đă đảnh lễ tấm y may từ vải bị quăng bỏ với niềm phỉ lạc dạt dào.

5035. (Kể từ khi) tôi đă đảnh lễ tấm y may từ vải bị quăng bỏ trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đảnh lễ.

5036. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5037. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5038. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Paṃsukūlasaññaka[11] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Paṃsukūlasaññaka là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

482. Kư Sự về Trưởng Lăo Buddhasaññaka

5039. (Tôi) là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, về tướng mạo, về truyền thống gồm cả văn tự và nghi thức.

5040. Lúc bấy giờ, những người học tṛ đi đến với tôi tợ là làn nước chảy ở ḍng sông. Tôi dạy bọn họ về các chú thuật đêm ngày không biếng nhác.

5041. Trong khi ấy, đấng Toàn Giác Siddhattha đă hiện khởi ở thế gian. Sau khi xua đi điều tăm tối ấy, Ngài đă vận hành ánh sáng của trí tuệ.

5042. Tôi có người đệ tử nọ, vị ấy đă thuật lại cho các đệ tử của tôi. Khi ấy, sau khi nghe được sự việc này bọn họ đă nói với tôi rằng:

5043. “Đức Phật, đấng Toàn Tri, bậc Lănh Đạo Thế Gian đă hiện khởi ở trên đời. Dân chúng đi theo vị ấy, lợi lộc cho chúng ta sẽ không c̣n.”

5044. (Tôi đă nói rằng): “Chư Phật, các bậc Hữu Nhăn có danh vọng lớn lao là những vị hiếm khi hiện khởi. Hay là ta nên nh́n thấy đức Phật tối thượng, đấng Lănh Đạo Thế Gian?

5045. Tôi đă cầm lấy tấm da dê, bộ y phục vỏ cây, và túi đựng nước của tôi rồi đă rời khỏi khu ẩn cư. Tôi đă thông báo với các đệ tử rằng:

5046. “Tương tợ như bông hoa của cây odumbara và chú thỏ ở mặt trăng, tương tợ như sữa của các con quạ, chư vị Lănh Đạo Thế Gian là điều hy hữu.

5047. Đức Phật đă hiện khởi ở thế gian cũng như (được sanh vào) bản thể nhân loại là điều hy hữu. Và trong khi có được cả hai, việc nghe (Giáo Pháp) là điều vô cùng hy hữu.

5048. Đức Phật đă hiện khởi ở thế gian. Này chư vị, chúng ta sẽ nhận được (Pháp) nhăn của chúng ta. Chư vị hăy đến, tất cả chúng ta sẽ đi gặp đấng Chánh Đẳng Giác.”

5049. Khi ấy, tất cả các vị ấy đều mang túi đựng nước, mặc y phục da dê thô xấu, quấn búi tóc rối đă rời khỏi khu rừng.

5050. Những vị tầm cầu mục đích tối thượng (ấy) trong khi nh́n với khoảng cách của cán cày, không c̣n các vướng bận và sân hận, tợ như những con sư tử không bị hăi sợ.

5051. Ít bị bận rộn, không tham lam, cẩn trọng, có hành vi thanh tịnh, các vị ấy trong khi vừa lo việc kiếm sống vừa đi đến gần đức Phật tối thượng.

5052. Khi chỉ c̣n một do-tuần rưỡi, có cơn bệnh đă sanh khởi đến tôi. Sau khi đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng, tôi đă qua đời ở tại nơi ấy.

5053. Kể từ khi tôi đă đạt được sự suy tưởng trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về đức Phật.

5054. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5055. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5056. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Buddhasaññaka[12] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Buddhasaññaka là phần thứ nh́.

 

--ooOoo—

 

483. Kư Sự về Trưởng Lăo Bhisadāyaka

5057. Lúc bấy giờ, tôi đă lội xuống hồ nước đă bị nhiều con voi sử dụng, và v́ lư do đói (bụng) tôi (đă) nhổ lên củ sen ở tại nơi ấy.

5058. Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn danh hiệu Padumuttara là vị Phật mặc y màu đỏ (đang) di chuyển ở trên không trung.

5059. Khi ấy, trong khi Ngài đang phất phơ các lá y may từ vải bị quăng bỏ, tôi đă nghe được tiếng động. Trong khi chú ư ở phía bên trên, tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian.

5060. 5061. Trong khi đứng ngay tại nơi ấy, tôi đă thỉnh cầu đấng Lănh Đạo Thế Gian rằng: “Xin đức Phật, bậc Hữu Nhăn, v́ ḷng thương tưởng hăy thọ lănh mật ong cùng với các củ sen, sữa, bơ lỏng, và rễ sen của con.” Do đó, đấng Bi Mẫn, bậc Đạo Sư có danh vọng lớn lao, đă ngự xuống.

5062. Bậc Hữu Nhăn v́ ḷng thương tưởng đă thọ nhận vật thực của tôi. Sau khi thọ nhận, bậc Toàn Giác đă thực hiện lời tùy hỷ đến tôi rằng:

5063. “Này người có đại phước, mong rằng ngươi được an lạc. Mong rằng cảnh giới tái sanh được thành tựu cho ngươi. Do việc dâng cúng củ sen này, ngươi sẽ đạt được sự an lạc lớn lao.”

5064. Sau khi nói lên điều ấy, đấng Toàn Giác tên Padumuttara, bậc Toàn Giác, đấng Chiến Thắng đă cầm lấy thức ăn rồi đă ra đi bằng đường không trung.

5065. Sau đó, tôi đă cầm lấy củ sen và đă đi về lại khu ẩn cư của ḿnh. Sau khi đă treo củ sen ở trên cây, tôi đă tưởng nhớ lại việc dâng cúng của ḿnh.

5066. Khi ấy, có cơn gió lớn đă nổi lên và đă làm lay chuyển khu rừng. Bầu trời đă gào thét trong lúc sấm sét đang nổ ra.

5067. Sau đó, tia sét đánh xuống đă giáng vào đầu của tôi. Khi ấy, trong khi bị khuỵu xuống tôi đây đă ĺa đời ở tại nơi ấy.

5068. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, tôi đă đi đến cơi trời Đẩu Suất. (Khi) thân thể của tôi bị ngă xuống, tôi đă sướng vui ở thế giới chư Thiên.

5069. Có tám mươi sáu ngàn nữ nhân đă được trang điểm hầu cận sáng tối; điều này là quả báu của việc dâng cúng củ sen.

5070. Sau khi đi đến sự sanh ra ở loài người, tôi luôn luôn được sung sướng, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc dâng cúng củ sen.

5071. Là người được thương tưởng bởi vị Trời của chư Thiên như thế ấy, tôi đă được đoạn tận tất cả các lậu hoặc, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

5072. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thực trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng củ sen.

5073. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5074. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5075. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Bhisadāyaka[13] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Bhisadāyaka là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

484. Kư Sự về Trưởng Lăo Ñāṇatthavika

5076. Khu ẩn cư của tôi được xây dựng khéo léo ở phía nam của núi Hi-mă-lạp. Vào lúc bấy giờ, trong khi tầm cầu mục đích tối thượng tôi cư ngụ ở trong rừng.

5077. Trong lúc t́m kiếm vị thầy, tôi sống mỗi một ḿnh với rễ và trái cây, hài ḷng với việc có hay không có.

5078. Trong khi ấy, đấng Toàn Giác tên Sumedha đă hiện khởi ở thế gian. Trong lúc tiếp độ đám đông dân chúng, Ngài công bố về bốn Sự Thật.

5079. Tôi không được nghe về đấng Toàn Giác, cũng không có ai nói với tôi. Khi tám năm đang trôi qua, tôi đă nghe về đấng Lănh Đạo Thế Gian.

5080. Sau khi dập tắt củi lửa và quét dọn khu ẩn cư, tôi đă cầm lấy gói vật dụng và đă rời khỏi khu rừng.

5081. Trong khi cư ngụ chỉ một đêm ở các ngôi làng và các khu phố chợ, khi ấy theo tuần tự tôi đă đi đến gần con sông Candavatī.

5082. Vào thời điểm ấy, trong lúc tiếp độ nhiều chúng sanh, đức Thế Tôn đấng Lănh Đạo Thế Gian Sumedha thuyết giảng về vị thế Bất Tử.

5083. Tôi đă vượt qua đám đông người và đă đảnh lễ đấng Chiến Thắng sánh tợ đại dương. Tôi đă khoác tấm da dê một bên vai rồi đă ngợi ca đấng Lănh Đạo Thế Gian rằng:

5084. “Ngài là đấng Tối Thượng của loài người, là bậc thầy, là biểu hiệu, là ngọn cờ, là mục đích tối cao, là nơi nương tựa, là sự nâng đỡ, là ngọn đèn của chúng sanh.

(Tụng phẩm thứ hai mươi mốt).

5085. Bạch bậc Hiền Trí, Ngài là bậc khôn khéo về kiến thức, là đấng Anh Hùng đă giúp cho chúng sanh vượt qua, ở thế gian không có người nào khác là đấng Tiếp Độ, không ai là trội hơn Ngài.

5086. Biển cả vĩ đại hiển nhiên là có thể đo lường bằng đầu ngọn cỏ kusa, tuy nhiên bạch đấng Toàn Tri, trí tuệ của Ngài là không thể đo lường được.

5087. Bạch đấng Hữu Nhăn, sau khi đặt trái đất lên đĩa cân là có thể xác định, tuy nhiên sự đo lường trí tuệ của Ngài là không thể có.

5088. Không gian có thể ước lượng bằng sợi dây thừng hoặc bằng ngón tay, tuy nhiên bạch đấng Toàn Tri, giới hạnh của Ngài là không thể đo lường.

5089. Bạch đấng Hữu Nhăn, nước ở đại dương, bầu trời, và trái đất, những vật này là có thể đo lường, c̣n Ngài là không thể đo lường.”

5090. Sau khi đă tán dương đấng Toàn Tri có danh vọng lớn lao bằng sáu câu kệ, khi ấy tôi đă chắp tay lên rồi đứng im lặng.

5091. Người ta nói về người có tuệ bao la, sáng suốt là “Sumedha.” Ngài đă ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đă nói lên những lời kệ này:

5092. “Người nào, được tịnh tín, đă tán dương trí tuệ của Ta bằng tâm ư của ḿnh, ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

5093. Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong bảy mươi bảy kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc một ngàn lần.

5094. Và (người này) sẽ là đấng Chuyển Luân Vương hàng trăm lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

5095. Dầu trở thành vị Thiên nhân hay là nhân loại, (người này) được tụ hội với nghiệp phước thiện, sẽ có tuệ sắc bén, tâm tư không bị kém sút.

5096. Vào ba mươi ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

5097. Sau khi ĺa khỏi gia đ́nh, (người này) sẽ xuất gia, không c̣n sở hữu ǵ, và sẽ chạm đến phẩm vị A-la-hán vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh.

5098. Từ khi tôi nhớ lại bản thân, từ khi tôi đạt được Giáo Pháp, trong khoảng thời gian này tôi không biết đến tâm tư không được thích ư.

5099. Tôi đă luân hồi ở tất cả các cơi và đă thọ hưởng đầy đủ, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ.

5100. Ba ngọn lửa (tham sân si) của tôi đă được dập tắt, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đă được đoạn tận, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

5101. Kể từ khi tôi đă ngợi ca trí tuệ trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ.

5102. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5103. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5104. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ñāṇatthavika[14] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ñāṇatthavika là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

485. Kư Sự về Trưởng Lăo Candanamāliya

5105. Sau khi từ bỏ năm phần dục lạc, các sắc yêu quư, các vật thích ư, tôi đă từ bỏ tám mươi koṭi và đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh.

5106. Sau khi xuất gia, tôi đă tránh xa nghiệp ác do thân. Sau khi từ bỏ ác hạnh do khẩu, tôi cư ngụ ở bờ sông.

5107. Trong khi tôi đang sống mỗi một ḿnh, đức Phật tối thượng đă đi đến gặp tôi. Tôi không biết về “Đức Phật.” Tôi đă thực hiện việc chào hỏi.

5108. Sau khi thực hiện việc chào hỏi, tôi đă hỏi tên và ḍng họ: “Phải chăng ngài là Thiên thần, là vị Càn-thát-bà, hay là Chúa của chư Thiên Sakka?

5109. Ngài là ai? Là con trai của ai? Phải chăng vị Đại Phạm Thiên đă đi đến nơi đây? Ngài tỏa sáng tất cả các phương giống như là mặt trời đang mọc.

5110. Thưa ngài, một ngàn cây căm bánh xe được thấy ở bàn chân. Ngài là ai? Là con trai của ai? Làm thế nào chúng tôi nhn biết ngài? Xin ngài cho biết tên và ḍng h, xin ngài hăy xua đi nỗi nghi hoc ca tôi.”

5111. “Ta không phải là Thiên thần, không phải là Càn-thát-bà, cũng không phải là Chúa của chư Thiên Sakka. Và Ta cũng không có bản thể của Phạm Thiên, đối với các vị này Ta là bậc Tối Thượng.

5112. Ta đă vượt lên phạm vi của các vị ấy, ta đă cắt ĺa sự trói buộc của các dục. Sau khi thiêu đốt tất cả các phiền năo, ta đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.”

5113. Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, tôi đă nói lời nói này: “Bạch đấng Đại Hiền Trí, nếu Ngài là đức Phật, đấng Toàn Tri, bậc Đoạn Tận khổ đau, xin thỉnh Ngài ngồi xuống, tôi sẽ cúng dường Ngài.

5114. Tôi đă trải ra tấm da dê và tôi đă dâng cúng đến đấng Đạo Sư. Đức Thế Tôn đă ngồi xuống ở tại nơi ấy tợ như con sư tử (ngồi xuống) ở hang núi.

5115. Tôi đă cấp tốc leo lên ngọn núi và đă hái trái xoài, bông hoa sālā xinh xắn, và gỗ trầm hương vô cùng giá trị.

5116. Tôi đă mau mắn nâng lên tất cả các thứ ấy và đă đi đến gần đấng Lănh Đạo Thế Gian. Tôi đă dâng cúng trái cây và đă cúng dường bông hoa sālā đến đức Phật.

5117. Với tâm hoan hỷ, với ư vui mừng, tôi đă thoa trầm hương và đă đảnh lễ bậc Đạo Sư với niềm phỉ lạc dạt dào.

5118. Khi ấy, đấng Lănh Đạo Thế Gian Sumedha đă ngồi xuống ở tấm da dê. Trong khi làm cho tôi được hoan hỷ, Ngài đă tán dương việc làm của tôi rằng:

5119. “Do cả hai việc dâng cúng trái cây cùng với hương thơm tràng hoa này, (người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong hai trăm năm mươi kiếp, và sẽ trở thành người vận dụng quyền lực với tâm tư không bị sút kém.

5120. (Người này) sẽ đi đến bản thể nhân loại trong hai ngàn sáu trăm kiếp và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương có đại thần lực (chinh phục) bốn phương.

5121. Có thành phố tên là Vebhāra toàn bằng vàng được tô điểm với châu báu các loại sẽ được hóa hiện ra bởi vị thần Vissakamma.

5122. Theo phương cách này đây, người ấy sẽ luân hồi các cơi. Dầu ở bản thể Thiên nhân hay nhân loại, (người này) sẽ được tôn vinh ở khắp mọi nơi. Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, (người này) sẽ là thân quyến của đấng Phạm Thiên.[15]

5123. Sau khi ĺa khỏi gia đ́nh, (người này) sẽ trở thành người không có gia đ́nh, sẽ thông suốt về các thắng trí, và sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.”

5124. Nói xong điều này, trong lúc tôi đang trầm tư, bậc Toàn Giác đấng Lănh Đạo Thế Gian Sumedha đă ra đi bằng đường không trung.

5125. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

5126. Sau khi mệnh chung từ cơi trời Đẩu Suất, tôi đă tái sanh vào bụng mẹ. Khi tôi sống ở trong bào thai, tôi không có thiếu hụt về sự thọ hưởng.

5127. Khi tôi đă ở trong bụng mẹ, do ước muốn của tôi, thức ăn nước uống và vật thực cho người mẹ được sanh lên theo như ước muốn.

5128. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh. Khi tóc (cạo) được rơi xuống, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.

5129. Trong lúc suy tầm về nghiệp quá khứ, tôi đă nh́n thấy không phải là kém cỏi, tôi đă nhớ lại việc làm của tôi trong ba mươi ngàn kiếp.

5130. “Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Sau khi đi đến với Giáo Pháp của Ngài, con đă đạt được vị thế Bất Động.”

5131. Kể từ khi tôi đă cúng dường đức Phật trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5132. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5133. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5134. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Candanamāliya[16] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Candanamāliya là phần thứ năm.

 

--ooOoo—

 

486. Kư Sự về Trưởng Lăo Dhātupūjaka

5135. Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Lănh Đạo Thế Gian Siddhattha Niết Bàn, tôi đă đưa các thân quyến của tôi đến và tôi đă thực hiện việc cúng dường xá-lợi.

5136. (Kể từ khi) tôi đă cúng dường xá-lợi kể trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường xá-lợi.

5137. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5138. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5139. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Dhātupūjaka[17] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Dhātupūjaka là phần thứ sáu.

 

--ooOoo--

 

487. Kư Sự về Trưởng Lăo Pulinuppādaka

5140. Ở ngọn núi Hi-mă-lạp, (tôi là) vị đạo sĩ khổ hạnh tên Devaḷa. Con đường kinh hành của tôi ở tại nơi ấy đă được tạo nên bởi các vị phi nhân.

5141. Lúc bấy giờ, (tôi) là vị quấn búi tóc rối mang túi đựng nước, trong khi tầm cầu mục đích tối thượng, tôi đă rời khỏi khu rừng bao la.

5142. Khi ấy, tám mươi bốn ngàn người đệ tử đă phục vụ tôi. Được sanh ra theo nghiệp của ḿnh, các vị sống ở trong khu rừng bao la.

5143. Sau khi rời khỏi khu ẩn cư, tôi đă tạo nên ngôi bảo tháp bằng cát. Tôi đă gom góp các bông hoa các loại và đă cúng dường ngôi bảo tháp ấy.

5144. Ở tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tính, tôi đi vào khu ẩn cư. Tất cả các người đệ tử đă tụ hội lại và đă hỏi tôi về sự việc này:

5145. “Chúng tôi cũng muốn biết ngài sẽ lễ bái vị Thiên thần nào ở ngôi bảo tháp đă được xây dựng bằng cát. Được hỏi, xin ngài hăy giải thích cho chúng tôi.”

5146. “Các đấng Hữu Nhăn có danh vọng lớn lao đă được xác định rơ ở trong câu chú thuật của chúng ta. Đương nhiên, ta lễ bái các vị Phật tối thượng có danh vọng lớn lao ấy.”

5147. “Các bậc Đại Hùng, các đấng Toàn Tri, các vị Lănh Đạo Thế Gian ấy là như thế nào? Màu da thế nào? Giới hạnh thế nào? Các vị có danh vọng lớn lao ấy là như thế nào?

5148. “Chư Phật có ba mươi hai tướng mạo, và c̣n có bốn mươi cái răng. Với lông mi dài như của ḅ cái tơ, các con mắt của các vị ấy trông giống như trái cam thảo rừng.

5149. Và trong khi bước đi, chư Phật ấy chỉ nh́n với khoảng cách của cán cày. Đầu gối của các vị ấy không phát tiếng, âm thanh của các khớp không nghe được.

5150. Và trong khi bước đi, các đấng Thiện Thệ bước đi đều nhấc lên bàn chân phải trước tiên; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.

5151. Và chư Phật ấy không bị hăi sợ tương tợ như con sư tử vua của loài thú. Các vị chẳng bao giờ ca tụng bản thân và không khinh miệt các hạng chúng sanh.

5152. Được thoát khỏi sự kiêu ngạo và chê bai, là b́nh đẳng đối với tất cả sanh linh, chư Phật là những vị không ca tụng chính ḿnh; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.

5153. Và trong khi được sanh ra, chư Phật Toàn Giác ấy thị hiện ánh sáng và làm toàn thể trái đất này rung chuyển theo sáu cách.

5154. Và chư vị này nh́n thấy địa ngục, khi ấy địa ngục được tiêu diệt, có đám mây lớn đổ mưa; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.

5155. Các bậc Long Tượng ấy là như thế, và có danh vọng lớn lao không thể sánh bằng, không bị vượt trội về thể h́nh, các đấng Như Lai là vô lượng.”

5156. Tất cả các người đệ tử đă tùy hỷ những lời nói của tôi với sự kính trọng. Và họ đă thực hành theo đúng như thế, tùy theo sức mạnh, tùy theo năng lực.

5157. Trong khi tin tưởng lời nói của tôi, những đệ tử có sự mong mỏi về nghiệp của ḿnh tôn vinh (ngôi bảo tháp) cát với tâm ư hướng về bản thể đức Phật.

5158. Vào lúc bấy giờ, vị Thiên tử có danh vọng lớn lao sau khi mệnh chung ở cơi trời Đẩu Suất đă sanh vào bụng mẹ, mười ngàn thế giới đă rung động.

5159. Tôi đă đứng ở đường kinh hành không xa khu ẩn cư. Tất cả các đệ tử đă tụ tập lại và đă đi đến ở bên tôi (hỏi rằng):

5160. “Trái đất gầm thét như loài ḅ mộng, rống lên như loài sư tử, khuấy động như loài cá sấu, sẽ có hậu quả ǵ đây?

5161. “Đấng Toàn Giác mà ta tán dương lúc ở gần ngôi bảo tháp bằng cát, giờ đây đức Thế Tôn bậc Đạo Sư ấy đă nhập vào bụng mẹ.”

5162. Sau khi thực hiện việc giảng pháp cho họ và tán dương bậc Đại Hiền Trí, tôi đă giải tán các đệ tử của ḿnh rồi đă xếp vào thế kiết già.

5163. Và sức lực của tôi quả nhiên đă cạn kiệt, tôi đă bị bệnh một cách trầm trọng. Tôi đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và đă mệnh chung ở tại nơi ấy.

5164. Khi ấy, tất cả các người đệ tử đă tụ hội lại và đă thực hiện giàn hỏa thiêu. Và sau khi cầm lấy thi thể của tôi họ đă đặt lên giàn hỏa thiêu.

5165. Các vị ấy đă tụ hội lại, vây quanh giàn hỏa thiêu, và đă chắp tay lên ở đầu. Bị ưu phiền bởi mũi tên sầu muộn, các vị ấy đă khóc rống lên.

5166. Trong khi các vị ấy đang than văn, tôi đă đi đến gần giàn hỏa thiêu (nói rằng): “Này các bậc trí tuệ, ta là thầy của các ngươi, các ngươi chớ có sầu muộn.

5167. Các ngươi hăy nên nỗ lực cho lợi ích của ḿnh đêm ngày không biếng nhác. Các ngươi chớ trở nên xao lăng, thời khắc của các ngươi đă được xếp đặt.”

5168. Sau khi chỉ dạy các đệ tử của ḿnh, tôi đă trở lại thế giới chư Thiên. Và tôi đă sướng vui ở thế giới chư Thiên mười tám kiếp.

5169. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần, và đă cai quản Thiên quốc hàng trăm lần.

5170. Trong những kiếp c̣n lại, tôi đă luân hồi xen lẫn (ở cơi trời và cơi người), tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường cát.

5171. Giống như vào tháng Komudī, có nhiều giống cây trổ hoa. Tương tợ y như thế, nhờ bậc Đại Ẩn Sĩ tôi cũng được trổ hoa vào thời điểm.

5172. Chính sự tinh tấn là có khả năng tiến hành các phận sự, là điều kiện đưa đến sự an ổn khỏi các điều ràng buộc. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5173. (Kể từ khi) tôi đă tán dương đức Phật trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tán dương.

5174. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5175. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5176. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Pulinuppādaka[18] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Pulinuppādaka là phần thứ bảy.

 

--ooOoo--

 

488. Kư Sự về Trưởng Lăo Taraṇiya

5177. Đức Thế Tôn Atthadassī, bậcTự Chủ, đấng Lănh Đạo Thế Gian, đức Như Lai đă đi đến gần bờ của con sông Vinakā.

5178. Là loài rùa di chuyển ở trong nước, có ư định đưa đức Phật vượt qua, tôi đă đi ra khỏi nước và đă đi đến gần đấng Lănh Đạo Thế Gian.

5179. “Xin đức Phật Atthadassī bậc Đại Hiền Trí hăy bước lên ngựi con, con sẽ đưa Ngài vượt qua. Ngài là bậc Đoạn Tận khổ đau.”

5180. Sau khi biết được ư định của tôi, đấng Lănh Đạo Thế Gian Atthadassī có danh vọng lớn lao đă bước lên và đứng ở trên lưng của tôi.

5181. Từ khi tôi nhớ lại bản thân, từ khi tôi đạt được hiểu biết, tôi chưa từng có sự sung sướng dường thế ấy giống như khi được ḷng bàn chân (Ngài) chạm đến.

5182. Sau khi vượt qua, đấng Toàn Giác Atthadassī có danh vọng lớn lao đă đứng ở bờ sông và đă nói lên những lời kệ này:

5183. “Ngay khi tâm vừa nghĩ rằng: ‘Ta (sẽ) vượt qua ḍng nước chảy của con sông,’ và con rùa chúa có trí tuệ này đă đưa Ta vượt qua.

5184. Do sự vượt qua này của đức Phật và do sự hành tŕ tâm từ ái, (đối tượng này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một ngàn tám trăm kiếp.

5185. Sau khi từ thế giới chư Thiên đi đến nơi đây, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, (đối tượng này) ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy, sẽ vượt qua ḍng chảy nghi hoặc.”

5186. Cũng giống như chỉ một ít hạt giống được gieo xuống cánh đồng tốt đẹp, khi có mưa rào thích hợp đổ xuống, kết quả làm hài ḷng người nông phu.

5187. Tương tợ y như thế, thửa ruộng đức Phật này đă được thuyết giảng bởi đấng Chánh Đẳng Giác, khi có mưa rào thích hợp đổ xuống kết quả sẽ làm tôi hài ḷng.

5188. Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, tôi được an tịnh, không c̣n mầm mống tái sanh. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5189. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc vượt qua.

5190. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5191. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5192. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Taraṇiya[19] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Taraṇiya là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

 

489. Kư Sự về Trưởng Lăo Dhammaruci

5193. Vào lúc đức Phật, đấng Chiến Thắng Dīpaṅkara đă chú nguyện cho (vị ẩn sĩ) Sumedha rằng: “Vô lượng kiếp về sau, vị này sẽ trở thành đức Phật.

5194. Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. V này s là Gotama.

5195. Sau khi đă ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được, vị này sẽ được giác ngộ ở gốc cội cây Assattha, trở thành bậc Toàn Giác có danh vọng lớn lao.

5196. Upatissa và Kolita sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

5197. Khemā và Uppalavaṇṇā s là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Citta và luôn c Āḷavaka s là hai nam cư sĩ hàng đầu.

5198. Khujjuttarā và Nandamātā sẽ là hai nữ cư sĩ hàng đầu. Cội Bồ Đề của đấng Chiến Thắng này được gọi tên là ‘Assattha’.[20]

5199. Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư Thiên và nhân loại, được hoan hỷ, chắp tay lên lễ bái.

5200. Khi ấy, tôi đă là người trai trẻ khéo được học tập tên Megha. Tôi đă nghe được lời chú nguyện thù thắng của bậc Đại Hiền Trí đến vị Sumedha.

5201. Có được niềm tin với vị Sumedha đầy ḷng bi mẫn, trong khi vị anh hùng ấy đang hành hạnh xuất gia, tôi đă cùng xuất gia (với vị ấy).

5202. Tôi đă thu thúc trong giới bổn Pātimokkha và ở năm giác quan, có sự nuôi mạng trong sạch, có niệm, là vị anh hùng, là người thực hành lời dạy của đấng Chiến Thắng.

5203. Trong khi đang an trú như thế, do một người bạn xấu xa nào đó tôi bị xúi giục vào hành vi sai trái và đă đánh mất đạo lộ tốt đẹp.

5204. Là người bị tác động bởi sự suy tầm, tôi đă xa ĺa lời giáo huấn. Sau đó v́ người bạn tồi ấy, tôi đă phạm vào việc giết chết người mẹ.

5205. Tôi đă thực hiện nghiệp vô gián, với tâm ư xấu xa tôi đă giết chết (người mẹ). Từ nơi ấy chết đi, tôi đă đi đến đại địa ngục Avīci vô cùng khiếp đảm.

5206. Trong khi đang ở chốn đọa đày, bị khổ sở, tôi đă chịu đựng dài lâu. Tôi đă không nh́n thấy vị anh hùng Sumedha bậc cao quư của loài người nữa.

5207. Trong kiếp này, tôi đă là loài cá khổng lồ ở biển cả. Sau khi nh́n thấy con thuyền ở biển khơi, tôi đă đến gần mục tiêu của việc kiếm mồi.

5208. Sau khi nh́n thấy tôi, các người thương buôn kinh sợ đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Tôi đă nghe tiếng kêu lớn “Gotama” đă được thốt lên bởi những người ấy.

5209. Sau khi nhớ lại sự hiểu biết trước đây, từ nơi ấy tôi đă mệnh chung. Tôi đă được sanh ra trong gia đ́nh sung túc ḍng dơi Bà-la-môn ở thành Sāvatthī.

5210. Có tên là Dhammaruci, tôi đă là người ghê tởm tất cả các điều ác. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đă nh́n thấy bậc Quang Đăng của thế gian.

5211. Tôi đă đi đến tu viện Jetavana to lớn và đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh. Tôi đă đi đến (nương nhờ) đức Phật ba lần vào ban đêm và ban ngày.

5212. Khi ấy, bậc Hiền Trí đă nh́n thấy và đă nói với tôi rằng: “Này Dhammaruci, lâu thật.” Do đó, tôi đă nói với đức Phật về sự việc quá khứ đă xảy ra:

5213. “Thật là lâu lắm, hôm nay con quả nhiên được nh́n thấy h́nh dáng xinh đẹp của Ngài, thân thể không ǵ sánh bằng, có một trăm phước tướng, là vật làm duyên đưa đến Niết Bàn trước đây.

5214. Bạch đấng Đại Hiền Trí, bóng tối đă được Ngài tiêu diệt lâu lắm rồi. Ḍng sông (ái dục) đă được làm cho khô cạn nhờ vào sự hộ tŕ tốt đẹp. Sự ô nhiễm đă được làm trong sạch lâu lắm rồi. Con mắt đă có được cấu tạo bằng trí tuệ.

5215. Bạch đức Gotama, con được gần gũi với Ngài trong thời gian dài, con đă không bị tiêu hoại lần nữa trong khoảng thời gian dài. Hôm nay con được hội tụ với Ngài lần nữa bởi v́ những việc đă làm không bị hoại diệt.”

5216. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5217. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5218. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Dhammaruci đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Dhammaruci là phần thứ chín.

 

--ooOo--

 

490. Kư Sự về Trưởng Lăo Sālamaṇḍapiya

5219. Vào lúc ấy, tôi đă đi sâu vào rừng cây sālā. Khu ẩn cư của tôi được xây dựng khéo léo, được phủ lên bởi những bông hoa sālā, tôi cư ngụ ở khu rừng.

5220. Và đức Thế Tôn Piyadassī, đấng Tự Chủ, là nhân vật cao cả. Có ước muốn độc cư, bậc Toàn Giác đă đi đến khu rừng cây sālā.

5221. Khi ấy, tôi đă rời khỏi khu ẩn cư và đă đi đến khu rừng. Trong khi t́m kiếm rễ và trái cây tôi đi lang thang ở trong rừng bao la.

5222. Tại nơi ấy, tôi đă nh́n thấy đấng Toàn Giác Piyadassī, bậc có danh vọng lớn lao, ngồi vững chải, thể nhập (định), đang chói sáng ở trong khu rừng lớn.

5223. Tôi đă dựng bốn cây gậy và đă tạo nên mái che được làm khéo léo ở phía bên trên của đức Phật, rồi đă phủ lên bằng các bông hoa sālā.

5224. Tôi đă cầm giữ mái che được phủ lên bằng bông hoa sālā trong bảy ngày. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đă đảnh lễ đức Phật tối thượng.

5225. Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn đă xuất khỏi định. Trong khi nh́n với khoảng cách của cán cày, bậc Tối Thượng Nhân đă ngồi xuống.

5226. Vị Thinh Văn của bậc Đạo Sư Piyadassī tên là Varuṇa cùng với một trăm ngàn vị có năng lực đă đi đến gặp đấng Hướng Đạo.

5227. Và đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Chiến Thắng sau khi ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu đă để lộ nụ cười.

5228. Anuruddha, vị thị giả của bậc Đạo Sư Piyadassī, đă khoác y một bên vai rồi đă hỏi bậc Đại Hiền Trí rằng:

5229. “Bạch đức Thế Tôn, bậc Đạo Sư để lộ nụ cười trong khi biết được lư do, vậy nguyên nhân của việc thể hiện nụ cười của bậc Đạo Sư là ǵ?

5230. Ta đă nhớ lại việc làm của người trai trẻ đă cầm giữ mái che bằng bông hoa cho ta trong bảy ngày, nên ta đă để lộ nụ cười.

5231. Ta không nh́n thấy khoảng không gian nào dung chứa được phước báu, và không khoảng không gian nào được như ư dầu ở thế giới chư Thiên hay nhân loại.

5232. Đối với người có được nghiệp phước thiện đang sinh sống ở thế giới chư Thiên, cho đến hội chúng của người ấy sẽ được phủ lên bởi bông hoa sālā.

5233. Tại đó, trong khi nghiệp phước thiện đă được hội tụ, người ấy sẽ luôn luôn vui sướng với các điệu vũ, các lời ca, và các khúc tấu nhạc của Thiên đ́nh.

5234. Cho đến hội chúng của người ấy sẽ có được hương thơm hạng nhất. Và sẽ có cơn mưa bông hoa sālā rơi xuống liền khi ấy.

5235. Mệnh chung từ nơi ấy, người nam này sẽ đi đến cơi nhân loại. Thậm chí ở nơi đây cũng có mái che bằng bông hoa sālā được duy tŕ trong mọi thời điểm.

5236. Ở nơi đây, điệu vũ và lời ca, được kết hợp với (âm thanh của) chũm chọe, sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5237. Và khi mọc trời đang mọc lên, sẽ có cơn mưa bông hoa sālā rơi xuống. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, (bông hoa sālā) đổ mưa vào mọi thời điểm.

5238. Vào một ngàn tám trăm kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

5239. Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.”

5240. Sẽ có mái che bông hoa sālā cho người này khi đang chứng ngộ Giáo Pháp. Trong khi người này đang được thiêu đốt ở giàn hỏa thiêu, sẽ có mái che ở tại nơi ấy.”

5241. Sau khi tán dương quả thành tựu, trong khi làm hài ḷng hội chúng với cơn mưa Giáo Pháp, bậc Đại Hiền Trí Piyadassī đă thuyết giảng Giáo Pháp.

5242. Tôi đă cai quản Thiên quốc của chư Thiên trong ba mươi kiếp. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương sáu mươi bảy lần.

5243. Sau khi từ thế giới chư Thiên đi đến nơi đây, tôi nhận được sự an lạc lớn lao. Thậm chí ở nơi đây cũng sẽ có mái che bông hoa sālā trong mọi thời điểm.

5244. Sau khi đă làm hài ḷng bậc Đại Hiền Trí Gotama đấng cao quư ḍng Sakya, sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đă đạt được vị thế Bất Động.

5245. Kể từ khi tôi đă cúng dường đức Phật trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5246. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5247. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5248. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sālamaṇḍapiya đă nói lên những lời kệ này như thế.

Kư sự về trưởng lăo Sālamaṇḍapiya là phần thứ mười.

 

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Tấm y may từ vải bị quăng bỏ, vị tưởng nhớ đến đức Phật, vị dâng cúng củ sen, vị tán dương trí tuệ, vị có trầm hương, vị cúng dường xá-lợi, vị tái sanh do cát, vị vượt qua, vị Dhammaruci, vị có mái che bông hoa sālā là tương tợ. Có hai trăm câu kệ và thêm vào mười chín câu nữa.

Phẩm Saṃsukūla là phẩm thứ năm mươi mốt.

 

--ooOoo--

 

L. PHẨM TIKIṄKAṆIPUPPHIYA


491. Kư Sự về Trưởng Lăo Tikiṅkaṇipupphiya

5249. Tôi đă nh́n thấy đức Phật Vipassī, vị không c̣n ô nhiễm, đấng Lănh Đạo Thế Gian ngồi ở trong vùng đồi núi, chói sáng tợ như là cây kaṇikāra.

5250. Tôi đă lấy ra ba bông hoa kiṅkaṇi và đă dâng lên (Ngài). Sau khi đă cúng dường đấng Toàn Giác, tôi đi (nhiễu quanh Ngài) mặt hướng phía phải.

5251. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

5252. (Kể từ khi) tôi đă cúng dường đức Phật trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5253. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5254. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5255. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Tikiṅkaṇipupphiya[21] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Tikiṅkaṇipupphiya là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

492. Kư Sự về Trưởng Lăo Paṃsukūlapūjaka

5256. Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có ngọn núi tên là Udaṅgaṇa. Tại nơi ấy, tôi đă nh́n thấy tấm y may từ vải bị quăng bỏ được treo ở ngọn cây.

5257. Khi ấy, sau khi hái xuống ba bông hoa kiṅkaṇi, tôi đă trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đă cúng dường (ba bông hoa) đến tấm y may từ vải bị quăng bỏ.

5258. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

5259. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh sau khi đă cúng dường đến biểu tượng của bậc A-la-hán (tấm y).

5260. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5261. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5262. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Paṃsukūlapūjaka[22] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Paṃsukūlapūjaka là phần thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

493. Kư Sự về Trưởng Lăo Koraṇḍapupphiya

5263. Trước đây, tôi đă là người thợ rừng cùng với cha và ông. Tôi sinh sống nhờ vào việc giết thú rừng. Điều tốt lành của tôi là không có.

5264. Do ḷng thương tưởng, đấng Lănh Đạo Thế Gian Tissa, bậc Hữu Nhăn, đă lưu lại ba (dấu) bàn chân ở xung quanh chỗ cư ngụ của tôi.

5265. Và sau khi nh́n thấy ba (dấu) bàn chân đă đi qua của bậc Đạo Sư tên Tissa, tôi đă trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đă làm cho tâm được tịnh tín ở (dấu) bàn chân.

5266. Sau khi nh́n thấy cây koraṇḍa mọc ở trên đất đă được trổ hoa, tôi đă hái một nhúm (bông hoa) và đă cúng dường ở (dấu) bàn chân tối thượng.

5267. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

5268. Nơi chốn nào tôi sanh lên, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi có làn da (màu bông hoa) koraṇḍa, tôi có được vẻ ngời sáng.

5269. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường (dấu) bàn chân (đức Phật).

5270. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5271. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5272. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Koraṇḍapupphiya[23] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Koraṇḍapupphiya là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

494. Kư Sự về Trưởng Lăo Kiṃsukapupphiya

5273. Sau khi nh́n thấy cây kiṃsuka được trổ hoa, tôi đă chắp tay lên. Sau khi tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng, tôi đă cúng dường ở không trung.

5274. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

5275. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5276. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5277. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5278. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Kiṃsukapupphiya[24] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Kiṃsukapupphiya là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

495. Kư Sự về Trưởng Lăo Upaḍḍhadussadāyaka

5279. Lúc bấy giờ, vị Thinh Văn tên Sujāta của đức Thế Tôn Padumuttara, trong lúc t́m kiếm vải bị quăng bỏ, đă đi quanh quẩn ở đống rác.

5280. Là người làm thuê cho những người khác ở trong thành phố Haṃsavatī, tôi đă dâng cúng một nửa số vải và đă đê đầu đảnh lễ (vị ấy).

5281. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

5282. Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi ba lần. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi bảy lần.

5283. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Do việc dâng cúng một nửa số vải, tôi được vui vẻ, sự sợ hăi không có.

5284. Và hôm nay, trong khi mong muốn tôi có thể che phủ (hết thảy) núi non và rừng rậm bằng các tấm vải sợi lanh; điều này là quả báu của một nửa số vải.

5285. Kể từ khi tôi đă dâng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một nửa số vải.

5286. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5287. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5288. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Upaḍḍhadussadāyaka[25] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Upaḍḍhadussadāyaka là phần thứ năm.

 

--ooOoo--

 

496. Kư Sự về Trưởng Lăo Ghatamaṇḍadāyaka

5289. Đă suy nghĩ tận tường, đức Thế Tôn, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đă đi vào khu rừng lớn và đă bị hành hạ bởi bệnh gió. Sau khi nh́n thấy, tôi đă làm cho tâm được tịnh tín và đă đem lại bơ lỏng nguyên chất.

5290. Do bản thân đă được thực hành, do bản thân đă được tích lũy (thiện nghiệp), ḍng sông Bhāgīrathī này và bốn đại dương tự cung cấp bơ lỏng cho tôi.

5291. Và quả đất kinh khủng, không thể đo lường, không thể ước lượng này, hiểu biết được ước muốn của tôi, trở thành tinh thể mật ngọt (cho tôi).

5292. Từ bốn châu lục, các giống cây này là loài thảo mộc mọc ở trên đất, hiểu biết được ước muốn của tôi, chúng trở thành những cây như ư (cho tôi).

5293. Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc năm mươi lần. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm mươi mốt lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

5294. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây chín mươi sáu kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của phần bơ lỏng nguyên chất.

5295. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5296. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5297. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ghatamaṇḍadāyaka[26] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ghatamaṇḍadāyaka là phần thứ sáu.

 

--ooOoo--

 

497. Kư Sự về Trưởng Lăo Udakadāyaka

5298. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă cúng dường b́nh nước uống đến hội chúng tỳ khưu vô thượng của đức Phật Padumuttara.

5299. Dầu ở trên đỉnh núi hoặc ở ngọn cây, ở trên không trung hoặc ở trên đất liền, khi nào tôi muốn nước uống, (nước uống) hiện ra cho tôi ngay tức khắc.

5300. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng nước.

5301. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5302. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5303. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Udakadāyaka[27] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Udakadāyaka là phần thứ bảy.

 

--ooOoo--

 

498. Kư Sự về Trưởng Lăo Pulinathūpiya

5304. Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có ngọn núi tên là Yamaka, có khu ẩn cư của tôi đă khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đă khéo được tạo lập.

5305. (Tôi) là vị đạo sĩ tóc bện tên Nārada có sự khổ hạnh cao tột. Mười bốn ngàn người đệ tử sống quanh tôi.

5206. Lúc bấy giờ, trong khi đang thiền tịnh tôi đă suy nghĩ như vầy: “Tất cả mọi người tôn vinh ta. Ta không tôn vinh bất cứ ai.

5307. Ta không có vị giáo giới, không biết đến bất cứ vị diễn giả nào. Ta đi đến cư ngụ ở trong rừng, không có thầy giáo thọ và thầy tế độ.

5308. Đối với ta, không có thầy giáo thọ để ta phục vụ với tâm cung kính trong lúc kề cận th́ sự cư ngụ ở rừng là không có ư nghĩa.

5309. Như thế, ta sẽ tự t́m kiếm vị thầy đáng kính, đáng thọ nhận sự cúng dường của ta. Ta sẽ sống có sự hỗ trợ, không người nào sẽ trách móc.”

5310. Không xa khu ẩn cư của tôi có con sông nhỏ với bờ nước lúp xúp, có băi nước cạn khéo được thiết lập, được trải lớp cát vô cùng trong sạch, làm thích ư.

5311. Khi ấy, tôi đă đi đến con sông tên là Amarikā. Tôi đă gom cát lại và đă thực hiện ngôi bảo tháp bằng cát.

5312. “Những vị nào đă là các bậc Toàn Giác, là những vị Hiền Trí có sự đoạn tận việc tái sanh, ngôi bảo tháp như thế này là dành cho các vị ấy;” tôi đă làm điều ấy trở thành ấn chứng.

5313. Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp cát, tôi đă biến hóa thành vàng. Tôi đă cúng dường ba ngàn bông hoa kiṅka bằng vàng.

5314. Tràn đầy niềm phấn khởi, tôi chắp tay lên lễ bái sáng chiều. Tôi đă đảnh lễ ngôi bảo tháp cát như là đảnh lễ bậc Toàn Giác ở trước mặt.

5315. Mỗi khi các điều ô nhiễm là các suy tầm về đời sống tại gia sanh khởi, tôi tưởng nhớ đến đấng Thiện Thệ đến ngôi bảo tháp, lập tức tôi quán xét lại rằng:

5316. “Thưa ông, trong khi sống nương tựa vào đấng Hướng Đạo, bậc Xa Phu, sao ông có thể sống chung với các điều ô nhiễm, thật không thích hợp cho ông!

5317. Lúc bấy giờ, mỗi khi suy tưởng đến ngôi bảo tháp, sự cung kính đă có đến tôi. Tôi đă xua đuổi các suy tầm xấu xa như là con voi bị khổ sở v́ cây lao nhọn.

5318. Trong khi đang an trú như thế, vị vua Thần Chết đă chế ngự tôi. Mệnh chung ở tại nơi ấy, tôi đă đi đến thế giới Phạm Thiên.

5319. Sau khi sống đến hết tuổi thọ, tôi đă sanh ra ở cơi Tam Thập (Đạo Lợi). Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần.

5320. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba trăm lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

5321. Tôi thọ hưởng quả thành tựu của những bông hoa kiṅkaṇi ấy. Trong đời sống, có một trăm ngàn người bảo mẫu ở quanh tôi.

5322. Do bản chất của sự việc đă được thực hành ở ngôi bảo tháp, bụi bặm và cáu đất không làm nhơ nhuốc, các mồ hôi không tiết ra ở cơ thể, tôi có được vẻ ngời sáng.

5323. Ôi ngôi bảo tháp đă khéo được xây dựng bởi tôi, con sông Amarikā đă khéo được nh́n thấy bởi tôi! Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp bằng cát, tôi đạt được vị thế Bất Động.

5324. Với người có ước muốn làm việc lành có sự nắm được điều cốt yếu, dầu có thửa ruộng hoặc không có thửa ruộng, việc thực hành đều có kết quả tốt đẹp.

5325. Cũng giống như người nam có sức mạnh nỗ lực để vượt qua biển cả, sau khi cầm lấy khúc gỗ nhỏ nhoi, có thể lao ḿnh vào đại dương (nghĩ rằng):.

5326. “Nương tựa vào khúc gỗ này, ta sẽ vượt qua biển lớn.” Với sự nỗ lực và tinh tấn, người nam (ấy) có thể vượt qua biển cả.

5327. Tương tợ y như thế, việc làm đă được thực hiện bởi tôi dầu nhỏ nhoi và bé bỏng, sau khi nương tựa vào việc làm ấy tôi đă tự ḿnh vượt khỏi luân hồi.

5328. Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch tôi đă được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Sāvatthī.

5329. Có niềm tin, mẹ và cha của tôi đă đi đến nương nhờ vào đức Phật. Có sự đạt được (Pháp) nhăn, cả hai người này hành xử thuận theo Giáo Pháp.

5330. Sau khi nhặt lấy vỏ khô của cội cây Bồ Đề, họ đă cho xây dựng ngôi bảo tháp bằng vàng. Sáng chiều họ trực tiếp lễ bái người con trai của ḍng họ Sakya.

5331. Vào ngày lễ Uposatha, họ đă dời đi ngôi bảo tháp bằng vàng. Trong khi tán dương công hạnh của đức Phật, họ đă trải qua ba canh (của đêm).

5332. Sau khi nh́n thấy ngôi bảo tháp (vàng), tôi đă nhớ lại ngôi bảo tháp bằng cát. Tôi đă ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy và đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.

(Tụng phẩm thứ hai mươi hai).

5333. Trong khi t́m kiếm đấng Chiến Thắng ấy, tôi đă nh́n thấy vị Tướng Quân Chánh Pháp. Sau khi ĺa khỏi gia đ́nh, tôi đă xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.

5334. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi nhận biết đức hạnh (của tôi), đức Phật bậc Hữu Nhăn đă cho tu lên bậc trên.

5336. Trong khi chỉ là đứa bé trai, tôi đă hoàn thành được công việc. Giờ đây, việc cần phải làm trong Giáo Pháp của người con trai ḍng họ Sakya đă được tôi thực hiện.

5337. (Tôi trở thành) vị ẩn sĩ đă vượt qua mọi sự hận thù và hăi sợ, đă vượt lên mọi điều trói buộc. “Bạch đấng Đại Hùng, con là Thinh Văn của Ngài; điều này là quả báu của bông hoa bằng vàng.”

5338. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5339. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5340. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Pulinathūpiya[28] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Pulinathūpiya là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

 

499. Kư Sự về Trưởng Lăo Naḷakuṭidāyaka

5341. Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có ngọn núi tên là Hārita. Vào lúc bấy giờ, có bậc Tự Chủ tên Nārada đă cư ngụ ở tại gốc cây.

5342. Tôi đă làm gian nhà bằng cây sậy và đă lợp mái bằng cỏ. Tôi đă làm sạch sẽ đường kinh hành và đă dâng cúng đến bậc Tự Chủ.

5343. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

5344. Tại nơi ấy, có cung điện được kiến tạo khéo léo dành cho tôi, có chiều dài sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần, đă được hóa hiện ra từ căn cḥi bằng cây sậy.

5345. Tôi đă sướng vui ở thế giới chư Thiên mười bốn kiếp. Và tôi đă cai quản Thiên quốc bảy mươi mốt lần.

5346. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi bốn lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

5347. Sau khi bước lên ṭa lâu đài Giáo Pháp tương đương với mọi biểu hiện cao quư, tôi an trú trong Giáo Pháp của người con trai ḍng họ Sakya theo như ư thích.

5348. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của căn cḥi bằng cây sậy.

5349. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5350. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5351. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Naḷakuṭidāyaka[29] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Naḷakuṭidāyaka là phần thứ chín.

 

--ooOoo--

 

500. Kư Sự về Trưởng Lăo Piyālaphaladāyaka

5352. Trong thời quá khứ, tôi đă là thợ săn thú rừng. Khi ấy, trong khi đi lang thang ở khu rừng, tôi đă nh́n thấy đức Phật, đấng Vô Nhiễm, bậc thông suốt về tất cả các pháp.

5353. Được tịnh tín, tôi đă cầm lấy trái cây piyāla và đă tự tay ḿnh dâng cúng đến đức Phật tối thượng, là Phước Điền, là đấng Anh Hùng.

5354. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

5355. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5356. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5357. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Piyālaphaladāyaka[30] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Piyālaphaladāyaka là phần thứ mười.

Phẩm Tikiṅkaṇipupphiya là phẩm thứ năm mươi.

 

--ooOoo—

 

Phần Tóm Lược

Vị có bông hoa kiṅkaṇi, y may từ vải bị quăng bỏ, bông hoa koraṇḍa, rồi bông hoa kiṃsuka, vị có một nửa số vải, vị dâng cúng bơ lỏng, vị (dâng cúng) nước, vị thực hiện ngôi bảo tháp, vị có gian nhà bằng cây sậy là thứ chín, và vị dâng cúng trái cây piyāla. Có một trăm câu kệ ngôn và chín câu thêm vào đó.

 

--ooOoo--

 

Giờ là phần tóm lược của các phẩm

Phẩm Metteyya, phẩm Bhaddāli, và luôn cả phẩm Sakiṃsammajjaka, phẩm Ekavihārī, phẩm Vibhīṭakī, phẩm Jagatī, phẩm Sālapupphiya, phẩm Naḷāgāra, phẩm Paṃsukūla, và phẩm Kiṅkaṇipupphiya là tương tợ. Có một ngàn bốn trăm tám mươi hai câu kệ.

Nhóm “Mười” từ phẩm Metteyya.

Nhóm “Một Trăm” thứ năm được đầy đủ.

 

--ooOoo--

 

LI. PHẨM KAṆIKĀRA

 

501. Kư Sự về Trưởng Lăo Tikaṇikārapupphiya

5358. Đấng Toàn Giác tên Sumedha có ba mươi hai hảo tướng. Có ước muốn độc cư, đức Thế Tôn đă đi đến núi Hi-mă-lạp.

5359. Sau khi đă đi sâu vào núi Hi-mă-lạp, đấng Bi Mẫn cao cả, bậc Hiền Trí, đấng Tối Thượng Nhân đă xếp chân thế kiết già rồi ngồi xuống.

5360. Khi ấy, tôi đă là người nắm giữ pháp thuật, là vị du hành ở không trung. Sau khi cầm lấy cây chỉa ba được thực hiện khéo léo, tôi đi ở trên không trung.

5361. Đức Phật chói sáng ở trong khu rừng giống như ngọn lửa ở trên đỉnh núi, tợ như mặt trăng ngày rằm, tợ như cây sālā chúa đă được trổ hoa.

5362. Hào quang của đức Phật vượt ra khỏi chóp đỉnh của khu rừng và tỏa rộng giống như là màu sắc ngọn lửa của cây sậy, sau khi nh́n thấy tôi đă làm cho tâm được tịnh tín.

5363. Trong khi chọn lựa, tôi đă nh́n thấy bông hoa kaṇikāra có hương thơm của cơi trời. Sau khi cầm lấy ba bông hoa, tôi đă cúng dường đến đức Phật tối thượng.

5364. Khi ấy, do nhờ năng lực của đức Phật, ba bông hoa của tôi (xoay ngược lại) có các cuống hoa ở bên trên và các cánh hoa ở bên dưới, tạo thành bóng râm che cho đức Phật.

6365. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

5366. Tại nơi ấy, có cung điện được kiến tạo khéo léo dành cho tôi được biết (với tên) là “kaṇikārī” có chiều dài sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.

5367. (Cung điện) có một ngàn cột trụ chống có màu lục, một trăm mái tṛn được trang hoàng với những ngọn cờ. Có một trăm ngàn tháp nhọn đă hiện diện ở cung điện của tôi.

5368. Có những chiếc ghế bành làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, và cũng làm bằng hồng ngọc nữa, luôn cả ngọc pha-lê (hiện ra) ở bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào theo ước muốn.

5369. Và có chiếc giường vô cùng giá trị được trải loại nệm bông g̣n có một phần lông rái cá, và được gắn liền với chiếc gối.

5370. Khi nào tôi ước muốn việc ra đi, th́ sau khi rời khỏi nơi cư ngụ và trong lúc thực hiện cuộc du hành cùng với chư Thiên, tôi dẫn đầu hội chúng chư Thiên.

5371. Tôi đứng, ở phía bên dưới là bông hoa, ở phía bên trên của tôi ở xung quanh một trăm do-tuần có mái che được phủ bằng các bông hoa kaṇika.

5372. Có sáu mươi ngàn nhạc công đă phục vụ sáng chiều. Họ thường xuyên vây quanh tôi đêm ngày không biếng nhác.

5373. Ở tại nơi ấy, tôi sướng vui với các điệu vũ, các lời ca, các tiếng chũm chọe, và các khúc tấu nhạc, với niềm sướng vui của việc giải trí. Tôi vui thích theo sự mong muốn này mong muốn khác.

5374. Lúc bấy giờ, ở tại nơi ấy tôi đă ăn, tôi đă uống, tôi vui thích ở cơi trời Tam Thập. Được gần gũi với các đám nữ nhân, tôi vui thích ở lâu đài tuyệt hảo.

5375. Và tôi đă cai quản Thiên quốc năm trăm lần. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba trăm lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

5376. Trong khi luân hồi ở cơi này cơi khác, tôi nhận lănh của cải lớn lao, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5377. Tôi (đă) luân hồi ở hai cảnh giới trong bản thể Thiên nhân và loài người, tôi không biết đến cơi tái sanh khác; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5378. Tôi (đă) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và luôn cả Bà-la-môn, tôi không biết đến gia tộc hạ tiện; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5379. Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, kiệu khiêng, và cỗ xe kéo, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5380. Về đám tôi trai, bầy tớ gái, và các nữ nhân đă được trang điểm, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5381. Về y phục làm bằng tơ lụa, bằng sợi len, bằng chỉ lanh, và bằng bông vải, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5382. Về vải vóc mới, trái cây tươi, thức ăn mới lạ có phẩm vị cao sang, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5383. “Ngài hăy nhai món này, ngài hăy ăn món này, ngài hăy nằm ở chiếc giường này,” tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5384. Tôi được tôn vinh ở tất cả các nơi, danh vọng của tôi được thăng tiến, tôi luôn luôn có phe cánh đông đảo, luôn luôn có hội chúng không bị chia rẽ, tôi là hạng nhất trong số các quyến thuộc; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5385. Tôi không biết đến sự lạnh (và) sự nóng, sự bực bội không được biết đến. Sự khổ sở thuộc về tâm ở trái tim của tôi không được biết đến.

5386. Sau khi có được làn da màu vàng ṛng, tôi luân hồi ở cơi này cơi khác, tôi không biết đến việc tàn tạ sắc thân; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5387. Sau khi mệnh chung ở thế giới chư Thiên, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch tôi đă được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Sāvatthī.

5388. Sau khi từ bỏ năm phần dục lạc, tôi đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.

5389. Sau khi nhận biết đức hạnh (của tôi), đức Phật bậc Hữu Nhăn đă cho tu lên bậc trên, tôi là vị trẻ tuổi xứng đáng được cúng dường; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5390. Thiên nhăn của tôi được thanh tịnh, tôi là thiện xảo về định, đă đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5391. Tôi đă thành tựu các pháp phân tích, là vị rành rẽ về các nền tảng của thần thông, đă đạt đến sự toàn hảo về các pháp; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5392. (Kể từ khi) tôi đă cúng dường đức Phật trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5393. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5394. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5395. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Tikaṇikārapupphiya[31] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Tikaṇikārapupphiya là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

502. Kư Sự về Trưởng Lăo Ekapattadāyaka

5396. Tôi đă là người thợ làm đồ gốm ở thành phố Haṃsavatī. Tôi đă nh́n thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đấng đă vượt qua ḍng nước lũ, không c̣n lậu hoặc.

5397. Tôi đă dâng cúng đến đức Phật tối thượng b́nh bát bằng đất sét đă được làm khéo léo. Tôi đă dâng cúng b́nh bát đến đức Thế Tôn là vị có bản thể chính trực như thế ấy.

5398. Trong khi tôi được sanh ra ở cuộc đời, tôi đạt được các chiếc đĩa vàng và các chiếc chiếu nhỏ bằng bạc, bằng vàng, và bằng ngọc ma-ni.

5399. Tôi thọ dụng những cái đĩa, điều này là quả báu của nghiệp phước thiện. Và tôi có bản chất của b́nh bát (chứa đựng) các loại danh vọng và các loại tài sản.

5400. Cũng giống như chỉ một ít hạt giống được gieo xuống cánh đồng màu mỡ, khi có mưa rào thích hợp đổ xuống, kết quả làm hài ḷng người nông phu.

5401. Tương tợ y như thế, việc dâng cúng b́nh bát này được gieo xuống thửa ruộng đức Phật, khi trận mưa rào phỉ lạc đổ mưa, kết quả sẽ làm tôi hài ḷng.

5402. So sánh với các thửa ruộng được biết đến, ngay cả các Hội Chúng (tỳ khưu) và luôn cả các tập thể, không có ǵ sánh bằng thửa ruộng đức Phật là nguồn cung cấp an lạc cho chúng sanh.

5403. “Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Sau khi dâng cúng một cái b́nh bát, con đạt được vị thế Bất Động.”

5404. Kể từ khi tôi đă dâng cúng b́nh bát trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng b́nh bát.

5405. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5406. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5407. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ekapattadāyaka[32] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ekapattadāyaka là phần thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

503. Kư Sự về Trưởng Lăo Kāsumāriphaladāyaka

5408. Tôi đă nh́n thấy đức Phật, đấng Vô Nhiễm, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu ngồi ở trong vùng đồi núi, chói sáng như là cây kaṇikāra.

5409. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă chắp tay lên ở đầu. Sau khi cầm lấy trái cây kāsumārika, tôi đă dâng cúng đến đức Phật tối thượng.

5410. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

5411. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5412. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5413. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Kāsumāriphaladāyaka[33] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Kāsumāriphaladāyaka là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

504. Kư Sự về Trưởng Lăo Avaṭaphaliya

5414. Đức Thế Tôn có ngàn ánh hào quang, đấng Tự Chủ, vị không bị đánh bại đă xuất ra khỏi sự độc cư và đă ra đi về việc khất thực.

5415. Có được một nắm trái cây, tôi đă nh́n thấy và đă đi đến gặp đấng Nhân Ngưu. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă dâng cúng trái cây avaṭa.

5416. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

5417. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5418. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5419. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Avaṭaphaliya[34] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Avaṭaphaliya là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

505. Kư Sự về Trưởng Lăo Vāraphaliya

5420. Trong lúc đấng Toàn Giác, bậc có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đang tiến bước ở trên đường, tôi đă dâng cúng trái cây vāra.

5421. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

5422. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5423. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5424. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.  Đại đức trưởng lăo Vāraphaliya[35] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Vāraphaliya là phần thứ năm.

 

--ooOoo—

 

506. Kư Sự về Trưởng Lăo Mātuluṅgaphaladāyaka

5425. Tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian tợ như cây kaṇikāra được đốt cháy, tợ như mặt trăng ngày rằm, tợ như cây đèn đang cháy sáng.

5426. Được tịnh tín, tôi đă cầm lấy trái cây chanh và đă tự tay ḿnh dâng cúng đến bậc Đạo Sư, đấng trí tuệ xứng đáng cúng dường.

5427. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

5428. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5429. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5430. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Mātuluṅgaphaladāyaka[36] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Mātuluṅgaphaladāyaka là phần thứ sáu.

 

--ooOoo--

 

507. Kư Sự về Trưởng Lăo Ajeliphaladāyaka

5431. Vào lúc bấy giờ, bậc Toàn Giác, đấng Hiền Trí tên Ajjuna, vị hội đủ về hạnh kiểm và thiện xảo về định đă cư ngụ tại núi Hy-mă-lạp.

5432. Sau khi cầm lấy ước chừng một chậu trái cây ajeli, trái cây jīvajīvaka, và trái cây chattapaṇṇa, tôi đă dâng cúng đến bậc Đạo Sư.

5433. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

5434. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5435. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5436. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ajeliphaladāyaka[37] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ajeliphaladāyaka là phần thứ bảy.

 

--ooOoo--

 

508. Kư Sự về Trưởng Lăo Amodaphaliya

5437. Trong lúc đấng Toàn Giác, bậc có màu sắc màu vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đang tiến bước ở trên đường, tôi đă dâng cúng trái cây amoda.

5438. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

5439. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5440. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5441. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Amodaphaliya[38] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Amodaphaliya là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

 

509. Kư Sự về Trưởng Lăo Tālaphaladāyaka

5442. Đức Thế Tôn tên Sataraṃsī, đấng Tự Chủ, vị không bị đánh bại, đă xuất ra khỏi sự độc cư và đă ra đi về việc khất thực.

5443. Có được một nắm trái cây, tôi đă nh́n thấy và đă đi đến gặp đấng Nhân Ngưu. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă dâng cúng trái cây thốt nốt.

5444. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

5445. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5446. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5447. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Tālaphaladāyaka[39] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Tālaphaladāyaka là phần thứ chín.

 

--ooOoo--

 

510. Kư Sự về Trưởng Lăo Nāḷikeradāyaka

5448. Vào lúc bấy giờ, là người phụ việc tu viện ở thành phố Bandhumatī, tôi đă nh́n thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm đang di chuyển ở trên không trung.

5449. Tôi đă cầm lấy trái dừa và đă dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc có danh vọng lớn lao đă thọ lănh trong khi đứng ở trên hư không.

5450. Trái cây đă được tôi dâng cúng đến đức Phật với tâm ư trong sạch, đối với tôi là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc đưa đến sự an lạc trong thời hiện tại.

5451. Khi ấy, tôi đă đạt đến niềm phỉ lạc lớn lao và sự an lạc cùng tột. Khi tôi được sanh ra ở nơi này nơi nọ, châu báu c̣n hiện lên cho tôi.

5452. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

5453. Thiên nhăn của tôi được thanh tịnh, tôi là thiện xảo về định, đă đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

5454. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

5455. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

5456. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Nāḷikeradāyaka[40] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Nāḷikeradāyaka là phần thứ mười.

 

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Bông hoa kaṇikāra, một b́nh bát, vị có trái cây kāsumāri, trái cây avaṭa là tương tợ, và trái cây vāra, trái chanh, trái cây ajeli, luôn cả trái cây amoda, trái cây thốt nốt, và trái dừa là tương tợ. Các câu kệ đă được tính đếm ở đây là một trăm câu kệ, không có hơn kém.

Phẩm Kaṇikāra là phẩm thứ năm mươi mốt.

 

--ooOoo--


 

[1] Naḷamāliya nghĩa là “vị liên quan đến tràng hoa (mālā) sậy (naḷa).”

[2] Maṇipūjaka nghĩa là “vị cúng dường (pūjaka) ngọc ma-ni (maṇi).”

[3] Ukkāsatika nghĩa là “vị liên quan đến một trăm (sata) cây đuốc (ukkā).

[4] Sumanavījaniya nghĩa là “vị liên quan đến cây quạt (vījana) hoa nhài (sumana).”

[5] Kummāsadāyaka nghĩa là “vị cúng dường (dāyaka) sữa đông (kummāsa).”

[6] Kusaṭṭhadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) tám (aṭṭha) thẻ vật thực (kusa).” Lá cỏ kusa được dùng làm thăm để chọn ra các vị tỳ khưu đi đến nhà thí chủ thọ thực (ND).

[7] Giripunnāgiya nghĩa là “vị liên quan đến hoa nguyệt quế (punnāga) mọc ở núi.”

[8] Vallikāraphaladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) vallikāra.”

[9] Pānadhidāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) đôi dép (pānadhi).” Chú Giải giải thích từ pānadhiṃupāhanayugaṃ nên được dịch là đôi dép (ApA. i, 448).

[10] Pulinacaṅkamiya nghĩa là “vị liên quan đến được kinh hành (caṅkama) rải cát (pulina).”

[11] Paṃsukūlasaññaka nghĩa là “vị tưởng nhớ (saññaka) đến tấm y may từ vải bị quăng bỏ (paṃsukūla).” 

[12] Buddhasaññaka nghĩa là “vị tưởng nhớ (saññaka) đến đức Phật (buddha).”

[13] Bhisadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) củ sen (bhisa).”

[14] Ñāṇatthavika nghĩa là “vị ngợi ca (thavika) về trí tuệ (ñāṇa).”

[15] Nghĩa là sẽ thuộc ḍng dơi Bà-la-môn (ND).

[16] Candanamāliya nghĩa là “vị liên quan đến trầm hương (candana) và tràng hoa (mālā).”

[17] Dhātupūjaka nghĩa là “vị cúng dường (pūjaka) xá-lợi (dhātu).”

[18] Pulinuppādaka nghĩa là “vị tạo nên (uppādaka) ngôi bảo tháp bằng cát (pulina).”

[19] Taraṇiya nghĩa là “vị liên quan đến việc vượt qua (taraṇa ).”

[20] Xem lời chú nguyện đầy đủ ở tập Kinh Buddhavaṃsa - Phật Sử, trang 30-33 (Tam Tạng Pāḷi - Việt tập 42).

[21] Tikiṅkaṇipupphiya nghĩa là “vị liên quan đến ba (ti) bông hoa (puppha) kiṅkaṇi.”

[22] Paṃsukūlapūjaka nghĩa là “vị cúng dường (pūjaka) tấm y may từ vải bị quăng bỏ (paṃsukūla).”

[23] Koraṇḍapupphiya nghĩa là “vị có liên quan đến bông hoa (puppha) koraṇḍa.”

[24] Kiṃsukapupphiya nghĩa là “vị có liên quan đến bông hoa (puppha) kiṃsuka.”

[25] Upaḍḍhadussadāyaka nghĩa là vị dâng cúng (dāyaka) một nửa (upaḍḍha) số vải.”

[26] Ghatamaṇḍadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) bơ lỏng (ghata) nguyên chất (maṇḍa).”

[27] Udakadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) nước (udaka).”

[28] Pulinathūpiya nghĩa là “vị liên quan đến ngôi bảo tháp (thūpa) bằng cát (pulina).”

[29] Naḷakuṭidāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) căn cḥi (kuṭi) bằng cây sậy (naḷa).

[30] Piyālaphaladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) piyāla.”

[31] Tikaṇikārapupphiya nghĩa là “vị liên quan đến ba (ti) bông hoa kaṇikāra.”

[32] Ekapattadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) một (eka) b́nh bát (patta).”

[33] Kāsumāriphaladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) kāsumāri.”

[34] Avaṭaphaliya nghĩa là “vị liên quan đến trái cây (phaliya) avaṭa.”

[35] Vāraphaliya nghĩa là “vị liên quan đến trái cây (phaliya) vāra.”

[36] Mātuluṅgaphaladāyaka nghĩa là vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) chanh (mātuluṅga).”

[37] Ajeliphaladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) ajeli.”

[38] Amodaphaliya nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) amoda.”

[39] Tālaphaladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) thốt nốt (tāla).”

[40] Nāḷikeradāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) dừa (nāḷikera).”

 

 

   
 

| 00b | 09 | 10 | 11 | 12 | 13 |

 
 

<Mục Lục><Đầu Trang>