Trang Chính

Trang Các Bản Dịch Mới

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT tập 40

 

APADĀNAPĀḶI & THÁNH NHÂN KƯ SỰ

 Tập Hai

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XLIII. PHẨM SAKIṂSAMMAJJAKA


421. Kư Sự về Trưởng Lăo Sakiṃsammajjaka

4462. Đối với đức Thế Tôn Vipassī, cây Pāṭalī là (tên của) cội cây Bồ Đề tối thượng. Sau khi nh́n thấy cội cây cao cả ấy tôi đă khiến tâm được tịnh tín.

4463. Sau khi cầm lấy cái chổi, tôi đă quét cội Bồ Đề liền khi ấy. Sau khi quét cội Bồ Đề ấy, tôi đă đảnh lễ cây Pāṭalī.

4464. Tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đă chắp tay lên ở đầu, trong khi tôn kính cội Bồ Đề ấy tôi đă khom ḿnh bước đi.

4465. Trong khi tưởng nhớ đến cội cây Bồ Đề tối thượng, tôi bước đi ở lối đi bộ. Có con trăn có h́nh dáng khủng khiếp, có sức mạnh lớn lao đă bức hiếp tôi.

4466. Hành động đă được tôi làm trong lúc gần đây đă khiến cho tôi được vui ḷng với kết quả. Con trăn nuốt chửng lấy thân h́nh của tôi, và tôi sướng vui ở thế giới chư Thiên.[1]

4467. Tâm của tôi không bị chộn rộn, luôn luôn tinh khiết, trong trắng. Tôi không c̣n biết đến mũi tên sầu muộn (và) sự bực bội ở tâm của tôi.

4468. Bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh động kinh, bệnh ghẻ, bệnh lở loét, và bệnh ngứa không có ở tôi; điều này là quả báu của việc quét.

4469. Sự sầu muộn và sự than văn ở trong trái tim của tôi là không được biết đến, tâm không bị cong quẹo, được ngay thẳng; điều này là quả báu của việc quét.

4470. Tôi không vị vướng mắc ở các tầng định, tâm ư được tự tín. Tôi muốn bất cứ tầng định nào, chính tầng định ấy tự đạt đến cho tôi.

4471. Tôi không say đắm ở điều quyến rũ và các sự việc xấu xa, tôi không bị mê muội ở điều ngu xuẩn; điều này là quả báu của việc quét.

4472. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc quét.

4473. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4474. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4475. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sakiṃsammajjaka[2] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sakiṃsammajjaka là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

422. Kư Sự về Trưởng Lăo Ekadussadāyaka

4476. Tôi đă là người gánh cỏ ở thành phố Haṃsavatī. Tôi sinh sống bằng việc gánh cỏ. Nhờ thế, tôi nuôi dưỡng các đứa trẻ.[3]

4477. Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp, đấng Lănh Đạo Thế Gian, sau khi xua đi điều tăm tối ấy đă hiện khởi.

4478. Sau khi ngồi xuống tại ngôi nhà của chính ḿnh, tôi đă tức thời suy nghĩ như vầy: “Đức Phật đă hiện khởi ở thế gian mà vật xứng đáng để dâng cúng không được t́m thấy.

4479. Đây là tấm vải choàng duy nhất của ta. Ta không có ǵ để trở thành người thí chủ. Việc tiếp xúc với địa ngục là khổ sở. Ta sẽ ươm trồng vật cúng dường.”

4480. Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đă làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín. Tôi đă cầm lấy tấm vải độc nhất và đă dâng cúng đến đức Phật tối thượng.

4481. Sau khi dâng cúng tấm vải độc nhất, tôi đă thốt lớn tiếng rằng: “Bạch đấng Anh Hùng, bậc Đại Hiền Trí, nếu Ngài là vị Phật xin Ngài hăy giúp con vượt qua.”

4482. Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, trong khi tán dương vật dâng cúng của tôi, đă nói lời tùy hỷ đến tôi rằng:

4483. “Do tấm vải độc nhất này và do các nguyện lực của tác ư, ngươi (sẽ) không đi đến đọa xứ trong một trăm ngàn kiếp.

4484. Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi sáu lần và sẽ là đấng Chuyển Luân Vương ba mươi ba lần.

4485. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Trong khi luân hồi ngươi sẽ hiện hữu ở thế giới chư Thiên hoặc ở loài người.

4486. Có sắc đẹp, hội đủ đức hạnh, có thân h́nh không bị kém sút, ngươi sẽ đạt được vải vóc không bị suy suyển, không thể ước lượng, theo như ước muốn.”

4487. Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác, đấng Lănh Đạo Padumuttara, bậc trí tuệ đă bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.

4488. Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của một tấm vải.

4489. Vải vóc hiện ra cho tôi theo mỗi lần giở lên của bước chân. Tôi đứng trên tấm vải ở bên dưới, có tấm che ở phía trên cho tôi.

4490. Và trong ngày hôm nay, nếu muốn tôi có thể che phủ bằng các loại vải vóc đối với bầu vũ trụ có cả rừng rậm cùng với núi non.

4491. Nhờ vào chỉ một tấm vải ấy, trong khi luân hồi ở cơi này cơi khác tôi có được màu da vàng chói, rồi tôi luân hồi ở cơi này cơi khác.

4492. Quả thành tựu của một tấm vải đă không đi đến sự hư hoại ở bất cứ nơi đâu. Đây là lần sanh sau cùng của tôi, (quả thành tựu ấy) được chín muồi cho tôi ở ngay cả nơi đây.

4493. Kể từ khi tôi đă dâng cúng tấm vải trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một tấm vải.

4494. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4495. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4496. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ekadussadāyaka[4] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ekadussadāyaka là phần thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

423. Kư Sự về Trưởng Lăo Ekāsanadāyaka

4497. Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có ngọn núi tên là Gosita, có khu ẩn cư của tôi đă khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đă khéo được tạo lập.

4498. Khi ấy, (tôi) có tên là Nārada. (Người ta) biết đến tôi với tên là Kassapa. Trong lúc tầm cầu đạo lộ thanh tịnh, tôi sống ở (núi) Gosita.

4499. Bậc Toàn Giác, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp, vị ưa thích sự độc cư, đă đi đến bằng đường không trung.

4500. Sau khi nh́n thấy hào quang của bậc Đại Ẩn Sĩ đang di chuyển ở trên chóp đỉnh của khu rừng, tôi đă xếp đặt chiếc giường gỗ và đă trải ra tấm da dê.

4501. Sau khi xếp đặt chỗ ngồi tôi đă chắp tay lên ở đầu. Sau khi bày tỏ sự vui mừng, tôi đă nói lời nói này:

4502. “Bạch đấng Đại Hùng, Ngài là vị phẫu thuật, là người thầy thuốc của các bệnh nhân. Bạch đấng Lănh Đạo, xin Ngài hăy ban cho con liều thuốc của người bị cơn bệnh hành hạ.

4503. Bạch đức Phật tối thượng, bạch đấng Hiền Trí, những người nào có mục đích về sức khỏe nh́n thấy Ngài đạt được sự thành tựu về mục đích trường cửu, sự tái sanh của những người này được lụi tàn.

4504. Con là người thọ dụng trái cây đă rụng xuống, con không có vật dâng cúng đến Ngài. Con có chỗ ngồi này, thỉnh Ngài ngồi xuống ở chiếc giường gỗ.”

4505. Đức Thế Tôn đă ngồi xuống ở tại nơi ấy tợ như con sư tử không bị hăi sợ. Sau khi chờ đợi trong chốc lát, Ngài đă nói lời nói này:

4506. “Ngươi hăy tự tin, chớ lo sợ. Ngươi đă đạt được viên ngọc như ư. Điều ǵ đă được ngươi ước nguyện, tất cả sẽ được tṛn đủ trong thời vị lai.

4507. Điều đă được làm ấy của ngươi ở Phước Điền vô thượng không là vô ích. Đối với người nào có tâm đă được củng cố, bản thân của (người ấy) có thể tiếp độ được.

4508. Do sự dâng cúng chỗ ngồi này và do các nguyện lực của tác ư, ngươi (sẽ) không đi đến đọa xứ trong một trăm ngàn kiếp.

4509. Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc năm mươi lần và sẽ là đấng Chuyển Luân Vương tám mươi lần.

4510. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Ngươi sẽ được sung sướng ở khắp mọi nơi và sẽ luân chuyển ở ṿng luân hồi.”

4511. Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác, đấng Lănh Đạo Padumuttara, bậc trí tuệ đă bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.

4512. Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, xe kéo, và cỗ xe, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của một chổ ngồi.

4513. Ngay cả khi đă đi vào rừng rậm, lúc nào tôi mong muốn về chỗ ngồi, chiếc ghế bành biết được ước muốn của tôi hiện diện ở bên cạnh.

4514. Trong khi đă đi vào trong nước, lúc nào tôi mong muốn về chỗ ngồi, chiếc ghế bành biết được ước muốn của tôi hiện diện ở bên cạnh.

4515. Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, luôn luôn có một trăm ngàn chiếc ghế bành vây quanh tôi.

4516. Tôi (đă) luân hồi ở hai cảnh giới, trong bản thể Thiên nhân và loài người. Tôi (đă) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn.

4517. Sau khi dâng cúng một chỗ ngồi ở Phước Điền vô thượng, sau khi nắm lấy chiếc ghế bành Giáo Pháp, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4518. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.

4519. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4520. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4521. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ekāsanadāyaka[5] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ekāsanadāyaka là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

424. Kư Sự về Trưởng Lăo Sattakadambapupphiya

4522. Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có ngọn núi tên là Kadamba. Ở sườn ngọn núi ấy, có bảy vị Phật ấy đă cư ngụ.

4523. Sau khi nh́n thấy cây kadamba đă được trổ hoa, tôi đă chắp tay lên. Tôi đă hái bảy bông hoa và đă tung lên với tâm (nghĩ) về phước báu.

4524. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

4525. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

4526. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4527. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4528. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sattakadambapupphiya[6] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sattakadambapupphiya là phần thứ tư.

 

--ooOo--

 

425. Kư Sự về Trưởng Lăo Koraṇḍapupphiya

4529. Trước đây, tôi đă là người thợ rừng có sự quan tâm (phụng dưỡng) đến cha và mẹ. Tôi sinh sống nhờ vào việc giết thú rừng, tôi không biết đến điều tốt lành.

4530. Do ḷng thương tưởng, đấng Lănh Đạo Thế Gian Tissa, bậc Hữu Nhăn, đă lưu lại ba (dấu) bàn chân ở xung quanh chỗ cư ngụ của tôi.

4531. Và sau khi nh́n thấy ba (dấu) bàn chân đă đi qua của bậc Đạo Sư tên Tissa, tôi đă trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đă làm cho tâm được tịnh tín ở (dấu) bàn chân.

4532. Sau khi nh́n thấy cây koraṇḍa mọc ở trên đất đă được trổ hoa, tôi đă hái một số (bông hoa) và đă cúng dường ở (dấu) bàn chân tối thượng.

4533. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

4534. Nơi chốn nào tôi đi tái sanh là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi là người có màu da của bông hoa koraṇḍa và có cả vẻ sáng ngời nữa.

4535. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường ở bàn chân.

4536. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4537. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4538. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Koraṇḍapupphiya[7] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Koraṇḍapupphiya là phần thứ năm.

 

--ooOoo--

 

426. Kư Sự về Trưởng Lăo Ghatamaṇḍadāyaka

4539. Đă suy nghĩ tận tường, đức Thế Tôn, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đă đi vào khu rừng lớn và đă bị hành hạ bởi bệnh gió. Sau khi nh́n thấy, tôi đă làm cho tâm được tịnh tín và đă đem lại bơ lỏng nguyên chất.

4540. Do bản thân đă được thực hành, do bản thân đă được tích lũy (thiện nghiệp), ḍng sông Bhāgīrathī này và bốn đại dương tự cung cấp bơ lỏng cho tôi.

4541. Và trái đất kinh khủng, không thể đo lường, không thể ước lượng này, hiểu biết được ước muốn của tôi nó trở thành tinh thể mật ngọt (cho tôi).

4542. Từ bốn châu lục, các giống cây này là loài thảo mộc mọc ở trên đất, hiểu biết được ước muốn của tôi chúng trở thành những cây như ư (cho tôi).

4543. Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc năm mươi lần, và đă là đấng Chuyển Luân Vương năm mươi mốt lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

4544. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của phần bơ lỏng nguyên chất.

4545. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4546. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4547. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ghatamaṇḍadāyaka[8] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ghatamaṇḍadāyaka là phần thứ sáu.

 

--ooOo--

 

427. Kư Sự về Trưởng Lăo Ekadhammasavaṇiya

4548. Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp, trong khi công bố về bốn Sự Thật đă giúp cho nhiều người vượt qua.[9]

4549. Vào lúc bấy giờ, tôi là vị đạo sĩ tóc bện có sự khổ hạnh cao tột. Khi ấy, tôi di chuyển ở hư không, (vừa đi) vừa phất phơ các y phục bằng vỏ cây.

4550. Tôi không thể di chuyển ở phía trên của đức Phật tối thượng. Như là con chim bị va vào tảng đá, tôi không đạt được sự di chuyển.

4551. Tợ như người đă đi vào trong nước, tôi di chuyển ở hư không như vậy. Sự hư hoại về các oai nghi này chưa từng xảy ra cho tôi trước đây.

4552. (Nghĩ rằng): “Nào! Ta sẽ t́m hiểu việc này. Ít ra ta cũng có thể đạt được lư do.” Trong khi từ không trung đáp xuống, tôi đă nghe tiếng nói của bậc Đạo Sư.

4553. Khi ấy, Ngài đang thuyết giảng về tính chất vô thường với âm điệu khích lệ, cuốn hút, dễ nghe, tôi đă học tập chỉ có pháp ấy của Ngài.

4554. Sau khi đă học tập sự nhận biết về vô thường, tôi đă đi về khu ẩn cư của tôi. Sau khi sống đến hết tuổi thọ, tôi đă mệnh chung ở tại nơi ấy.

4555. Khi đang ở vào thời điểm cuối cùng, tôi đă nhớ lại sự lắng nghe về Chánh Pháp. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

4556. Tôi đă sướng vui ở thế giới chư Thiên ba mươi ngàn kiếp. Và tôi đă cai quản Thiên quốc năm mươi mốt lần.

4557. Và tôi đă là đấng Chuyển Luân Vương hai mươi mốt lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

4558. Tôi đă thọ hưởng phước báu của chính ḿnh, tôi đă được sung sướng ở cơi này cơi khác. Trong khi luân hồi ở cơi này cơi khác, tôi đă nhớ lại sự suy tưởng (về vô thường) ấy. Tôi không thấu triệt điểm cốt yếu là Niết Bàn, vị thế Bất Tử.

4559. Sau khi ngồi xuống ở căn nhà của người cha, vị Sa-môn có giác quan đă được tu tập, trong khi giải thích về câu kệ ngôn, đă đề cập đến tính chất vô thường:

4560. “Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường, có pháp sanh và diệt, sau khi sanh lên chúng hoại diệt, sự tịnh lặng của chúng là an lạc.”

4561. Sau khi lắng nghe câu kệ, tôi đă nhớ lại sự suy tưởng trước đây. Sau khi ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.

4562. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán. Đức Phật đă cho (tôi) tu lên bậc trên; điều này là quả báu của việc lắng nghe Giáo Pháp.

4563. Kể từ khi tôi đă lắng nghe Giáo Pháp trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc nghe Giáo Pháp.

4564. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4565. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4566. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 Đại đức trưởng lăo Ekadhammasavaṇiya[10] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ekadhammasavaṇiya là phần thứ bảy.

 

--ooOoo--

 

428. Kư Sự về Trưởng Lăo Sucintita

4567. Tôi đă là người nông dân ở thành phố Haṃsavatī. Tôi sinh sống bằng công việc trồng trọt. Nhờ thế, tôi nuôi dưỡng các đứa trẻ.

4568. Khi ấy, thửa ruộng đă được thành tựu tốt đẹp, lúa của tôi đă được kết hạt. Và khi thời điểm gặt hái đă đến, vào lúc ấy tôi đă suy nghĩ như vầy:

4569. “Thật không đúng đắn, không tốt đẹp cho ta là người biết về lành dữ, sao ta có thể thọ dụng phẩm vật đầu mùa nếu khi ấy ta chưa dâng cúng đến Hội Chúng!

4570. Vị này là đức Phật có ba mươi hai hảo tướng, tương đương với bậc không thể sánh bằng. Nhờ Ngài, Hội Chúng là Phước Điền vô thượng đă được thành lập.

4571. Ta sẽ dâng cúng vật thí là lúa mới đến các ngài trước tiên hết.” Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đă trở nên mừng rỡ, tâm tư được khoan khoái.

4572. Tôi đă mang theo lúa từ thửa ruộng và đă đi đến bậc Toàn Giác. Sau khi đi đến bậc Toàn Giác, đấng Nhân Ngưu, bậc Trưởng Thượng của thế gian, tôi đă đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư rồi đă nói lời nói này:

4573. “Bạch đấng Hiền Trí, lúa mới đă được thành tựu và Ngài cũng là người thọ lănh. Bạch bậc Hữu Nhăn, v́ ḷng thương tưởng xin Ngài chấp nhận.”

4574. Sau khi biết được ư định của tôi, bậc Hiểu Biết Thế Gian Tissa, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đă nói lên những lời kệ này:

4575. “Có bốn hạng được thực hành (bốn Đạo) và có bốn Quả được tồn tại. Hội Chúng này có bản thể chính trực, được định tĩnh với tuệ và giới.

4576. Phước báu có mầm mống tái sanh (hữu lậu) của những người đang hiến cúng, của những chúng sanh có ḷng mong mỏi phước báu đang thực hiện, đă được dâng cúng đến Hội Chúng là có quả báu lớn.

4577. Lúa mới nên được dâng cúng đến Hội Chúng ấy, vật khác cũng vậy. Sau khi xác định là Hội Chúng, ngươi hăy đưa các vị tỳ khưu đến tư gia, và hăy dâng cúng đến Hội Chúng tỳ khưu vật đă được chuẩn bị tại nhà.”

4578. Sau khi xác định là Hội Chúng, tôi đă đưa các vị tỳ khưu đến nhà, và đă dâng cúng đến Hội Chúng tỳ khưu vật đă được tôi chuẩn bị tại nhà.

4579. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

4580. Tại nơi ấy, cung điện bằng vàng vô cùng rực rỡ đă được kiến tạo khéo léo dành cho tôi có chiều cao là sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.

(Tụng phẩm thứ mười chín).

4581. Chỗ cư ngụ của tôi được phân bố chằng chịt, đông đảo các nhóm nữ nhân. Tại nơi ấy, tôi ăn, tôi uống, và tôi sống ở cơi Tam Thập.

4582. Và tôi đă cai quản Thiên quốc ba trăm lần và đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

4583. Trong khi luân hồi ở cơi này cơi khác, tôi đạt được tài sản không ước lượng được, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của lúa mới.

4584. Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, kiệu khiêng, và cỗ xe kéo, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.

4585. Về vải vóc mới, trái cây tươi, thức ăn mới lạ có phẩm vị cao sang, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.

4586. Về y phục làm bằng tơ lụa, bằng sợi len, bằng chỉ lanh, và bằng bông vải, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.

4587. Về đám tôi trai, bầy tớ gái, và các nữ nhân đă được trang điểm, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.

4588. Sự lạnh, sự nóng nực hoặc sự bực bội không được tôi biết đến. Sự khổ sở thuộc về tâm ở trái tim không được tôi biết đến.

4589. (Được bảo rằng): “Ngươi hăy nhai món này, hăy ăn món này, hăy nằm ở chiếc giường này,” tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.

4590. Giờ đây, lần sau cùng này là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Quả báu của vật dâng cúng khiến tôi luôn luôn được hoan hỷ đến tận hôm nay

4591. Sau khi đă dâng cúng lúa mới đến Hội Chúng là tập thể cao quư tối thượng, tôi thọ hưởng tám điều lợi ích thích đáng với việc làm của tôi:

4592. Tôi có sắc đẹp, có danh vọng, có của cải to lớn, là người không bị tai họa, tôi luôn luôn có quyền lực lớn lao, luôn luôn có hội chúng không bị chia rẽ.

4593. Bất cứ những ai cư ngụ ở trên trái đất, tất cả đều tôn trọng tôi. Và bất cứ những ǵ là vật nên được dâng cúng tôi đều đạt được trước tiên hết.

4594. Ở giữa hội chúng tỳ khưu hoặc trước mặt đức Phật tối thượng, các thí chủ đă đi vượt qua tất cả các vị và dâng cúng đến chính tôi.

4595. Tôi thọ hưởng các điều lợi ích này bởi v́ tôi đă dâng cúng lúa mới đến Hội Chúng là tập thể tối thượng trước tiên hết; điều này là quả báu của lúa mới.

4596. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của lúa mới.

4597. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4598. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4599. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sucintita[11] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.  

Kư sự về trưởng lăo Sucintita là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

 

429. Kư Sự về Trưởng Lăo Soṇṇakiṅkaṇiya

4600. V́ niềm tin, tôi đă ra đi và đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh. Thiên về nghiệp khổ hạnh, tôi đă là vị mang y phục bằng vỏ cây.

4601. Hơn nữa đức Thế Tôn Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu vào lúc bấy giờ đă hiện khởi, đang giúp cho nhiều người vượt qua.

4602. 4603. Và sức lực của tôi quả nhiên đă bị cạn kiệt bởi cơn bệnh trầm trọng. Tôi đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và đă tạo nên ngôi bảo tháp tối thượng ở trên băi cát. Với tâm mừng rỡ, với ư phấn chấn, tôi đă dùng tay rải rắc các bông hoa kiṅkaṇī bằng vàng.

4604. Với tâm tịnh tín ấy đối với vị Atthadassī như thế ấy, tôi đă đi ṿng quanh ngôi bảo tháp như là có đức Phật hiện diện.

4605. Trong khi đi đến thế giới của chư Thiên, tôi đạt được sự an lạc bao la. Tại nơi ấy, tôi đă có màu da vàng chói; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

4606. Tôi có tám trăm triệu người nữ đă được trang điểm thường xuyên phục vụ cho tôi; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

4607. Có sáu mươi ngàn nhạc cụ gồm các trống lớn và các trống nhỏ, các tù và vỏ ốc và các trống con. Các chiếc trống đă vang lên một cách vui nhộn ở tại nơi ấy.

4608. Có tám mươi bốn ngàn con voi là những con voi mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi được sáu mươi tuổi đă được trang điểm.

4609. Được che phủ với những tấm lưới vàng, các con voi thể hiện sự phục vụ đến tôi. Sự thiếu hụt của tôi về binh lực luôn cả về voi là không được biết đến.

4610. Tôi đă thọ hưởng quả thành tựu của những bông hoa kiṅkaṇī bằng vàng. Tôi đă cai quản Thiên quốc năm mươi tám lần.

4611. Và tôi đă là đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi mốt lần. Tôi đă cai quản vương quốc ở mặt đất trên quả địa cầu một trăm lẻ một lần.

4612. Giờ đây, đă đạt đến Bất Tử là không c̣n tạo tác, khó nh́n thấy vô cùng, tôi đây đă được đoạn tận các sự trói buộc, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

4613. Kể từ khi tôi đă dâng lên bông hoa trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

4614. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4615. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4616. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sovaṇṇakiṅkaṇiya[12] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sovaṇṇakiṅkaṇiya là phần thứ chín.

 

--ooOoo--

 

430. Kư Sự về Trưởng Lăo Soṇṇakontarika

4617. Đức Phật là vị đă tu tập về tâm, đă chế ngự bản thân, được định tĩnh, đang cư xử theo đường lối Phạm hạnh, thích thú trong sự tịnh lặng của tâm.

4618. Tôi đă suy tưởng về bậc Toàn Giác đă vượt qua ḍng nước lũ, về bậc Hiền Trí được thỏa thích về thiền, đă tiến vào sự thể nhập (định), có ánh sáng của cánh hoa súng.

4619. Sau khi lấy nước bằng cái bầu (đựng nước), tôi đă đi đến đức Phật tối thượng. Sau khi rửa các bàn chân của đức Phật, tôi đă dâng cúng cái bầu nước.

4620. Và bậc Toàn Giác, đấng Lănh Đạo Padumuttara đă truyền lệnh rằng: “Bằng cái bầu này, ngươi hăy đem nước lại và hăy đặt ở cạnh bàn chân của Ta.”

4621. Tôi đă đáp lại rằng: “Lành thay!” Và với ḷng tôn kính bậc Đạo Sư, tôi đă mang lại nước bằng cái bầu và đă đưa đến gần đức Phật tối thượng.

4622. Trong khi làm cho tâm của tôi được mát mẻ, đấng Đại Hùng đă nói lời tùy hỷ rằng: “Do sự dâng cúng cái bầu này, mong rằng ư định của người được thành tựu.”

4623. Tôi đă sướng vui ở thế giới chư Thiên trong mười lăm kiếp. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi lần.

4624. Vào ban ngày hoặc ban đêm nếu tôi đang đi kinh hành hoặc đang đứng, có người cầm cây gậy vàng đứng ở phía trước tôi.

4625. Sau khi dâng cúng cái bầu nước đến đức Phật, tôi đạt được cây gậy vàng. Hành động đă được thực hiện dầu là nhỏ nhoi trở thành to lớn như thế ấy.

4626. Kể từ khi tôi đă dâng cúng cái bầu nước trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cái bầu nước.

4627. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4628. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4629. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Soṇṇakontarika[13] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Soṇṇakontarika là phần thứ mười.

 

--ooOo--

 

Phần Tóm Lược

Vị trưởng lăo quét một lần, vị có tấm vải độc nhất, vị có một chỗ ngồi, vị dâng (bông hoa) kadamba, vị dâng (bông hoa) koraṇḍa, vị (dâng) bơ lỏng, vị lắng nghe (Giáo Pháp), vị đă khéo suy nghĩ, vị liên quan đến (bông hoa) kiṅkaṇī, và vị có cây gậy vàng. Có một trăm câu kệ và thêm vào bảy mươi mốt câu nữa.

Phẩm Sakiṃsammajjaka là phẩm thứ bốn mươi ba.

 

--ooOoo--

 

XLIV. PHẨM EKAVIHĀRĪ

 

431. Kư Sự về Trưởng Lăo Ekavihāriya

4630. Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đă hiện khởi đấng cao quư tên Kassapa, thuộc ḍng dơi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.

4631. Bậc như thế ấy đă sống không c̣n pháp chướng ngại, không cần sự nâng đỡ, có tâm ư sánh bằng bầu không gian, thường xuyên (trú vào) không tánh, thỏa thích ở vô tướng.

4632. Bậc Đại Bi, đấng Anh Hùng, rành rẽ về phương thức huấn luyện, có tâm không quyến luyến, ĺa phiền năo, không thân cận với gia đ́nh và đồ chúng.

4633. 4634. Bị bận rộn trong những việc hữu ích cho những người khác, đấng Tế Độ Thế Gian ấy ngồi giữa đại chúng đang hướng dẫn chúng sanh luôn cả chư Thiên về Đạo Lộ đưa đến Niết Bàn, về việc làm khô cạn băi lầy đưa đến cảnh giới (tái sanh), về pháp Bất Tử có phẩm vị tối thắng, cản ngăn sự già và sự chết.

4635. Thốt lên âm điệu của loài chim karavīka (ca-lăng-tầng-già), đấng Bảo Hộ, đức Như Lai, với âm thanh của Phạm Thiên đang tiếp độ những người có lối đi bị lầm lạc, không người hướng dẫn, ra khỏi chốn vô cùng khốn khổ.

4636. Trong lúc đấng Lănh Đạo Thế Gian đang thuyết giảng Giáo Pháp không bợn nhơ, tôi đă nh́n thấy Ngài. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, tôi đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh.

4637. Và sau khi xuất gia, lúc bấy giờ trong khi suy nghĩ về Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, bị quấy rối bởi việc chung đụng nên tôi đă sống chỉ mỗi một ḿnh ở trong khu rừng đáng yêu.

4638. Sự yên tịnh về thân của tôi trở thành nhân duyên chính yếu cho tôi có được sự yên tịnh ở tâm, có được sự nh́n thấy nỗi sợ hăi trong việc chung đụng.

4639. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4640. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4641. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ekavihāriya[14] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ekavihāriya là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

432. Kư Sự về Trưởng Lăo Ekasaṃkhiya

4642. Đă có lễ hội ở cội Đại Bồ Đề của đức Thế Tôn Vipassī. Đám đông dân chúng đă cùng nhau đi đến và cúng dường cội Bồ Đề tối thượng.

4643. Tôi không nghĩ rằng bậc đạo sư nào có cội Bồ Đề được cúng dường như thế này lại là vị kém cỏi, Ngài phải là vị Phật tối thượng.

4644. Do đó, tôi đă cầm lấy chiếc tù và vỏ ốc và đă phục vụ cội cây Bồ Đề. Trong khi thổi (tù và) trọn cả ngày, tôi đă đảnh lễ cội Bồ Đề tối thượng.

4645. Hành động được thực hiện vào lúc cận kề cái chết đă đưa tôi đến thế giới chư Thiên. Cơ thể của tôi vừa ngă xuống là tôi sướng vui ở thế giới chư Thiên.[15]

4646. Có sáu mươi ngàn nhạc công luôn luôn hớn hở vui mừng hoan hỷ phục vụ tôi; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

4647. Tôi đă là đức vua Sudassana bảy mươi mốt kiếp, là người chinh phục bốn phương, là vị chúa tể của vùng đất Jambu.

4648. Kế đó, có trăm loại nhạc cụ luôn luôn vây quanh tôi. Tôi thọ hưởng nghiệp quả của chính ḿnh; điều này là quả báu của việc phục vụ.

4649. Nơi chốn nào tôi sanh lên, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, các chiếc trống luôn luôn vang lên đến tôi ngay cả khi (nhập thai) đi vào bụng mẹ.

4650. Sau khi phục vụ đấng Toàn Giác, sau khi thọ hưởng sự thành đạt, tôi đă đạt đến vị thế Bất Động là Niết Bàn, b́nh yên, bất tử.

4651. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

4652. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4653. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4654. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ekasaṅkhiya[16] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ekasaṅkhiya là phần thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

433. Kư Sự về Trưởng Lăo Pāṭihīrasaññaka

4655. Khi ấy, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đă đi vào thành phố cùng với một trăm ngàn vị có năng lực (A-la-hán).

4656. Trong khi các vị an tịnh như thế ấy đang đi vào thành phố, các châu báu đă phát sáng, đă có tiếng reo ḥ vào ngay lúc ấy.

4657. Trong khi đức Phật đang đi vào thành phố, do năng lực của đức Phật những chiếc trống đă vang lên dầu không được vỗ, các cây đàn vīṇā tự phát ra âm thanh.

4658. Tôi không nh́n thấy đức Phật tối thượng bậc Đại Hiền Trí Padumuttara. Và sau khi nh́n thấy điều kỳ diệu, tại nơi ấy tôi đă khiến tâm được tịnh tín.

4659. “Ôi đức Phật! Ôi Giáo Pháp! Ôi sự thành tựu của bậc Đạo Sư chúng ta! Dầu không có tâm tư, các nhạc cụ tự chính ḿnh phát ra âm thanh.”

4660. Kể từ khi tôi đă đạt được sự suy tưởng ấy trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về đức Phật.

4661. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4662. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4663. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Pāṭihīrasaññaka[17] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Pāṭihīrasaññaka là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

434. Kư Sự về Trưởng Lăo Ñāṇatthavika

4664. Tôi đă nh́n thấy bậc Tối Thượng Nhân giống như là cây kaṇikāra được cháy sáng, như là cây đèn được chiếu sáng, như là kim loại vàng đang tỏa sáng.

4665. Sau khi xếp đặt túi nước, y phục vỏ cây, và b́nh đựng nước, tôi đă khoác tấm da dê một bên vai rồi đă ngợi ca đức Phật tối thượng rằng:

4666. “Bạch đấng Đại Hiền Trí, trong khi hủy diệt điều tăm tối được che đậy bởi màng lưới si mê ấy, sau khi thể hiện ánh sáng trí tuệ, Ngài đă vượt qua.

4667. Bạch đấng Vô Thượng, xin Ngài hăy tiếp độ thế gian này bao gồm tất cả. Dầu cho đi khắp trái đất không có ǵ tương đương với trí tuệ của Ngài.

4668. Với trí tuệ ấy, đức Phật được gọi là ‘Đấng Toàn Tri.’ Bạch đấng Đại Hùng, con xin đảnh lễ đấng Toàn Tri không ǵ che lấp ấy.”

4669. (Kể từ khi) tôi đă ngợi ca đức Phật tối thượng trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ.

4670. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4671. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4672. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ñāṇatthavika[18] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ñāṇatthavika là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

435. Kư Sự về Trưởng Lăo Ucchukhaṇḍika

4673. Tôi đă là người gác cổng ở thành phố Bandhumatī. Tôi đă nh́n thấy đức Phật, đấng Vô Nhiễm, bậc thông suốt về tất cả các pháp.

4674. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă cầm lấy khúc mía và đă dâng cúng đến đức Phật tối thượng, bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī..

4675. Kể từ khi tôi đă dâng cúng mía trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của khúc mía.

4676. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4677. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4678. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ucchukhaṇḍika[19] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ucchukhaṇḍika là phần thứ năm.

 

--ooOoo--

 

436. Kư Sự về Trưởng Lăo Kalambadāyaka

4679. Bậc Tự Giác Ngộ tên Romasa ngụ ở trong vùng đồi núi. Được tịnh tín, tôi đă tự tay ḿnh dâng lên Ngài bông hoa kalamba.

4680. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của bông hoa kalamba.

4681. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4682. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4683. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Kalambadāyaka[20] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Kalambadāyaka là phần thứ sáu.

 

--ooOoo--

 

437. Kư Sự về Trưởng Lăo Ambāṭakadāyaka

4684. Sau khi nh́n thấy đức Phật, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại trong khu rừng, tôi đă cầm lấy trái cây ambāṭaka và đă dâng cúng đến đấng Tự Chủ.

4685. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

4686. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4687. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4688. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ambāṭakadāyaka[21] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ambāṭakadāyaka là phần thứ bảy.

 

--ooOoo--

 

438. Kư Sự về Trưởng Lăo Harītakadāyaka

4689. Tôi đích thân mang lại các loại trái cây như trái harītaka, trái āmalaka, trái xoài, trái mận đỏ, trái vibhīṭaka, trái táo, trái bhallātaka, và trái billa.

4690. Tôi đă nh́n thấy bậc Hiền Trí là vị có thiền chứng, được thích thú về thiền, đă đi đến sườn núi. Bậc Đại Hiền Trí đang bị hành hạ bởi cơn bệnh, không có người thứ hai (phục vụ).

4691. Tôi đă cầm lấy trái harītaka và đă dâng cúng đến đấng Tự Chủ. Khi thuốc men vừa mới tác dụng, cơn bệnh đă lắng dịu ngay lập tức.

4692. Có sự khó chịu đă được loại trừ, đức Phật đă nói lời tùy hỷ rằng: “Do sự dâng cúng thuốc men, và do sự dứt hẳn cơn bệnh, ...

4693. ... mong rằng ngươi được sung sướng ở khắp mọi nơi dầu được trở thành vị Thiên nhân hay loài người hoặc ở sanh chủng khác, và bệnh hoạn chớ xảy đến cho ngươi.”

4694. Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác, đấng Tự Chủ, vị không bị đánh bại, bậc trí tuệ đă bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.

4695. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái harītaka đến đấng Tự Chủ, bậc Đại Ẩn Sĩ, cho đến kiếp sống này bệnh hoạn đă không xảy đến cho tôi.

4696. Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển, tam minh đă được đắc chứng, lời dạy của đức Phật đă được thực hành.

4697. Kể từ khi tôi đă dâng cúng thuốc men trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của thuốc men.

4698. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4699. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4700. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Harītakadāyaka[22] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Harītakadāyaka là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

 

439. Kư Sự về Trưởng Lăo Ambapiṇḍiya

4701. Khi ấy, tôi đă là con voi chúa có ngà dài như gọng xe, vững chải. Trong khi đi lang thang ở khu rừng bạt ngàn tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian.

4702. Sau khi cầm lấy chùm trái xoài, tôi đă dâng cúng đến bậc Đạo Sư. Đấng Đại Hùng, bậc Lănh Đạo Thế Gian Siddhattha đă thọ lănh.

4703. Khi ấy, đấng Chiến Thắng đă thọ dụng trong lúc tôi đang trầm tư. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín, tôi đă đạt đến cơi trời Đẩu Suất.[23]

4704. Từ nơi ấy tôi đă mệnh chung, và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương. Tôi thọ hưởng sự thành đạt theo đường lối thế ấy.

4705. Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, tôi được an tịnh, không c̣n mầm mống tái sanh. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4706. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

4707. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4708. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4709. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ambapiṇḍiya[24] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ambapiṇḍiya là phần thứ chín.

 

--ooOoo--

 

440. Kư Sự về Trưởng Lăo Jambuphaliya

4710. Đức Phật Padumuttara, vị đang nắm giữ danh vọng tối thượng, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy đang đi đó đây để khất thực.

4711. Sau khi thâu hoạch trái cây đầu mùa, với tâm ư trong sạch tôi đă dâng cúng đến đấng Đạo Sư, bậc Anh Hùng xứng đáng sự cúng dường.

4712. “Bạch đấng Chúa Tể của loài người, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, nhờ vào nghiệp ấy con đă từ bỏ sự hơn thua và đă đạt được vị thế Bất Động.”

4713. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng vật đầu mùa.

4714. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4715. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4716. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Jambuphaliya[25] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Jambuphaliya là phần thứ mười.

 

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Vị trưởng lăo sống một ḿnh, vị (thổi) tù và vỏ ốc, vị (tưởng đến) điều kỳ diệu, vị ngợi ca (đức Phật), vị có khúc mía, vị dâng bông hoa kalamba, vị dâng trái ambāṭaka, vị (dâng) trái cây harītaka, vị có chùm xoài, vị dâng trái mận đỏ là thứ mười. Và các câu kệ đă được tính đếm bởi các bậc trí là tám mươi sáu câu kệ.

Phẩm Ekavihārī là phẩm thứ bốn mươi bốn.

 

--ooOoo--

 

XLV. PHẨM VIBHĪṬAKA

 

441. Kư Sự về Trưởng Lăo Vibhīṭakamiñjiya

4717. Bậc Đại Hùng Kakusandha là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Ngài đă đi vào bên trong khu rừng, tách biệt khỏi đám đông.

4718. Sau khi cầm lấy phần hột và ruột (của trái vibhīṭaka), tôi đă buộc lại bằng sợi dây leo. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn tham thiền ở trong vùng đồi núi.

4719. Sau khi nh́n thấy vị Trời của chư Thiên, với tâm ư trong sạch tôi đă dâng cúng phần hột và ruột đến đấng Anh Hùng là bậc xứng đáng sự cúng dường.

4720. Ngay trong chính kiếp này kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của phần hột và ruột (của trái cây).

4721. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4722. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4723. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Vibhīṭakamiñjiya[26] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Vibhīṭakamiñjiya là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

442. Kư Sự về Trưởng Lăo Koladāyaka

4724. Khi ấy, là vị mặc y phục vỏ cây, tôi đă trang phục bằng da dê. Tôi đă khuân vác túi nặng trái táo và đă đem về khu ẩn cư.

4725. Vào thời điểm ấy, đức Phật Sikhī đă là vị đơn độc không có người thứ hai. Trong khi biết được về mọi thời điểm, Ngài đă đi đến khu ẩn cư của tôi.

4726. Sau khi làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín, tôi đă đảnh lễ bậc có sự hành tŕ tốt đẹp. Đưa ra bằng cả hai tay, tôi đă dâng cúng trái táo đến đức Phật.

4727. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái táo.

4728. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4729. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4730. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Koladāyaka[27] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Koladāyaka là phần thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

443. Kư Sự về Trưởng Lăo Billaphaliya

4731. Khu ẩn cư của tôi đă khéo được xây dựng ở bờ sông Candabhāgā, được rải rác với những cây billa, được mọc lên với nhiều giống cây khác loại.

4732. Sau khi nh́n thấy trái cây billa có mùi thơm ngát, tôi đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Được hớn hở, với tâm ư bị chấn động tôi đă làm đầy gói nặng.

4733. Tôi đă đi đến (đức Phật) Kakusandha và đă dâng cúng trái cây billa đă chín đến Phước Điền, đến đấng Anh Hùng với tâm ư trong sạch.

4734. Ngay trong chính kiếp này kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

4735. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4736. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4737. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Billaphaliya[28] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Billaphaliya là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

444. Kư Sự về Trưởng Lăo Bhallātakadāyaka

4738. Đấng Toàn Giác có màu da vàng chói, có ba mươi hai hảo tướng tợ như cây sālā chúa đă được trổ hoa, đang di chuyển ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng bao la.

4739. Tôi đă xếp đặt tấm trải cỏ và đă cầu xin đức Phật tối thượng rằng: “Xin đức Phật hăy thương tưởng đến con, con muốn dâng cúng vật thực.”

4740. Sau khi biết được ư định của tôi, đấng Bi Mẫn, vị có ḷng thương tưởng, có danh tiếng lớn lao Atthadassī đă ngự xuống khu ẩn cư của tôi.

4741. Sau khi ngự xuống, đấng Toàn Giác đă ngồi xuống ở tấm thảm lá cỏ. Tôi đă cầm lấy trái cây bhallātaka và đă dâng cúng đến đức Phật tối thượng.

4742. Khi ấy, đấng Chiến Thắng đă thọ dụng trong lúc tôi đang trầm tư. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín, tôi đă đảnh lễ đấng Chiến Thắng.

4743. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

4744. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4745. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4746. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Bhallātakadāyaka[29] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Bhallātakadāyaka là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

445. Kư Sự về Trưởng Lăo Uttalipupphiya

4747. Tôi đă lấy ra tràng hoa uttalī và đă dâng lên cội Bồ Đề là cây Nigrodha đă được phát triển có ánh sáng màu xanh.

4748. Việc tôi đă dâng lên bông hoa là ngay trong chính kiếp này, tôi không biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường cội Bồ Đề.

4749. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4750. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4751. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Uttalipupphiya[30] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Uttalipupphiya là phần thứ năm.

 

--ooOoo--

 

446. Kư Sự về Trưởng Lăo Ambāṭakiya

4752. Sau khi đi sâu vào trong rừng cây sālā khéo được trổ hoa, bậc Hiền Trí Vessabhū đă ngồi xuống ở những nơi hiểm trở của ngọn núi trông như là con sư tử đă được sanh ra cao quư.

4753. Được tịnh tín, tôi đă tự tay ḿnh cúng dường (bông hoa) ambāṭaka đến Phước Điền, đến bậc Đại Hùng với tâm tịnh tín với ư vui mừng.

4754. (Kể từ khi) tôi đă dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

4755. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4756. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4757. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ambāṭakiya[31] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ambāṭakiya là phần thứ sáu.

 

--ooOoo--

 

447. Kư Sự về Trưởng Lăo Sīhāsanika

4758. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă dâng cúng bảo tọa sư tử đến đức Thế Tôn Padumuttara là bậc tầm cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh.

4759. Ở bất cứ nơi đâu tôi sinh sống, ở thế giới chư Thiên hoặc ở loài người, tôi đạt được cung điện đồ sộ; điều này là quả báu của bảo tọa sư tử.

4760. Và có nhiều chiếc ghế bành làm bằng vàng, làm bằng bạc, làm bằng hồng ngọc, làm bằng ngọc ma-ni luôn luôn hiện ra cho tôi.

4761. Sau khi đă thực hiện chỗ ngồi giác ngộ cho vị tên Padumuttara, tôi được sanh ra trong gia đ́nh thượng lưu. Ôi tính chất tốt đẹp của Giáo Pháp!

4762. (Kể từ khi) tôi đă thực hiện bảo tọa sư tử trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của bảo tọa sư tử.

4763. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4764. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4765. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sīhāsanika[32] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sīhāsanika là phần thứ bảy.

 

--ooOoo--

 

448. Kư Sự về Trưởng Lăo Pādapīṭhiya

4766. Đấng Toàn Giác Sumedha là đấng Bi Mẫn cao cả, bậc Hiền Trí. Sau khi đă giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua, vị có danh vọng lớn lao ấy đă Niết Bàn.

4767. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă thực hiện ghế kê chân ở bên cạnh bảo tọa sư tử của bậc Đại Ẩn Sĩ Sumedha.

4768. Tôi đă thực hiện nghiệp tốt lành (là nghiệp) có kết quả là sự an lạc, đưa đến sự an lạc. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

4769. Trong khi sống ở tại nơi ấy, tôi là người có được nghiệp phước thiện, khi tôi giở các bàn chân lên là có những chiếc ghế đẩu vàng hiện ra cho tôi.

4770. Những người nào có được sự lắng nghe ở Ngài, các sự lợi ích cho họ đă được đạt thành tốt đẹp. (Thậm chí) sau khi thể hiện sự tôn kính đến bậc đă Niết Bàn, họ (cũng) đạt được sự an lạc lớn lao.

4771. Việc làm cũng đă được tôi thực hiện tốt đẹp, việc đổi trao đă được gắn liền tốt đẹp. Sau khi thực hiện chiếc ghế kê chân, tôi đạt được chiếc ghế đẩu vàng.

4772. Bất cứ phương nào tôi ra đi v́ bất cứ lư do ǵ, tôi đều bước đi ở trên chiếc ghế đẩu vàng; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.

4773. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của ghế kê chân.

4774. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4775. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4776. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Pādapīṭhiya[33] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Pādapīṭhiya là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

 

449. Kư Sự về Trưởng Lăo Vedikāraka

4777. Sau khi thực hiện viền rào đă được làm khéo léo ở cội cây Bồ Đề tối thượng của đức Phật Padumuttara, tôi đă làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín.

4778. Các vật dụng nhân tạo và thiên nhiên vô cùng sang trọng đă từ không trung rơi xuống; điều này là quả báu của cái viền rào.

4779. Trong khi lao vào cuộc chiến đấu kinh hoàng nổ ra từ hai phe, tôi không nh́n thấy sự kinh hoàng và hăi sợ; điều này là quả báu của cái viền rào.

4780. Sau khi biết được ước muốn của tôi, cung điện được sanh lên, xinh đẹp, với những chiếc giường trị giá lớn lao; điều này là quả báu của cái viền rào.

4781. (Kể từ khi) tôi đă xây dựng cái viền rào trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cái viền rào.

4782. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4783. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4784. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Vedikāraka[34] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Vedikāraka là phần thứ chín.

 

--ooOoo--

 

450. Kư Sự về Trưởng Lăo Bodhighariya

4785. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă cho thực hiện căn nhà ở cội Bồ Đề của đức Thế Tôn Siddhattha là vị Chúa Tể của loài người như thế ấy.

4786. Tôi đạt đến cơi trời Đẩu Suất. Tôi sống ở trong ngôi nhà châu báu. Sự lạnh hoặc sự nóng không có đến tôi, gió không chạm vào thân thể của tôi.

4787. Trước đây sáu mươi lăm kiếp, tôi đă là đấng Chuyển Luân Vương. Có thành phố tên là Kāsika đă được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma.

4788. (Thành phố này) dài mười do-tuần, rộng tám do-tuần. Ở trong thành phố này không có gỗ, dây thừng, và gạch ngói.

4789. Có ṭa lâu đài tên là Maṅgala đă được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma. Chiều ngang đă là một do-tuần, chiều rộng nửa do-tuần.

4790. Đă có tám mươi bốn ngàn cột làm bằng vàng và các tháp nhọn làm bằng ngọc ma-ni, mái che đă là bằng bạc.

4791. Có ngôi nhà làm bằng vàng toàn bộ đă được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma. Nơi này đă được tôi cư ngụ; điều này là quả báu của việc dâng cúng căn nhà.

4792. Sau khi thọ hưởng tất cả các thứ ấy ở cơi trời và người, hôm nay tôi đă đạt đến Niết Bàn là vị thế an tịnh không ǵ hơn được.

4793. (Kể từ khi) tôi đă cho thực hiện căn nhà ở cội Bồ Đề trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng căn nhà.

4794. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4795. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4796. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Bodhighariya[35] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Bodhighariya là phần thứ mười.

 

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Vị có trái cây vibhīṭaka, vị dâng trái táo, vị dâng trái billa, vị dâng trái bhallātaka, vị dâng tràng hoa uttalī, vị dâng bông hoa ambāṭaka, luôn cả vị có chỗ ngồi, vị dâng ghế kê chân, vị làm cái viền rào, vị cho thực hiện căn nhà của cội Bồ Đề. Ở đây, các câu kệ đă được tính đếm là bảy mươi chín câu, tất cả đă được thuật lại ở phẩm này.

Phẩm Vibhīṭaka là phẩm thứ bốn mươi lăm.

 

--ooOoo--

 

XLVI. PHẨM JAGATIDĀYAKA

 

451. Kư Sự về Trưởng Lăo Jagatidāyaka

4797. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă cho thực hiện nền đất ở cội cây Bồ Đề tối thượng của bậc Hiền Trí Dhammadassī.

4798. Dầu tôi bị ngă từ vực thẳm, từ ngọn núi, hoặc từ thân cây, chết đi tôi có được sự nâng đỡ; điều này là quả báu của nền đất.

4799. Lũ trộm cướp không áp bức tôi, các vị Sát-đế-lỵ không xem thường tôi, tôi vượt trội tất cả các kẻ thù; điều này là quả báu của nền đất.

4800. Ở nơi nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều được tôn vinh ở tất cả các nơi; điều này là quả báu của nền đất.

4802. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4803. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4804. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Jagatidāyaka[36] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Jagatidāyaka là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

452. Kư Sự về Trưởng Lăo Morahatthiya

4805. Tôi đă cầm lấy cánh quạt lông công và đă đi đến đấng Lănh Đạo Thế Gian. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă dâng cúng cánh quạt lông công.

4806. Do cánh quạt lông công này và do các nguyện lực của tác ư, ba ngọn lửa[37] đă được dập tắt, tôi đạt được sự an lạc lớn lao.

4807. Ôi chư Phật! Ôi Giáo Pháp! Ôi sự thành tựu của bậc Đạo Sư chúng ta! Sau khi dâng cúng cánh quạt lông công, tôi đạt được sự an lạc lớn lao.

4808. Ba ngọn lửa (tham sân si) của tôi đă được dập tắt, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đă được đoạn tận, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

4809. Kể từ khi tôi đă cúng dường vật thí trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cánh quạt lông công.

4810. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4811. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4812. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Morahatthiya[38] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Morahatthiya là phần thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

453. Kư Sự về Trưởng Lăo Sīhāsanavījaka

4813. Tôi đă đảnh lễ cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn Tissa. Tôi đă lấy ra cây quạt và đă hầu quạt bảo tọa sư tử ở tại nơi ấy.

4814. (Kể từ khi) tôi đă hầu quạt bảo tọa sư tử trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc hầu quạt.

4815. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4816. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4817. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sīhāsanavījaka[39] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sīhāsanavījaka là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

454. Kư Sự về Trưởng Lăo Ti-ukkādhāraka

4818. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă cầm ba ngọn đuốc ở cội cây Bồ Đề tối thượng của đức Phật Padumuttara.

4819. (Kể từ khi) tôi đây đă cầm ngọn đuốc trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng ngọn đuốc.

4820. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4821. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4822. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ti-ukkādhāraka[40] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ti-ukkādhāraka là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

455. Kư Sự về Trưởng Lăo Akkamanadāyaka

4823. Tôi đă dâng cúng tấm lót chân đến đấng Hiền Trí Kakusandha, vị Bà-la-môn toàn hảo, trong lúc Ngài đang tiến hành việc nghỉ ngơi giữa ngày.

4824. Ngay trong chính kiếp này kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của tấm lót chân.

4825. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4826. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4827. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Akkamanadāyaka[41] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Akkamanadāyaka là phần thứ năm.

 

--ooOoo--

 

456. Kư Sự về Trưởng Lăo Vanakoraṇḍiya

4828. Tôi đă cầm lấy bông hoa koraṇḍa rừng và đă dâng lên đức Phật, đấng Thế Tôn Siddhattha, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

4829. (Kể từ khi) tôi đă dâng lên bông hoa trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

4830. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4831. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4832. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Vanakoraṇḍiya[42] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Vanakoraṇḍiya là phần thứ sáu.

(Tụng phẩm thứ hai mươi).

 

--ooOoo--

 

457. Kư Sự về Trưởng Lăo Ekachattiya

4833. Trái đất nảy sanh ra than hừng, mặt đất trở thành tro nóng. Đức Thế Tôn Padumuttara đă đi kinh hành ở ngoài trời.

4834. Sau khi cầm lấy chiếc lọng che màu trắng, tôi đă đi đường xa. Sau khi nh́n thấy đấng Toàn Giác ở tại nơi ấy, niềm hạnh phúc đă khởi đến cho tôi.

4835. Mặt đất được phủ lên bởi màn ảo ảnh, trái đất này toàn là than hừng. Có cơn gió mạnh thổi đến làm mất đi sự thoải mái của cơ thể.

4836. “Xin Ngài hăy thọ lănh chiếc lọng che này diệt trừ được sự lạnh và nóng, có sự cản ngăn đối với sức nóng của cơn gió, con sẽ được chạm đến sự tịch diệt.”

4837. Sau khi biết được ư định của tôi, bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Chiến Thắng Padumuttara khi ấy đă thọ lănh.

4838. Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi kiếp. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần.

4839. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Tôi thọ hưởng nghiệp của chính ḿnh đă được bản thân thực hiện tốt đẹp trước đây.

4840. Đây là lần sinh ra sau cùng của tôi, là lần hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Ngay cả hôm nay cũng có chiếc lọng che màu trắng được cầm che cho tôi trong mọi thời điểm.

4841. Kể từ khi tôi đă dâng cúng chiếc lọng che trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng chiếc lọng.

4842. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4843. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4844. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ekachattiya[43] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ekachattiya là phần thứ bảy.

 

--ooOoo--

 

458. Kư Sự về Trưởng Lăo Jātipupphiya

4845. Khi đức Thế Tôn Padumuttara, bậc có danh vọng lớn lao viên tịch Niết Bàn, tôi đă làm những ṿng hoa đội đầu rồi đă đặt lên nhục thân (của Ngài).

4846. Tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tín, tôi đă đi đến cơi Hóa Lạc Thiên. Trong khi sống ở thế giới chư Thiên, tôi nhớ lại nghiệp phước thiện.

4847. Có cơn mưa bông hoa từ bầu trời rơi xuống ở tôi vào mọi thời điểm. Nếu tôi luân hồi ở loài người, tôi là vị vua có danh vọng lớn lao.

4848. Tại nơi ấy có cơn mưa bông hoa rơi xuống ở tôi vào mọi lúc, do nhờ tác động của sự cúng dường bông hoa đến chính Ngài ấy là bậc có sự nh́n thấy tất cả.

4849. Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Ngay cả hôm nay cũng có cơn mưa bông hoa rơi xuống ở tôi vào mọi lúc.

4850. (Kể từ khi) tôi đă dâng lên bông hoa trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường nhục thân (đức Phật).

4851. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4852. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4853. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Jātipupphiya[44] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Jātipupphiya là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

 

459. Kư Sự về Trưởng Lăo Paṭṭipupphiya

4854. Khi nhục thân (đức Phật) được đưa đi, khi những chiếc trống đang được vỗ lên, tôi đă cúng dường bông hoa paṭṭi với tâm tịnh tín, với ư vui mừng.

4855. (Kể từ khi) tôi đă cúng dường bông hoa trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường nhục thân (đức Phật).

4856. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4857. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4858. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Paṭṭipupphiya[45] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Paṭṭipupphiya là phần thứ chín.

 

--ooOoo--

 

460. Kư Sự về Trưởng Lăo Gandhapūjaka

4859. Khi giàn hỏa thiêu đang được thực hiện, khi các vật thơm nhiều loại đă được mang lại, tôi đă cúng dường (một) nắm tay vật thơm với tâm tịnh tín, với ư vui mừng.

4860. (Kể từ khi) tôi đă cúng dường giàn hỏa thiêu trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường lễ hỏa táng (đức Phật).

4861. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4862. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4863. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Gandhapūjaka[46] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Gandhapūjaka là phần thứ mười.

 

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Vị (thực hiện) nền đất, vị có cánh quạt chim công, vị (hầu quạt) bảo tọa, vị cầm giữa ngọn đuốc, vị có tấm lót chân, vị có bông hoa koraṇḍa rừng, vị dâng cúng chiếc lọng che, vị cúng dường hoa jāti, vị trưởng lăo có bông hoa paṭṭi, và vị cúng dường vật thơm là thứ mười. Và có sáu mươi bảy câu kệ đă được tính đếm bởi các bậc trí.

Phẩm Jagatidāyaka là phẩm thứ bốn mươi sáu.

           

--ooOoo--

 

XLVII. PHẨM SĀLAKUSUMIYA

 

461. Kư Sự về Trưởng Lăo Sālakusumiya

4864. Khi đức Thế Tôn tên là Padumuttara viên tịch Niết Bàn và được đặt lên ở giàn hỏa thiêu, tôi đă cúng dường bông hoa sālā.

4865. (Kể từ khi) tôi đă dâng lên bông hoa trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường lễ hỏa táng (đức Phật).

4866. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đă được đoạn tận, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4867. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4868. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sālakusumiya[47] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sālakusumiya là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

462. Kư Sự về Trưởng Lăo Citakapūjaka

4869. Khi đức Thế Tôn Sikhī, đấng quyến thuộc của thế gian đang được thiêu đốt, tôi đă dâng lên giàn hỏa thiêu của Ngài tám bông hoa campaka.

4870. (Kể từ khi) tôi đă dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường giàn hỏa thiêu (đức Phật).

4871. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4872. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4873. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Citakapūjaka[48] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Citakapūjaka là phần thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

463. Kư Sự về Trưởng Lăo Citakanibbāpaka

4874. Khi nhục thân của bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū đang được đốt cháy, tôi đă cầm lấy nước thơm và đă làm nguội giàn hỏa thiêu.

4875. (Kể từ khi) tôi đă làm nguội giàn hỏa thiêu trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của nước thơm.

4876. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4877. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4878. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Citakanibbāpaka[49] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Citakanibbāpaka là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

464. Kư Sự về Trưởng Lăo Setudāyaka

4879. Khi đức Thế Tôn Vipassī đang đi kinh hành ở trước mặt, với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă cho thực hiện cây cầu.

4880. (Kể từ khi) tôi đă cho thực hiện cây cầu trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây cầu.

4881. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4882. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4883. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Setudāyaka đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Setudāyaka là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

465. Kư Sự về Trưởng Lăo Sumanatālavaṇṭiya

4884. Tôi đă dâng cúng chiếc quạt được phủ lên bởi những bông hoa nhài đến đức Thế Tôn Siddhattha. Tôi nắm giữ danh vọng lớn lao.

4885. (Kể từ khi) tôi đă dâng cúng chiếc quạt trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của chiếc quạt.

4886. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4887. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4888. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sumanatālavaṇṭiya[50] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sumanatālavaṇṭiya là phần thứ năm.

 

--ooOoo--

 

466. Kư Sự về Trưởng Lăo Avaṇṭaphaliya

4889. Đức Thế Tôn, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại tên là Sataraṃsī. Có ước muốn độc cư, đấng Toàn Giác đă ra đi về việc khất thực.

4890. Có trái cây ở tay, tôi đă nh́n thấy và đă đi đến gặp đấng Nhân Ngưu. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă dâng cúng trái avaṇṭa.

4891. Trước đây chín mươi bốn kiếp, kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

4892. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4893. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4894. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Avaṇṭaphaliya[51] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Avaṇṭaphaliya là phần thứ sáu.

 

--ooOoo--

 

467. Kư Sự về Trưởng Lăo Labujadāyaka

4895. Khi ấy, tôi đă là người phụ việc tu viện ở thành phố Bandhumatī. Tôi đă nh́n thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm đang di chuyển ở trên không trung.

4896. Tôi đă cầm lấy trái mít và đă dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc có danh vọng lớn lao đă thọ lănh trong khi đang đứng ở ngay trên không trung.

4897. Đối với tôi, Ngài là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc đem lại sự an lạc trong thời hiện tại. Tôi đă dâng cúng trái cây đến đức Phật với tâm ư trong sạch.

4898. Khi ấy, tôi đă đạt đến niềm phỉ lạc vĩ đại và sự an lạc thù thắng. Và khi tôi tái sanh ở nơi này nơi khác, có châu báu hiện lên (cho tôi).

4899. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

4900. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4901. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4902. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Labujadāyaka[52] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Labujadāyaka là phần thứ bảy.

 

--ooOoo—

 

468. Kư Sự về Trưởng Lăo Pilakkhaphaladāyaka

4903. Sau khi nh́n thấy đức Phật Atthadassī, bậc có danh vọng lớn lao ở cuối rừng, với tâm tịnh tín với ư vui mừng tôi đă dâng lên trái của cây sung.

4904. Kể từ khi tôi đă dâng cúng trái cây trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

4905. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4906. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4907. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Pilakkhaphaladāyaka[53] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Pilakkhaphaladāyaka là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

 

469. Kư Sự về Trưởng Lăo Sayampaṭibhāṇiya

4908. Ai là người nh́n thấy đấng Nhân Ngưu, vị Trời của chư Thiên, đang tiến bước ở trên đường tợ như cây kakudha đang chói sáng mà không tịnh tín?

4909. Ai là người nh́n thấy bậc đă xua đi điều tăm tối ấy, đă giúp cho nhiều người vượt qua, đang chói sáng với ánh sáng trí tuệ mà không tịnh tín?

4910. Ai là người nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian đang hướng dẫn một trăm ngàn vị có năng lực, đang tiếp độ nhiều chúng sanh mà không tịnh tín ?

4911. Ai là người nh́n thấy vị đang vỗ lên chiếc trống Giáo Pháp, đang chế ngự các nhóm ngoại đạo, đang gầm lên tiếng rống sư tử mà không tịnh tín?

4912. Cho đến các Phạm Thiên từ thế giới Phạm Thiên đă đi đến và hỏi các câu hỏi khôn khéo, ai là người nh́n thấy mà không tịnh tín?

4913. Thế gian luôn cả chư Thiên thể hiện sự chắp tay đối với Ngài rồi thỉnh cầu, nhờ Ngài họ thọ hưởng phước báu, ai là người nh́n thấy mà không tịnh tín?

4914. Tất cả mọi người tụ tập lại và thỉnh cầu bậc Hữu Nhăn, được yêu cầu Ngài không rung động, ai là người nh́n thấy mà không tịnh tín?

4915. Khi Ngài đang đi vào thành phố, có nhiều chiếc trống vang lên và các con voi hào hứng rống lên, ai là người nh́n thấy mà không tịnh tín?

4916. Trong khi đang đi ở đường lộ, toàn bộ hào quang của Ngài luôn luôn chiếu sáng, những chỗ bị gập ghềnh trở thành bằng phẳng, ai là người nh́n thấy mà không tịnh tín?

4917. Khi đức Phật đang nói, (lời Ngài) được nghe ở bầu vũ trụ, Ngài làm cho tất cả chúng sanh được hiểu rơ, ai là người nh́n thấy mà không tịnh tín?

4918. (Kể từ khi) tôi đă ngợi ca đức Phật trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc ca ngợi.

4919. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4920. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4921. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sayampaṭibhāṇiya[54] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sayampaṭibhāṇiya là phần thứ chín.

 

--ooOoo--

 

470. Kư Sự về Trưởng Lăo Nimittavyākaraṇiya

4922. Khi ấy, tôi đă đi sâu vào núi Hi-mă-lạp rồi đọc tụng chú thuật. Năm mươi bốn ngàn người đệ tử đă phục vụ tôi.

4923. Là những vị hiểu biết về kinh Vệ-đà, tất cả đă học thuộc ḷng, đă đạt đến sự toàn hảo về sáu chi phần. Được hỗ trợ bởi những sự hiểu biết của chính bản thân, các vị ấy sống ở núi Hi-mă-lạp.

4924. Sau khi mệnh chung từ tập thể cơi trời Đâu Suất, vị Thiên tử có danh vọng lớn lao đă sanh vào bụng mẹ với sự nhận biết và có niệm.

4925. Khi bậc Toàn Giác đang được sanh ra, mười ngàn thế giới đă chuyển động. Khi đấng Lănh Đạo đang được sanh ra, những người mù đă đạt được thị giác.

4926. Toàn bộ quả đất này đă chuyển động với mọi h́nh thức. Sau khi nghe được tiếng gầm thét, đám đông dân chúng đă hoảng hốt.

4927. Tất cả mọi người đă tập trung lại và đă đi đến gặp tôi (hỏi rằng): “Quả đất này đă chuyển động, sẽ có hậu quả ǵ đây?

4928. Khi ấy, tôi đă nói với họ rằng: “Các người chớ sợ hăi, sự nguy hại không có cho các người. Tất cả cũng nên tự tin, sự xuất hiện này là có điều tốt đẹp.

4929. Bị tác động bởi tám nguyên nhân, quả đất này chuyển động. Các điều báo hiệu như thế này được nh́n thấy, có ánh sáng bao la vĩ đại.

4930. Không c̣n nghi ngờ nữa, đức Phật tối thượng, bậc Hữu Nhăn sẽ hiện khởi.” Sau khi làm cho dân chúng biết rơ, tôi đă thuyết giảng về năm giới cấm.

4931. Sau khi lắng nghe về năm giới cấm và về sự xuất hiện của đức Phật là điều hy hữu, họ đă trở nên hớn hở vui mừng với niềm phấn khởi đă được sanh lên, với tâm ư vui mừng.

4932. (Kể từ khi) tôi đă giải thích về điềm báo hiệu trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc giải thích.

4933. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

4934. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

4935. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Nimittavyākaraṇiya[55] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Nimittavyākaraṇiya là phần thứ mười.

 

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Vị trưởng lăo liên quan đến bông hoa sālā, luôn cả vị cúng dường (giàn hỏa thiêu), và vị làm nguội (giàn hỏa thiêu), vị dâng cúng cây cầu, vị có cây quạt, (vị dâng lên) trái avaṇṭa, vị dâng lên trái mít, (vị dâng lên) trái sung, vị ca ngợi, và vị Bà-la-môn liên quan việc giải thích. Có bảy mươi hai câu kệ đă được tính đếm bởi các bậc trí.

Phẩm Sālakusumiya là phẩm thứ bốn mươi bảy.

 

--ooOoo--


 

[1] Vị này đă bị con trăn giết chết và đă được sanh lên cơi trời liền tức th́.

[2] Sakiṃsammajjaka nghĩa là “vị một lần (sakiṃ) quét tước (sammajjaka).”

[3] Kư sự này tương tợ như  kư sự 334, Apadāna - Thánh Nhân Kư Sự, tập I (Tam Tạng Pāḷi - Việt tập 39).

[4] Ekadussadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) một (eka) tấm vải (dussa).” 

[5] Ekāsanadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) một (eka) chỗ ngồi (āsana).” 

[6] Sattakadambapupphiya nghĩa là “vị liên quan đến bảy (satta) bông hoa (puppha) kadamba.”

[7] Koraṇḍapupphiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa (puppha) koraṇḍa.”

[8] Ghatamaṇḍadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) bơ lỏng (ghata) nguyên chất (maṇḍa).”

[9] Kư sự này tương tợ kư sự 339, Apadāna - Thánh Nhân Kư Sự, tập I (Tam Tạng Pāḷi - Việt tập 39).

[10] Ekadhammasavaṇiya nghĩa là “vị liên quan đến việc một lần (eka) lắng nghe (savaṇa) Giáo Pháp (dhamma).”

[11] Sucintita nghĩa là “vị đă suy nghĩ (cintita) khéo léo (su).”

[12] Sovaṇṇakiṅkaṇiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa kiṅkaṇī bằng vàng (sovaṇṇa).”

[13] Soṇṇakontarika nghĩa là “vị có liên quan đến cây gậy (konta) bằng vàng (soṇṇa).”

[14] Ekavihāriya nghĩa là “vị liên quan đến sự cư ngụ (vihāra) một ḿnh (eka).”

[15] Vị ấy bị té chết và được sanh lên cơi trời ngay khi ấy.

[16] Ekasaṅkhiya nghĩa là “vị liên quan đến một lần (eka) thổi chiếc chiếc tù và vỏ ốc (saṅkha).”

[17] Pāṭihīrasaññaka nghĩa là “vị tưởng nhớ (saññaka) đến điều kỳ diệu (pāṭihīra).”

[18] Ñāṇatthavika nghĩa là “vị ngợi ca (thavika) trí tuệ (ñāṇa) của đức Phật.”

[19] Ucchukhaṇḍika nghĩa là “vị liên quan đến khúc (khaṇḍa) mía (ucchu).”

[20] Kalambadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) bông hoa kalamba.” 

[21] Ambāṭakadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây ambāṭaka.” 

[22] Harītakadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây harītaka.” 

[23] Vị ấy đă chết đi sanh lên cơi trời Đẩu Suất (ND).

[24] Ambapiṇḍiya nghĩa là “vị liên quan đến chùm (piṇḍa) trái xoài (amba).”

[25] Jambuphaliya nghĩa là “vị liên quan đến trái cây (phala) mận đỏ (jambu).”

[26] vibhīṭakamiñjiya nghĩa là “vị liên quan đến phần ruột (miñja) của trái cây vibhīṭaka.”

[27] Koladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái táo (kola).”

[28] Billaphaliya nghĩa là “vị liên quan đến trái cây (phala) có tên là billa.”

[29] Bhallātakadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây bhallātaka.”

[30] Uttalipupphiya nghĩa là “vị có liên quan đến bông hoa (puppha) uttalī.”

[31] Ambāṭakiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa ambāṭaka.”

[32] Sīhāsanika nghĩa là “vị liên quan đến bảo tọa (āsana) sư tử (sīha),” là chỗ ngồi ở cội cây Bồ Đề (bodhiyā āsanaṃ) và trên chỗ ngồi đó đức Phật đă chứng quả vị Giác Ngộ (ND).

[33] Pādapīṭhiya nghĩa là “vị liên quan đến cái ghế (pīṭha) kê chân (pāda).”

[34] Vedikāraka nghĩa là “vị thực hiện (kāraka) cái viền rào (vedi, vedikā).”

[35] Bodhighariya nghĩa là “vị liên quan đến căn nhà (ghara) ở cội cây Bồ Đề (bodhi).”

[36] Jagatidāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) nền đất (jagati) ở cội cây Bồ Đề.”

[37] Ba ngọn lửa là lửa tham, lửa sân, và lửa si (ND).

[38] Morahatthiya nghĩa là “vị liên quan đến cái cánh (hattha) của chim công (mora),” diễn dịch là cánh quạt lông công (ND).

[39] Sīhāsanavījaka nghĩa là “vị quạt mát (vījaka) bảo tọa sư tử (sīhāsana).”

[40] Ti-ukkādhāraka nghĩa là “vị cầm (dhāraka) ba (ti) ngọn đuốc (ukkā).”

[41] Akkamanadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) tấm lót chân (akkamana).”

[42] Vanakoraṇḍiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa koraṇḍa rừng (vana).”

[43] Ekachattiya nghĩa là “v liên quan đến một (eka) chiếc lng che (chatta).”

[44] Jātipupphiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa (puppha) jāti.”

[45] Paṭṭipupphiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa (puppha) paṭṭi.”

[46] Gandhapūjaka nghĩa là “vị cúng dường (pūjaka) vật thơm (gandha).”

[47] Sālakusumiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa (kusuma) sālā.”

[48] Citakapūjaka nghĩa là “vị cúng dường (pūjaka) giàn hỏa thiêu (citaka).”

[49] Citakanibbāpaka nghĩa là vị làm nguội (nibbāpaka) giàn hỏa thiêu (citaka).”

[50] Sumanatālavaṇṭiya nghĩa là “vị liên quan đến chiếc quạt (tālavaṇṭa) được gắn hoa lài (sumanā).”

[51] Avaṇṭaphaliya nghĩa là “vị liên quan đến trái cây (phala) avaṇṭa.”

[52] Labujadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (labuja) trái mít (dāyaka).”

[53] Pilakkhaphaladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) của cây sung (pilakkha).”

[54] Sayampaṭibhāṇiya nghĩa là “vị liên quan đến việc đích thân ḿnh (sayaṃ) ca ngợi (paṭibhāṇa).”

[55] Nimittavyākaraṇiya nghĩa là “vị liên quan đến việc giải thích (vyākaraṇa) các điềm báo hiệu (nimitta).”

 

 

   
 

| 00b | 09 | 10 | 11 | 12 | 13 |

 
 

<Mục Lục><Đầu Trang>