Trang Chính

Trang Các Bản Dịch Mới

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT tập 39

 

APADĀNAPĀḶI & THÁNH NHÂN KƯ SỰ

 Tập Một

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

C. Trưởng Lăo Kư Sự

Giờ xin thỉnh các vị hăy lắng nghe kư sự về các vị trưởng lăo:

1. Kư Sự về Trưởng Lăo Sāriputta

140. Ở không xa núi Hi-mă-lạp có ngọn núi tên là Lambaka, có khu ẩn cư của tôi đă khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đă khéo được tạo lập.

141. Ở không xa khu ẩn cư của tôi là con sông nhỏ có bờ nước lúp xúp có băi nước cạn xinh đẹp được trải lớp cát vô cùng trong sạch, làm thích ư.

142. Con sông nhỏ chảy qua tại nơi ấy, không có cát, không có hố sâu, (có nước) dịu ngọt, không có mùi khó chịu, điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.

143. Tại nơi ấy có con sông nhỏ, và có các con cá sấu kumbhīla, cá lưỡi kiếm, cá sấu suṃsumāra và các con rùa lởn vởn ở nơi này đang điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.

144. Có các loại cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, cá rohita, cá maggura đang vượt gịng nước, chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.

145. Ở hai bên bờ của con sông, có những giống cây được đơm hoa, kết trái đang trĩu xuống từ cả hai phía, chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.

146. Có các cây xoài, cây sālā, cây tilaka, cây pāṭalī, cây sinduvāraka tỏa ra hương thơm của cơi trời được nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi.

147. Có các cây campaka, cây salala, cây nīpa, cây nāga, cây nguyệt quế, cây dứa hoang tỏa ra hương thơm của cơi trời được nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi.

148. Có các cây atimutta, cây asoka, và cây bhaginimālā được nở rộ hoa, có các cây aṅkola và các cây bimbijāla được nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi.

149. Có các cây dừa dại, và luôn cả cây kandalī, các cây godhuka, và các bụi cây tiṇasūlika tỏa ra hương thơm của cơi trời đang điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.

150. Có nhiều cây kaṇikāra, cây kaṇṇika, cây asana, và cây ajjuna tỏa ra hương thơm của cơi trời đang điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.

151. Có các cây nguyệt quế, cây nguyệt quế núi, cây koviḷāra được nở rộ hoa, tỏa ra hương thơm của cơi trời đang điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.

152. Có nhiều cây bả đậu, cây kuṭaja, cây kadamba, cây vakula tỏa ra hương thơm của cơi trời đang điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.

153. Các cây āḷaka, các cây isimugga, các cây chuối, và các cây chanh được phát triển nhờ vào làn nước thơm, chúng trĩu những quả.

154. Một số sen hồng trổ hoa, một số khác đơm nhụy, một số khác nữa đă úa tàn; các đóa sen hồng luôn luôn được nở rộ ở trong hồ nước.

155. Chen chúc với những lá cây siṅghāṭaka, những đóa sen hồng đang tượng h́nh có những rễ sen đang cắm xuống luôn luôn rực rỡ ở trong hồ nước.

156. Được đem lại, các cây ambagandhī, các cây uttāla, các cây bandhujīvaka tỏa ra hương thơm của cơi trời luôn luôn được nở rộ ở trong hồ nước.

157. Các loài cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, cá rohita, cá aṅgula, và cá maṅgura nữa luôn luôn sống ở trong hồ nước.

158. Các con cá sấu loại kumbhīla, loại suṃsumāra, loại cá tantigāha, các hạng quỷ sứ, các loài rắn, và các loài măng xà luôn luôn sống ở trong hồ nước.

159. Các chim bồ câu, các loài ngỗng trời, ngỗng đỏ, các loài sống ở sông, các chim cu cu, chim két, chim sáo sống nương tựa vào hồ nước ấy.

160. Các loài chim kukutthaka, chim kulīraka, chim pokkharasātaka ở rừng, chim le le, và chim suvapota sống nương tựa vào hồ nước ấy.

161. Các chim thiên nga, chim c̣, chim công, chim cu cu, gà rừng, chim pampaka, và chim jīvaṃjīva sống nương tựa vào hồ nước ấy.

162. Nhiều loài chim (ở đất liền) như chim cú mèo, chim gơ kiến, chim kurara, chim diều hâu, và chim mahākāla sống nương tựa vào hồ nước ấy.

163. Nhiều con hươu, heo rừng, chó sói, chó rừng, nai, và loài thú suggapota sống nương tựa vào hồ nước ấy.

164. Các con sư tử, cọp, báo, gấu, chó sói, linh cẩu, và các con voi mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi sống nương tựa vào hồ nước ấy.

165. Các hạng kim-sỉ-điểu luôn cả các loài khỉ, và cũng có những người thợ rừng, các người phục vụ, luôn cả các thợ săn sống nương tựa vào hồ nước ấy.

166. Ở không xa khu ẩn cư của tôi, có các cây tinduka, cây piyāla, cây cam thảo, và cây kāsumārī thường xuyên trĩu những trái.

167. Ở không xa khu ẩn cư của tôi, có các cây kosumbha, cây salala, cây nīpa có trái ngọt thường xuyên trĩu những trái.

168. Các cây harītaka, cây āmalaka, cây xoài, cây mận đỏ, cây vibhīṭaka, cây táo, cây bhallātaka, và cây billa, chúng trĩu những trái.

169. Ở khu ẩn cư của tôi có nhiều loại (rễ củ) như là củ āluva, củ kalamba, củ biḷālī, củ takkaḷa, củ jīvaka, và củ sutaka nữa.

170. Ở không xa khu ẩn cư của tôi đă có những hồ nước khéo được tạo lập, có nước trong, có nước mát, có những bến nước cạn xinh đẹp làm thích ư.

171. Có hương thơm của cơi trời tỏa ra từ (hồ nước) được che phủ bởi những sen hồng, sen xanh, kết hợp với sen trắng, được che phủ bởi những cây mạn-đà-la.

172. Khi ấy, tôi sống ở khu ẩn cư đáng yêu khéo được xây dựng ở trong khu rừng được đơm hoa, được kết trái, được hội đủ tất cả các yếu tố như thế.

173. (Tôi) là vị đạo sĩ khổ hạnh tên Surucī có giới hạnh, thành tựu về phận sự, chứng thiền, luôn luôn thỏa thích về thiền, đă đạt được năng lực về năm thắng trí.

174. Hai mươi bốn ngàn học tṛ đă phục vụ tôi. Tất cả những vị này đều là Bà-la-môn, có ḍng dơi (cao quư), có danh vọng.

175. Họ đă đạt đến sự toàn hảo về (khoa) tướng mạo, về truyền thống gồm cả văn tự và nghi thức, về từ ngữ, về văn phạm, và về giáo lư (của Bà-la-môn).

176. Những người học tṛ của tôi là khéo được học tập, và rành rẽ về các hiện tượng thiên nhiên, về các điềm báo hiệu, về các tướng mạo, về địa lư, về trái đất, và về không gian.

177. Là những người ít đ̣i hỏi, cẩn trọng, (thọ) chút ít vật thực, không tham lam, hài ḷng với việc có hay không có, các vị này luôn luôn hầu cận tôi.

178. Là những bậc trí tuệ, chứng thiền, thỏa thích về thiền, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, không mong mỏi bất cứ điều ǵ, các vị luôn luôn hầu cận tôi.

179. Là những bậc trí tuệ đă đạt được sự toàn hảo về các thắng trí, vui thích trong hành xứ của ḿnh, có sự đi lại ở không trung, các vị luôn luôn hầu cận tôi.

180. Các vị ấy là các bậc trí tuệ đă thu thúc ở sáu căn môn, không có dục vọng, có các giác quan được pḥng hộ, và không quyến luyến; những người học tṛ của tôi khó mà tiếp cận.

181. Các vị ấy trải qua đêm với việc ngồi xuống bằng thế kiết già, với việc đứng và đi kinh hành; những người học tṛ của tôi khó mà tiếp cận.

182. Các vị không ái luyến những ǵ cám dỗ, không nổi giận những ǵ khiêu khích, không mê muội những ǵ mê hoặc; những người học tṛ của tôi khó mà tiếp cận.

183. Trong khi thử nghiệm các vị ấy thường xuyên thể hiện phép thần thông, các vị ấy làm rung chuyển trái đất; bằng sự đối nghịch khó mà tiếp cận.

184. Và trong khi giải trí, những người học tṛ ấy giải trí với tṛ chơi của thiền, các vị đem lại trái cây từ cây mận đỏ; những người học tṛ của tôi khó mà tiếp cận.

185. Một số khác đi đến Tây Ngưu Hóa Châu, một số khác đến Đông Thắng Thần Châu, và một số khác đến Bắc Cu Lu Châu, bằng sự t́m kiếm khó mà tiếp cận.

186. Các vị ấy chuyển đi túi đồ dùng ở phía trước và tiến lên ngay ở phía sau, bầu trời là bị che lấp bởi hai mươi bốn ngàn vị.

187. Một số vị dùng vật thực là trái cây đă rụng xuống, có vị nấu bằng lửa, có vị không dùng lửa (ăn sống), có vị dùng răng, và cũng có vị dùng cối giă, có vị nghiền nát bằng đá.

188. Một số vị ưa thích sự tẩy sạch (tội) có sự lội xuống nước sáng tối, một số vị thực hiện việc rải rắc nước (ở cơ thể); những người học tṛ của tôi khó mà tiếp cận.

189. (Một số vị) có lông ở nách và móng tay chân được để dài, có răng dính bựa, có đầu vấy bụi, được tẩm hương bằng hương thơm của giới hạnh; những người học tṛ của tôi khó mà tiếp cận.

190. Vào sáng sớm, các vị đạo sĩ tóc bện có khổ hạnh cao tột sau khi tụ hội lại đă nói về sự thành công và thất bại, rồi ra đi ở trên không trung.

191. Trong khi những vị này ra đi, có tiếng động ồn ào phát ra bởi âm thanh của các tấm da dê khiến chư Thiên được hoan hỷ.

192. Có sự di chuyển ở không trung, các vi ẩn sĩ ra đi phương này phương khác. Được nâng đỡ bởi năng lực của ḿnh, các vị ấy ra đi theo như ước muốn.

193. Chính tất cả các vị di chuyển ở hư không này là những vị làm rung chuyển trái đất, có oai lực nổi bật, khó mà khuất phục, tợ như biển cả không bị xao động.

194. Một số vị ẩn sĩ có hạnh đứng và đi kinh hành, một số vị có hạnh ngồi, một số vị có vật thực đă được rơi xuống; những người học tṛ của tôi khó mà tiếp cận.

195. Những vị này an trú tâm từ, tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh. Tất cả các vị ấy không ca ngợi về bản thân và không khinh miệt bất cứ ai.

196. Không bị hăi sợ như là sư tử chúa, có sức mạnh như là voi chúa, khó mà tiếp cận như là loài hổ, các vị đi đến gặp tôi.

197. Các thầy về pháp thuật, chư Thiên, các loài rồng, càn-thát-bà, và loài quỷ sứ, các ác thần, những người khổng lồ, các loài nhân điểu sống nương tựa vào hồ nước ấy.

198. Các vị ấy mang búi tóc và túi vật dụng, có y choàng là tấm da dê, có sự di chuyển ở không trung, tất cả sống nương tựa vào hồ nước ấy.

199. Các vị này luôn luôn (có hành vi) đúng đắn, có sự kính trọng lẫn nhau. Trong số hai mươi bốn ngàn vị, tiếng động hỉ mũi không xảy ra.

200. Trong khi đặt xuống từng bước từng bước chân, các vị khéo thu thúc, có ít tiếng động. Sau khi đến gần, hết thảy tất cả đều đê đầu đảnh lễ tôi.

201. Được vây quanh bởi những người học tṛ thanh tịnh và khổ hạnh ấy, tôi sống tại nơi ấy, ở khu ẩn cư, có thiền chứng, được thỏa thích về thiền.

202. Khu ẩn cư được tỏa hương với hương thơm trái cây của các cây cho quả và hai loại hương thơm giới hạnh của các vị ẩn sĩ và hương thơm của các bông hoa.

203. Tôi không biết đến ngày và đêm, sự thù hận ở tôi không được biết đến. Trong khi giáo huấn những người học tṛ của ḿnh, tôi đạt được niềm vui dào dạt.

204. Trong khi các bông hoa đang trổ hoa và những trái cây đang kết trái, các hương thơm của cơi trời tỏa ra điểm tô khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.

205. Khi ấy, là người có nhiệt tâm, cẩn trọng, sau khi xuất khỏi định, tôi đă cầm lấy túi vật dụng rồi đi sâu vào rừng.

206. Khi ấy, tôi đă khéo được học tập về các hiện tướng và luôn cả về giấc mơ đă được khởi lên, tôi duy tŕ câu chú thuật đang được hiện hành.

207. Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Toàn Giác có ước muốn độc cư nên đă đi đến núi Hi-mă-lạp.

208. Sau khi đă đi sâu vào núi Hi-mă-lạp, đấng Bi Mẫn cao cả, bậc Hiền Trí, đấng Tối Thượng Nhân đă xếp chân thế kiết già rồi ngồi xuống.

209. Tại nơi ấy, tôi đă nh́n thấy đấng Toàn Giác có vẻ ngời sáng làm thích ư, tợ như bông hoa súng được tỏa sáng, tợ như ngọn lửa tế thần được cháy rực.

210. Tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian tợ như cây đèn đang chiếu sáng, như là tia chớp ở bầu trời, tợ như cây sālā chúa đă được trổ hoa

211. Bậc Cao Quư này là đấng Đại Hùng, vị Đoạn Tận khổ đau, bậc Hiền Trí. Do việc nh́n thấy Ngài, toàn bộ khổ đau được phóng thích.

212. Sau khi nh́n thấy vị Trời của chư Thiên, tôi đă suy xét về tướng mạo: “Là đức Phật hay không phải là đức Phật? Vậy ta hăy quan sát bậc Hữu Nhăn.”

213. Những bánh xe có ngàn căm được nh́n thấy ở ḷng bàn chân cao quư. Sau khi nh́n thấy những tướng mạo của Ngài, tôi đă đi đến quyết định (Ngài là) đức Như Lai.

214. Khi ấy, tôi đă cầm lấy chiếc chổi và đă quét dọn. Rồi tôi đă tự ḿnh mang lại những đóa hoa và đă cúng dường đến đức Phật tối thượng.

215. Sau khi đă cúng dường đến bậc Toàn Giác, vị đă vượt qua ḍng nước lũ, không c̣n lậu hoặc, tôi đă khoác tấm da dê một bên vai rồi đă lễ bái đấng Lănh Đạo Thế Gian (và đă nói rằng):

216. “Đấng Toàn Giác bậc không c̣n lậu hoặc đă an trú với trí tuệ nào, tôi sẽ tán dương trí tuệ ấy. Xin các người hăy lắng nghe tôi nói.

217. Bạch đấng Tự Chủ có sự tấn hóa vô lượng, xin Ngài hăy tiếp độ thế gian này. Sau khi đi đến nh́n thấy Ngài, những người ấy vượt qua ḍng nước nghi hoặc.

218. Bạch đấng Tối Thượng của loài người, Ngài là bậc thầy, là cờ hiệu, là biểu tượng, là mục đích tối cao, là nơi nương tựa, là sự nâng đỡ, và là ngọn đèn của chúng sanh.

219. Bạch đấng Toàn Tri, có thể đo lường nước ở biển cả bằng vật chứa, nhưng không thể nào đo lường trí tuệ của Ngài.

220. Bạch đấng Toàn Tri, có thể nắm lấy trái đất đặt vào đĩa cân, nhưng không thể nào nắm lấy trí tuệ của Ngài.

221. Bạch đấng Toàn Tri, có thể đo đạc bầu trời bằng sợi dây thừng hoặc bằng ngón tay, nhưng không thể nào đo lường trí tuệ của Ngài.

222. (Trí tuệ của đức Phật) vượt hẳn nước trong đại dương và đất liền rắn rỏi. So sánh với trí tuệ của đức Phật không ǵ được xem là tương đương.

223. Bạch đấng Hữu Nhăn, ở thế gian luôn cả chư Thiên những ai có tâm (được) vận hành, họ đều đi vào trong màng lưới ở trí tuệ của Ngài.

224. Bạch đấng Toàn Tri, bằng trí tuệ nào Ngài (đă) chứng đạt sự Giác Ngộ tối thượng toàn vẹn th́ bằng trí tuệ ấy Ngài (đă) chế ngự các ngoại đạo khác.”

225. Sau khi ngợi ca bằng các câu kệ này, vị đạo sĩ khổ hạnh tên Surucī ấy đă trải ra tấm da dê ở trên mặt đất rồi đă ngồi xuống.

226. Được truyền tụng rằng ngọn núi chúa (Neru) đă ch́m sâu vào trong đại dương tám mươi bốn ngàn (do-tuần) và đă vươn cao cũng với khoảng cách như thế.

227. Ngọn núi Neru ấy đă vươn cao đến chừng ấy về chiều dài và chiều rộng. Nó đă bị nghiền nát thành trăm ngàn koṭi mảnh vụn nhỏ.

228. “Bạch đấng Toàn Tri, trong khi được xếp thành từng nhóm một trăm ngàn những mảnh vụn nhỏ ấy đă đi đến sự chấm dứt, nhưng trí tuệ của Ngài vẫn không thể nào đo lường được.

229. Nếu người nào rào quanh nước bằng tấm lưới có lỗ nhỏ, th́ bất cứ các chúng sanh ở trong nước đều có thể rơi vào trong tấm lưới.

230. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế những người nào là phàm phu ngoại đạo đang lao theo việc nắm bắt tà kiến đều đă bị mê muội do sự vướng mắc (vào mạng lưới tà kiến).

231. Do trí tuệ trong sạch và tầm nh́n không bị che lấp của Ngài, những người đă đi vào trong mạng lưới không vượt hơn trí tuệ của Ngài.”

232. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn Anomadassī, đấng Chiến Thắng có danh vọng lớn lao, sau khi xuất khỏi thiền định, đă quan sát phương hướng.

233. 234. Vị Thinh Văn của bậc Hiền Trí Anomadassī tên là Nisabha được tháp tùng bởi một trăm ngàn vị có tâm an tịnh như thế ấy, là các bậc Vô Lậu, được trong sạch, có sáu thắng trí, có thiền chứng. Sau khi biết được tâm của đức Phật, vị ấy đă đi đến gần đấng Lănh Đạo Thế Gian.

235. Tại nơi ấy, đứng ở trên không trung các vị ấy đă đi nhiễu quanh, tay chắp lên lễ bái, rồi đă đáp xuống gần bên đức Phật.

236. Đức Thế Tôn Anomadasasī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Chiến Thắng đă ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đă để lộ nụ cười.

237. Vị thị giả của đấng Toàn Tri bậc Đại Ẩn Sĩ, có tên là Varuṇa, sau khi đắp y một bên vai, đă hỏi đấng Lănh Đạo Thế Gian rằng:

238. “Bạch đức Thế Tôn, điều ǵ là nguyên nhân của việc nở nụ cười của bậc Đạo Sư? Bởi v́ chư Phật, không có nguyên nhân các Ngài không để lộ nụ cười.”

239. Đức Thế Tôn Anomadasasī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đă ngồi xuống ở giữa Hội Chúng và đă nói lên lời kệ này:

240. “Người nào đă cúng dường Ta bằng bông hoa và cũng đă ngợi ca trí tuệ (của Ta), Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

241. Nhận biết lời nói của đức Phật, tất cả chư Thiên đă tụ hội lại. Có ước muốn được nghe Chánh Pháp, các vị ấy đă đi đến gần đấng Toàn Giác.

242. Chư Thiên có đại thần lực ở tất cả các thế giới, các vị nào có ước muốn được nghe Chánh Pháp, các vị ấy đă đi đến gần đấng Toàn Giác.

243. “Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

244. Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được tô điểm sẽ thường xuyên phục vụ người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

245. Mười sáu ngàn phụ nữ được trang điểm, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.

246. Có lông mi cong, có nụ cười, có điệu bộ duyên dáng, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

247. Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một trăm ngàn kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở quốc độ một ngàn lần.

248. Và sẽ là vị Chủa của chư Thiên cai quản Thiên quốc một ngàn lần. Lănh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

249. Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, người này sẽ đi đến bản thể nhân loại. Người nữ Bà-la-môn tên Sāriyā sẽ mang bào thai (vị này).

250. Người nam này sẽ được biết đến với danh hiệu ḍng họ của người mẹ, và sẽ có trí tuệ sắc bén với tên là Sāriputta.

251. Sau khi ĺa bỏ tám mươi koṭi người này sẽ xuất gia, không c̣n sở hữu ǵ. Trong khi tầm cầu vị thế an tịnh, người này sẽ lang thang ở trái đất.

252. Vô lượng kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

253. Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống,[1] được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ trở thành vị Thinh Văn hàng đầu với tên là Sāriputta.

254. Được phát xuất từ núi Hi-mă-lạp, con sông Bhāgīrathī này đổ về biển cả, làm thỏa măn đại dương.

255. Tương tợ y như thế, vị Sāriputta này, được tự tin vào ba bộ Vệ Đà, sẽ đạt đến sự toàn hảo về trí tuệ, và sẽ làm thỏa ư các chúng sinh.

256. Bắt nguồn từ núi Hi-mă-lạp cho đến biển cả và đại dương, số lượng cát ở vào khoảng giữa ấy là vô số kể bằng cách tính đếm.[2]

257. Mặc dầu có thể tính toán toàn bộ số lượng cát ấy bằng cách tính đếm, nhưng sẽ không có mức tận cùng ở trí tuệ của Sāriputta.

258. Trong khi đang được tồn tại ở dạng hạt nhỏ, cát của ḍng sông có thể bị cạn kiệt, nhưng sẽ không có mức tận cùng ở trí tuệ của Sāriputta.

259. Các làn sóng của biển cả là không thể ước lượng bằng cách tính đếm, tương tợ y như thế sẽ không có điểm tận cùng về trí tuệ của Sāriputta.

260. Người này sẽ làm hài ḷng đấng Toàn Giác Gotama bậc cao quư ḍng Sakya, sẽ đi đến sự toàn hảo về trí tuệ, và sẽ trở thành vị Thinh Văn hàng đầu.

261. Trong khi làm đổ mưa những cơn mưa Giáo Pháp, người này sẽ tiếp tục vận hành đúng đắn bánh xe Pháp đă được chuyển vận bởi người con trai ḍng Sakya như thế ấy.

262. Sau khi biết rơ tất cả điều này, đức Gotama bậc cao quư ḍng Sakya sẽ ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và sẽ thiết lập (người này) vào vị thế tối thắng.”

263. Ôi, việc làm đă khéo được thực hiện bởi tôi đến bậc Đạo Sư Anomadasasī! Sau khi thể hiện sự tôn kính đến vị ấy, tôi đă đạt đến sự toàn hảo về mọi phương diện.

264. Việc làm đă được thực hiện ở vô lượng kiếp (trước đây) đă cho tôi nh́n thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đă thiêu đốt các phiền năo (của tôi).

265. Lúc bấy giờ, trong lúc tầm cầu pháp không tạo tác Niết Bàn là vị thế không bị lay chuyển, trong lúc xem xét tất cả các ngoại đạo, tôi đă luân hồi ở cơi hữu.

266. Cũng giống như người bị bệnh nên t́m kiếm phương linh dược, nên xem xét toàn bộ khu rừng nhằm thoát khỏi cơn bệnh.

267. Trong lúc tầm cầu pháp không tạo tác Niết Bàn là vị thế Bất Tử, tôi đă xuất gia vào đời tu ẩn sĩ liên tục năm trăm kiếp sống.

268. Tôi đă duy tŕ búi tóc bện, có y choàng là tấm da dê, tôi đă đạt đến sự toàn hảo của các thắng trí và đă đi đến thế giới Phạm Thiên.

269. Ngoại trừ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, không có sự thanh tịnh ở ngoại giáo. Thật vậy, bất cứ chúng sanh nào có trí giác ngộ đều được trở nên thanh tịnh trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.

270. Pháp (thanh tịnh) này là sự tạo thành do hành động của bản thân, pháp này không là sự truyền tụng. Trong lúc tầm cầu pháp không tạo tác, tôi đă lai văng bến băi tồi tệ.

271. Giống như người tầm cầu lơi cây, sau khi đốn ngă cây chuối rồi chẻ hai, không thể t́m thấy lơi cây ở nơi ấy bởi v́ cây chuối là không có lơi.

272. Tương tợ y như thế, các ngoại đạo ở thế gian và số đông người với những tà kiến khác nhau là vắng bóng Niết Bàn, giống như cây chuối là không có lơi.

273. Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đă là thân quyến của Phạm Thiên.[3] Sau khi từ bỏ của cải lớn lao, tôi đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh

(Tụng Phẩm thứ nhất).

274. Vị Bà-la-môn tên Sañjaya là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, tôi sống dưới sự hướng dẫn của vị ấy.[4]

275. Bạch đấng Đại Hùng, vị Bà-la-môn tên Assaji là Thinh Văn của Ngài, khó mà tiếp cận, có oai lực nổi bật, khi ấy (đang) đi khất thực.

276. Tôi đă nh́n thấy bậc hiền trí ấy, có trí tuệ, được định tĩnh trong sự sáng suốt, có tâm thanh tịnh, là bậc Long Tượng, tợ như đóa sen khéo được nở rộ,

277. Sau khi nh́n thấy vị anh hùng ưu tú, cao quư, khéo được rèn luyện, có tâm ư thanh tịnh, tâm của tôi đă khởi lên rằng: “Phải chăng vị này là A-la-hán?

278. Phải chăng con người đáng mến, biết cách xử trí, có dáng vóc lịch sự, khéo thu thúc, đă được rèn luyện trong sự rèn luyện tối thượng, là người nh́n thấy sự Bất Tử?

279. Hay là ta nên hỏi về mục đích tối thượng với tâm ư hớn hở? Được ta hỏi, vị ấy sẽ trả lời. Khi ấy, ta hăy hỏi tiếp.”

280. Trong khi vị ấy đang đi khất thực, tôi đă đi ở phía sau chờ đợi cơ hội để hỏi về vị thế Bất Tử.

281. Khi vị ấy đi đến giữa đường, tôi đă đi đến gần và đă hỏi rằng: “Thưa vị anh hùng, ngài có ḍng họ thế nào? Thưa ngài, ngài là học tṛ của vị nào?

282. Được tôi hỏi, vị ấy tợ như con sư tử không bị hăi sợ đă trả lời rằng: “Này đạo hữu, đức Phật đă xuất hiện ở thế gian, tôi là học tṛ của Ngài ấy.”

283. “Thưa vị đại anh hùng, người nối dơi, bậc có danh vọng lớn lao, Giáo Pháp lời dạy của đức Phật của ngài là như thế nào? Thưa ngài, xin ngài hăy thuyết giảng tận tường cho tôi.”

284. Được tôi hỏi, vị ấy đă thuyết giảng về toàn bộ Đạo Lộ thâm sâu vi tế, là pháp tiêu diệt mũi tên tham ái, có sự xua đi tất cả khổ đau (như vầy):

285. “Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đă nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đă có lời dạy như thế.”

286. Khi câu hỏi vừa được trả lời, tôi đây đă chứng đắc Quả vị thứ nhất. Sau khi lắng nghe lời dạy của đấng Chiến Thắng, tôi đă trở nên không c̣n vấy bụi, không c̣n nhơ bẩn.

287. Sau khi lắng nghe lời nói của bậc hiền trí, sau khi nh́n thấy Giáo Pháp tối thượng, với Chánh Pháp đă được thâm nhập tôi đă nói lên lời kệ ngôn này:

288. “Đây chính là Giáo Pháp, nếu chỉ bấy nhiêu thôi đă thấu triệt được Niết Bàn không sầu muộn (là pháp) đă không được nh́n thấy, đă bị trôi qua trong hàng vạn kiếp sống.”

289. Trong lúc tầm cầu Giáo Pháp, tôi đây đă lai văng bến băi tồi tệ. (Giờ đây) mục đích ấy của tôi đă đượcđạt đến, tôi không c̣n thời gian để xao lăng.

290. Tôi đă được vị Assaji làm cho hoan hỷ. Sau khi đạt đến vị thế Bất Động, trong khi t́m kiếm người bạn, tôi đă đi đến khu ẩn cư.

291. Sau khi nh́n thấy tôi ngay từ đàng xa, bạn của tôi, là người khéo được học tập và được thành tựu bốn oai nghi, đă nói lên lời nói này:

292. “Bạn có khuôn mặt và ánh mắt an tịnh, dường như bản thể hiền trí đă được (bạn) nh́n thấy. Phải chăng bạn đă chứng đắc sự Bất Tử, Niết Bàn, vị thế trường cửu?

293. Dường như bạn (đă) đạt đến điều xứng đáng với sự tốt đẹp và đă được làm cho trở thành điềm đạm, tợ như con voi đă được chế ngự trong giai đoạn thuần hóa. Này người Bà-la-môn, phải chăng bạn được an tịnh?

294. “Bất Tử là sự xua đi mũi tên sầu muộn đă được tôi chứng đắc. Bạn cũng vậy, hăy chứng đắc điều ấy. Chúng ta hăy đi đến gặp đức Phật.”

295. Sau khi đáp lại rằng: “Lành thay!” bạn của con là người khéo được học tập đă dùng tay nắm lấy tay con và đă đi đến gặp Ngài.

296. Bạch người con trai ḍng Sakya, cả hai chúng con cũng sẽ xuất gia trong sự chứng minh của Ngài. Sau khi đi đến Giáo Pháp của Ngài, chúng con sống không c̣n lậu hoặc.

297. Kolita là đứng đầu về thần thông, c̣n con có sự đạt đến bờ kia về trí tuệ. Chính cả hai chúng con đă hợp nhất làm rạng rỡ Giáo Pháp.

298. Có ước nguyện chưa được hoàn thành, con đă lai văng bến băi tồi tệ. Sau khi đi đến diện kiến Ngài, ước nguyện của con đă được tṛn đủ.

299. Sau khi đă mọc vững vàng ở trên trái đất, các cây cối nở hoa lúc vào mùa. Chúng tỏa ra các hương thơm của cơi trời và làm cho tất cả chúng sinh được vui ḷng.

300. Bạch đấng Đại Hùng, bạch người con trai ḍng Sakya có danh vọng lớn lao, tương tợ như thế ấy, sau khi đă thiết lập ở trong Giáo Pháp của Ngài, con tầm cầu thời điểm để trổ hoa.

301. Trong lúc tầm cầu bông hoa giải thoát là việc ra khỏi sự luân hồi ở các cơi, với sự đạt được bông hoa giải thoát, con làm cho tất cả chúng sinh được vui ḷng.

302. Bạch đấng Hữu Nhăn, cho đến địa phận của chư Phật, không ǵ sánh bằng tuệ của người con trai của Ngài ngoại trừ bậc Hiền Trí.

303. Được thuần phục trong sự thuần hóa tối thượng, những người học tṛ đă khéo được huấn luyện của Ngài và Hội Chúng đă khéo được học tập luôn luôn tháp tùng Ngài.

304. Là những bậc trí tuệ, chứng thiền, thỏa thích về thiền, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, các bậc hiền trí được thành tựu sự tốt đẹp về đạo đức luôn luôn tháp tùng Ngài.

305. Là những bậc trí tuệ, ít đ̣i hỏi, cẩn trọng, (thọ) chút ít vật thực, không tham lam, hài ḷng với việc có hay không có, các vị luôn luôn tháp tùng Ngài.

306. Là những bậc trí tuệ chuyên sống ở rừng, thông thạo pháp giũ bỏ (đầu đà), chứng thiền, mặc y thô, thỏa thích sự độc cư, các vị luôn luôn tháp tùng Ngài.

307. Là những vị thực hành (bốn Đạo) trú vào Quả vị (A-la-hán), và những vị Hữu Học có thành tựu Quả vị, các vị tầm cầu mục đích tối thượng luôn luôn tháp tùng Ngài.

308. Các vị là bậc Nhập Lưu không c̣n nhơ bẩn, các vị là bậc Nhất Lai, các vị Bất Lai, và các vị A-la-hán luôn luôn tháp tùng Ngài.

309. Các bậc Thinh Văn ấy, có nhiều vị được thiện xảo về các pháp thiết lập niệm, được thỏa thích trong việc tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ, tất cả các vị luôn luôn tháp tùng Ngài.

310. Các vị được thiện xảo về các nền tảng của thần thông, được thỏa thích trong việc tu tập định, được gắn bó vào chánh tinh tấn, luôn luôn tháp tùng Ngài.

311. Các vị có ba minh và sáu thắng trí, đă đi đến sự toàn hảo về thần thông, đă đạt được sự toàn hảo về tuệ, luôn luôn tháp tùng Ngài.

312. Bạch đấng Đại Hùng, các vị học tṛ như thế ấy của Ngài đă khéo được học tập, khó mà tiếp cận, có oai lực nổi bật, luôn luôn tháp tùng Ngài.

313. Được tháp tùng bởi những người học tṛ thu thúc, nhiệt t́nh ấy, Ngài tợ như (con sư tử) vua của loài thú không bị hăi sợ, tợ như (mặt trăng) vua của các v́ sao chiếu sáng rực rỡ.

314. Sau khi đă mọc vững vàng ở trên trái đất, các loài thảo mộc phát triển. Chúng đạt được sự lớn mạnh và phô bày sự kết trái.

315. Bạch người con trai ḍng Sakya có danh vọng lớn lao, Ngài là tương tợ trái đất. Sau khi thiết lập ở Giáo Pháp, các vị ấy đạt được quả vị Bất Tử.

316. Có các con sông Sindhu, luôn cả sông Sarassatī, sông Candabhāgikā, sông Gaṅgā, sông Yamunā, luôn cả sông Sarabhū, và sông Mahī.

317. Khi những con sông này trôi chảy và biển cả tiếp nhận, những con sông này từ bỏ tên gọi trước đây và chỉ được biết đến là ‘biển cả’ mà thôi.

318. Tương tợ y như thế, bốn giai cấp này sau khi xuất gia trong sự chứng minh của Ngài, các vị từ bỏ tên gọi trước đây và được biết đến là ‘con trai của đức Phật.’

319. Cũng giống như mặt trăng không bị vết nhơ trong lúc đang di chuyển ở bầu không gian th́ vượt trội tất cả các quần thể tinh tú ở thế giới về ánh sáng.

320. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, được tháp tùng bởi chư Thiên và nhân loại, Ngài vượt lên trên tất cả các hạng này và chói sáng vào mọi lúc.

321. Được khởi lên từ dưới sâu, sóng không thể vượt qua được bờ biển. Tất cả các đợt sóng chạm đến bờ biển th́ chúng tan tác trở thành bọt nước.

322. Tương tợ y như thế, các ngoại đạo ở trên thế gian và nhiều người với các quan điểm khác nhau có ư định nói về giáo lư, bọn họ không vượt qua Ngài là bậc Hiền Trí.

323. Và bạch đấng Hữu Nhăn, nếu họ gặp Ngài xin Ngài hăy đáp lại. Sau khi đi đến gặp Ngài, những người ấy trở thành như là bọt nước

324. Cũng giống như giống cây kumuda, cây mandālaka, và nhiều loài cây khác được sanh ra ở trong nước, chúng bị lấm nhơ bởi nước và bùn lầy.

325. Tương tợ y như thế, nhiều chúng sanh được sanh ra lớn lên ở trên đời bị sầu khổ bởi tham ái sân hận giống như cây kumuda ở băi bùn vậy.

326. Cũng giống như đóa hoa sen là loài được sanh ra ở trong nước, lớn lên ở giữa làn nước, nó không bị lấm nhơ bởi nước, có tua nhị cũng được trong sạch.

327. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, bậc Đại Hiền Trí được sanh ra ở trên thế gian, Ngài không bị lấm nhơ bởi thế gian như là đóa hoa sen không bị lấm nhơ bởi nước.

328. Cũng giống như nhiều loài hoa mọc trong nước trổ hoa vào tháng Rammaka, chúng không vượt quá tháng ấy, khi ấy là thời điểm của việc trổ hoa.

329. Bạch người con trai ḍng Sakya, Ngài đă trổ hoa bằng sự giải thoát, tương tợ y như thế các vị ấy (cũng vậy). Các học tṛ không vượt quá lời dạy như là đóa hoa sen là loài được sanh ra ở trong nước (không trổ hoa trễ thời hạn).

330. Cây sālā chúa khéo được trổ hoa tỏa ra hương thơm của cơi trời. Được vây quanh bởi những cây sālā khác, cây sālā chúa tỏa sáng.

331. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế Ngài đă trổ hoa bằng trí tuệ của vị Phật. Được tháp tùng bởi Hội Chúng tỳ khưu, Ngài tỏa sáng như là cây sālā chúa.

332. Cũng giống như núi Hi-mă-lạp bằng đá là nguồn dược liệu cho tất cả chúng sinh, là chốn cư ngụ của các loài rồng, các A-tu-la, và chư Thiên.

333. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế Ngài ví như nguồn dược liệu cho tất cả chúng sinh. Các vị có được ba minh, sáu thắng trí, và đă đi đến sự toàn hảo về thần thông (nhờ nương tựa vào Ngài).

334. Bạch đấng Đại Hùng, được Ngài chỉ dạy với ḷng bi mẫn, các vị ấy thỏa thích với sự thỏa thích trong Giáo Pháp, các vị sống theo lời dạy của Ngài.

335. Giống như con sư tử, vua của loài thú, sau khi rời khỏi chỗ ngụ nó quan sát bốn phương và rống lên ba lần.

336. Khi chúa của loài thú gầm thét, mọi thú vật đều kinh hoàng. Bởi v́ nó có ḍng dơi như thế, nó luôn luôn làm các loài thú run sợ.

337. Bạch đấng Đại Hùng, khi Ngài thuyết Pháp th́ trái đất rúng động, những ai có khả năng giác ngộ được giác ngộ, phe đảng của Ma Vương run sợ.

338. Bạch đấng Đại Hiền Trí, khi Ngài thuyết Pháp tất cả các ngoại đạo run sợ, tợ như bầy chim quạ bay tán loạn, như là các con thú run sợ đối với (sư tử) chúa của loài thú.

339. Những vị có đồ chúng ở trên thế gian được gọi là ‘các bậc thầy.’ Các vị ấy thuyết giảng đến đám đông học thuyết đă được tuần tự truyền thừa.

340. Bạch đấng Đại Hùng, tuy nhiên Ngài không là như vậy. Ngài thuyết giảng Giáo Pháp đến các chúng sinh sau khi đă tự thân giác ngộ về các Chân Lư và toàn bộ các pháp thuộc về giác ngộ.

341. Sau khi biết được tánh khí bộc lộ và tiềm ẩn, về sự mạnh và yếu của các quyền, sau khi hiểu rơ về tính chất có hay không có khả năng, Ngài thuyết Pháp tợ như là cơn mưa lớn (gào thét).

342. 343. Đám đông có các quan điểm khác nhau, trong khi đang suy xét, có thể ngồi đến tận cùng thế giới vũ trụ. Nhằm cắt đứt sự nghi hoặc ấy, bậc Hiền Trí vị thiện xảo về sự so sánh đối chiếu, sau khi biết được tâm của tất cả, Ngài cắt đứt sự nghi hoặc của chúng sinh ngay trong khi đang giảng giải về một câu hỏi.

344. Trái đất là được tràn đầy bởi chính các vị như là Upatissa (Sāriputta). Chính tất cả các vị ấy, tay chắp lên, đă ngợi ca đấng Lănh Đạo Thế Gian.

345. Trong khi ngợi ca đến trọn kiếp, họ đă ngợi ca về những đức hạnh khác nhau. Họ đă không thể nào ước lượng được, các đấng Như Lai là vô lượng.

346. Giống như tôi đă ngợi ca đấng Chiến Thắng bằng sức mạnh của ḿnh, trong khi ngợi ca đến một koṭi (mười triệu) kiếp họ cũng đă ca ngợi y như vậy

347. Nếu có vị Thiên nhân hoặc người nào đó đă được học tập rành rẽ có ư định do lường (các đức hạnh ấy), vị ấy chỉ có thể gánh lấy nỗi phiền muộn mà thôi.

348. Bạch người con trai ḍng Sakya có danh vọng lớn lao, sau khi đă thiết lập ở trong Giáo Pháp của Ngài, sau khi đă đi đến sự toàn hảo về tuệ, con sống không có lậu hoặc.

349. Con hoàn toàn chế ngự các ngoại đạo, con vận hành Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Hôm nay con là vị Tướng Quân Chánh Pháp trong Giáo Pháp của người con trai ḍng Sakya.

350. Việc làm đă được thực hiện ở vô lượng kiếp đă cho tôi nh́n thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đă thiêu đốt các phiền năo (của tôi).

351. Nếu người nào đó có thể mang vác vật nặng thường xuyên ở trên đầu, người ấy sẽ bị khổ sở bởi vật nặng, tương tợ như thế tôi phải gánh chịu các vật nặng.

352. Trong khi đang bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, tôi đă luân hồi ở các cơi. Tôi đă chịu đựng gánh nặng của hữu giống như tôi đă phải nâng lên ngọn núi Neru.

353. Và gánh nặng đă được tôi đặt xuống, các hữu đă được tôi hủy diệt, mọi việc cần làm trong Giáo Pháp của người con trai ḍng Sakya đă được làm xong.

354. Cho đến địa phận của chư Phật ngoại trừ bậc Cao Quư ḍng Sakya, tôi là đứng đầu về tuệ, người sánh bằng tôi không t́m thấy.

355. Được khéo thiện xảo về định, tôi đă đạt đến sự toàn hảo về thần thông. Và hôm nay trong khi mong muốn tôi có thể biến hóa thành ngàn người.

356. Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài đă thuyết giảng Giáo Pháp cho con. Con có được năng lực đối với sự an trú theo tuần tự, diệt (thọ tưởng) định là nơi an nghỉ của con.

357. Thiên nhăn của con được thanh tịnh, con là thiện xảo về định, được gắn bó vào chánh tinh tấn, được thỏa thích trong việc tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ.

358. Bởi v́ pháp ǵ vị Thinh Văn cần phải đạt đến, toàn bộ tất cả đă được tôi thực hiện. Ngoại trừ đấng Bảo Hộ Thế Gian người sánh bằng tôi không t́m thấy.

359. Được thiện xảo về việc thể nhập định, có sự đạt được nhanh chóng đối với các thiền giải thoát, được thỏa thích trong việc tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ, tôi đă đạt đến sự toàn hảo về các đức hạnh của vị Thinh Văn.

360. Với đức hạnh tốt lành của vị Thinh Văn, với trí giác ngộ, do sự tôn kính đối với bậc Tối Thượng Nhân, với đức tin, tâm (của tôi) luôn luôn được gắn liền ở các việc thực hành Phạm hạnh.

361. Như là con rắn có nọc độc đă được lấy đi, như là trâu rừng có sừng đă bị cắt ĺa, có sự ngă mạn kiêu ngạo đă được quăng bỏ, tôi đến gần Hội Chúng với sự vô cùng tôn kính.

362. Nếu trí tuệ của tôi là có h́nh dạng th́ trái đất không thể sánh bằng, điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ của đứcThế Tôn Anomadassī.

363. Tôi tiếp tục vận hành đúng đắn bánh xe Pháp đă được chuyển vận bởi người con trai ḍng Sakya như thế ấy; điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ.

364. Vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu, mong rằng kẻ có ước muốn xấu xa, biếng nhác, có sự tinh tấn kém cỏi, ít học hỏi, có hành vi sai trái chớ đến gần tôi.

365. Và mong rằng bậc nghe nhiều (học rộng), có sự sáng suốt, khéo được định tĩnh trong các giới, được gắn liền với sự tịnh lặng của tâm đứng (với tôi) dầu là (đứng) ở trên đầu.

366. Tôi nói điều này với các vị là hết thảy chư đại đức đă tụ hội lại nơi đây, các vị chớ có ước muốn xấu xa, hăy tự hài ḷng (với vật có được), có thiền chứng, luôn luôn thỏa thích trong thiền.

367. Sau khi nh́n thấy vị Thinh Văn tên Assaji ấy lần đầu tiên, tôi đă trở nên không c̣n vấy bụi, không c̣n nhơ bẩn; bậc trí tuệ ấy là người thầy của tôi.

368. Nhờ vào tác động của điều ấy, giờ đây tôi đă trở thành vị Tướng Quân Chánh Pháp. Sau khi đạt đến sự toàn hảo về mọi phương diện, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

369. Vị Thinh Văn tên Assaji ấy đă là người thầy của tôi. Vị ấy cư ngụ ở phương nào, tôi thực hiện việc nằm quay đầu (hướng về phương ấy).

370. Sau khi nhớ lại việc làm của tôi, đức Gotama bậc Cao Quư ḍng Sakya đă ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đă thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.

371. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

372. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.

373. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát (bốn Đạo và bốn Quả), và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Sāriputta đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Sāriputta là phần thứ nhất.

--ooOoo--

2. Kư Sự về Trưởng Lăo Mahāmoggallāna

374. Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, đă cư ngụ tại núi Hi-mă-lạp, đứng đầu hội chúng chư Thiên.

375. Lúc bấy giờ, tôi là Long Vương có tên là Varuṇa. Tôi biến hóa thành dáng vóc theo như ước muốn. Tôi đă cư ngụ ở đại dương.

376. Sau khi giải tán đám tùy tùng, tôi đă tổ chức tấu nhạc. Khi ấy tôi đă tháp tùng đấng Toàn Giác và đă bảo các long nữ ca hát.

377. Trong khi các nhạc cụ (của Long Cung) đang được tấu lên, chư Thiên đă tŕnh tấu các nhạc cụ (của cơi trời). Đức Phật cũng đă lắng nghe âm thanh của cả hai và đă tự ḿnh nhận biết.

378. Sau khi thỉnh mời đấng Toàn Giác, tôi đă đi đến cung điện của ḿnh. Sau khi cho sắp đặt chỗ ngồi, tôi đă bảo thông báo về thời gian.

379. Trong lúc chiếu sáng tất cả các phương, đấng Lănh Đạo Thế Gian đă đi đến cung điện của tôi, được tháp tùng bởi một ngàn bậc Vô Lậu.

380. Vào lúc đấng Đại Hùng, vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu cùng với Hội Chúng tỳ khưu đă ngồi xuống, khi ấy tôi đă làm toại ư các vị với cơm ăn và nước uống.

381. Đấng Đại Hùng, bậc Tự Chủ, nhân vật cao cả, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu đă nói lên những lời kệ này:

382. “Người nào đă cúng dường đến đức Phật đấng Lănh Đạo Thế Gian và Hội Chúng, với sự tịnh tín ấy ở trong tâm, người ấy sẽ đi đến thế giới chư Thiên.

383. Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc bảy mươi bảy lần và sẽ ngự trị tám trăm quốc độ thuộc đất liền ở trái đất.

384. Người ấy sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm mươi lăm lần. Trong thời gian ấy, các của cải không thể ước lượng được sẽ sanh lên cho người ấy.

385. Vào vô lượng kiếp về sau này, có bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

386. Sau khi mệnh chung từ địa ngục, người ấy sẽ đi đến bản thể nhân loại, sẽ trở thành thân quyến của Phạm Thiên (ḍng dơi Bà-la-môn) với tên là Kolita.

387. Về sau, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, người ấy sẽ xuất gia và sẽ trở thành vị Thinh Văn thứ nh́ của đức Thế Tôn Gotama.

388. Có sự ra sức tinh tấn, có tính khẳng quyết, đă đạt đến sự toàn hảo về thần thông, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, (người ấy) sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.”

389. Lệ thuộc vào bạn ác xấu, tôi đă chịu sự khống chế của ái dục. Với tâm ư tồi bại, tôi đă giết chết người mẹ và cả người cha nữa.

390. Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là địa ngục hay nhân loại, do bị liên đới đến ác nghiệp tôi chết với đầu bị vỡ.

391. Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Thậm chí ở đây, sự việc như thế cũng sẽ xảy ra vào thời điểm tử biệt của tôi.

392. Được gắn bó với sự cô tịch, được thỏa thích trong sự tu tập về định, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

393. Đă đạt đến sự toàn hảo về thần thông, (chỉ) bằng ngón chân cái tôi có thể làm lay động ngay cả trái đất vô cùng sâu thẳm, dày đặc, khó thể hủy hoại.

394. Tôi không nh́n thấy bản ngă, sự ngă mạn của tôi không được biết đến, tôi thể hiện tâm tôn trọng đến các vị sa-di.

395. Về việc làm mà tôi đă khẳng định trước đây vô lượng kiếp, tôi đă thành tựu nền tảng ấy, tôi đă đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc.

396 - 398. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, ―(như trên)― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

(Các câu kệ 396, 397, 398 tương tợ như các câu kệ 371, 372, 373).

Đại đức trưởng lăo Mahāmoggallāna đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Mahāmoggallāna là phần thứ nh́.

--ooOoo--

3. Kư Sự về Trưởng Lăo Mahākassapa

399. Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian Niết Bàn, tôi thể hiện sự cúng dường đến đức Thế Tôn Padumuttara, bậc Đạo Sư, đấng Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

400. Với tâm phấn chấn, dân chúng được vui mừng hoan hỷ. Trong khi mọi người sanh khởi tâm chấn động, niềm phỉ lạc đă khởi lên ở tôi.

401. Tôi đă đưa quyến thuộc bạn bè đến và đă nói lời nói này: “Đấng Đại Hùng đă Viên Tịch Niết Bàn, giờ đây chúng ta hăy thực hiện sự cúng dường.”

402. Sau khi đáp lại rằng: “Lành thay! Chúng ta sẽ thực hiện sự tích lũy phước báu ở nơi đức Phật, đấng Bảo Hộ Thế Gian,” bọn họ đă sanh khởi nỗi vui mừng c̣n hơn tôi nữa.

403. Họ đă thiết lập lễ đài khéo được thực hiện cao một trăm cánh tay,[5] trải dài 150 cánh tay, là cung điện vươn cao đến tận bầu trời.

404. Tại đó, sau khi thực hiện ṭa lâu đài được tô điểm với những hàng cây thốt nốt, tôi đă làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín và đă cúng dường đến ngôi bảo tháp tối thượng.

405. Ngôi bảo tháp chiếu sáng bốn phương trông như là khối lửa được phát cháy, như là cây sālā chúa đă được trổ hoa, như là cầu vồng ngũ sắc ở không trung.

406. Tại nơi ấy, sau khi đă làm cho tâm được tịnh tín, sau khi đă thực hiện nhiều việc tốt lành, sau khi nhớ lại nghiệp quá khứ, tôi đă sanh lên cơi trời.

407. Tôi đă chú nguyện phương tiện di chuyển ở cơi trời là cỗ xe ngựa được kéo bởi một ngàn con. Ṭa lâu đài cao ngất của tôi được vươn cao bảy tầng lầu.

408. Đă có 1.000 nhà mái nhọn làm toàn bằng vàng. Trong lúc chiếu sáng tất cả các phương, chúng tỏa sáng bằng hào quang của chúng.

409. Khi ấy, cũng có những tháp nhọn khác làm bằng hồng ngọc. Với nguồn ánh sáng, chúng cũng rọi sáng bốn phương ở chung quanh.

410. Các ngôi nhà mái nhọn đă được hóa hiện ra, đă được sanh lên do nghiệp phước thiện. Được làm bằng ngọc ma-ni, chúng cũng rọi sáng mười phương ở chung quanh.

411. Trong lúc chúng đang rực sáng, đă có được ánh sáng vĩ đại. Tôi vượt trội tất cả chư Thiên; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.

412. Trong sáu mươi ngàn kiếp, tôi đă là vị Sát-đế-lỵ tên Ubbiddha cư trú ở trái đất, là người chinh phục bốn phương.

413. Tương tợ y như thế, được hài ḷng với nghiệp của chính ḿnh, trong kiếp Bhadda[6] tôi đă ba mươi lần trở thành đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao, được thành tựu bảy loại báu vật, là chúa tể của bốn châu lục.

414. Cũng ở tại nơi ấy, cung điện dành cho tôi được vươn cao như là cầu vồng, có chiều dài là 24 (do-tuần) và chiều rộng là mười hai (do-tuần).

415. Thành phố tên là Rammaka có cổng chào và tường thành vững chăi, có chiều dài năm trăm (do-tuần) và chiều rộng là một nửa của chiều dài, được đông đúc bởi các đám dân chúng trông tợ như thành phố của các cơi trời.

416. Khi ấy thành phố là đông đúc giống như hai mươi lăm cây kim được bỏ chung vào trong hộp đựng kim, chúng va chạm lẫn nhau.

417. Cũng như thế ấy, thành phố của tôi tràn đầy những voi, ngựa, xe cộ, luôn luôn đông đúc với những con người; Rammaka là thành phố tuyệt vời.

418. Tại nơi ấy, tôi đă ăn, tôi đă uống, và đă trở về lại bản thể Thiên nhân. Vào kiếp sống cuối cùng, tôi đă có được sự thành tựu về ḍng dơi.

419. Được sanh ra ở gia tộc Bà-la-môn có sự tích lũy nhiều châu ngọc, tôi cũng đă từ bỏ tám mươi koṭi vàng và tôi đă xuất gia.

420 - 422. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, ―(như trên)― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Mahākassapa đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Mahākassapa là phần thứ ba.

--ooOoo--

4. Kư Sự về Trưởng Lăo Anuruddha 

423. Tôi đă nh́n thấy đức Thế Tôn Sumedha, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Lănh Đạo Thế Gian đang an trú vào hạnh độc cư.

424. Sau khi đi đến gặp bậc Toàn Giác, đấng Lănh Đạo Thế Gian Sumedha, tôi đă chắp tay lên và đă thỉnh cầu đức Phật tối thượng rằng:

425. “Bạch đấng Đại Hùng, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, con sẽ dâng lên cây đèn đến Ngài là vị đang tham thiền ở dưới cội cây, xin Ngài thương xót.”

426. Bậc trí tuệ ấy, đấng Tự Chủ cao quư trong số các vị đang thuyết giảng đă chấp nhận. Khi ấy, tôi đă khoan thủng các thân cây và đă gắn thiết bị vào.

427. Tôi đă dâng lên đức Phật, đấng quyến thuộc của thế gian một ngàn tim đèn. Sau khi đă cháy sáng bảy ngày, các cây đèn của tôi đă lụi tàn.

428. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă được sanh ra ở Thiên cung.

429. Được đạt đến bản thể Thiên nhân, có cung điện đă được hóa hiện ra cho tôi, nó chiếu sáng ra xung quanh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây đèn.

430. Khi ấy, tôi đă chiếu sáng ở xung quanh một trăm do-tuần, tôi vượt trội tất cả chư Thiên; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây đèn.

431. Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi ba kiếp, không người nào xem thường tôi; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây đèn.

432. Và tôi đă trở thành đấng Chuyển Luân Vương hai mươi tám lần. Khi ấy, tôi nh́n thấy (xa khoảng cách) một do-tuần ở xung quanh vào ban ngày và ban đêm.

433. Tôi nh́n thấy một ngàn thế giới bằng trí tuệ trong Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, tôi đă đạt được Thiên nhăn; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây đèn.

434. Đấng Toàn Giác tên Sumedha là ba mươi ngàn kiếp về trước. Với tâm ư trong sạch, tôi đă dâng cúng cây đèn đến Ngài.

435 - 437. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, ―(như trên)― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Anuruddha đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Anuruddha là phần thứ tư.

--ooOoo--

5. Kư Sự về Trưởng Lăo Puṇṇa

438. Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, tôi đă dẫn đầu các học tṛ đi đến gặp bậc Tối Thượng Nhân.

439. Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Đại Hiền Trí đă tán dương việc làm của tôi một cách ngắn gọn.

440. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp ấy, tôi đă đảnh lễ bậc Đạo Sư. Tôi đă chắp tay lên và đă ra đi, mặt hướng phía bên phải.

441. Sau khi lắng nghe một cách tóm tắt, tôi đă thuyết giảng một cách chi tiết. Sau khi lắng nghe lời giảng của tôi, tất cả những người học tṛ đều có tâm hoan hỷ.

442. Sau khi xua đi tà kiến của ḿnh, họ đă khiến tâm được tịnh tín vào đức Phật. Tôi cũng thuyết giảng một cách tóm tắt, một cách chi tiết tương tợ y như thế.

443. Là người biết rơ đường hướng của Vi Diệu Pháp, thông thạo về các đề tài thuyết giảng, sau khi làm cho tất cả hiểu rơ, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

444. Trước đây năm trăm kiếp, có bốn vị chúa tể ở bốn châu lục là những vị vô cùng nổi tiếng, được thành tựu bảy loại báu vật.

445. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Puṇṇa Mantāniputta đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Puṇṇa Mantāniputta là phần thứ năm.

--ooOoo-- 

6. Kư Sự về Trưởng Lăo Upāli

446. Ở thành phố Haṃsavatī, vị Bà-la-môn tên Sujāta có sự tích lũy tám mươi koṭi, có dồi dào tài sản và lúa gạo.

447. Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, đă đạt đến sự toàn hảo về (khoa) tướng mạo, về truyền thống, và về giáo lư (của Bà-la-môn).

448. Khi ấy, các du sĩ ngoại đạo có một ngọn lửa, các Thinh Văn của đức Phật Gotama, các vị lang thang, và cả các đạo sĩ khổ hạnh du hành ở trái đất.

449. Bọn họ cũng tháp tùng theo tôi (cho rằng): ‘Vị Bà-la-môn nổi tiếng.’ Nhiều người tôn vinh tôi, tôi không tôn vinh bất cứ người nào.

450. Tôi không nh́n thấy bậc xứng đáng sự tôn vinh, khi ấy tôi ngă mạn và ương ngạnh. Khi đấng Chiến Thắng c̣n chưa xuất hiện th́ không có từ ngữ ‘Đức Phật.’

451. Bao ngày đêm trôi qua, đấng Lănh Đạo Padumuttara, bậc Hữu Nhăn, sau khi xua đi tất cả tăm tối, đă xuất hiện ở thế gian.

452. Vào lúc Giáo Pháp được phổ biến rộng răi, được biết nhiều, và trở thành phổ thông, khi ấy đức Phật đă đi đến đến thành phố tên Haṃsa.

453. Khi ấy, v́ lợi ích của người cha, đức Phật bậc Hữu Nhăn ấy đă thuyết giảng Giáo Pháp. Vào thời điểm ấy, đám đông ở xung quanh là một do-tuần.

454. Khi ấy, được thỏa thuận trong số mọi người, vị đạo sĩ khổ hạnh tên Sunanda ấy đă che phủ hết thảy hội chúng của đức Phật bằng những bông hoa.

455. Và trong khi bậc Tối Thượng đang công bố bốn Sự Thật ở nơi mái che bằng bông hoa, đă có sự lănh hội Giáo Pháp của một trăm ngàn koṭi người.

456. Đức Phật đă đổ mưa những cơn mưa Giáo Pháp trong bảy ngày đêm. Khi đạt đến ngày thứ tám, đấng Chiến Thắng đă tán dương vị Sunanda rằng:

457. “Người này trong khi luân hồi ở cơi hữu, dầu ở thế giới chư Thiên hay loài người, sẽ trở thành bậc ưu tú trong số tất cả và sẽ luân hồi ở các cơi.

458. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

459. (Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Puṇṇo Mantāniputta.”

460. Lúc bấy giờ, trong khi làm cho tất cả dân chúng vui mừng, trong khi thị hiện năng lực của chính ḿnh, bậc Toàn Giác đă tán dương đạo sĩ khổ hạnh Sunanda như thế.

461. Dân chúng chắp tay lễ bái vị đạo sĩ khổ hạnh Sunanda (nghĩ rằng): “Sau khi thể hiện sự tôn kính đến đức Phật, vị ấy đă làm trong sạch cảnh giới tái sanh của bản thân.”

462. Tại nơi ấy, sau khi lắng nghe lời nói của bậc Hiền Trí, tôi đă có sự suy tư rằng: “Ta cũng sẽ thể hiện sự tôn kính giống như ta nh́n thấy vị Gotama.”

463. Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đă suy nghĩ về hành động của tôi rằng: “Ta sẽ thực hành việc làm ǵ ở Phước Điền vô thượng?

464. Và vị tỳ khưu này là vị tŕ tụng trong số tất cả các vị tŕ tụng trong Giáo Pháp, và đă được chọn lựa là vị đứng đầu về Luật, tôi đă ước nguyện vị thế ấy.

465. Tài sản này của tôi là vô lượng, không thể bị xao động tợ như biển cả. Với của cải ấy tôi đă cho xây dựng tu viện dành cho đức Phật.

466. Có khu vườn tên là Sobhana ở phía Đông của thành phố. Sau khi đă mua bằng một trăm ngàn, tôi đă cho thực hiện tu viện dành cho Hội Chúng.

467. Sau khi đă xây dựng các nhà mái nhọn, các lầu đài, các mái che, các ṭa nhà, các hang động, các đường kinh hành khéo được tạo lập, tôi đă cho thực hiện tu viện dành cho Hội Chúng.

468. Sau khi đă cho xây dựng nhà tắm hơi, nhà đốt lửa, rồi giếng nước, nhà tắm, tôi đă dâng cúng đến Hội Chúng tỳ khưu.

469. Tôi đă dâng cúng mọi thứ này (gồm có) các ghế dài, các ghế đẩu, các vật dụng, các son nồi, và thuốc men dành cho tu viện.

470. Sau khi đă thiết lập sự pḥng hộ, tôi đă cho xây dựng tường thành vững chắc, không cho bất cứ việc ǵ quấy rầy đến những bậc có tâm thanh tịnh như thế ấy.

471. Tôi đă cho xây dựng một trăm ngàn chỗ ngụ ở tu viện dành cho Hội Chúng. Sau khi bố trí đầy đủ tiện nghi, tôi đă cống hiến đến bậc Toàn Giác.

472. “Bạch bậc Hiền Trí, xin Ngài hăy tiếp nhận ngôi tu viện đă được con hoàn thành. Bạch đấng Anh Hùng, con sẽ dâng cúng đến Ngài. Bạch đấng Hữu Nhăn, xin Ngài hăy chấp thuận.”

473. Bậc Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Lănh Đạo sau khi biết được tâm tư của tôi đă chấp thuận.

474. Sau khi biết được sự chấp thuận của bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Toàn Tri, sau khi đă chuẩn bị thức ăn, tôi đă thông báo về thời điểm.

475. Khi thời điểm đă được thông báo, đấng Lănh Đạo Padumuttara đă đi đến tu viện của tôi cùng với một ngàn bậc Vô Lậu.

476. Biết được lúc Ngài đă ngồi xuống, tôi đă làm toại ư Ngài với cơm ăn và nước uống. Biết được lúc Ngài đă thọ thực xong, tôi đă nói lời nói này:

477. “Bạch đấng Hiền Trí, tu viện tên Sobhana đă được mua bằng một trăm ngàn và đă được cho xây dựng với chừng cỡ ấy, xin Ngài hăy tiếp nhận.

478. Do sự dâng cúng tu viện này và do các nguyện lực của tác ư, trong khi sanh ra ở cơi hữu, mong sao con đạt được điều con đă ước nguyện.”

479. Sau khi thọ nhận tu viện dành cho Hội Chúng đă được xây dựng khéo léo, đấng Toàn Giác đă ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đă nói lời nói này:

480. “Người nào đă dâng lên tu viện dành cho Hội Chúng đă được xây dựng khéo léo đến đức Phật, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

481. Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện dành cho Hội Chúng.

482. Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được tô điểm sẽ thường xuyên tháp tùng người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện dành cho Hội Chúng.

483. Tám mươi sáu ngàn phụ nữ được trang điểm, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.

484. Có lông mi cong, có nụ cười, có điệu bộ duyên dáng, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện dành cho Hội Chúng.

485. Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc một ngàn lần.

486. (Người này) sẽ thọ lănh mọi thứ mà vị Thiên Vương có thế đạt được, sẽ có của cải không bị thiếu hụt, và sẽ cai quản Thiên quốc.

487. (Người này) sẽ trở thành trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở quốc độ một ngàn lần. Vương quyền ở trái đất là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

488. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

489. (Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Upāli.

490. Sau khi đạt được sự toàn hảo về Luật và rành rẽ về sự thành lập hay không thành lập (tội), trong lúc duy tŕ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, (người này) sẽ sống không c̣n lậu hoặc.

491. Sau khi biết rơ mọi việc này, đức Gotama bậc Cao Quư ḍng Sakya sẽ ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và sẽ thiết lập (người này) vào vị thế tối thắng.”

492. Con ao ước về Giáo Pháp của Ngài đă là vô lượng (kiếp). (Giờ) con đă đạt mục đích ấy và có được sự đoạn tận tất cả mọi điều trói buộc.

493. Giống như khi bị buộc vào cọc nhọn, người đàn ông khiếp sợ h́nh phạt của đức vua, trong khi không t́m thấy sự thoải mái ở cọc nhọn th́ mong mỏi chỉ mỗi sự phóng thích.

494. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế con khiếp sợ h́nh phạt của sự hiện hữu. Trong khi bị buộc vào cọc nhọn của nghiệp báo, con bị phiền muộn v́ sự cảm thọ khát khao.

495. Bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, con không thấy thoải mái ở hiện hữu. Cũng tợ như người bị hành phạt bởi đức vua, con tầm cầu sự giải thoát.

496. Giống như người bị rắn độc cắn th́ bị nọc độc hành hạ, người ấy có thể t́m kiếm phương thuốc là cách thức làm cho tiêu tan nọc độc.

497. Trong khi t́m kiếm có thể nh́n thấy phương thuốc là vật làm tiêu tan nọc độc. Sau khi uống thuốc ấy, người ấy có thể có được sự an lạc do việc thoát khỏi nọc độc.

498. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, bị hành hạ bởi vô minh con đă tầm cầu phương thuốc Chánh Pháp, giống như người đàn ông bị hăm hại bởi nọc độc (đă t́m phương thuốc giải độc).

499. Trong khi t́m kiếm phương thuốc Giáo Pháp, con đă nh́n thấy lời chỉ dạy của vị ḍng Sakya ấy là cao quư trong số tất cả các loại thuốc men, là sự nhổ lên tất cả các mũi tên.

500. Sau khi uống vào phương thuốc Giáo Pháp, con đă xóa sạch tất cả nọc độc, con đă chạm đến Niết Bàn có trạng thái mát mẻ không già không chết.

501. Giống như người bị ma quỷ khuấy rối, bị hành hạ bởi ma quỷ nhập vào, th́ có thể t́m thầy chữa bệnh ma quỷ nhằm thoát khỏi ma quỷ.

502. Trong khi t́m kiếm có thể nh́n thấy vị rành rẽ các sự hiểu biết về ma quỷ. Vị ấy có thể diệt trừ ma quỷ cho người ấy và có thể làm cho tiêu tan tận gốc rễ.

503. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế con bị phiền muộn bởi sự xâm nhập của tăm tối, con t́m kiếm ánh sáng của trí tuệ nhằm sự giải thoát khỏi tăm tối.

504. Giờ con đă nh́n thấy bậc Hiền Trí ḍng họ Sakya có sự trong sạch đối với các điều tăm tối phiền năo. Vị ấy đă xua đi sự tăm tối của con, tợ như người thầy chữa bệnh ma quỷ xua đi ma quỷ.

505. Con đă cắt đứt ḍng chảy luân hồi, đă chận đứng ḍng nước tham ái, đă thủ tiêu tất cả hữu tận gốc rễ, tợ như vị thầy chữa bệnh ma quỷ.

506. Giống như loài nhân điểu lao xuống con rắn là mồi của bản thân nó, nó khuấy động hồ nước lớn ở xung quanh đến một trăm do-tuần.

507. Sau khi bắt được con rắn, con nhân điểu liền gây tổn thương phía dưới đầu (con rắn). Sau khi tóm lấy (con rắn), nó ra đi đến nơi dự tính.

508. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, trong khi tầm cầu (Niết Bàn) không c̣n tạo tác, con đă tẩy uế sạch sẽ các điều xấu xa, cũng giống như con nhân điểu có sức mạnh (t́m kiếm con mồi rồi tiêu diệt).

509. Con đă nh́n thấy Giáo Pháp cao quư là đạo lộ an tịnh vô thượng, con đă nắm giữ điều này và an trú giống như con nhân điểu tóm lấy con rắn rồi mang đi.

510. Có loại dây leo tên là āsāvatī được sanh ra tại khu rừng Cittalatāvana (ở cơi trời Đạo Lợi). Đối với loại dây leo ấy một ngàn năm nó sanh ra một trái.

511. Chư Thiên gần gũi với loại dây leo ấy cho đến khi nó có trái sau thời gian dài lâu. Loài dây leo thượng hạng āsāvatī ấy được chư Thiên yêu quư như thế.

512. Con thân cận với bậc Hiền Trí ấy đến một trăm ngàn (năm),[7] con lễ bái sáng chiều như là chư Thiên gần gũi với trái āsāvatī vậy.

513. Sự phục vụ không phải là không có kết quả và sự lễ bái là không phải là rỗng không. Dầu con đang trải qua (luân hồi) dài lâu thăm thẳm, cơ hội (về sự xuất hiện của đức Phật) đă không bỏ rơi con.

514. Trong khi xem xét các cơi, con không nh́n thấy sự tiếp nối tái sanh. Không c̣n nền tảng tái sanh, đă hoàn toàn giải thoát, được an tịnh, con đi đó đây.

515. Bạch đấng Đại Hùng, cũng giống như đóa hoa sen nở rộ nhờ tia nắng mặt trời, tương tợ y như thế con được thăng hoa nhờ vào hào quang của đức Phật.

516. Giống như trong việc sanh sản của loài hạc nâu, hạc nâu đực không bao giờ được biết đến, những con hạc nâu cái ấy luôn luôn được thụ thai trong khi những cơn mưa đang gào thét.

517. Những con hạc nâu cái ấy c̣n duy tŕ bào thai lâu dài đến chừng nào cơn mưa c̣n chưa đổ xuống. Khi cơn mưa đổ xuống, chúng được thoát khỏi gánh nặng.

518. Được gào thét bởi cơn mưa Giáo Pháp của đức Phật Padumuttara, con đă kết tụ bào thai Giáo Pháp nhờ vào âm thanh của cơn mưa Giáo Pháp.

519. Con mang theo bào thai phước báu đến một trăm ngàn (kiếp),[8] con không được thoát khỏi gánh nặng (luân hồi) khi cơn mưa Giáo Pháp chưa gào thét.

520. Bạch đấng Hiền Trí của ḍng họ Sakya, khi nào Ngài gào thét với cơn mưa Giáo Pháp ở thành Kapilavatthu đáng yêu th́ con được giải thoát khỏi gánh nặng (luân hồi).

521. Con đă nhận thức về không tánh, về vô tướng, và cũng như thế về vô nguyện, về bốn Quả vị và tất cả các pháp.

(Tụng phẩm thứ nh́).

522. Con ước nguyện về Giáo Pháp của Ngài đă là vô lượng (kiếp). (Giờ) con đă đạt đến mục đích ấy và vị thế an tịnh vô thượng (Niết Bàn).

523. Cũng giống như vị ẩn sĩ (tỳ khưu) là bậc tŕ tụng, con đă đạt đến sự toàn hảo về Luật, không có vị nào sánh bằng với con, con duy tŕ Giáo Pháp.

524. Về Luật (Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni), luôn cả Luật Hợp Phần (Đại Phẩm và Tiểu Phẩm), theo cách chia làm ba phần và phần thứ năm, ở đây con không có điều ǵ nghi ngờ về mẫu tự hay từ ngữ.

525. Con được rành rẽ về việc khiển trách tội, về việc sửa chữa tội, về sự thành lập hay không thành lập tội, về việc phục hồi (phẩm vị), về việc làm cho hết tội, con đă đạt đến sự toàn hảo về mọi lănh vực.

526. Sau khi lấy ra một điều học ở Luật (Phân Tích) thậm chí ở Luật Hợp Phần, con có thế gỡ rối về cả hai bộ Luật và giải thích điều cốt lơi.

527. Con vô cùng thiện xảo về ngôn từ và rành rẽ về điều lợi ích hoặc không lợi ích. Không có điều (Luật) ǵ là con không biết đến, con là vị có sự chăm chú về Giáo Pháp của bậc Đạo Sư.

528. Giờ đây trong thời điểm hiện tại, con xua đi tất cả mọi điều ngờ vực về Giáo Pháp của người con trai ḍng Sakya, con cắt đứt tất cả các điều nghi hoặc.

529. Con rành rẽ về câu cú, luôn cả phần phụ thuộc của câu cú, về mẫu tự, luôn cả từ ngữ, về nhập đề, về kết thúc, về tất cả các lănh vực này.

530. Cũng giống như vị vua hùng mạnh có thể khống chế và gây khó khăn cho kẻ địch, sau khi toàn thắng cuộc chiến th́ có thể kiến thiết thành phố ở tại nơi ấy.

531. (Đức vua) có thể cho xây dựng tường thành, luôn cả hào rănh, trạm gác, cổng thành, và nhiều vọng canh đủ các loại ở thành phố.

532. Ở tại nơi ấy, (đức vua) có thể cho xây dựng ngă tư đường, bùng binh, khu phố chợ khéo được phân bố, và pḥng hội họp để quyết định điều hay lẽ thiệt.

533. Đức vua bổ nhiệm vị tướng lănh quân đội với nhiệm vụ tiêu diệt những kẻ nghịch, để biết được thế yếu và thế mạnh nhằm bảo toàn binh lực.

534. Nhằm mục đích bảo quản phẩm vật, đức vua bổ nhiệm người nam thiện xảo trong việc cất giữ làm người thủ khố: “Chớ làm thất thoát phẩm vật của Trẫm.”

535. Người nào tận tụy đối với đức vua và mong muốn ngài có được sự tiến triển, đức vua ban cho người ấy quyền phân xử để được trở thành cận thần của ngài.

536. Đức vua phong cho vị giảng huấn thông thạo về chú thuật, rành rẽ về các điềm báo hiệu và các hiện tượng đă được sanh khởi vào địa vị quân sư.

537. (Đức vua) hội đủ những yếu tố này được gọi là ‘Sát-đế-lỵ.’ (Quần thần) luôn bảo vệ đức vua tợ như con ngỗng đỏ luôn hộ tŕ kẻ bị khổ đau.

538. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ như thế ấy, Ngài được gọi là “Pháp Vương” của thế gian luôn cả chư Thiên, tợ như vị Sát-đế-lỵ có kẻ thù đă bị đánh bại.

539. Sau khi đánh bại các ngoại đạo và luôn cả Ma Vương cùng với đội quân binh, sau khi hủy diệt sự tăm tối ấy, Ngài đă xây dựng thành phố Giáo Pháp.

540. Bạch đấng Trí Tuệ, tại nơi ấy giới là tường thành, trí của Ngài là cổng thành, tín của Ngài là trạm gác, và sự thu thúc là người canh gác cổng.

541. Bạch đấng Hiền Trí, sự thiết lập niệm là vọng canh, tuệ của Ngài là bùng binh, và nền tảng của thần thông là ngă tư đường; con đường Giáo Pháp đă khéo được xây dựng.

542. Toàn bộ Kinh, Vi Diệu Pháp, và luôn cả Luật là lời dạy của đức Phật gồm có chín thể loại; đây là pḥng hội về Giáo Pháp của Ngài.

543. Sự an trú không tánh, sự an trú vô tướng, và sự an trú vô nguyện, (bốn Quả vị Sa-môn) không bị lay chuyển, và sự tịch diệt (Niết Bàn); đây là căn nhà Giáo Pháp của Ngài.

544. Vị có tên Sāriputta đă được chọn lựa là vị đứng đầu về tuệ, được rành rẽ về biện tài, là vị Tướng Quân Chánh Pháp của Ngài.

545. Bạch đấng Hiền Trí, vị tên Kolita được thiện xảo về sanh tử (thông), đă đạt đến sự toàn hảo về thần thông là viên quan tế tự của Ngài.

546. Bạch đấng Hiền Trí, vị duy tŕ truyền thống cổ xưa (Mahākassapa), có oai lực nổi bật, khó mà tiếp cận, đứng đầu về đức hạnh trong việc giáo giới các pháp giũ bỏ, là viên quan phán xử của Ngài.

547. Bạch đấng Hiền Trí, vị tên Ānanda nghe nhiều (học rộng), nắm giữ Giáo Pháp, có sự tŕ tụng toàn bộ về lời chỉ dạy, là vị bảo vệ Giáo Pháp của Ngài.

548. Sau khi điểm qua tất cả các vị này, đức Thế Tôn đă cân nhắc đến tôi và đă ban cho tôi việc phân xử về Luật đă được bậc Thức Tri thuyết giảng.

549. Bất cứ vị Thinh Văn nào của đức Phật hỏi câu hỏi về Luật, tôi không cần có sự suy nghĩ về câu hỏi ấy, tôi giảng giải đúng ngay ư nghĩa câu hỏi ấy

550. Cho đến địa phận của chư Phật ngoại trừ bậc Đại Hiền Trí ấy, không ai sánh bằng tôi về Luật, làm sao sẽ có vị hơn được?

551. Sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, đức Gotama khẳng định như vầy: “Không có vị nào sánh bằng Upāli về Luật (Phân Tích) và các bộ Hợp Phần.”

552. Cho đến Giáo Pháp của bậc Đạo Sư có chín thể loại đă được đức Phật nói ra, đối với người nhận thức được ‘Luật là nền tảng’ th́ tất cả (Giáo Pháp) đều được bao gồm trong Luật.

553. Sau khi nhớ lại việc làm của tôi, đức Gotama bậc Cao Quư ḍng Sakya đă ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu và đă thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.

554. Tôi đă ước nguyện về vị thế ấy từ trăm ngàn (kiếp), tôi đă đạt đến mục đích ấy, đă đạt đến sự toàn hảo về Luật.

555. Trước đây tôi đă là người thợ cạo râu tóc đem lại niềm vui cho các vị ḍng Sakya. Sau khi ĺa bỏ sự xuất thân ấy, tôi đă trở thành người con trai của bậc Đại Ẩn Sĩ.

556. Trước đây hai kiếp, vị hộ tŕ trái đất là vị Sát-đế-lỵ tên Añjasa có oai lực vô biên, có danh vọng vô lượng, có tài sản lớn lao.

557. Là người con trai của vị vua ấy, tôi là vị Sát-đế-lỵ tên Candana. Tôi đă ỷ lại vào sự kiêu hănh về ḍng dơi và sự kiêu hănh về danh vọng và của cải.

558. Một trăm ngàn con long tượng mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi, được tô điểm với tất cả các loại trang sức, luôn luôn hộ tống tôi.

559. Khi ấy, được tháp tùng bởi các binh lính của ḿnh, là người có ư thích đi đạo khu vườn, tôi đă cỡi lên con voi Sirika và đă rời khỏi thành phố.

560. Đức Phật tên Devala[9] đầy đủ tánh hạnh, có các căn được pḥng hộ, khéo thu thúc đă đi đến phía trước tôi.

561. Khi ấy, tôi đă thúc con voi Sirika và đă công kích đức Phật. Do đó, con voi ấy đă nổi cơn giận dữ và không chịu nhấc bàn chân lên.

562. Sau khi nh́n thấy con voi có tâm ư bất b́nh, tôi đă thể hiện sự giận dữ đối với đức Phật. Sau khi gây khó khăn cho đức Phật, tôi đă đi đến khu vườn.

563. Tôi không t́m thấy sự thoải mái ở tại nơi ấy giống như cái đầu đă bị bốc cháy, tôi bị thiêu đốt v́ sự bực bội tợ như con cá bị vướng vào lưỡi câu.

564. Việc xảy ra cho tôi tợ như trái đất bị rực cháy đến tận bờ biển, tôi đă đi đến gặp người cha và đă nói lời nói này:

565. “Việc con đă công kích đấng Tự Chủ tợ như con rắn độc bị nổi giận, tợ như khối lửa đă tiến đến, tợ như con voi có sự huấn luyện bị động cỡn.

566. Đức Phật, đấng Chiến Thắng có khổ hạnh nổi bật khủng khiếp, đă bị con công kích. Trước khi tất cả chúng ta bị tiêu diệt, chúng ta hăy xin bậc Hiền Trí ấy thứ lỗi.

567. Ngài là vị có bản thân đă được rèn luyện được định tĩnh, nếu chúng ta không được vị ấy tha thứ th́ xứ sở của con sẽ bị tiêu hoại trong ṿng bảy ngày.

568. (Các vị vua) Sumekhala, Kosiya, Siggava, và luôn cả Sattuko sau khi công kích các vị ẩn sĩ, họ cùng với cư dân của xứ sở đă lâm cảnh khổ đau.

569. Khi các vị ẩn sĩ đă tự chế ngự, có sự thực hành Phạm hạnh, nổi cơn bực tức, các vị làm cho thế gian cùng với biển cả và núi non luôn cả chư Thiên bị hủy hoại.”

570. Tôi đă triệu tập các nam nhân trong phạm vi ba ngàn do-tuần, và tôi đă đi đến gặp đấng Tự Chủ với ư định sám hối tội lỗi.

571. Hết thảy tất cả có y phục ướt đẫm, có đầu tóc ướt đẫm đă chắp tay lên. Sau khi quỳ xuống ở bàn chân của đức Phật, bọn họ đă nói lời nói này:

572. “Bạch đấng Đại Hùng, dân chúng cầu xin Ngài, xin Ngài hăy tha thứ, xin Ngài hăy xua đi nỗi bực bội, xin Ngài chớ hủy hoại xứ sở của chúng tôi.”

573. “Xin tất cả loài người và chư Thiên cùng với hạng người khổng lồ và các quỷ dữ hăy đập bể đầu của con bằng cái chày vồ làm bằng sắt vào mọi lúc.”

574. (Vị Phật đáp): “Ngọn lửa không tồn tại ở nước, hạt giống không mọc lên ở tảng đá, sâu bọ không tồn tại ở thuốc men, sự giận dữ không nảy sanh ở đức Phật.

575. Cũng giống như trái đất th́ không lay chuyển, biển cả th́ không thể đo lường, và không gian th́ vô tận, tương tợ như vậy chư Phật là không giao động.

576. Các đấng Đại Hùng luôn nhẫn nại, các đạo sĩ khổ hạnh luôn thứ tha. Đối với các vị đă nhẫn nại đă thứ tha, việc đi đến sự bực bội là không có.”

577. Nói xong điều này, trong khi xua đi sự bực bội, đức Phật khi ấy đă bay lên không trung ở phía trước đám đông dân chúng.

578. Bạch đấng trí tuệ, do nghiệp ấy con đă đi đến bản thể thấp kém. Sau khi tự vượt lên trên số phận ấy, con đă đi vào thành phố không hăi sợ (Niết Bàn).

579. Bạch đấng Đại Hùng, cũng vào khi ấy con đă cầu xin đấng Tự Chủ thứ lỗi và vị ấy đă xua đi sự bực bội đang thiêu đốt con, đang tồn tại vững chắc ở con.

570. Bạch đấng Đại Hùng, hôm nay cũng vậy trong khi con đang bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, Ngài đă dập tắt ba ngọn lửa và giúp con đạt đến trạng thái mát mẻ.

571. Nếu các người có sự chú ư vào việc nghe th́ hăy lắng nghe khi tôi đang nói. Tôi sẽ giảng giải ư nghĩa cho các người về việc tôi đă thấy được vị thế (Niết Bàn) như thế nào.

572. Sau khi đă khinh miệt đấng Tự Chủ là vị có tâm an tịnh, định tĩnh ấy, do nghiệp ấy ngày hôm nay tôi đă bị sanh ra vào ḍng dơi thấp kém.

573. Các người chớ để cơ hội trôi qua bởi v́ khi cơ hội đă trôi qua các người sẽ sầu muộn. Các người hăy nên tinh tấn cho lợi ích của chính ḿnh, cơ hội sẽ xảy đến cho các người.

574. Và (Giáo Pháp) đối với một số người là sự ói mửa, đối với một số người là sự tháo dạ, đối với số người là chất độc chết người và đối với một số người là phương thuốc.

575. Là sự ói mửa đối với những người đang thực hành, là sự xổ ruột đối với những người tiến đến Quả vị, là phương thuốc đối với những người có sự thành tựu Quả vị, là Phước Điền đối với những người tầm cầu.

576. Chất độc chết người (tác hại) đối với những kẻ thù nghịch Giáo Pháp như thế nào, th́ con rắn độc có nọc độc tà kiến thiêu đốt người đàn ông ấy như vậy.

587. Được uống một lần, chất độc chết người chấm dứt mạng sống. C̣n người khi đă thù nghịch với Giáo Pháp th́ bị thiêu đốt một koṭi (mười triệu) kiếp.

588. Do sự nhẫn nại, do sự không hăm hại, và do sự hành tŕ tâm từ ái, đức Phật giúp thế gian luôn cả chư Thiên vượt qua; v́ thế các người không nên thù nghịch.

589. Chư Phật tương đương với trái đất, các Ngài không bị vướng bận vào các sự được lợi hay mất lợi, vào sự kính trọng hay không kính trọng; v́ thế các người không nên thù nghịch.

590. Trong trường hợp kẻ phá hoại Devadatta, kẻ cướp Aṅgulimāla, con voi Dhanapāla, và (người con trai) Rāhula, bậc Hiền Trí là b́nh đẳng đối với tất cả.

591. Các vị này không có sự bất b́nh, các vị này không biết đến sự luyến ái. Đức Phật là b́nh đẳng đối với tất cả, đối với kẻ phá hoại cũng như đối với người con ruột.

592. Sau khi nh́n thấy ở trên đường tấm y ca-sa bị quăng bỏ lấm lem bởi phân ḅ, nên chắp tay ở trên đầu đảnh lễ biểu tượng của bậc Ẩn Sĩ.

593. Chư Phật quá khứ, hiện tại, và vị lai được thanh tịnh nhờ vào biểu tượng này, v́ thế những vị này đáng được lễ bái.

594. Luật tốt đẹp được xem như là bậc Đạo Sư, tôi duy tŕ Luật bằng trái tim. Trong khi tôn kính đối với Luật, tôi sẽ luôn luôn an trú.

595. Luật là khuynh hướng của tôi, Luật là chỗ đứng và là đường kinh hành (của tôi), tôi sắp xếp sự cư ngụ ở trong Luật, Luật là hành xứ của tôi.

596. Tôi đă đạt đến sự toàn hảo về Luật và cũng rành rẽ các pháp dàn xếp (về tranh tụng). Bạch đấng Đại Hùng, Upāli đảnh lễ ở bàn chân của Ngài là bậc Đạo Sư.

597. Trong khi lễ bái bậc Toàn Giác và bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp, tôi đây sẽ du hành từ làng này đến làng khác, từ thành phố này đến thành phố khác.

598. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đă được đoạn tận, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

599. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.

600. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Upāli đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Upāli là phần thứ sáu.

--ooOoo--

7. Kư Sự về Trưởng Lăo Aññākoṇḍañña

601. (Đây là) lần đầu tiên tôi đă nh́n thấy đấng Toàn Giác Padumuttara, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Hướng Đạo, vị đă đạt đến nền tảng của bậc Giác Ngộ.

602. Cho đến tất cả Dạ-xoa đă tụ hội lại ở cội cây Bồ Đề. Họ vây quanh và chắp tay lên đảnh lễ bậc Toàn Giác.

603. Với tâm ư hớn hở, tất cả chư Thiên ấy di chuyển đó đây ở trên không trung (nói rằng): “Đức Phật này đă ngự đến xua tan bóng đêm tăm tối.”

604. Được tràn ngập niềm vui, các vị ấy đă phát lên tiếng vang lớn rằng: “Chúng ta sẽ thiêu đốt các phiền năo ở Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.”

605. Nhận biết giọng nói được thốt thành lời của chư Thiên, tôi đă trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ tôi đă dâng cúng bữa ăn đầu tiên (đến đức Phật).

606. Sau khi biết được ư định của tôi, bậc Đạo Sư đấng Vô Thượng ở thế gian đă ngồi xuống ở hội chúng chư Thiên và đă nói lên những lời kệ này:

607. “Sau khi ra đi bảy ngày, Ta đă chứng đắc phẩm vị Giác Ngộ. Đây là bữa ăn đầu tiên của Ta, là vật nuôi dưỡng cơ thể đối với việc hành Phạm hạnh.

608. Bởi v́ người nào từ cơi trời Đẩu Suất đi đến nơi đây và đă dâng lên thức ăn cho Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

609. Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc ba mươi ngàn kiếp. Sau khi vượt trội tất cả chư Thiên, người ấy sẽ cư ngụ ở cơi trời.

610. Sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, người ấy sẽ đi đến bản thể nhân loại, là đấng Chuyển Luân Vương cai quản quốc độ ở tại nơi ấy một ngàn lần.

611. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

612. Sau khi mệnh chung từ cơi trời, người ấy sẽ đi đến bản thể nhân loại. Sau khi ĺa gia đ́nh xuất gia, người ấy sẽ sống sáu năm (khổ hạnh).

613. Sau đó, vào năm thứ bảy đức Phật sẽ thuyết giảng Chân Lư. Vị tên là Koṇḍañña sẽ chứng ngộ đầu tiên.”

614. Tôi đă xuất gia theo (đức Bồ Tát) vị đă ĺa khỏi (gia đ́nh). Sự tinh tấn đă được tôi thể hiện tốt đẹp. Nhằm mục đích thiêu đốt các phiền năo tôi đă xuất gia vào đời sống không gia đ́nh.

615. Đấng Toàn Tri, đức Phật ở thế gian luôn cả chư Thiên, đă ngự đến Isināma tại Vườn Nai, và đă vỗ lên tiếng trống Bất Tử.

616. Bây giờ, tôi đây đă đạt đến vị thế Bất Tử, thanh tịnh, vô thượng. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

617 - 619. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, ―(như trên)― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Aññākoṇḍañña đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Aññākoṇḍañña là phần thứ bảy.

--ooOoo--

8. Kư Sự về Trưởng Lăo Piṇḍolabhāradvāja

620. Lúc bấy giờ, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Tự Chủ, nhân vật cao cả đă cư ngụ tại Cittakūṭa (đỉnh núi Citta) ở phía trước núi Hi-mă-lạp.

621. Ở tại nơi ấy, tôi đă là (con sư tử) vua của loài thú có dáng vóc dũng mănh đi khắp bốn phương. Nhiều người hoảng hốt sau khi nghe tiếng rống của nó.

622. Sau khi cầm lấy đóa sen khéo được nở rộ, tôi đă đi đến gần đấng Nhân Ngưu và đă dâng đến đức Phật (khi Ngài) đă xuất khỏi định.

623. Sau khi lễ bái đức Phật tối thượng, bậc Tối Thượng Nhân từ bốn hướng, tôi đă làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín rồi đă rống lên tiếng rống của loài sư tử.

624. Bậc Thông Suốt Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đă ngồi xuống ở chỗ ngồi của ḿnh và đă nói lên những lời kệ này:

625. Nhận biết giọng nói của đức Phật, tất cả chư Thiên đă tụ hội lại (nói rằng): “Vị đứng đầu trong số các bậc thuyết giảng đă đi đến, chúng ta sẽ lắng nghe Giáo Pháp của Ngài.”

626. Đấng Lănh Đạo Thế Gian, bậc Đại Hiền Trí có sự nh́n thấy tương lai xa vời, đă tán dương đức tin của tôi ở phía trước chư Thiên đang được tràn ngập niềm vui ấy rằng:

627. “Người nào đă dâng cúng đóa hoa sen này và đă rống lên tiếng rống của loài sư tử, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

628. Vào kiếp thứ tám về sau này, người này sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, là chúa tể của bốn châu lục.

629. (Người này) sẽ là đấng Chuyển Luân Vương có sức mạnh vĩ đại tên Paduma cai quản lănh địa ở trên trái đất sáu mươi bốn lần.

630. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

631. Khi Phật Ngôn được công bố, (người này) sẽ là thân quyến của Phạm Thiên (ḍng dơi Bà-la-môn). (Người này) sẽ ĺa khỏi phẩm vị Bà-la-môn và sẽ xuất gia ngay khi ấy.

632. Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, được an tịnh, không c̣n mầm mống tái sanh, (người này) sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, sẽ Niết Bàn, không c̣n lậu hoặc.

633. Tại chỗ ngụ hẻo lánh ở trong rừng đầy dẫy ác thú, (vị ấy) sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, sẽ Niết Bàn, không c̣n lậu hoặc.”

634 - 636. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, ―(như trên)― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Piṇḍolabhāradvāja đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Piṇḍolabhāradvāja là phần thứ tám.

--ooOoo--

9. Kư Sự về Trưởng Lăo Khadiravaniyarevata

637. Sông Gaṅgā có tên là Bhāgīrathī, được phát xuất từ núi Hi-mă-lạp. Tôi đă là người chèo thuyền ở bến tàu hiểm trở, và ở bờ này tôi chèo qua (bờ kia).

638. Tôi đă được nghe trước rằng đấng Lănh Đạo Padumuttara sẽ vượt qua ḍng sông cùng với một trăm ngàn vị có năng lực.

639. Sau khi gom lại nhiều chiếc thuyền, tôi đă thực hiện mái che được chuẩn bị khéo léo bởi những người thợ mộc ở trên (một) chiếc thuyền, rồi đă chờ đợi đấng Nhân Ngưu.

640. Và đấng Toàn Giác đă ngự đến và đă bước lên chiếc thuyền ấy. Đứng ở giữa (ḍng) nước, bậc Đạo Sư đă nói lên những lời kệ này:

641. “Người nào đă đưa bậc Toàn Giác và Hội Chúng Vô Lậu sang bờ kia, do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, (người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên.

642. Sẽ có cung điện h́nh dạng chiếc thuyền được kiến tạo khéo léo sanh lên cho ngươi. Sẽ có mái che bằng bông hoa được duy tŕ ở trên không vào mọi lúc.

643. Năm mươi tám kiếp về sau, (người này) sẽ là vị Sát-đế-lỵ tên Tāraka, là đấng Chuyển Luân Vương có sự chinh phục bốn phương.

644. Năm mươi bảy kiếp về sau, (người này) sẽ là vị Sát-đế-lỵ tên Campaka có sức mạnh lớn lao và sẽ rực sáng như mặt trời đang mọc.

645. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

646. Sau khi mệnh chung từ cơi trời, người ấy sẽ đi đến bản thể nhân loại và sẽ trở thành thân quyến của Phạm Thiên (ḍng dơi Bà-la-môn) với tên là Revata.

647. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, (người này) sau khi ĺa khỏi gia đ́nh sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.

648. Sau khi xuất gia, vị ấy sau này sẽ là vị hành Minh Sát có sự gắn bó mật thiết, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, sẽ Niết Bàn, không c̣n lậu hoặc.”

649. Tôi có sự tinh tấn, có khả năng tiến hành các phận sự là điều kiện đưa đến sự an ổn khỏi các điều ràng buộc. Tôi duy tŕ thân mạng cuối cùng ở Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.

650. Việc làm đă được thực hiện ở một trăm ngàn kiếp đă cho tôi nh́n thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đă thiêu đốt các phiền năo của tôi.

651. Sau đó, khi nh́n thấy tôi được vui thích ở rừng, bậc Hiền Trí, người đă đi đến tận cùng thế gian, đấng Đại Trí đă tuyên bố tôi là vị đứng đầu trong số các vị tỳ khưu cư ngụ ở rừng.

652. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Khadiravaniya Revata đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 Kư sự về trưởng lăo Khadiravaniya Revata là phần thứ chín.

--ooOoo--

10. Kư Sự về Trưởng Lăo Ānanda

653. Sau khi đi ra khỏi cổng tu viện, bậc Đại Hiền Trí Padumuttara trong lúc đổ mưa cơn mưa Bất Tử đă giúp cho đám đông dân chúng đạt đến Niết Bàn.

654. Một trăm ngàn vị anh hùng ấy có sáu thắng trí, có đại thần lực, tháp tùng bậc Toàn Giác tợ như bóng không có sự xa ĺa (h́nh).

655. Tôi đă ngồi trên ḿnh voi (nắm giữ) chiếc lọng trắng cao quư tối thượng. Sau khi nh́n thấy h́nh dáng vô cùng lịch sự, tôi đă có niềm hạnh phúc sanh khởi.

656. Leo xuống từ ḿnh voi, tôi đă đi đến gần bậc Nhân Ngưu. Tôi đă cầm lấy chiếc lọng làm bằng châu báu của tôi che cho đức Phật Tối Thượng.

657. Sau khi biết được ư định của tôi, bậc Đại Ần Sĩ Padumuttara đă ngưng lại cuộc thuyết giảng ấy và đă nói lên những lời kệ này:

658. “Người nào đă nắm giữ chiếc lọng được tô điểm các vật trang sức bằng vàng, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

659. Từ nơi này ra đi, người nam này sẽ cư ngụ ở cơi trời Đẩu Suất và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.

660. (Người này) sẽ cai quản Thiên quốc ba mươi bốn lần, sẽ là vị thống lănh quân đội cư ngụ ở trái đất trong một trăm lẻ tám kiếp sống.

661. (Người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm mươi tám lần và sẽ cai quản lănh thổ vương quốc rộng bao la ở trên trái đất.

662. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

663. Có tên là Ānanda (người này) sẽ là thân bằng quyến thuộc, sẽ trở thành người thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ là biểu tượng của gia tộc ḍng Sakya.

664. (Người này) sẽ có sự nhiệt tâm, và cẩn trọng nữa, được rành rẽ về nhiều chân lư, có hành vi khiêm nhường, không nhẫn tâm, có sự tŕ tụng toàn bộ.

665. Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, được an tịnh, không c̣n mầm mống tái sanh, (người này) sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, sẽ Niết Bàn, không c̣n lậu hoặc.”

666. Các con voi sống ở rừng là loài voi mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi, được sáu mươi tuổi, có các ngà như cán cày, là phương tiện di chuyển của đức vua.

667. Hàng trăm ngàn vị ấy cũng là các bậc trí tuệ và có đại thần lực, tất cả các vị ấy là không sánh bằng đối với đức Phật đấng Tượng Vương.

668. Tôi lễ bái vào canh đầu, vào canh giữa, và vào canh cuối. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă phục vụ đức Phật Tối Thượng.

669. Tôi có sự nhiệt tâm, và cẩn trọng nữa, có sự nhận biết ḿnh, có niệm (đầy đủ), đă đạt đến Quả vị Nhập Lưu, và rành rẽ về các nền tảng của bậc Hữu Học.

670. Việc tôi đă khẳng định về hành động ở một trăm ngàn kiếp trước đây, tôi đă thành tựu nền tảng ấy, tôi đă được tồn tại, được bất động ở Chánh Pháp.

671. Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

672. Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.

673. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đă được (tôi) đắc chứng; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lăo Ānanda đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kư sự về trưởng lăo Ānanda là phần thứ mười.

--ooOoo--

 

Phần Tóm Lược

Phật (Toàn Giác), Phật Độc Giác, vị Sāriputta, vị Koḷita, vị Kassapa, vị Anuruddha, vị trưởng lăo Puṇṇa, vị Upāli, vị Aññāsikoṇḍañña, vị Piṇḍola, vị Revata, và bậc trí tuệ Ānanda; toàn bộ sáu trăm năm mươi câu kệ đă được gộp chung lại.

Phẩm Đức Phật là phẩm thứ nhất.

 --ooOoo--


 

[1] orasoti urasi jāto = oraso nghĩa là được sanh ra từ ngực (ApA. 278). Lúc thuyết Pháp, sự phát âm ở ngực đă được đức Phật sử dụng đến. Do việc lắng nghe Giáo Pháp, các vị này sẽ thành tựu các Đạo Quả nên được gọi là ‘sanh ra từ ngực.’

[2] Hằng hà sa số, nhiều như cát sông Hằng.

[3] Nghĩa là đă sanh ra ở gia tộc Bà-la-môn (ApA. 230).

[4] Xem thêm chi tiết về sự kiện này ở Luật Đại Phẩm (Chương I, tụng phẩm 4).

[5] Hattha là đơn vị đo chiều dài bằng một cánh tay, khoảng nửa mét (ND).

[6] Kiếp Bhadda là kiếp có năm vị Phật Toàn Giác xuất hiện.

[7] satasahassasaṃvaccharaṃ (Apa. 281). saṃvaccharaṃ có ư nghĩa là ‘năm.’

[8] kappasatasahassaṃ (Sđd. 282), kappa có ư nghĩa là ‘kiếp.’

[9] Mặc dầu văn bản ghi là sambuddho nghĩa là Phật Toàn Giác, nhưng Chú Giải giải thích đây là paccekasambudddho Phật Độc Giác (ApA. 288).

 

 

 

   
 

| 00 | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 |

 
 

<Mục Lục><Đầu Trang>