Trang Chính

Trang Các Bản Dịch Mới

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT tập 39

 

APADĀNAPĀḶI & THÁNH NHÂN KƯ SỰ

 Tập Một

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II. PHẨM SĪHĀSANADĀYAKA

11. Kư Sự về Trưởng Lăo Sīhāsanadāyaka

674. (Vào lúc ấy) đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân Siddhattha đă Niết Bàn, Phật Ngôn đă được lan rộng, Giáo Pháp đă được nhiều người hiểu biết.

675. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă thực hiện bảo tọa sư tử. Sau khi làm xong bảo tọa sư tử, tôi đă thực hiện ghế kê chân.

676. Và khi trời mưa ở bảo tọa sư tử, tôi đă xây dựng ngôi nhà ở tại nơi ấy. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đă được sanh lên cơi trời Đẩu Suất.

677. Ngay lập tức đă có cung điện được kiến tạo khéo léo dành cho tôi dài hai mươi bốn do-tuần, rộng mười bốn do-tuần.

678. Có một trăm ngàn thiếu nữ luôn luôn vây quanh tôi. Và có chiếc ghế bành làm bằng vàng đă khéo được hóa hiện ra ở ṭa lâu đài.

679. Phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, phương tiện di chuyển của cơi trời được sẵn sàng. Các ṭa lâu đài và luôn cả các kiệu khiêng đều dược sanh lên theo như ước muốn.

680. Có các chiếc ghế bành làm bằng ngọc ma-ni và nhiều chiếc khác làm bằng lơi gỗ, tất cả đều được sanh lên cho tôi; điều này là quả báu của bảo tọa sư tử.

681. Tôi bước lên những đôi giày làm bằng vàng, làm bằng bạc, làm bằng pha-lê và ngọc bích; điều này là quả báu của chiếc ghế kê chân.

682. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.

683. Trước đây bảy mươi ba kiếp, đă có ba lần làm đấng Chuyển Luân Vương[1] tên Inda. Trước đây bảy mươi hai kiếp, đă có ba lần làm đấng Chuyển Luân Vương tên Sumana.

684. Trước đây đúng bảy mươi kiếp, đă có ba lần làm đấng Chuyển Luân Vương tên Varuṇa, được thành tựu bảy loại báu vật, là chúa tể ở bốn châu lục.

685. Bốn (tuệ) phân tích, ―(nt)― đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sīhāsanadāyaka[2] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sīhāsanadāyaka là phần thứ nhất.

--ooOoo--

12. Kư Sự về Trưởng Lăo Ekatthambhika

686. Đức Thế Tôn Siddhattha đă có hội chúng cư sĩ đông đảo. Những người ấy đă đi đến nương nhờ vào đức Phật, họ đặt niềm tin vào đức Như Lai.

687. Tất cả đă tụ hội lại, bàn bạc, rồi xây dựng hội trường dành cho bậc Đạo Sư. Không có được một cây cột trụ, họ t́m kiếm ở khu rừng bạt ngàn.

688. Khi ấy, tôi đă nh́n thấy bọn họ ở trong rừng và đă đi đến gần đám đông. Sau khi chắp tay lên, tôi đă hỏi đám đông.

689. Được tôi hỏi, những người cư sĩ có giới hạnh ấy đă trả lời rằng: “Chúng tôi có ư định xây dựng hội trường nhưng không có được một cây cột trụ.”

690. “Xin các vị hăy giao cho tôi, tôi sẽ dâng đến bậc Đạo Sư một cây cột trụ. Tôi sẽ mang cây cột trụ đến, các vị không phải bận tâm.”

691. Họ đă xem xét cây cột trụ của tôi, và đă được tin tưởng với tâm ư hớn hở. Sau đó, họ đă quay trở lại và đă đi về nhà của ḿnh.

692. Khi ấy, lúc đám đông cư sĩ ra đi không lâu, tôi đă dâng cúng cây cột trụ. Tôi đă trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đă dựng đứng cây cột trụ trước tiên.

693. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đă được sanh lên cơi trời. Có cung điện cao ráo dành cho tôi, được vươn cao một trăm tầng lầu.

694. Khi ấy, tôi luôn luôn được người hầu hạ trong lúc những chiếc trống lớn được vỗ vang. (Trước đây) năm mươi lăm kiếp, tôi đă là đức vua Yasodhara.

695. Ở tại nơi ấy, dành cho tôi cũng có cung điện được vươn cao một trăm tầng lầu, được kề cận nhà mái nhọn cao quư, và có một cây cột trụ thích ư.

696. (Trước đây) hai mươi mốt kiếp, (tôi đă là) vị Sát-đế-lỵ tên Udena. Ở tại nơi ấy, cũng có cung điện được vươn cao một trăm tầng lầu dành cho tôi.

697. Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều thọ hưởng mọi sự an lạc; điều này là quả báu của một cây cột trụ.

698. Kể từ khi tôi đă dâng cúng cây cột trụ trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một cây cột trụ.

699. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ekatthambhika[3] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ekatthambhika là phần thứ nh́.

--ooOoo--

13. Kư Sự về Trưởng Lăo Nanda

700. Tấm vải sợi lanh đă được tôi dâng cúng đến đức Thế Tôn Padumuttara, đấng Tự Chủ, bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

701. Đức Phật tên Padumuttara đă chú nguyện đến tôi đây rằng: “Với sự dâng cúng tấm vải này, ngươi sẽ có được màu da vàng chói.

702. Được thúc đẩy bởi các nhân tố trong sạch, sau khi thọ hưởng hai sự thành tựu (trời và người), ngươi sẽ trở thành người em trai của đức Thế Tôn Gotama.

703. Là người say mê ái dục, thiên về khoái lạc, bám víu vào sự tham đắm trong các dục, khi ấy bị thúc đẩy bởi đức Phật, ngươi sẽ xuất gia.

704. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi xuất gia ở tại nơi ấy, ngươi sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, và sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.”

705. (Trước đây) một trăm ngàn kiếp đă có bốn vị (Chuyển Luân Vương) tên là Cela. (Trước đây) sáu mươi ngàn kiếp đă có bốn vị (là Chuyển Luân Vương) tên là Upacela.

706. (Trước đây) năm mươi ngàn kiếp đă có bốn vị (là Chuyển Luân Vương) tên cũng là Cela, được thành tựu bảy loại báu vật, là chúa tể ở bốn châu lục.

707. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Nanda[4] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Nanda là phần thứ ba.

--ooOoo--

14. Kư Sự về Trưởng Lăo Cullapanthaka

708. Lúc bấy giờ, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đă tách ĺa khỏi đám đông, và Ngài đă cư ngụ ở núi Hi-mă-lạp.

709. Khi ấy, tôi cũng sống ở khu ẩn cư tại núi Hi-mă-lạp. Khi đấng Anh Hùng ngự đến không bao lâu, tôi đă đi đến gặp đấng Lănh Đạo Thế Gian.

710. Tôi đă cầm lấy chiếc lọng che bằng bông hoa và đă đi đến gần đấng Nhân Ngưu. Trong lúc Ngài đang nhập định, tôi đă tạo ra sự khuấy rối.

711. Tôi đă nâng lên bằng hai bàn tay và đă dâng lên chiếc lọng che bằng bông hoa. Đức Thế Tôn, bậc Đại Hiền Trí Padumuttara đă thọ nhận.

712. Tất cả chư Thiên có tâm hoan hỷ, các vị ấy đi đến núi Hi-mă-lạp. Các vị đă thể hiện hành động tán thưởng (nói rằng): “Bậc Hữu Nhăn sẽ nói lời tùy hỷ.”

713. Nói xong điều này, chư Thiên ấy đă đi đến gần bậc Tối Thượng Nhân trong lúc Ngài đang ở trên không trung cầm lấy chiếc lọng bằng hoa sen hồng thượng hạng của tôi. (Đức Phật đă nói rằng):

714. “Vị đạo sĩ khổ hạnh đă nâng lên chiếc lọng có một trăm cánh sen và đă dâng cúng đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

715. (Người ấy) sẽ cai quản Thiên quốc hai mươi lăm kiếp và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi bốn lần.

716. (Người ấy) luân hồi đến chốn nào, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, khi đang đứng ở bên ngoài trời th́ sẽ có đóa hoa sen hồng che chở (cho vị ấy).

717. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

718. Khi Phật Ngôn được công bố, (người ấy) sẽ đạt được bản thể nhân loại và sẽ trở thành vị giỏi nhất về (biến hóa) thân được tạo ra bởi ư.

719. Sẽ có hai người anh em trai. Các hai đều có tên là Panthaka. Sau khi thọ hưởng mục đích tối thượng, cả hai sẽ làm sáng chói Giáo Pháp.”

720. Được mười tám tuổi, tôi đây đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh. Tôi không đạt được điều ǵ xuất sắc ở trong Giáo Pháp của người con trai ḍng Sakya.

721. Bản chất của tôi đă là đần độn, trước đây tôi đă bị khi dễ. Và người anh trai đă xua đuổi tôi rằng: “Bây giờ ngươi hăy đi về nhà của ḿnh đi.”

722. Trong khi bị xua đuổi ở tại cổng ra vào của tu viện dành cho Hội Chúng, với tâm ư rầu rĩ tôi đây đă đứng tại nơi ấy với niềm ao ước về bản thể Sa-môn.

723. Đức Thế Tôn đă đi đến nơi ấy. Ngài đă xoa đầu tôi. Sau khi nắm lấy cánh tay của tôi, Ngài đă dẫn tôi đi vào tu viện dành cho Hội Chúng.

724. Với ḷng thương tưởng, bậc Đạo Sư đă đưa cho tôi miếng giẻ chùi chân (và nói rằng): “Ngươi hăy chú nguyện cho được trong sạch như vầy theo một hướng đă được xác định đúng đắn.”

725. Sau khi cầm lấy vật ấy bằng hai tay, tôi đă nhớ lại đóa sen hồng. Tại nơi ấy tâm của tôi đă được giải thoát, tôi đă đạt được phẩm vị A-la-hán.

726. Tôi đă đạt đến sự toàn hảo về mọi phương diện trong việc (biến hóa) các thân được tạo ra bởi ư. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

727. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Cullapanthaka đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Cullapanthaka là phần thứ tư.

--ooOoo-- 

15. Kư Sự về Trưởng Lăo Piḷindivaccha

728. Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian nhân vật cao cả Sumedha đă Niết Bàn, với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă thể hiện sự cúng dường đến ngôi bảo tháp.

729. Và ở tại nơi ấy, các vị nào là bậc Lậu Tận, có sáu thắng trí, có đại thần lực, tôi đă triệu tập các vị ấy lại ở tại nơi ấy và đă thực hiện bữa trai phạn đến Hội Chúng.

730. Lúc bấy giờ, vị thị giả của đức Thế Tôn Sumedha tên là Sumodha đă có mặt. Khi ấy, vị ấy đă nói lời tùy hỷ.

731. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đă sanh về Thiên cung. Tám mươi sáu ngàn tiên nữ đă cùng tôi vui sướng.

732. Các nàng ấy luôn luôn phục ṭng chỉ ḿnh tôi bằng mọi thứ dục lạc, tôi vượt trội các vị Thiên nhân khác; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.

733. Vào kiếp thứ hai mươi lăm, tôi đă là vị Sát-đế-lỵ tên Varuṇa. Khi ấy, tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương có vật thực vô cùng tinh khiết.

734. Dân chúng không gieo hạt giống, cũng không theo sau lưỡi cày, họ thọ dụng gạo sāli này không phải cày không phải nấu.

735. Sau khi trị v́ vương quốc tại nơi ấy, tôi đă đi đến bản thể Thiên nhân lần nữa. Khi ấy, cũng giống như tôi họ đă được tái sanh, có sự đầy đủ về của cải.

736. Tất cả sanh linh, là bạn hay không phải là bạn, đều không hăm hại tôi. Thậm chí tôi được tất cả yêu quư; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.

737. Kể từ khi tôi đă cúng dường vật thí trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc thoa vật thơm (ở ngôi bảo tháp).

738. Ở vào kiếp Bhadda này, tôi đă là vị thống lănh dân chúng độc nhất, là đấng Chuyển Luân Vương có đại oai lực, có sức mạnh lớn lao.

739. Tôi đây đă an trú nhiều người vào năm giới cấm và c̣n giúp cho họ đạt đến nhàn cảnh nữa, tôi đă được chư Thiên yêu quư.

740. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Piḷindivaccha đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Piḷindivaccha là phần thứ năm.

--ooOoo-- 

16. Kư Sự về Trưởng Lăo Rāhula

741. Tôi đă lắp đặt gương soi ở ṭa lâu đài bảy tầng của đức Thế Tôn Padumuttara là bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

742. Được tùy tùng bởi một ngàn bậc Vô Lậu, bậc Đại Hiền Trí, đấng Chúa Tể của loài người, bậc Nhân Ngưu đă đi đến hương thất.

743. Trong lúc làm cho hương thất chiếu sáng, vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu, bậc Đạo Sư đứng ở Hội Chúng tỳ khưu đă nói lên những lời kệ này:

744. “Nhờ người nào chỗ ngụ này được chiếu sáng và gương soi đă khéo được lắp đặt, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

745. Có các tấm gương làm bằng vàng, làm bằng bạc, và làm bằng ngọc bích. Từ tấm gương sẽ hiện ra bất cứ những ǵ được yêu thích ở trong tâm.

746. Người ấy sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc sáu mươi bốn lần, và kế tiếp đó sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.

747. Vào kiếp thứ hai mươi mốt, (người ấy) sẽ là vị Sát-đế-lỵ tên Vimala, sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương là người chinh phục bốn phương.

748. Có thành phố tên Reṇuvatī được xây dựng bằng các viên gạch, được kiến trúc dạng h́nh vuông trải dài ba trăm do-tuần.

749. Có ṭa lâu đài tên Sudassana được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma, có các nhà mái nhọn cao quư được điểm tô bằng bảy loại châu báu.

750. Được nhộn nhịp với mười loại âm thanh, được đông đảo các nhà pháp thuật, (thành phố này) sẽ là tương tợ như thành phố Sudassana của chư Thiên.

751. Ánh sáng của thành phố ấy phát ra ngay trong khi mặt trời đang mọc, và luôn luôn chiếu sáng thành phố ấy tám do-tuần ở xung quanh.

752. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

753. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mệnh chung từ cơi trời Đẩu Suất, người ấy sẽ trở thành con trai của đức Thế Tôn Gotama.

754. Nếu sống tại gia, người ấy có thể trở thành đấng Chuyển Luân Vương. Việc con người như thế ấy đi đến sự vui sướng trong đời sống tại gia là không có cơ sở.

755. Sau khi ĺa khỏi gia đ́nh, người ấy sẽ xuất gia, có sự hành tŕ tốt đẹp, và sẽ trở thành vị A-la-hán với tên là Rāhula.”

756. Bạch đấng Đại Hiền Triết, giống như loài chim kikī bảo vệ trứng, giống như loài ḅ mộng bảo vệ cái đuôi, con là người cẩn trọng, được tṛn đủ về giới, con đă hộ tŕ như vậy.

757. Sau khi hiểu được Giáo Pháp của Ngài, tôi đă sống vui sướng trong Giáo Pháp. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

758. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Rāhula đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 Kư sự về trưởng lăo Rāhula là phần thứ sáu.

--ooOoo--

17. Kư Sự về Trưởng Lăo Upasena

759. Khi đức Thế Tôn Padumuttara, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đă ngồi xuống ở sườn núi, tôi đă đi đến gần bậc Tối Thượng Nhân ấy.

760. Sau khi nh́n thấy bông hoa kaṇikāra đă được nở rộ, khi ấy tôi đă ngắt ĺa ở cuống hoa. Sau khi tô điểm ở chiếc lọng che, tôi đă che ở phía bên trên của đức Phật.

761. Và tôi đă dâng lên vật thực gồm có cơm thượng hạng và thức ăn ngon. Tại nơi ấy, tôi đă chăm lo bữa ăn cho tám vị Sa-môn với đức Phật là vị thứ chín.

762. 763. Đấng Đại Hùng, bậc Tự Chủ, nhân vật cao cả đă nói lời tùy hỷ rằng: “Do sự dâng cúng chiếc lọng che này và sự hiến tặng món cơm thượng hạng, do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, (người này) sẽ thọ hưởng sự thành công. (Người này) sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi sáu lần.

764. Và (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương hai mươi mốt lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

765. Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên là Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

766. Trong khi Giáo Pháp đang chiếu sáng, (người này) sẽ đi đến bản thể nhân loại, sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Upasena.”

767. (Đây) là lần cuối cùng của tôi trong sự luân chuyển, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tôi duy tŕ thân mạng cuối cùng sau khi đă tiêu diệt Ma Vương cùng với đạo quân binh.

768. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Upasena Vaṅgantaputta đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Upasenavaṅgantaputta là phần thứ bảy.

(Tụng phẩm thứ ba).

--ooOoo--

18. Kư Sự về Trưởng Lăo Raṭṭhapāla

769. Con voi cao quư, có ngà như cán cày, là phương tiện di chuyển của đức vua đă được tôi dâng cúng đến đức Phật Padumuttara, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

770. (Con voi) được rạng rỡ với chiếc lọng trắng, có các vật trang sức dành cho loài voi. Sau khi đă cho định giá toàn bộ vật ấy, tôi đă cho xây dựng tu viện dành cho Hội Chúng

771. Tôi đă cho xây dựng năm mươi bốn ngàn ṭa lâu đài và đă thực hiện bữa trai phạn lớn lao rồi đă dâng đến bậc Đại Ẩn Sĩ.

772. Đấng Đại Hùng, bậc Tự Chủ, nhân vật cao cả đă nói lời tùy hỷ. Trong lúc làm cho tất cả dân chúng được vui mừng, Ngài đă thuyết giảng về đạo lộ Bất Tử.

773. Đức Phật tên Padumuttara đă chú nguyện về việc ấy cho tôi. Sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, Ngài đă nói lên những lời kệ này:

774. “Người này đă cho xây dựng năm mươi bốn ngàn ṭa lâu đài, Ta sẽ thuyết giảng về quả thành tựu. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

775. Mười tám ngàn ngôi nhà mái nhọn sẽ được hiện ra ở cung trời tối thượng (dành cho người này) và chúng được làm toàn bộ bằng vàng.

776. (Người này) sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc năm mươi lần và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm mươi tám lần.

777. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

778. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mạng chung từ thế giới chư Thiên, vị ấy sẽ lập tức được sanh lên ở gia tộc sang trọng, có của cải lớn lao.

779. Về sau, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, vị ấy sẽ xuất gia và sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, có tên là Raṭṭhapāla.

780. Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, được an tịnh, không c̣n mầm mống tái sanh, (người ấy) sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, sẽ Niết Bàn, không c̣n lậu hoặc.”

781. Tôi đă vươn dậy, đă ra đi, đă từ bỏ sự thành đạt về của cải. Của cải ví như băi nước bọt, sự yêu thương đối với của cải không được t́m thấy ở nơi tôi.

782. Tôi có sự tinh tấn, có khả năng tiến hành các phận sự là điều kiện đưa đến sự an ổn khỏi các điều ràng buộc. Tôi duy tŕ thân mạng cuối cùng ở Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.

783. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Raṭṭhapāla đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Raṭṭhapāla là phần thứ tám.

--ooOoo--

19. Kư Sự về Trưởng Lăo Sopāka

784. Trong khi tôi đang dọn dẹp cái hang ở khu rừng tại ngọn núi cao nhất, đức Thế Tôn tên Siddhattha đă đi đến gặp tôi.

785. Sau khi nh́n thấy đức Phật đă đi lại gần, tôi đă trải ra tấm thảm và đă dâng cúng chỗ ngồi làm bằng bông hoa đến bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

786. Sau khi ngồi xuống ở chỗ ngồi làm bằng bông hoa, và sau khi biết được cảnh giới tái sanh của tôi, bậc Lănh Đạo Thế Gian Siddhattha đă thốt lên về tính chất vô thường rằng:

787. “Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường, có pháp sanh và diệt, sau khi sanh lên chúng hoại diệt, sự tịnh lặng của chúng là an lạc.”

788. Sau khi nói điều ấy, đấng Toàn Tri, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Trí Tuệ đă bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.

789. Sau khi từ bỏ tà kiến của ḿnh, tôi đă tu tập tưởng về vô thường. Sau khi tu tập một ngày, tôi đă mệnh chung ở tại nơi ấy.

790. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, tôi đă thọ hưởng hai sự thành tựu (trời và người). Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đă sanh vào ḍng dơi hạ liệt.

791. Sau khi ĺa khỏi gia đ́nh, tôi đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.

792. Có sự ra sức tinh tấn, có tính khẳng quyết, khéo được định tĩnh trong các giới, sau khi làm vui ḷng bậc Long Tượng vĩ đại, tôi đă đạt được sự tu lên bậc trên.

793. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng bông hoa.

794. Kể từ khi tôi đă tu tập tưởng (về vô thường) trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi đă đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc trong khi đang tu tập tưởng (về vô thường) ấy.

795. Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sopāka đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sopāka là phần thứ chín.

--ooOoo--

20. Kư Sự về Trưởng Lăo Sumaṅgala

796. Có ư định dâng tặng phẩm vật hiến cúng, tôi đă cho chuẩn bị vật thực. Trong khi chờ đợi các vị Bà-la-môn, tôi đă đứng ở khu vực bùng binh rộng lớn.

797. Và tôi đă nh́n thấy đấng Toàn Giác Piyadassī có danh vọng lớn lao, bậc Hướng Đạo của toàn bộ thế gian, đấng Tự Chủ, nhân vật cao cả.

798. Được tháp tùng bởi các vị Thinh Văn, đức Thế Tôn có hào quang, tợ như mặt trời đang chói sáng, đang tiến bước ở trên đường lộ.  

799. Sau khi chắp tay lên, tôi đă làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín. Tôi đă thỉnh mời dầu chỉ bằng tâm ư: “Mong sao bậc Đại Hiền Triết đi đến gần.”

800. Biết được ư định của tôi, đấng Đạo Sư, bậc Vô Thượng ở thế gian, cùng với một ngàn bậc Lậu Tận đă đi đến cửa nhà của tôi.

801. “Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Xin thỉnh Ngài bước lên ṭa lâu đài và ngồi xuống ở bảo tọa sư tử.

802. Bậc đă (tự) rèn luyện có đoàn tùy tùng đă được rèn luyện, bậc đă (tự) vượt qua, bậc cao quư trong số các vị đang tiếp độ (chúng sanh) vượt qua sau khi bước lên ṭa lâu đài đă ngồi xuống ở chỗ ngồi quư cao.

803. Được tịnh tín, tôi đă tự tay ḿnh dâng cúng lên đức Phật vật thực mà tôi có được (và) đă được chuẩn bị ở trong căn nhà của chính ḿnh.

804. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, sanh niềm phấn khởi, tôi đă chắp tay lễ bái đức Phật tối thượng. Ôi tính chất cao thượng của đức Phật!

805. Trong số 8 hạng Thánh Nhân tùy tùng đang thọ thực, có nhiều bậc Vô Lậu. Oai lực ấy là của chính Ngài, con đi đến nương tựa vào Ngài.

806. Và đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, đă ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đă nói lên những lời kệ này:

807. “Người nào đă chăm lo vật thực đến Hội Chúng có bản thể chính trực, định tĩnh, và (đến) đức Như Lai bậc Toàn Giác. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

808. Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc hai mươi bảy lần. Được hài ḷng với việc làm của chính ḿnh, người ấy sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên.

809. Và người ấy sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương mười tám lần, và sẽ ngự trị năm trăm quốc độ thuộc đất liền ở trái đất.”

810. Sau khi đă đi sâu vào trong khu vườn cây, khu rừng thưa, khu rừng rậm được lai văng bởi loài cọp, và sau khi đă ra sức nỗ lực, các phiền năo đă được thiêu đốt bởi tôi.

811. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây 1.800 kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng bữa ăn.

812. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sumaṅgala đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sumaṅgala là phần thứ mười.

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Vị có bảo tọa sư tử, vị có một cây cột trụ, vị Nanda, vị Cullapanthaka, vị Piḷinda, và luôn cả vị Rāhula, vị Vaṅganta, vị Raṭṭhapāla, vị Sopāka, và luôn cả vị Maṅgala là mười (kư sự) thuộc phẩm thứ nh́. Và ở đây, có một trăm ba mươi tám câu kệ đă được giảng giải

Phẩm Sīhāsanadāyaka là phẩm thứ nh́.

--ooOoo--

 

III. PHẨM SUBHŪTI

21. Kư Sự về Trưởng Lăo Subhūti

813. Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có ngọn núi tên là Nisabha, có khu ẩn cư của tôi đă khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đă khéo được tạo lập.

814. Khi ấy, là vị đạo sĩ tóc bện có sự khổ hạnh cao tột tên là Kosiya, tôi sống ở (ngọn núi) Nisabha, mỗi một ḿnh không có người thứ hai.

815. Khi ấy, tôi không thọ dụng trái cây, rễ cây, và lá cây (c̣n ở trên cây). Trong khi ấy, tôi sống nhờ các lá cây úa vàng đă rụng.

816. Ngay cả trong khi đang buông bỏ mạng sống, tôi cũng không làm cho sự nuôi mạng bị hư hỏng. Tôi làm cho tâm của ḿnh được hài ḷng, tôi tránh xa sự tầm cầu sai trái (trong việc nuôi mạng).

817. Mỗi khi tâm liên quan đến tham ái sanh khởi ở tôi, tôi tự ḿnh quán sát. Khi được chăm chú, tôi đă thuần hóa tâm tham ái ấy rằng:

818. “Ngươi bị ái luyến ở điều quyến rũ, bị sân hận ở điều gây khó chịu, và bị mê muội bởi điều làm cho mê mẩn, ngươi hăy tự ḿnh thoát ra khỏi khu rừng.

819. Trú xứ này dành cho các đạo sĩ khổ hạnh đă được thanh tịnh, không c̣n nhơ nhuốc. Ngươi chớ làm hư hoại sự thanh tịnh, ngươi hăy tự ḿnh thoát ra khỏi khu rừng.

820. (Nếu) trở thành người tại gia, ngươi sẽ luôn gánh chịu sự bị ràng buộc. Ngươi cũng chớ lầm lẫn về hai việc (xuất gia và tại gia), ngươi hăy tự ḿnh thoát ra khỏi khu rừng.

821. Giống như loại củi gỗ thiêu xác chết không phải là vật để dùng cho công việc ở bất cứ nơi nào khác, dầu ở làng mạc hay rừng thẳm, bởi v́ nó không c̣n được xem là củi đốt nữa.

822. Tợ như loại củi gỗ thiêu xác chết, ngươi không c̣n là người tại gia và cũng không phải là xuất gia. Hôm nay ngươi là người không c̣n thuộc về cả hai hạng, ngươi hăy tự ḿnh thoát ra khỏi khu rừng.

823. Nếu điều này xảy ra cho ngươi, th́ ai nhận biết điều này ở ngươi? Nếu ngươi từ bỏ phận sự về đức tin th́ sẽ có nhiều sự biếng nhác ở ngươi.

824. Các bậc tri thức sẽ ghét bỏ ngươi giống như người dân thành phố chán ghét sự ô nhiễm. Các bậc ẩn sĩ sẽ xua đuổi và luôn quở trách ngươi.

825. Các bậc tri thức sẽ phê phán ngươi đă vi phạm lời giáo huấn. Ngay trong khi không đạt được sự cộng trú, làm sao ngươi có thể sinh sống?

826. Con voi có sức mạnh đến gần và xua đuổi con voi là loài mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi, được sáu mươi tuổi ra khỏi bầy.

827. Trong khi bị tách rời khỏi bầy, con voi không có được sự an ổn, thoải mái. Nó bị khổ sở, tâm rối loạn. Trong khi buồn bực, nó bị giao động.

828. Tương tợ như thế ấy, các vị đạo sĩ tóc bện cũng sẽ xua đuổi ngươi là kẻ có tâm ư xấu xa. Trong khi bị tách rời khỏi các vị ấy, ngươi sẽ không đạt được sự an ổn, thoải mái.

829. Bị xâm nhập bởi mũi tên sầu muộn, ngươi bị thiêu đốt v́ sự bực bội dầu là ban ngày hoặc ban đêm, tợ như con voi bị tách rời khỏi bầy.

830. Giống như vàng kim loại không bao giờ làm cho cái búa bị thiêu đốt ở bất cứ đâu, tương tợ như thế với sự ĺa bỏ giới ngươi sẽ không làm cho (phiền năo) được thiêu đốt ở bất cứ nơi nào.

831. Dầu cho đang sống ở tại gia, ngươi sẽ sinh sống cách nào? Tài sản thuộc về người mẹ cũng như thuộc về người cha để dành lại cho ngươi là không có.

832. Trong khi tự ḿnh làm công việc khiến mồ hôi tuôn ra ở cơ thể, ngươi sẽ sinh sống ở tại gia như vậy. Tốt đẹp thay là điều ấy không được ngươi ưa thích.”

833. Tại nơi ấy, tôi ngăn chặn tâm có khuynh hướng bị ô nhiễm theo cách như thế. Sau khi thực hiện lời giảng giải với nhiều pháp khác nhau, tôi đă ngăn chặn được các suy nghĩ xấu xa.

834. Như thế, trong khi tôi đang an trú với sự an trú vào sự không xao lăng, ba mươi ngàn năm đă trôi qua khi tôi ở trong khu rừng.

835. Sau khi nh́n thấy (tôi là) người tầm cầu mục đích tối thượng được thỏa thích với sự không xao lăng, bậc Toàn Giác Padumuttara đă đi đến gặp tôi.

836. Là bậc vô lượng, không người tương đương, có hào quang màu (vàng chói) của trái cây timbarūsaka, không ai sánh bằng về dáng vóc, khi ấy đức Phật đă đi kinh hành ở không trung.

837. Tợ như cây sālā chúa đă được trổ hoa, tợ như tia chớp ở khoảng giữa đám mây trên bầu trời, đức Phật không ai sánh bằng về trí tuệ khi ấy đă đi kinh hành ở không trung.

838. Tợ như con sư tử chúa không bị hăi sợ, tợ như con voi chúa kiêu hănh, tợ như con cọp chúa chói sáng, (đức Phật) khi ấy đă đi kinh hành ở không trung.

839. Có hào quang màu vàng chói của đồng tiền vàng, giống như than hồng của gỗ khadira, như là viên ngọc ma-ni như ư, (đức Phật) khi ấy đă đi kinh hành ở không trung.

840. Với ánh sáng tinh khiết của ngọn núi Kelāsa, tợ như mặt trăng vào ngày rằm, tợ như mặt trời ở chính ngọ, (đức Phật) khi ấy đă đi kinh hành ở không trung.

841. Sau khi nh́n thấy Ngài đang đi kinh hành ở không trung, khi ấy tôi đă suy nghĩ như vầy: “Phải chăng chúng sanh này là Thiên nhân, hay đây là loài người?

842. Con người như thế này ở trên trái đất th́ ta chưa từng được nghe hoặc được thấy. Cũng có lời chú thuật (về tướng mạo), người này sẽ là bậc đạo sư.”

843. Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đă làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín. Khi ấy tôi đă gom lại nhiều loại bông hoa và vật thơm.

844. Sau khi chuẩn bị chỗ ngồi bằng bông hoa, tôi đă nói với bậc có tâm ư tốt đẹp, làm thích ư, vị đứng đầu trong số các bậc Điều Phục Nhân lời nói này:

845. “Bạch đấng Đại Hùng, chỗ ngồi này đă được con chuẩn bị là thích hợp đối với Ngài. Trong khi làm cho tâm của con được vui vẻ, xin Ngài hăy ngồi xuống ở chỗ ngồi bằng bông hoa.”

846. Đức Thế Tôn đă ngồi xuống ở nơi ấy, tợ như con sư tử không bị hăi sợ. Đức Phật đă ngồi ở chỗ ngồi bằng bông hoa quư cao trong bảy ngày đêm.

847. Trong khi lễ bái (Ngài), tôi đă đứng bảy ngày đêm. Bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian đă xuất khỏi thiền định.  

848. Trong khi tán dương việc làm của tôi, Ngài đă nói lời nói này: “Ngươi hăy tu tập sự niệm tưởng về đức Phật là (pháp) vô thượng trong các pháp tu tập.

849. Sau khi tu tập về sự niệm tưởng này, ngươi sẽ được tṛn đủ tâm ư và sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên ba mươi ngàn kiếp.

850. Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần. Ngươi sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở trong quốc độ một ngàn lần.

851. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Ngươi sẽ thọ hưởng mọi thứ ấy; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật.

852. Trong khi luân hồi ở cơi này cơi khác, ngươi sẽ đạt được tài sản lớn lao, sẽ không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật.

853. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

854. Sau khi từ bỏ tám mươi koṭi (tám trăm triệu), nhiều nô tỳ và nhân công, ngươi sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.

855. Sau khi làm hài ḷng đấng Toàn Giác Gotama bậc cao quư ḍng Sakya, ngươi sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư với tên gọi là Subhūti.

856. Sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, (đức Phật ấy) sẽ thiết lập ngươi vào vị thế tối thắng về hai phương diện là có đức hạnh đáng được cúng dường và tương tợ như thế về việc an trú vào sự không say đắm.”

857. Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác tên Padumuttara, bậc Trí Tuệ đă bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.

858. Được chỉ dạy bởi đấng Bảo Hộ Thế Gian, tôi đă lễ bái đức Như Lai. Được hoan hỷ, tôi luôn luôn tu tập sự niệm tưởng về đức Phật, là pháp tối thượng.

859. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

860. Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần. Và tôi đă là đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần.

861. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Tôi thọ hưởng sự thành tựu tốt đẹp; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật.

862. Trong khi luân hồi ở cơi này cơi khác, tôi đạt được tài sản lớn lao, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật.

863. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật.

864. Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Subhūti đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Subhūti là phần thứ nhất.

--ooOoo--

22. Kư Sự về Trưởng Lăo Upavāna

865. Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Sau khi phát cháy như là khối lửa, bậc Toàn Giác đă viên tịch Niết Bàn.

866. Đám đông dân chúng đă cùng nhau đi đến và cúng dường đức Như Lai. Sau khi hoàn tất giàn hỏa thiêu khéo được thực hiện, họ đă nâng thi thể lên.

867. Sau khi thực hiện phận sự đối với thi thể, họ đă tập trung xá-lợi ở tại nơi ấy. Tất cả bọn họ gồm chư Thiên và loài người đă xây dựng ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.

868. Tầng thứ nhất làm bằng vàng, tầng thứ nh́ làm bằng ngọc ma-ni, tầng thứ ba làm bằng bạc, tầng thứ tư làm bằng ngọc pha-lê.

869. Tương tợ, viền mép của tầng thứ năm đă được làm bằng hồng ngọc, tầng thứ sáu làm bằng đá quư, phần bên trên làm bằng tất cả các loại châu báu.

870. Phần bên dưới làm bằng ngọc ma-ni, bục nền làm bằng châu báu. Được làm toàn bộ bằng vàng, ngôi bảo tháp vươn lên chiều cao một do-tuần.

871. Khi ấy, chư Thiên đă tụ hội lại ở nơi ấy và đă cùng nhau bàn bạc rằng: “Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.

872. Xá-lợi không có các mảnh rời rạc, (xá-lợi) thân thể được kết thành một khối. Chúng ta sẽ thực hiện lớp vỏ bọc ở ngôi bảo tháp dành cho đức Phật này.”

873. Với bảy loại châu báu, chư Thiên đă làm tăng thêm một do-tuần nữa. Có chiều cao hai do-tuần, ngôi bảo tháp ấy xua đi bóng tối.

874. Khi ấy, loài rồng đă tụ hội lại ở nơi ấy và đă cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người và luôn cả chư Thiên, bọn họ đă kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.

875. Thế gian cùng với chư Thiên không xao lăng, chúng ta chớ nên xao lăng. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.”

876. Sau khi đă tụ tập chung lại, loài rồng đă phủ lớp ngọc bích, ngọc sa-phia, và ngọc ma-ni như ư lên ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.

877. Giờ đây, ngôi bảo điện dành cho đức Phật đă được làm bằng ngọc ma-ni toàn bộ, khi ấy có chiều cao ba do-tuần, là nguồn tạo ra ánh sáng.

878. Khi ấy, các nhân điểu đă tụ hội lại và đă cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, chư Thiên, và loài rồng, bọn họ đă kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.

879. Thế gian cùng với chư Thiên không xao lăng, chúng ta chớ nên xao lăng. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.”

880. Loài nhân điểu đă thực hiện ở ngôi bảo tháp lớp vỏ bọc phụ trội toàn bộ làm bằng ngọc ma-ni. Họ cũng đă làm phát triển ngôi bảo điện của đức Phật được cao thêm một do-tuần.

881. Với chiều cao bốn do-tuần, ngôi bảo tháp của đức Phật chiếu sáng và khiến cho tất cả các phương được rực rỡ tợ như mặt trời đă mọc lên.

882. Khi ấy, các ác thần đă tụ hội lại và đă cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, luôn cả chư Thiên, loài rồng, và loài nhân điểu cũng tương tợ như thế.

883. Bọn họ đă xây dựng ngôi bảo tháp hạng nhất dành cho đức Phật tối thượng một cách cá biệt. Thế gian cùng với chư Thiên không xao lăng, chúng ta chớ nên xao lăng.

884. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy. Bằng các loại châu báu, chúng ta sẽ phủ lên ngôi bảo điện dành cho đức Phật cho được cao thêm.”

885. Các ác thần cũng đă làm phát triển ngôi bảo điện của đức Phật được cao thêm một do-tuần. Khi ấy, với chiều cao năm do-tuần, ngôi bảo tháp được rực rỡ.

888. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy. Bằng các loại ngọc pha-lê, chúng ta sẽ phủ lên ngôi bảo điện dành cho đức Phật cho được cao thêm.”

889. Loài Dạ-xoa cũng đă làm phát triển ngôi bảo điện của đức Phật được cao thêm một do-tuần. Khi ấy, với chiều cao sáu do-tuần, ngôi bảo tháp được rực rỡ.

890. Lúc bấy giờ, các Càn-thát-bà đă tụ hội lại và đă cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, chư Thiên, loài rồng, các ác thần, và loài nhân điểu cũng tương tợ như thế.

891. Tất cả đă kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đức Phật. Trong việc này chúng ta là những người chưa làm ǵ. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.

892. Sau khi đă làm thành bảy tầng, các Càn-thát-bà đă đặt lên chiếc lọng. Khi ấy, các Càn-thát-bà đă kiến tạo ngôi bảo tháp toàn bộ làm bằng vàng.

893. Khi ấy, với chiều cao bảy do-tuần, ngôi bảo tháp được rực rỡ. Đêm và ngày không phân biệt được, (v́) ánh sáng luôn luôn hiện hữu.

894. Mặt trăng, mặt trời, luôn cả các v́ sao không hơn được ánh sáng của ngôi bảo tháp. Thậm chí ánh đèn cũng đă không được đốt lên ở xung quanh một trăm do-tuần.

895. Vào thời điểm ấy, những người nào cúng dường ngôi bảo tháp, những người ấy không bước lên ngôi bảo tháp mà họ thảy lên ở không trung.

896. Được chư Thiên chỉ định, con Dạ-xoa tên Abhisammata (có nhiệm vụ) máng lên cờ hiệu hoặc ṿng hoa ở phía bên trên.

897. Những người ấy không nh́n thấy con Dạ-xoa ấy mà nh́n thấy ṿng hoa được nó mang đi. Sau khi nh́n thấy như thế rồi ra đi, tất cả những người ấy đi đến cơi tái sanh tốt đẹp.

898. Những người không có niềm tin ở lời Phật dạy và những người được tịnh tín vào Giáo Pháp có ước muốn trông thấy phép kỳ diệu th́ họ cúng dường đến ngôi bảo tháp.

899. Khi ấy, tôi đă là người làm công ở thành phố Hamsavatī. Sau khi nh́n thấy dân chúng được vui mừng, khi ấy tôi đă suy nghĩ như vầy:

900. “Đối với vị có được gian nhà xá-lợi như vầy, vị ấy ắt hẳn là đức Thế Tôn cao thượng. Và đám dân chúng này đang thể hiện trạng thái hớn hở một cách nhiệt thành.

901. Ta cũng sẽ thể hiện sự tôn kính đến đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy, ta sẽ trở thành người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy trong tương lai.

902. Có tấm thượng y đă được khéo giặt sạch bởi người thợ giặt, tôi đă máng vào ngọn tre rồi đă nâng lá cờ hiệu lên ở không trung.

903. Con Dạ-xoa Abhisammata đă cầm lấy lá cờ hiệu của tôi và đưa lên không trung. Sau khi nh́n thấy lá cờ hiệu phất phơ trong gió, tôi đă khởi lên niềm vui dào dạt.

904. Tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đă đi đến gần vị Sa-môn. Sau khi đảnh lễ vị tỳ khưu ấy, tôi đă hỏi về quả thành tựu của lá cờ hiệu.

905. Vị ấy đă giảng cho tôi về sự sanh khởi nỗi vui mừng và phỉ lạc của tôi: “Ngươi sẽ luôn luôn thọ hưởng quả thành tựu của lá cờ hiệu ấy.

906. Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống ngươi; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.

907. Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được tô điểm sẽ thường xuyên hộ tống ngươi; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.

908. Có 86.000 nữ nhân đă được trang điểm, được điểm tô với các loại vải nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.

909. Có lông mi cong, có nụ cười, vô cùng yểu điệu, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh ngươi; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.

910. Ngươi sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong 30.000 kiếp. Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần.

911. Và ngươi sẽ là đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng cách tính đếm.

912. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

913. Sau khi mệnh chung ở thế giới chư Thiên, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, được gắn liền với nghiệp phước thiện, ngươi sẽ là thân quyến của Phạm Thiên (ḍng dơi Bà-la-môn).

914. Sau khi từ bỏ 80 koṭi (tám trăm triệu), nhiều nô tỳ và nhân công, ngươi sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.

915. Sau khi làm hài ḷng đấng Toàn Giác Gotama bậc cao quư ḍng Sakya, ngươi sẽ là Thinh Văn của bậc Đạo Sư, có tên là Upavāna.

916. Việc làm đă được thực hiện ở một trăm ngàn kiếp đă cho tôi nh́n thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đă thiêu đốt các phiền năo của tôi.

917. Trong khi tôi là đấng Chuyển Luân Vương chúa tể của bốn châu lục, các ngọn cờ luôn được kéo lên ở xung quanh (tôi) đến ba do-tuần.

918. Từ khi tôi đă thực hiện việc làm trước đây 100.000 kiếp, tôi không biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.

919. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Upavāna đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 Kư sự về trưởng lăo Upavāna là phần thứ nh́.

--ooOoo— 

23. Kư Sự về Trưởng Lăo Saraṇagamaniya

920. Lúc bấy giờ, tôi đă là người hầu hạ mẹ ở thành phố Candavatī. Mẹ và cha của tôi bị mù, tôi phụng dưỡng họ.

921. Khi ấy, tôi đă đi đến nơi thanh vắng và ngồi xuống, tôi đă suy nghĩ như vầy: “Trong khi phụng dưỡng mẹ và cha, ta không đạt được sự xuất gia.

922. Bị che lấp bởi sự tăm tối ấy, (chúng sanh) bị thiêu đốt bởi ba loại lửa (tham, sân, si). Khi nỗi hăi sợ như thế ấy đă sanh khởi, không có người nào là bậc hướng đạo.

923. Đức Phật đă hiện khởi ở thế gian, Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng chiếu sáng. Với người có nghiệp phước thiện th́ bản thân có thể tiếp độ được.

924. Tôi đă học tập về ba sự nương nhờ và đă ǵn giữ chúng được toàn vẹn. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp, tôi thoát khỏi khổ cảnh.

925. Vị sa-môn tên Nisabha là vị Thinh Văn hàng đầu của đức Phật. Tôi đă đi đến gặp vị ấy và đă nhận lănh sự đi đến nương nhờ (thọ tŕ Tam Quy).

926. Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Tôi đă ǵn giữ sự đi đến nương nhờ được toàn vẹn chừng ấy thời gian.

927. Khi đang ở vào thời điểm cuối cùng, tôi đă tưởng nhớ lại sự nương nhờ ấy. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

928. Khi đă đạt đến thế giới chư Thiên, được thành tựu về nghiệp phước thiện, bất cứ khu vực nào tôi đi đến tôi đều đạt được tám chủng tử:

929. Tôi được tôn vinh ở mọi phương, tôi có tuệ sắc bén, tất cả chư Thiên đều phục tùng, tôi đạt được của cải vô lượng.

930. Có màu da vàng chói, tôi đều được yêu mến ở mọi nơi, tôi trung thành đối với các bạn hữu tôi, danh vọng của tôi là cao tột.

931. Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần. Tôi đă thọ hưởng sự an lạc của cơi trời, đă được các tiên nữ trọng vọng.

932. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

933. Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, được thành tựu về nghiệp phước thiện, tôi đă được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Sāvatthī.

934. Được những đứa trẻ tháp tùng, tôi đă rời khỏi thành phố. Có được sự cười giỡn vui đùa, tôi đă đi đến tu viện dành cho Hội Chúng.

935. Tại nơi ấy, tôi đă nh́n thấy vị sa-môn đă được giải thoát, không c̣n mầm mống tái sanh. Vị ấy đă thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi và đă ban sự nương nhờ đến tôi.

936. Sau khi lắng nghe về sự nương nhờ, tôi đây đă tưởng nhớ lại sự nương nhờ của tôi. Tôi đă ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy và đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.

937. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán. Nhận biết đức hạnh (của tôi), đấng Toàn Giác, bậc Hữu Nhăn, đă cho (tôi) tu lên bậc trên.

938. Tôi đă đi đến các sự nương nhờ trước đây vô lượng kiếp. Do đó, nghiệp khéo được tôi thực hiện đă cho tôi nh́n thấy quả báu tại đây.

939. Sự nương nhờ của tôi đă được ǵn giữ cẩn thận, tâm ư đă khéo được củng cố. Sau khi thọ hưởng mọi thứ danh vọng, tôi đă đạt đến vị thế Bất Động.

940. Những vị nào có sự lắng nghe, xin các vị hăy lắng nghe tôi nói. Tôi sẽ giảng cho các vị về đạo lộ đă được tự thân nh́n thấy của ḿnh.

941. “Đức Phật đă hiện khởi ở thế gian, Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng được hiện hữu. Tiếng trống Bất Tử đă được vỗ lên là sự xua đi các mũi tên sầu muộn.

942. Bằng sức lực của ḿnh, các vị có thể thực hiện hành động hướng thượng ở Phước Điền vô thượng, tương tợ như thế, (với năng lực của ḿnh) các vị sẽ chạm đến Niết Bàn.

943. Sau khi đă thọ nhận ba sự nương nhờ, sau khi đă ǵn giữ năm giới cấm, sau khi đă làm cho tâm được tịnh tín ở nơi đức Phật, các vị sẽ tiến hành việc chấm dứt khổ đau.

944. Sau khi thực hành tương tợ như tôi, sau khi ǵn giữ toàn vẹn các giới cấm, không bao lâu sau tất cả các vị cũng sẽ đạt được phẩm vị A-la-hán.”

945. Có được ba minh, tôi đă đạt đến thần thông, và được rành rẽ về tâm của người khác. Bạch đấng Đại Hùng, vị Thinh Văn của Ngài xin đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư.

946. (Kể từ khi) tôi đă đi đến nương nhờ đức Phật trước đây vô lượng kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đi đến nương nhờ.

947. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Tisaraṇagamaniya đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Tisaraṇagamaniya là phần thứ ba.

--ooOoo--

24. Kư Sự về Trưởng Lăo Pañcasīlasamādāniya

948. Khi ấy, tôi đă là người làm công ở thành phố Candavatī. Bị vướng bận trong việc quán xuyến công việc của người khác, tôi không đạt được sự xuất gia.

949. (Tôi đă suy nghĩ rằng): “Bị che lấp bởi sự tăm tối ấy, (chúng sanh) bị thiêu đốt bởi ba loại lửa (tham, sân, si), vậy th́ bằng phương pháp nào, ta có thể được thoát khỏi?

950. Và ta là người làm công khốn khổ, vật xứng đáng để dâng cúng th́ ta không có. Hay là ta nên thọ tŕ và làm toàn vẹn năm giới cấm?”  

951. Vị Thinh Văn của bậc Hiền Trí Anomadassī có tên là Nisabha. Tôi đă đi đến gặp vị ấy và đă nhận lănh năm điều học (về giới).

952. Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Tôi đă ǵn giữ năm giới cấm được toàn vẹn chừng ấy thời gian.

953. Khi thời điểm của tử thần đă đến, chư Thiên an ủi tôi rằng: “Thưa ngài, có cỗ xe được thắng một ngàn (ngựa) dành cho ngài, nó đă đến rồi.”

954. Khi tâm cuối cùng đang diễn tiến, tôi đă tưởng nhớ lại giới hạnh của tôi. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

955. Và tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi lần. Tôi đă thọ hưởng sự an lạc của cơi trời, đă được các tiên nữ trọng vọng.

956. Tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

957. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mạng chung từ thế giới chư Thiên, tôi đă được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Vesālī.

958. Vào thời điểm cận kề mùa mưa, trong lúc Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng đang chói sáng, mẹ và luôn cả cha của tôi đă nhận lănh năm điều học (về giới).

959. Do việc đă lắng nghe, tôi đă mau chóng tưởng nhớ lại giới hạnh của ḿnh. Tôi đă ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy và đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.

960. Vào lúc năm tuổi tính từ khi sanh, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi nhận biết đức hạnh (của tôi), đức Phật, bậc Hữu Nhăn, đă cho (tôi) tu lên bậc trên.

961. Sau khi ǵn giữ năm điều học (về giới) được toàn vẹn, trong vô lượng kiếp trước đây tôi đă không đi đến đọa xứ.

962. Do nhờ tác động của các giới cấm ấy, tôi đây đă thọ hưởng danh vọng. Trong khi ngợi ca (về quả báu của giới) cho dầu đến một koṭi (mười triệu) kiếp, tôi cũng chỉ có thể ngợi ca được một phần nhỏ.

963. Sau khi ǵn giữ năm giới cấm, tôi đạt được ba chủng tử: Tôi là người có tuổi thọ, có của cải lớn lao, có tuệ sắc bén.

964. Tôi chỉ đang ngợi ca phần phụ trội trong số toàn thể (quả báu) có liên hệ đến loài người. Sau khi luân hồi ở cơi này cơi khác, tôi đều đạt được các điều này.

965. Vị Thinh Văn của đấng Chiến Thắng là người đang thực hành giới cấm vô số kể, nếu vị ấy vui thích trong các cơi tái sanh th́ quả thành tựu sẽ như thế nào?

966. Năm giới cấm đă được thực hành tốt đẹp bởi tôi là người làm công có sự quán sát. Nhờ vào giới hạnh ấy, ngày hôm nay tôi đă cởi bỏ mọi điều trói buộc.

967. (Kể từ khi) tôi đă ǵn giữ năm giới cấm trước đây vô lượng kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của năm giới cấm.

968. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Pañcasīlasamādāniya[5] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Pañcasīlasamādāniya là phần thứ tư.

--ooOoo--

25. Kư Sự về Trưởng Lăo Annasaṃsāvaka

969. Bậc Toàn Giác (Siddhattha) có màu da vàng chói, tợ như cây cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai hảo tướng, đang đi ở khu phố chợ.

970. Sau khi nh́n thấy đấng Quang Đăng của thế gian Siddhattha, bậc vô lượng vô song, đấng Quang Minh, bậc đă được rèn luyện, tôi đă đạt được niềm phỉ lạc tột bậc.

971. Sau khi thỉnh mời bậc Toàn Giác, tôi đă chăm lo bữa ăn đến bậc Đại Hiền Trí ấy. Khi ấy, bậc Đại Bi đấng Bảo Hộ đă nói lời tùy hỷ đến tôi.

972. Sau khi làm cho tâm được tịnh tín ở đức Phật, ở đấng Đại Bi ấy là bậc tạo ra niềm an ủi cao tột, tôi đă sướng vui ở cơi trời một kiếp.

973. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng vật thực.

974. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 Đại đức trưởng lăo Annasaṃsāvaka[6] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Annasaṃsāvaka là phần thứ năm.

--ooOoo--

26. Kư Sự về Trưởng Lăo Dhūpadāyaka

975. Với tâm ư trong sạch, tôi đă dâng cúng khói hương ở liêu cốc của đức Thế Tôn Siddhattha, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

976. Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều là đối tượng yêu quư của tất cả; điều này là quả báu của việc dâng cúng khói hương.

977. Kể từ khi tôi đă dâng cúng khói hương trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng khói hương.

978. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Dhūpadāyaka[7] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Dhūpadāyaka là phần thứ sáu.

--ooOoo--

27. Kư Sự về Trưởng Lăo Pulinapūjaka

979. Sau khi bỏ đi lớp cát cũ ở cội cây Bồ Đề tối thượng của đức Thế Tôn Vipassī, tôi đă rải lên lớp cát sạch.

980. (Kể từ khi) tôi đă dâng cúng cát trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cát.

981. Trước đây năm mươi ba kiếp, tôi đă trở thành đức vua cai quản dân chúng, là vị Chuyển Luân Vương tên Mahāpulina có oai lực lớn lao.

982. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 Đại đức trưởng lăo Pulinapūjaka[8] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Pulinapūjaka là phần thứ bảy.

--ooOoo--

28. Kư Sự về Trưởng Lăo Uttariya

983. Lúc bấy giờ, tôi là con cá sấu ở bờ sông Candabhāgā. Gắn bó với khu vực kiếm ăn của ḿnh, tôi đă đi đến bến đ̣ của con sông.

984. Vào thời điểm ấy, bậc Tự Chủ Siddhattha, nhân vật cao cả ấy, có ư định vượt qua ḍng sông nên đă đi về phía bến đ̣ của con sông.

985. Và khi đấng Toàn Giác tiến đến gần, tôi cũng đă tiến đến gần nơi ấy. Tôi đă đi đến gần bậc Toàn Giác và đă thốt lên lời nói này:

986. “Bạch đấng Đại Anh Hùng, xin hăy ngự lên (ở lưng), tôi sẽ đưa Ngài sang (sông) là địa phận thuộc về tôi do tổ tiên truyền lại. Bạch đấng Đại Hiền Trí, xin hăy thương xót (đến tôi).”

987. Nghe được tiếng kêu gào của tôi, bậc Đại Hiền Trí đă ngự lên (ở lưng). Được mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đă đưa đấng Lănh Đạo Thế Gian sang (sông).

988. Ở bờ bên kia của ḍng sông, tại nơi ấy đấng Lănh Đạo Thế Gian Siddhattha đă an ủi tôi rằng: “Ngươi sẽ đạt được Bất Tử.”  

989. Sau khi chết đi ĺa bỏ thân ấy, tôi đă đi đến thế giới chư Thiên. Tôi đă thọ hưởng sự an lạc của cơi trời, đă được các tiên nữ trọng vọng.

990. Và tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc bảy lần. Tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương chúa tể của trái đất ba lần.

991. Gắn bó với sự độc cư, cẩn trọng, và khéo thu thúc, tôi duy tŕ thân mạng cuối cùng ở Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.

992. (Kể từ khi) tôi đă đưa đấng Nhân Ngưu sang (sông) trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đưa sang (sông).

993. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Uttariya đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Uttariya là phần thứ tám.

--ooOoo--

29. Kư Sự về Trưởng Lăo Ekañjalika

994. (Tôi đă nh́n thấy) bậc Toàn Giác Vipassī có màu da vàng chói, đấng Xa Phu cao quư, vị Anh Hùng của nhân loại, đấng Hướng Đạo đang đi ở khu phố chợ.

995. Sau khi nh́n thấy vị Huấn Luyện Viên cho người chưa được huấn luyện, bậc Đại Hùng Biện, đấng Đại Trí như thế ấy, được tịnh tín, tôi đă chắp tay lại với tâm ư vui mừng.

996. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc chắp tay ấy trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc chắp tay.

997. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 Đại đức trưởng lăo Ekañjalika[9] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ekañjalika là phần thứ chín.

--ooOoo--

30. Kư Sự về Trưởng Lăo Khomadāyaka

998. Lúc bấy giờ, tôi đă là người thương buôn ở thành phố Bandhumatī. Chính nhờ thế, tôi cấp dưỡng người vợ và gieo trồng sự thành tựu về nhân lành.

999. Trong khi bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī đang đi ở trên đường, tôi đă dâng cúng đến bậc Đạo Sư một tấm vải sợi lanh nhằm mục đích hành thiện.

1000. Kể từ khi tôi đă dâng cúng tấm vải sợi lanh trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng tấm vải sợi lanh.

1001. Trước đây hai mươi bảy kiếp, tôi đă là Sindhavasandana, vị chúa tể độc nhất ở bốn châu lục, được thành tựu bảy loại báu vật.

1002. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Khomadāyaka[10] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Khomadāyaka là phần thứ mười.

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Vị Subhūti, vị Upavāna, vị có sự nương nhờ, vị ǵn giữ giới, vị ngợi ca về vật thực, vị (cúng dường) khói hương, vị (dâng cúng) cát, cùng với vị Uttariya, vị có sự chắp tay, và vị dâng cúng tấm vải sợi lanh, chính là mười (kư sự) thuộc phần thứ ba. Một trăm tám mươi lăm câu kệ đă được nói lên và tất cả đă được gộp chung lại.

Phẩm Subhūti là phẩm thứ ba.

(Tụng phẩm thứ tư).

--ooOoo--

 

IV. PHẨM KUṆḌADHĀNA

31. Kư Sự về Trưởng Lăo Kuṇḍadhāna

1003. Vào lúc đấng Tự Chủ, nhân vật cao cả thiền tịnh bảy ngày, với tâm tịnh tín, với ư vui mừng tôi đă hầu cận đức Phật tối thượng.

1004. Sau khi biết được thời điểm bậc Đại Hiền Trí Padumuttara đă xuất khỏi (thiền), tôi đă cầm lấy nải chuối lớn và đă đi đến gần (Ngài).

1005. Đức Thế Tôn, đấng Lănh Đạo Thế Gian, đă thọ nhận trái cây ấy. Trong lúc làm cho tâm tôi được tịnh tín, bậc Đại Hiền Trí đă thọ dụng (trái cây ấy).

1006. Sau khi thọ dụng, đấng Toàn Giác, bậc Xa Phu vô thượng đă ngồi xuống ở chỗ ngồi của ḿnh và đă nói lên những lời kệ này:

1007. “Các cộng đồng Dạ Xoa nào sống ở ngọn núi này, các hạng chúng sanh nào sống ở rừng hăy lắng nghe lời nói của Ta.

1008. Người nào đă hầu cận đức Phật, tợ như con sư tử vua của loài thú, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

1009. Người này đây sẽ trở thành vị Thiên Vương mười một lần. Và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi bốn lần.

1010. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

1011. Người này sẽ mắng nhiếc các vị sa-môn có giới hạnh không c̣n lậu hoặc, và sẽ nhận lấy biệt danh do quả thành tựu của ác nghiệp.

1012. (Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Kuṇḍadhāna.”

1013. Được gắn bó với sự cô tịch, chứng thiền, thỏa thích về thiền, tôi đă làm vui ḷng bậc Đạo Sư và tôi sống không c̣n lậu hoặc.

1014. Được các vị Thinh Văn hàng đầu vây quanh, được Hội Chúng tỳ khưu tháp tùng, đấng Chiến Thắng đă ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đă bảo người rút thẻ bốc thăm.

1015. Sau khi đắp y một bên vai, tôi đă đảnh lễ đấng Lănh Đạo Thế Gian, và ở trước bậc Cao Quư trong số các vị đang thuyết giảng tôi đă rút được (thẻ bốc thăm) đầu tiên.

1016. Do việc làm ấy, đức Thế Tôn, bậc làm rung động mười ngàn (thế giới), đă ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đă thiết lập tôi vào vị thế hàng đầu.

1017. Tôi có sự tinh tấn, có khả năng tiến hành các phận sự là điều kiện đưa đến sự an ổn khỏi các điều ràng buộc. Tôi duy tŕ thân mạng cuối cùng ở Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.

1018. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Kuṇḍadhāna đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Kuṇḍadhāna là phần thứ nhất.

--ooOoo--

32. Kư Sự về Trưởng Lăo Sāgata

1019. Lúc bấy giờ, tôi đă là vị Bà-la-môn tên Sobhita. Được tháp tùng bởi những người học tṛ của ḿnh, tôi đă đi đến tu viện.

1020. Vào thời điểm ấy, được tháp tùng bởi Hội Chúng tỳ khưu, đức Thế Tôn bậc Tối Thượng Nhân sau khi bước ra khỏi cổng tu viện đă đứng lại.

1021. Tôi đă nh́n thấy đấng Toàn Giác bậc đă được rèn luyện ấy được tháp tùng bởi các vị đă được rèn luyện. Sau khi đă làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín, tôi đă ngợi ca đấng Lănh Đạo Thế Gian rằng:

1022. “Những loại nào là thảo mộc, tất cả các loại ấy đều tăng trưởng ở trên đất. Tương tợ như thế, các chúng sanh có sự giác ngộ được phát triển ở trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.

1023. Ngài là bậc Xa Phu có trí tuệ và là bậc Đại Ẩn Sĩ đối với đám đông dân chúng. Ngài nâng đỡ họ ra khỏi con đường sai trái và nói cho họ về Đạo Lộ.

1024. Ngài là bậc đă được rèn luyện được vây quanh bởi các vị đă được rèn luyện, là bậc chứng thiền cùng với các vị được thỏa thích về thiền, là bậc có sự nhiệt tâm cùng với những vị có tính khẳng quyết và an tịnh như thế ấy.

1025. Được tô điểm bởi đoàn tùy tùng có phước đức và trí tuệ, Ngài chói sáng. Hào quang của Ngài tỏa ra giống như (ánh sáng) trong lúc mặt trời mọc.”

1026. Sau khi nh́n thấy tâm đă được tịnh tín (của tôi), bậc Đại Ẩn Sĩ Padumuttara đứng ở Hội Chúng tỳ khưu đă nói lên những lời kệ này:

1027. “Người Bà-la-môn nào đă khởi lên niềm vui và đă tán dương về Ta, người ấy sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một trăm ngàn kiếp.

1028. Bởi v́ sau khi mệnh chung từ cơi trời Đẩu Suất, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch (người ấy) sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.

1029. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp, (người ấy) sẽ đạt được phẩm vị A-la-hán, sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, và sẽ có tên là Sāgata.

1030. Sau khi xuất gia, tôi đă ĺa bỏ ác nghiệp bằng thân. Sau khi dứt bỏ nết xấu về lời nói, tôi đă làm thanh tịnh về sự nuôi mạng sống.

1031. Trong khi sống như vậy, tôi được rành rẽ về các bản thể của (đề mục) lửa. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

1032. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sāgata đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sāgata là phần thứ nh́.

--ooOoo--

33. Kư Sự về Trưởng Lăo Mahākaccāna

1033. Ngôi bảo tháp của đấng Bảo Hộ Padumuttara tên là Paduma. Tôi đă cho xây dựng bảo tọa bằng đá và đă cho thếp vàng.

1034. Sau khi nâng cao chiếc lọng che làm bằng châu báu và chiếc quạt lông đuôi ḅ, tôi đă dâng đến đức Phật là đấng quyến thuộc của thế gian như thế ấy.

1035. Khi ấy, cho đến chư Thiên ở địa cầu tất cả đă tụ hội lại (nói rằng): “Ngài sẽ thuyết giảng về quả thành tựu của những chiếc lọng che làm bằng châu báu.

1036. Và khi bậc Đạo Sư đang thuyết giảng, chúng ta sẽ lắng nghe tất cả điều ấy. Chúng ta có thể làm sanh khởi niềm vui thích hơn nữa đối với Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.”

1037. Được vây quanh bởi Hội Chúng tỳ khưu, đấng Tự Chủ, nhân vật cao cả, sau khi ngồi xuống ở bảo tọa bằng vàng đă nói lên những lời kệ này:

1038. “Bảo tọa làm bằng vàng và châu báu này được dâng cúng bởi người nào, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

1039. Người ấy sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi kiếp và sẽ ngự trị khu vực xung quanh một trăm do-tuần bằng hào quang.

1040. Sau khi đi đến thế giới nhân loại, (người ấy) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương tên Pabhassara và sẽ có oai lực nổi bật.

1041. Dầu là ban ngày hoặc ban đêm, vị Sát-đế-lỵ sẽ rực sáng ở xung quanh tám ratana (hai mét), tợ như mặt trời đă mọc lên.

1042. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

1043. Sau khi mệnh chung từ chính cơi trời Đẩu Suất, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch (người ấy) sẽ trở thành thân quyến của đấng Phạm Thiên (ḍng dơi Bà-la-môn) với tên là Kaccāna.

1044. Về sau, người ấy sẽ xuất gia và sẽ trở thành vị A-la-hán, không c̣n lậu hoặc. Đức Gotama, đấng Quang Đăng của thế gian, sẽ thiết lập vào vị thế hàng đầu.

1045. (Người ấy) sẽ giảng giải một cách chi tiết về câu hỏi đă được hỏi một cách tóm tắt. Và trong khi giảng giải về câu hỏi ấy, (người ấy) sẽ làm thỏa măn tâm tư (của người hỏi).”

1046. Được sanh ra cao quư trong gia tộc giàu có, tôi đă là vị Bà-la-môn thông thạo về chú thuật. Sau khi từ bỏ các tài sản và lúa gạo, tôi đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh.

1047. Tôi giảng giải một cách chi tiết cho những người đang hỏi cho dầu (hỏi) một cách tóm tắt. Tôi làm thỏa măn tâm tư của những người ấy, tôi làm cho bậc Tối Thượng Nhân hoan hỷ.

1048. Được hoan hỷ về tôi, đấng Đại Hùng, bậc Tự Chủ, nhân vật cao cả, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, đă thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.

1049. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 Đại đức trưởng lăo Mahākaccāna đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Mahākaccāna là phần thứ ba.

--ooOoo--

34. Kư Sự về Trưởng Lăo Kāḷudāyī

1050. Lúc bấy giờ, đức Phật Padumuttara, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy đang đi du hành đường xa.

1051. Sau khi cầm lấy đóa sen hồng khéo được nở rộ, cùng với đóa sen xanh và bông hoa nhài, tôi đă cầm lấy món cơm thượng hạng và đă dâng cúng đến bậc Đạo Sư.

1052. Đấng Đại Hùng đă thọ dụng món cơm thượng hạng có thức ăn tuyệt hảo. Và Ngài đă cầm lấy bông hoa ấy rồi đă đưa ra cho dân chúng xem. (Ngài nói):

1053. “Hoa sen là là loài hoa tối thượng, đáng quư, đáng mến, đáng yêu ở thế gian. Người nào đă dâng cúng bông hoa này đến Ta, người ấy đă làm được việc làm vô cùng khó khăn.

1054. Người nào đă dâng lên bông hoa và đă dâng cúng món cơm thượng hạng đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

1055. Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc mười tám lần. Sẽ có hoa sen xanh, luôn cả sen hồng, và hoa nhài ở phía bên trên người ấy.

1056. Do quả thành tựu về phước báu của người này, tức thời sẽ có chiếc lọng che đượm mùi hương cơi trời được tạo ra và sẽ được duy tŕ ở trên không trung.

1057. (Người ấy) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương hai mươi lăm lần, và sẽ ngự trị năm trăm quốc độ thuộc đất liền ở trái đất.

1058. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

1059. Được hài ḷng với nghiệp của chính ḿnh, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, (người ấy) sẽ trở thành bà con quyến thuộc, là nguồn đem lại niềm hoan hỷ cho ḍng họ Sakya.

1060. Về sau, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, người ấy sẽ xuất gia. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, (người ấy) sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.

1061. Đấng quyến thuộc của thế gian Gotama ấy sẽ thiết lập vị đă đạt được các (tuệ) phân tích, có phận sự đă được làm xong, không c̣n lậu hoặc (ấy) vào vị thế tối thắng.

1062. Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, được an tịnh, không c̣n mầm mống tái sanh, người ấy sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, (và sẽ) có tên là Udāyi.”

1063. Tham, sân, si mê, ngă mạn, và gièm pha đều bị tiêu hoại. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

1064. Là người có sự tinh cần, cẩn trọng, tôi cũng đă làm vui ḷng đấng Toàn Giác. Và đấng Toàn Giác, được hoan hỷ, đă thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.

1065. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Kāḷudāyī đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Kāḷudāyī là phần thứ tư.

--ooOoo--

35. Kư Sự về Trưởng Lăo Mogharāja

1066. Lúc bấy giờ, bậc Toàn Giác Atthadassī, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại đă bước đi ở trên đường lộ, được Hội Chúng tỳ khưu tháp tùng.

1067. Được tùy tùng bởi những người học tṛ, tôi đă ĺa khỏi căn nhà. Sau khi đi ra khỏi nơi ấy, tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian.

1068. Sau khi đảnh lễ bậc Toàn Giác, tôi đă chắp tay lên ở đầu. Sau khi làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín, tôi đă ngợi ca đấng Lănh Đạo Thế Gian:

1069. “Cho đến các chúng sanh thuộc sắc giới, vô sắc giới, hoặc vô tưởng, tất cả các chúng sanh ấy đều được bao gồm ở trong trí tuệ của Ngài.

1070. Người nào dùng tấm lưới lỗ nhỏ vây quanh nước, bất cứ loài sinh vật nào ở trong nước chúng đều ở trong tấm lưới.

1071. Chúng sanh thuộc sắc giới và vô sắc giới là có tâm tư, tất cả các chúng sanh ấy đều được bao gồm ở trong trí tuệ của Ngài.

1072. Ngài tiếp độ thế gian dẫy đầy tăm tối này. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, bọn họ vượt qua được luồng (suy nghĩ về) hoài nghi.

1073. Thế gian bị bao trùm bởi vô minh, bị tràn ngập bởi bóng tối. Trong khi trí tuệ của Ngài đang chiếu sáng, các bóng tối đều bị tiêu diệt.

1074. Ánh mắt của Ngài là sự xua đi bóng tối lớn lao của tất cả (chúng sanh). Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, nhiều người được Niết Bàn.

1075. Sau khi đă đổ đầy mật ong tinh khiết vào cái hũ, tôi đă nâng lên bằng cả hai tay và đă dâng đến bậc Đại Ẩn Sĩ.

1076. Đấng Đại Hùng, bậc Đại Ẩn Sĩ đă tự tay thọ nhận. Và sau khi thọ dụng (mật ong) ấy, đấng Toàn Tri đă bay lên khoảng không ở bầu trời.

1077. Đứng ở trên không trung, bậc Đạo Sư Atthadassī đấng Nhân Ngưu, trong khi làm tâm của tôi được tịnh tín, đă nói lên những lời kệ này:

1078. “Người nào đă tán dương trí tuệ này, đă ngợi ca đức Phật tối thượng, do sự tịnh tín ấy ở trong tâm người ấy không đi đến chốn khổ đau.

1079. Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc mười bốn lần và sẽ ngự trị tám trăm quốc độ thuộc đất liền ở trái đất.

1080. Rồi (người ấy) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần và sẽ cai quản vô số xứ sở và quốc độ ở trái đất.

1081. Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, (người ấy) sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.

1082. (Người ấy) sẽ dùng trí tuệ suy xét về ư nghĩa thâm sâu vi tế và sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, có tên là Mogharāja.

1083. (Người ấy) sẽ được thành tựu ba minh, sẽ là vị có phận sự đă được làm xong, và sẽ trở thành bậc không c̣n lậu hoặc. Đấng Xa Phu cao cả Gotama sẽ thiết lập (người ấy) vào vị thế tối thắng.”

1084. Sau khi từ bỏ sự gắn bó liên quan đến loài người, sau khi cắt đứt mối ràng buộc đối với sự tái sanh, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

1085. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Mogharāja đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Mogharāja là phần thứ năm.

--ooOoo--

36. Kư Sự về Trưởng Lăo Adhimutta

1086. Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân Atthadassī đă Niết Bàn, tôi đă hộ độ Hội Chúng tỳ khưu với tâm ư trong sạch.

1087. Sau khi thỉnh mời Hội Chúng quư báu có bản thể chính trực, đă được định tĩnh, tôi đă thực hiện mái che bằng cây mía và đă phục vụ bữa ăn đến Hội Chúng tối thượng.

1088. Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều vượt trội tất cả chúng sanh; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.

1089. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây mía.

1090. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Adhimutta đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Adhimutta là phần thứ sáu.

--ooOoo--

37. Kư Sự về Trưởng Lăo Lasuṇadāyaka

1091. Lúc bấy giờ, tôi đă là vị đạo sĩ khổ hạnh ở không xa núi Hi-mă-lạp. Tôi sống bằng củ tỏi, củ tỏi là thực phẩm của tôi.

1092. Tôi đă chất (tỏi) đầy các túi xách rồi đă đi đến tu viện dành cho Hội Chúng. Được mừng rỡ, tôi đă dâng cúng củ tỏi đến Hội Chúng với tâm mừng rỡ.

1093. Sau khi dâng cúng củ tỏi đến Hội Chúng đă được thỏa thích trong Giáo Pháp của bậc Tối Thượng Nhân Vipassī, tôi đă sướng vui ở cơi trời một kiếp.

1094. Kể từ khi tôi đă dâng cúng củ tỏi trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của các củ tỏi.

1095. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 Đại đức trưởng lăo Lasuṇadāyaka[11] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Lasuṇadāyaka là phần thứ bảy.

--ooOoo--

38. Kư Sự về Trưởng Lăo Āyāgadāyaka

1096. Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian Sikhī, bậc cao quư trong số các vị đang thuyết giảng, đă Niết Bàn, tôi đă trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đă đảnh lễ ngôi bảo tháp tối thượng.

1097. Khi ấy, sau khi thảo luận với những người thợ mộc, tôi đă dâng cúng phần tài chánh. Tôi đă trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đă cho xây dựng ngôi sảnh đường dài.

1098. Tôi đă sống ở giữa chư Thiên tám kiếp không bị gián đoạn. Trong các kiếp c̣n lại, tôi đă luân hồi xen kẽ (giữa cơi trời và cơi người).

1099. Chất độc không ngấm vào cơ thể, các loại vũ khí không hăm hại được tôi, tôi không bị chết đuối ở trong nước; điều này là quả báu của ngôi sảnh đường dài.

1100. Nếu tôi ao ước cơn mưa th́ có đám mây lớn đổ mưa xuống, ngay cả chư Thiên cũng chịu sự điều khiển của tôi; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.

1101. Tôi đă là (đấng Chuyển Luân Vương) được thành tựu bảy loại châu báu ba mươi lần, không người nào chê bai tôi; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.

1102. (Kể từ khi) tôi đă cho thực hiện ngôi sảnh đường dài trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của ngôi sảnh đường dài.

1103. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Āyāgadāyaka[12] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 Kư sự về trưởng lăo Āyāgadāyaka là phần thứ tám.

--ooOoo--

39. Kư Sự về Trưởng Lăo Dhammacakkika

1104. Phía trước bảo tọa sư tử của đức Thế Tôn Siddhattha, tôi đă thiết lập bánh xe Pháp đă được làm khéo léo, đă được ngợi khen bởi các bậc trí thức.

1105. Với dáng vóc lịch sự, có binh lực và phương tiện di chuyển xứng đáng, tôi được rực rỡ. Nhiều người thường xuyên gắn bó vây quanh tôi.

1106. Có sáu mươi ngàn nhạc công luôn luôn phục vụ tôi, với đoàn tùy tùng tôi được rực rỡ; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.

1107. (Kể từ khi) tôi đă thiết lập bánh xe (Pháp) trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của bánh xe Pháp.

1108. Trước đây mười một kiếp, đă có tám vị thống lănh dân chúng cùng tên Sahassarāja, là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.

1109. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 Đại đức trưởng lăo Dhammacakkika[13] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Dhammacakkika là phần thứ chín.

--ooOoo--

40. Kư Sự về Trưởng Lăo Kapparukkhiya

1110. Ở phía trước ngôi bảo tháp tối thượng của đức Thế Tôn Siddhattha, tôi đă treo giăng những tấm vải nhiều màu sắc và đă thiết lập cây như ư.

1111. Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, có cây như ư rực rỡ hiện diện ở cánh cửa lớn của tôi.

1112. Tôi và luôn cả nhóm tùy tùng là những người sống nương tựa vào tôi, chúng tôi luôn luôn lấy vải từ cây như ư ấy rồi mặc vào.

1113. Kể từ khi tôi đă thiết lập cây (như ư) trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cây như ư.

1114. Và trước đây vào kiếp thứ bảy, đă có tám vị Sát-đế-lỵ tên Suceḷa, là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.

1115. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Kapparukkhiya[14] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Kapparukkhiya là phần thứ mười.

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Vị Kuṇḍa, vị Sāgata, vị Kaccāna, vị Udāyi, vị Mogharāja, vị Adhimutta, vị dâng cúng củ tỏi, vị có sảnh đường dài, vị liên quan bánh xe Pháp, và vị có cây như ư là thứ mười, (tổng cộng) là một ngàn hai trăm câu kệ.

Phẩm Kuṇḍadhāna là phẩm thứ tư.

--ooOoo--

 

V. PHẨM UPĀLI

41. Kư Sự về Trưởng Lăo Bhāgineyya-Upāli

1116. Đấng Lănh Đạo Thế Gian ấy được tháp tùng bởi một ngàn bậc Vô Lậu. Gắn bó với sự độc cư, Ngài ra đi (một ḿnh) để thiền tịnh.

1117. Là vị trang phục bằng da dê mang theo ba gậy chống (để máng vật dụng), tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian được vây quanh bởi Hội Chúng tỳ khưu.

1118. Tôi đă đắp tấm da dê ở một bên vai rồi đă chắp tay lên ở đầu. Sau khi đảnh lễ bậc Toàn Giác, tôi đă ngợi ca đấng Lănh Đạo Thế Gian rằng:

1119. “Giống như các loài sanh ra trong quả trứng, các loài (sanh ra) ở nơi ẩm thấp, các loài có sự hóa sanh, các loài sanh ra từ nước, tất cả các loài có cánh như các con quạ, v.v... luôn luôn có sự di chuyển ở không trung.

1120. Bất cứ hạng nào có mạng sống và sự hiện hữu dầu là hữu tưởng hoặc vô tưởng, tất cả các hạng ấy đều được bao gồm ở trong trí tuệ của Ngài.

1121. Và các hương thơm nào thuộc núi non ở ngọn núi Hi-mă-lạp tối thượng, tất cả các hương thơm ấy cũng không sánh bằng một phần giới (hương) của Ngài.

1122. Thế giới này luôn cả chư Thiên là bị lao vào sự tăm tối của si mê. Và trí tuệ của Ngài trong lúc chiếu sáng đă hủy diệt các sự tăm tối.

1123. Giống như khi mặt trời đă lặn, các chúng sanh đi đến sự tối tăm; tương tợ như vậy khi đức Phật không xuất hiện, thế gian đi đến sự si mê.

1124. Bạch đức Phật tối thượng, giống như mặt trời đang mọc lên luôn luôn làm tiêu tan bóng tối, tương tợ y như thế Ngài luôn luôn tiêu diệt sự si mê.

1125. Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, Ngài là đức Phật ở thế gian luôn cả chư Thiên. Do đă được hài ḷng với việc làm của Ngài, Ngài đă làm cho nhiều chúng sanh được hoan hỷ.”

1126. Sau khi tùy hỷ với toàn bộ sự việc ấy, bậc Đại Hiền Trí Padumuttara đấng Trí Tuệ đă bay lên không trung, tợ như loài thiên nga chúa ở trên bầu trời.

1127. Sau khi đă bay lên, bậc Toàn Giác, vị Đại Ẩn Sĩ Padumuttara, đấng Đạo Sư, đứng trên không trung đă nói lên những lời kệ này:

1128. “Người nào ca ngợi trí tuệ này bằng cách liên hệ với các ví dụ so sánh, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

1129. Người ấy sẽ trở thành vị Thiên Vương mười tám lần, và sẽ ngự trị quốc độ thuộc đất liền ở trái đất ba trăm lần.

1130. Và (người ấy) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương hai mươi lăm lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

1131. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka, sẽ xuất hiện ở thế gian.

1132. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mệnh chung từ chính cơi trời Đẩu Suất, (người ấy) sẽ có tên là Upāli dầu là hạ tiện về ḍng dơi.

1133. Và về sau, người ấy sẽ xuất gia và sẽ từ bỏ điều ác. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, (người ấy) sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.

1134. Được hoan hỷ, đức Phật Gotama, người con trai ḍng Sakya có danh vọng lớn lao ấy, sẽ thiết lập vị đă được hiểu biết về Luật ấy vào vị thế tối thắng.”

1135. Do đức tin, tôi đă xuất gia, có phận sự đă được làm xong, không c̣n lậu hoặc. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

1136. Và đức Thế Tôn đă thương tưởng đến tôi. Tôi có sự tự tin về Luật. Được hài ḷng với nghiệp của chính ḿnh, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

1137. Được thu thúc trong giới bổn Pātimokkha và ở năm giác quan, tôi nắm giữ toàn bộ tất cả về Luật là nguồn phát sanh lên châu báu.

1138. Và bậc Đạo Sư đấng Vô Thượng ở thế gian đă biết được đức hạnh của tôi. Sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, Ngài đă thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.

1139. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Upāli đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Bhāgineyya-Upāli là phần thứ nhất.

--ooOoo--

42. Kư Sự về Trưởng Lăo Soṇakoṭikaṇṇa

1140. Tôi đă thực hiện sự tô trét bằng vôi bột và đă cho xây dựng đường kinh hành của bậc Hiền Trí Anomadassī, đấng Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

1141. Tôi đă trải lót đường kinh hành với những bông hoa có màu sắc khác nhau. Sau khi thực hiện mái che ở không trung, tôi đă chăm lo bữa ăn đến đức Phật tối thượng.

1142. Tôi đă chắp tay lên và đă đảnh lễ bậc có sự hành tŕ tốt đẹp. Khi ấy, tôi đă dâng tặng ngôi giảng đường dài đến đức Thế Tôn.

1143. Biết được ư định của tôi, bậc Đạo Sư đấng Vô Thượng ở thế gian, đức Thế Tôn, bậc Hữu Nhăn đă thọ nhận, v́ ḷng bi mẫn.

1144. Sau khi thọ nhận, đấng Toàn Giác bậc xứng đáng cúng dường (ở thế gian) luôn cả chư Thiên đă ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đă nói lên những lời kệ này:

1145. “Người nào với tâm mừng rỡ đă thực hiện ngôi giảng đường dài cho Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

1146. Vào thời điểm tử biệt của người có được nghiệp phước thiện này, ngay lập tức sẽ hiện diện cỗ xe ngựa được thắng một ngàn con.

1147. Người nam này sẽ đi đến thế giới chư Thiên bằng cỗ xe ấy. Khi sự việc tốt lành được thành tựu, chư Thiên sẽ tùy hỷ.

1148. (Người này) sẽ cư ngụ ở cung điện có các nhà mái nhọn cao quư, vô cùng giá trị, đứng đầu trong các cung điện, có vữa tô là châu báu và đất sét.

1149. (Người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp, và sẽ trở thành vị Thiên Vương trong hai mươi lăm kiếp.

1150. Và (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi bảy lần. Tất cả các vị ấy đều có chung một tên là Yasodhara với cùng ư nghĩa.

1151. Sau khi thọ hưởng hai sự thành tựu và gom góp sự tích lũy về phước thiện, (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở kiếp thứ hai mươi tám.

1152. Cũng ở tại nơi ấy, có cung điện quư cao đă được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma. (Người này) sẽ cư ngụ tại thành phố được náo nhiệt với mười loại tiếng động ấy.

1153. Vô lượng kiếp về sau, (người này) với tên là Okkāka sẽ là vị vua ở trong xứ sở, là đấng bảo hộ trái đất có đại thần lực.

1154. Và người nữ quư cao ấy trong số tất cả 16.000 nữ nhân, là vị nữ Sát-đế-lỵ đă được sanh ra cao quư, sẽ hạ sanh chín người con.

1155. Sau khi sanh chín người con, người nữ Sát-đế-lỵ sẽ chết đi. Một người nữ khác trẻ trung và yêu dấu sẽ làm hoàng hậu chánh cung.

1156. Sau khi làm đức vua Okkāka vui thích, người con gái sẽ đạt được sự ưu đăi. Sau khi đạt được sự ưu đăi, người con gái ấy sẽ lưu đày các người con.

1157. Và những người con bị lưu đày ấy sẽ đi đến ngọn núi (Hi-mă-lạp) tối thượng. Do nỗi lo sợ v́ sự chia ĺa ḍng dơi, tất cả bọn họ đă sống chung với các người chị.

1158. Và một người con gái sẽ bị thương tổn bởi nhiều căn bệnh. Các vị Sát-đế-lỵ sẽ vùi lấp (nàng ở trong hố đất, nói rằng): ‘Chớ tách rời ḍng dơi của chúng ta.’

1159. Có vị Sát-đế-lỵ sẽ đưa nàng ấy đi rồi sống cùng với nàng ấy. Lúc bấy giờ, sự chia ĺa có nguồn gốc gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện.

1160. Hậu duệ của hai vị ấy sẽ thuộc về ḍng dơi tên là Koliya. Họ thọ hưởng của cải thuộc về nhân loại ở tại nơi ấy không phải là ít.

1161. Sau khi mệnh chung từ xác thân ấy, (người này) sẽ đi đến thế giới chư Thiên. Cũng ở tại nơi ấy, (người này) sẽ có được cung điện quư cao, thích ư.

1162. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, (người này) sẽ đi đến bản thể loài người và sẽ có tên là Soṇa.

1163. Có sự ra sức tinh tấn, có tính khẳng quyết, trong khi đang nỗ lực ở trong Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.

1164. Đức Thế Tôn Gotama, bậc Cao Quư ḍng Sakya, vị có sự thấy không giới hạn, bậc có sự biết toàn diện, đấng Đại Hùng sẽ thiết lập (người này) vào vị thế tối thắng.”

1165. Tôi đă được rèn luyện trong sự rèn luyện tối thượng, tâm của tôi đă khéo được củng cố, tất cả nhiệm vụ đă được đặt xuống, tôi đă Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.

1166. Đấng Long Tượng ḍng dơi Aṅgīrasa, tợ như con sư tử đă được sanh ra tốt đẹp, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu đă thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.

1167. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Soṇa Koṭikaṇṇa đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Soṇakoṭikaṇṇa là phần thứ nh́.

--ooOoo--

43. Kư Sự về Trưởng Lăo Kāḷigodhāputtabhaddiya

1168. Tất cả mọi người đi đến đức Toàn Giác Padumuttara, bậc Đại Hiền Trí có tâm từ ái, đấng Lănh Đạo cao cả của toàn thể thế gian,

1169. Tất cả (mọi người) dâng cúng vải vóc, luôn cả chỗ nằm ngồi, thực phẩm, thức ăn và nước uống đến bậc Đạo Sư (và) ở Phước Điền vô thượng.

1170. (Nghĩ rằng): “Ta cũng sẽ dâng cúng vật thí đến vị Trời của chư Thiên như thế ấy,” tôi đă thỉnh mời đức Phật tối thượng và luôn cả Hội Chúng vô thượng.

1171. Và được tôi khích lệ những người này đă thỉnh mời đức Như Lai và toàn thể Hội Chúng tỳ khưu là Phước Điền vô thượng.

1172. Tôi đă sửa soạn chiếc ghế bành bằng vàng (trị giá) một trăm ngàn, được phủ thảm lông cừu, (được làm) bằng sợi len, bông g̣n, chỉ lanh, và bông vải, là chỗ ngồi vô cùng giá trị xứng đáng với đức Phật.

1173. Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu, được vây quanh bởi Hội Chúng tỳ khưu đă đi đến cửa nhà của tôi.

1174. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă đi ra tiếp đón bậc Toàn Giác, đấng Bảo Hộ Thế Gian có danh tiếng, và đă rước Ngài vào căn nhà của ḿnh.

1175. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă làm toại ư đức Phật, đấng Lănh Đạo Thế Gian, và một trăm ngàn vị tỳ khưu với món cơm thượng hạng.

1176. Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu đă nói lên những lời kệ này:

1177. “Người nào đă dâng cúng chỗ ngồi bằng vàng được phủ thảm len lông cừu này, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

1178. Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc bảy mươi bốn lần và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.

1179. (Người ấy) sẽ ngự trị một ngàn xứ sở vương quốc ở trái đất và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm mươi mốt lần.

1180. (Người ấy) sẽ là người có gia tộc cao sang trọng số tất cả các ḍng dơi xuất thân. Và về sau, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, người ấy sẽ xuất gia và sẽ trở thành vị Thinh Văn của bậc Đạo Sư, có tên là Bhaddiya.”

1181. Gắn bó với sự độc cư, tôi đă cư ngụ ở nơi thanh vắng. Và tất cả các Quả vị đă được tôi chứng đạt, giờ đây tôi có điều ô nhiễm đă được dứt bỏ.

1182. Biết rơ mọi việc của tôi, đấng Toàn Tri, bậc Lănh Đạo Thế Gian sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu đă thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.

1183. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Bhaddiya Kāḷigodhāyaputta đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Bhaddiya Kāḷigodhāputta là phần thứ ba.

--ooOoo--

44. Kư Sự về Trưởng Lăo Sanniṭṭhāpaka

1184. Sau khi tạo nên một liêu cốc nhỏ ở trong rừng, tôi sống ở trong vùng đồi núi, tự hài ḷng với việc có hay không có, với việc có được danh tiếng hay không có danh tiếng.

1185. Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, cùng với một trăm ngàn vị có năng lực đă đi đến khu vực của tôi.

1186. Khi bậc Đại Hùng tên Padumuttara đi đến gần, tôi đă chuẩn bị tấm thảm cỏ và đă dâng cúng đến bậc Đạo Sư.

1187. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, với tâm ư trong sạch, tôi đă dâng cúng trái āmaṇḍa và nước uống đến bậc có bản thể chính trực.

1188. Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của trái āmaṇḍa.

1189. Trước đây bốn mươi mốt kiếp, tôi đă là vị Arindama độc nhất, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.

1190. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sanniṭṭhāpaka đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sanniṭṭhāpaka là phần thứ tư.

--ooOoo--

45. Kư Sự về Trưởng Lăo Pañcahatthiya

1191. Bậc Toàn Giác tên Sumedha đi ở khu phố chợ, có mắt nh́n xuống, có lời nói cân nhắc, có niệm, có giác quan thu thúc.

1192. (Dân chúng) đă mang đến tôi năm bó hoa sen xanh để làm ṿng hoa đội đầu. Được tịnh tín, tôi đă tự tay ḿnh cúng dường vật ấy đến đức Phật.

1193. Và những bông hoa được dâng lên ấy đă trở thành mái che cho bậc Đạo Sư, và đă di chuyển theo đấng Long Tượng giống như những người học tṛ di chuyển theo người thầy.

1194. (Kể từ khi) tôi đă dâng lên bông hoa cho đến ba mươi ngàn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

1195. Trước đây hai ngàn kiếp, đă có năm vị Sát-đế-lỵ cùng tên Hatthiya, là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.

1196. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Pañcahatthiya[15] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Pañcahatthiya là phần thứ năm.

--ooOoo--

46. Kư Sự về Trưởng Lăo Padumacchadaniya

1197. Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian Vipassī nhân vật cao cả đă Niết Bàn, tôi đă cầm lấy đóa sen hồng khéo được nở rộ dâng lên giàn hỏa thiêu.

1198. Và khi bông hoa được dâng lên giàn hỏa thiêu, nó đă bay lên hư không bầu trời. Tôi đă tạo nên và đă duy tŕ mái che ở không trung nơi giàn hỏa thiêu.

1199. (Kể từ khi) tôi đă dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

1200. Trước đây bốn mươi bảy kiếp, (tôi đă là) đấng Chuyển Luân Vương tên Padumissara, là người chinh phục bốn phương, có oai lực lớn lao.

1201. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Padumacchadaniya[16] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Padumacchadaniya là phần thứ sáu.

--ooOoo--

47. Kư Sự về Trưởng Lăo Sayanadāyaka

1202. Chiếc giường cao quư được trải lên bằng các lớp vải đă được tôi dâng cúng đến đức Thế Tôn Siddhattha, vị có tâm từ ái như thế ấy.

1203. Đức Thế Tôn đă thọ nhận chỗ nằm ngồi thích hợp. Đấng Chiến Thắng đă từ chỗ ngồi đứng dậy rồi bay lên không trung.

1204. (Kể từ khi) tôi đă dâng cúng chiếc giường trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng chiếc giường.

1205. Trước đây năm mươi mốt kiếp, (tôi đă là) vị tên Varuṇa Deva, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.

1206. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sayanadāyaka[17] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sayanadāyaka là phần thứ bảy.

--ooOoo--

48. Kư Sự về Trưởng Lăo Caṅkamadāyaka

1207. Sau khi gom góp các viên gạch, tôi đă cho xây dựng đường kinh hành của đấng Hiền Trí Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

1208. Đường kinh hành đă được kiến tạo tốt đẹp, cao năm ratana (1,25 mét), dài một trăm cánh tay (50 mét), đáng được trân trọng, thích ư.

1209. Đức Thế Tôn, đấng Tối Thượng Nhân Atthadassī đă thọ nhận. Ngài đă cầm lấy cát bằng bàn tay và đă nói lên những lời kệ này:

1210. “Do sự dâng cúng cát và đường kinh hành đă khéo được xây dựng này, (người ấy) sẽ thọ hưởng cát có chứa đựng bảy loại châu báu.

1211. (Người ấy) sẽ cai quản Thiên quốc ở giữa chư Thiên ba kiếp và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.

1212. Sau khi đi đến thế giới nhân loại, (người ấy) sẽ là đức vua ở quốc độ. Và người ấy sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở trái đất ba lần.”

1213. Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không c̣n biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của đường kinh hành.

1214. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Caṅkamadāyaka[18] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Caṅkamadāyaka là phần thứ tám.

--ooOoo--

49. Kư Sự về Trưởng Lăo Subhadda

1215. Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara vị thọ nhận các vật hiến cúng có danh vọng lớn lao đă tiếp độ đám đông dân chúng rồi Niết Bàn.

1216. Và trong khi bậc Toàn Giác đang Niết Bàn, mười ngàn (thế giới) đă rúng động. Khi ấy, đă có tập thể dân chúng đông đảo, và chư Thiên đă tụ hội lại.

1217. Sau khi cúng dường trầm hương cùng với các loại bột thơm và hoa nhài, tôi đă trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đă thoa lên đấng Tối Thượng Nhân.

1218. Biết được ư định của tôi, bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian, bậc Toàn Giác ngay khi đang nằm đă nói lên những lời kệ này:

1219. “Người nào đă phủ lên (cơ thể Ta) bằng vật thơm và tràng hoa vào thời điểm cuối cùng của Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

1220. Mệnh chung ở đây, người nam này sẽ đi đến cơi trời Đẩu Suất. Sau khi cai quản vương quốc ở tại nơi ấy, người ấy sẽ đi đến cơi Hóa Lạc Thiên.

1221. Sau khi cúng dường tràng hoa cao quư tối thượng theo phương thức này đây, được hài ḷng với nghiệp của chính ḿnh, người ấy sẽ thọ hưởng sự thành đạt.

1222. Người nam này cũng sẽ tái sanh ở cơi trời Đẩu Suất lần nữa. Sau khi mệnh chung từ cơi trời ấy (người này) sẽ đi đến bản thể nhân loại.

1223. Người con trai ḍng Sakya, đấng Long Tượng cao cả ở thế gian luôn cả chư Thiên, bậc Hữu Nhăn sẽ giúp cho nhiều chúng sanh giác ngộ rồi sẽ Niết Bàn.

1224. Trong khi đă thành đạt sự xuất gia (làm đạo sĩ), được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch (người này) sẽ đi đến gặp bậc Toàn Giác, và khi ấy sẽ hỏi câu hỏi.

1225. Bậc Toàn Giác, đấng Toàn Tri, bậc Lănh Đạo Thế Gian sẽ làm cho (người này) vui vẻ. Sau khi biết toàn diện về hành động phước thiện, Ngài sẽ phô bày các Chân Lư (cao thượng).

1226. Và được hài ḷng về câu hỏi, người này sẽ hớn hở, có tâm chăm chú. Sau khi đảnh lễ bậc Đạo Sư, (người này) sẽ cầu xin sự xuất gia.

1227. Đức Phật ấy, bậc rành rẽ về Giáo Pháp cao cả, sau khi nh́n thấy (người này) có tâm tịnh tín, hoan hỷ với nghiệp của ḿnh, sẽ cho (người này) xuất gia.

1228. Sau khi nỗ lực trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, người nam này sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.”

(Tụng phẩm thứ năm).

1229. Được gắn liền với nghiệp quá khứ, có sự chăm chú, khéo được định tĩnh, tôi là người con trai chánh thống của đức Phật, đă được sanh ra từ Giáo Pháp, đă được tạo ra tốt đẹp.

1230. Sau khi đi đến gặp đấng Pháp Vương, tôi đă hỏi câu hỏi tối thượng. Và trong khi giảng giải về câu hỏi của tôi, Ngài đă đưa tôi vào ḍng chảy Giáo Pháp.

1231. Sau khi hiểu được Giáo Pháp của Ngài, tôi đă sống, được thỏa thích trong Giáo Pháp. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

1232. Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Lănh Đạo Padumuttara đă Niết Bàn không c̣n chấp thủ, tợ như cây đèn đă tắt v́ sự cạn kiệt về dầu thắp.

1233. Đă có ngôi bảo tháp làm bằng châu báu cao bảy do-tuần. Tại nơi ấy, tôi đă cúng dường ngọn cờ tốt đẹp về mọi mặt, làm thích ư.

1234. Và vị Thinh Văn hàng đầu tên Tissa của đức Phật Kassapa, người thừa tự Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, đă là con trai ruột của tôi.

1235. Do tâm ư kém cỏi, tôi đă nói lời nói không tốt đẹp với vị ấy. Do quả thành tựu của nghiệp ấy, tôi đă nh́n thấy đấng Chiến Thắng vào thời điểm cuối cùng.

1236. Tại rừng cây sālā Upavattana, ở chỗ nằm cuối cùng, đấng Hiền Trí, bậc Đại Hùng, đấng Chiến Thắng, bậc có sự lợi ích và ḷng bi mẫn, đă cho (tôi) xuất gia.

1237. Giờ đây, đúng ngày hôm nay là sự xuất gia, đúng ngày hôm nay là sự tu lên bậc trên, đúng ngày hôm nay là sự Viên Tịch Niết Bàn trong sự hiện diện của bậc Tối Thượng Nhân.

1238. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Subhadda đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.]

Kư sự về trưởng lăo Subhadda là phần thứ chín.

--ooOoo--

50. Kư Sự về Trưởng Lăo Cunda

1239. Sau khi cho thực hiện cây cột trụ dành cho đức Thế Tôn Siddhattha, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy, tôi đă phủ lên bằng các bông hoa nhài

1240. Sau khi làm hoàn tất, tôi đă đem bông hoa ấy lại gần đức Phật. Tôi đă cầm lấy phần c̣n lại của bông hoa và đă dâng lên đức Phật.

1241. Đức Phật, đấng Lănh Đạo cao cả của thế gian trông tợ như cây cột trụ bằng vàng. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă dâng tặng cây cột trụ bông hoa đến Ngài.

1242. Đấng Toàn Giác, bậc có sự nghi hoặc đă được loại trừ, được tháp tùng bởi những vị đă vượt qua các bộc lưu, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu đă nói lên những lời kệ này:

1243. “Người nào đă dâng cúng cột trụ bông hoa đang tỏa ra mùi hương của cơi trời đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

1244. Mệnh chung ở đây, người nam này sẽ đi đến thế giới chư Thiên, (và sẽ) được hội chúng chư Thiên tôn trọng, được các bông hoa nhài phủ quanh.

1245. Được phát khởi từ nghiệp phước thiện, có chỗ trú ngụ cao vút làm bằng vàng và ngọc ma-ni, có cung điện sẽ được hiện ra cho vị ấy.

1246. Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc bảy mươi bốn kiếp và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.

1247. (Người ấy) sẽ ngự trị quốc độ thuộc đất liền ở trái đất ba trăm lần, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần.

1248. (Người ấy) sẽ trở thành vị thống lănh nhân loại tên là Dujjaya. Được nương tựa vào nghiệp của chính ḿnh, (người ấy) sẽ thọ hưởng phước báu ấy.

1249. (Người ấy) sẽ không đi đến đọa xứ và sẽ đi đến bản thể nhân loại. Và số vàng không ít hơn một trăm koṭi (một tỷ) sẽ được tích lũy (cho người ấy).

1250. Người ấy sẽ sanh vào ḍng dơi Bà-la-môn và sẽ là người con trai ruột thông minh yêu dấu của (Bà-la-môn) Vaṅganta và bà Sārī.

1251. Và về sau, người ấy sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Aṅgīrasa (Phật Gotama) và sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư có tên là Cūlacunda.

1252. Người ấy sẽ trở thành bậc có lậu hoặc được đoạn tận ngay khi c̣n là vị sa-di. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, người ấy sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.”

1253. Tôi đă phục vụ đấng Đại Hùng và nhiều vị hiền đức khác, và tôi đă hầu cận người anh trai của tôi nhằm đạt đến mục đích tối thượng.

1254. Tôi đă phục vụ người anh trai của tôi,[19] tôi đă đặt xá-lợi (của anh tôi) ở trong b́nh bát và đă tŕnh lên đấng Toàn Giác, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu.

1255. Đức Phật ở thế gian luôn cả chư Thiên đă cầm lấy bằng hai tay, và trong khi phô bày xá-lợi ấy Ngài đă tán dương vị Thinh Văn hàng đầu.

1256. Tâm của tôi đă khéo được giải thoát, đức tin của tôi đă được thiết lập. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

1257. Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Cunda đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Cunda là phần thứ mười.

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Vị Upāli, vị Soṇa, vị Bhaddiya, vị Sanniṭṭhāpaka, vị Hatthiya, mái che, giường nằm, đường kinh hành, vị Subhadda, vị tên Cunda; (tổng cộng) có một trăm bốn mươi câu kệ và bốn câu thêm vào đó.

Phẩm Upāli là phẩm thứ năm.

--ooOoo--


 

[1] Câu kệ này và câu kế được ghi theo Chú Giải (ApA. 312).

[2] Sīhāsanadāyaka ngh ĩa là “vị dâng cúng bảo tọa (āsana) sư tử (sīha), Pháp tọa.”

[3] Ekatthambhika ngh ĩa là “vị liên quan đến một (eka) cây cột trụ (thambha).”

[4] Nanda là người em trai cùng cha (đức vua Suddhodana) khác mẹ (con bà Mahāpajāpati Gotamī) của thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).

[5] Pañcasīlasamādāniya nghĩa là “vị có sự thọ tŕ (samādāna) năm (pañca) giới cấm (sīla).”

[6] Annasaṃsāvaka nghĩa là “vị ngợi ca (saṃsāvaka) về việc (dâng cúng) vật thực (anna).”

[7] Dhūpadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) khói hương (dhūpa), tức là xông khói có mùi thơm.”

[8] Pulinapūjaka nghĩa là “vị cúng dường (pūjaka) cát (pulina).”

[9] Ekañjalika nghĩa là “vị có một lần (eka) chắp tay (añjali).”

[10] Khomadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) tấm vải sợi lanh (khoma).”

[11] Lasuṇadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) tỏi (lasuṇa).”

[12] Āyāgadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) sảnh đường dài (āyāga).”

[13] Dhammacakkika nghĩa là “vị có bánh xe (cakka) Giáo Pháp (Dhamma).”

[14] Kapparukkhiya nghĩa là “vị liên quan đến cây (rukkha) như ư (kappa).”

[15] Pañcahatthiya nghĩa là “vị liên quan đến năm (pañca) bó (hattha) hoa sen xanh.”

[16] Padumacchadaniya nghĩa là “vị liên quan đến mái che (chadana) bằng hoa sen hồng (paduma).”

[17] Sayanadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) chiếc giường (sayana).”

[18] Caṅkamadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) đường đi kinh hành (caṅkama).”

[19] Anh trai của vị Cunda này là ngài Sāriputta, tức là vị Thinh Văn hàng đầu (ND).

 

 

 

   
 

| 00 | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 |

 
 

Mục Lục><Đầu Trang>