Trang Chính

Trang Các Bản Dịch Mới

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT tập 38

 

PAṬISAMBHIDĀMAGGO & PHÂN TÍCH ĐẠO

 Tập Hai

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VIII. GIẢNG VỀ TỐI THƯỢNG Ở THẾ GIAN

Các pháp tối thượng ở thế gian là ǵ? Bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh Đạo tám chi phần, bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị Sa-môn, và Niết Bàn; các pháp này là tối thượng ở thế gian.

Tối thượng ở thế gian: Tối thượng ở thế gian với ư nghĩa ǵ? ‘Chúng (các pháp ấy) vượt qua thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng vượt lên ra khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng vượt lên khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng vượt lên từ thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng vượt quá thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng hoàn toàn vượt quá thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là trên hẳn thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng vượt qua tận cùng của thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

‘Chúng xuất ly ra khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng xuất ly khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng xuất ly từ thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng được xuất ly ra khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng được xuất ly bởi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng được xuất ly từ thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

‘Chúng không trụ ở thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không trụ tại thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không bị nhiễm ô ở thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không bị nhiễm ô bởi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không tự làm vấy bẩn ở thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không tự làm vấy bẩn với thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là không bị vấy bẩn ở thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là không bị vấy bẩn bởi thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

‘Chúng là được phóng thích ở thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được phóng thích bởi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được phóng thích ra khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được phóng thích khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được phóng thích từ thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

 ‘Chúng là được cách ly ở thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được cách ly với thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được cách ly ra khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được cách ly tại thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được cách ly khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được cách ly từ thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

‘Chúng là được trong sạch ra khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được trong sạch khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được trong sạch từ thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được thanh tịnh ra khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được thanh tịnh khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là được thanh tịnh từ thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

‘Chúng thoát ra khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng thoát khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng thoát ra từ thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

‘Chúng ly khai ra khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng ly khai khỏi thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng ly khai từ thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

‘Chúng không bám víu ở thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không bị nắm giữ ở thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không bị giam cầm ở thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

‘Chúng đoạn trừ thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng có tính chất đă đoạn trừ thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng làm an tịnh thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng có tính chất đă làm an tịnh thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

‘Chúng không là đường lối của thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không là cảnh giới của thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không là mục tiêu của thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng là không phổ quát đối với thế gian’ là tối thượng ở thế gian.

‘Chúng chối từ thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không tiếp nhận lại thế gian (sau khi chối từ)’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng từ bỏ thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không chấp thủ thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng ĺa khỏi sự quyến luyến thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không quyến luyến thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng nhàm chán thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Chúng không hứng thú thế gian’ là tối thượng ở thế gian. ‘Sau khi vượt qua hẳn và chế ngự thế gian, chúng an trụ’ là tối thượng ở thế gian.

Phần Giảng về Tối Thượng ở Thế Gian được đầy đủ.

--ooOoo--

 

IX. GIẢNG VỀ LỰC

[Duyên khởi ở Sāvatthī]

Này các tỳ khưu, đây là năm lực. Năm là ǵ? Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực. Này các tỳ khưu, đây là năm lực.

Vả lại, có 68 lực là tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, lực của sự hổ thẹn (tội lỗi), lực của sự ghê sợ (tội lỗi), lực của sự phân biệt rơ, lực của sự tu tập, lực của sự không sai trái, lực của sự củng cố, lực của sự nhẫn nại, lực của sự chuẩn bị, lực của sự thuyết phục, lực của sự thống lănh, lực của sự khẳng định, lực của chỉ tịnh, lực của minh sát, mười lực của bậc Hữu Học, mười lực của bậc Vô Học, mười lực của bậc Lậu Tận, mười lực của thần thông, mười lực của đức Như Lai.

Tín lực là ǵ? ‘Không dao động ở sự không có đức tin’ là tín lực. Với ư nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh là tín lực. Theo ư nghĩa chấm dứt các phiền năo là tín lực. Theo ư nghĩa làm trong sạch phần đầu sự thấu triệt là tín lực. Theo ư nghĩa khẳng định của tâm là tín lực. Theo ư nghĩa thanh lọc của tâm là tín lực. Theo ư nghĩa đắc chứng pháp đặc biệt là tín lực. Theo ư nghĩa thấu triệt hướng thượng là tín lực. Theo ư nghĩa chứng ngộ chân lư là tín lực. Theo ư nghĩa thiết lập vào sự diệt tận là tín lực. Điều này là tín lực.

Tấn lực là ǵ? ‘Không dao động ở sự biếng nhác’ là tấn lực. Với ư nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh là tấn lực. Với ư nghĩa chấm dứt các phiền năo là tấn lực. Với ư nghĩa làm trong sạch phần đầu của sự thấu triệt là tấn lực. Với ư nghĩa khẳng định của tâm là tấn lực. Với ư nghĩa thanh lọc của tâm là tấn lực. Với ư nghĩa đắc chứng pháp đặc biệt là tấn lực. Với ư nghĩa thấu triệt hướng thượng là tấn lực. Với ư nghĩa chứng ngộ chân lư là tấn lực. Với ư nghĩa thiết lập vào sự diệt tận. Điều này là tấn lực.

Niệm lực là ǵ? ‘Không dao động ở sự buông lung’ là niệm lực. Với ư nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh là niệm lực. ...(như trên)... Với ư nghĩa thiết lập vào sự diệt tận là niệm lực. Điều này là niệm lực.

Định lực là ǵ? ‘Không dao động ở sự phóng dật’ là định lực. Với ư nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh là định lực. ...(như trên)... Với ư nghĩa thiết lập vào sự diệt tận là định lực. Điều này là định lực.

Tuệ lực là ǵ? ‘Không dao động ở vô minh’ là tuệ lực. Với ư nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh là tuệ lực. ...(như trên)... Với ư nghĩa thiết lập vào sự diệt tận là tuệ lực. Điều này là tuệ lực.  

Lực của sự hổ thẹn (tội lỗi) là ǵ? ‘Do sự thoát ly, (hành giả) hổ thẹn về ước muốn trong các dục’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do không sân độc, hổ thẹn về sự sân độc’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do nghĩ tưởng về ánh sáng, hổ thẹn về sự lờ đờ buồn ngủ’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do không tản mạn, hổ thẹn về sự phóng dật’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do xác định pháp, hổ thẹn về hoài nghi’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do trí, hổ thẹn về vô minh’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do hân hoan, hổ thẹn về sự không hứng thú’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do sơ thiền, hổ thẹn về các pháp ngăn che’ là lực của sự hổ thẹn. ...(như trên)... ‘Do Đạo A-la-hán, hổ thẹn về toàn bộ phiền năo’ là lực của sự hổ thẹn. Điều này là lực của sự hổ thẹn.

Lực của sự ghê sợ (tội lỗi) là ǵ? ‘Do sự thoát ly, (hành giả) ghê sợ về ước muốn trong các dục’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do không sân độc, ghê sợ về sự sân độc’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do nghĩ tưởng về ánh sáng, ghê sợ về sự lờ đờ buồn ngủ’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do không tản mạn, ghê sợ về sự phóng dật’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do xác định pháp, ghê sợ về hoài nghi’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do trí, ghê sợ về vô minh’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do hân hoan, ghê sợ về sự không hứng thú’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do sơ thiền, ghê sợ về các pháp ngăn che’ là lực của sự ghê sợ. ...(như trên)... ‘Do Đạo A-la-hán, ghê sợ về toàn bộ phiền năo’ là lực của sự ghê sợ. Điều này là lực của sự ghê sợ.

Lực của sự phân biệt rơ là ǵ? ‘Do sự thoát ly, (hành giả) phân biệt rơ về ước muốn trong các dục’ là lực của sự phân biệt rơ. ‘Do không sân độc, phân biệt rơ về sự sân độc’ là lực của sự phân biệt rơ. ‘Do nghĩ tưởng về ánh sáng, phân biệt rơ về sự lờ đờ buồn ngủ’ là lực của sự phân biệt rơ. ‘Do không tản mạn, phân biệt rơ về sự phóng dật’ là lực của sự phân biệt rơ. ‘Do sự xác định pháp, phân biệt rơ về hoài nghi’ là lực của sự phân biệt rơ. ‘Do trí, phân biệt rơ về vô minh’ là lực của sự phân biệt rơ. ‘Do hân hoan, phân biệt rơ về sự không hứng thú’ là lực của sự phân biệt rơ. ‘Do sơ thiền, phân biệt rơ về các pháp ngăn che’ là lực của sự phân biệt rơ. ...(như trên)... ‘Do Đạo A-la-hán, phân biệt rơ về toàn bộ phiền năo’ là lực của sự phân biệt rơ. Điều này là lực của sự phân biệt rơ.

Lực của sự tu tập là ǵ? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, (hành giả) tu tập sự thoát ly’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, tu tập sự không sân độc’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, tu tập sự nghĩ tưởng về ánh sáng’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ phóng dật, tu tập sự không tản mạn’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ hoài nghi, tu tập sự xác định pháp’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ vô minh, tu tập trí’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ sự không hứng thú, tu tập sự hân hoan’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ các pháp ngăn che, tu tập sơ thiền’ là lực của sự tu tập. ...(như trên)... ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền năo, tu tập Đạo A-la-hán’ là lực của sự tu tập. Điều này là lực của sự tu tập.  

Lực của sự không sai trái là ǵ? ‘Do trạng thái dứt bỏ ước muốn trong các dục, không có ǵ sai trái ở sự thoát ly’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ sân độc, không có ǵ sai trái ở sự không sân độc’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, không có ǵ sai trái ở sự nghĩ tưởng về ánh sáng’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ phóng dật, không có ǵ sai trái ở sự không tản mạn’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ hoài nghi, không có ǵ sai trái ở sự xác định pháp’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ vô minh, không có ǵ sai trái ở trí’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ sự không hứng thú, không có ǵ sai trái ở sự hân hoan’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ các pháp ngăn che, không có ǵ sai trái ở sơ thiền’ là lực của sự không sai trái. ...(như trên)... ‘Do trạng thái dứt bỏ toàn bộ phiền năo, không có ǵ sai trái ở Đạo A-la-hán’ là lực của sự không sai trái. Điều này là lực của sự không sai trái.

Lực của sự củng cố là ǵ? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, nhờ vào tác động của sự thoát ly (hành giả) củng cố lại tâm’ là lực của sự củng cố. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc bằng sự không sân độc (hành giả) củng cố lại tâm’ là lực của sự củng cố. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ bằng sự nghĩ tưởng về ánh sáng (hành giả) củng cố lại tâm’ là lực của sự củng cố. ...(như trên)... ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền năo bằng Đạo A-la-hán (hành giả) củng cố lại tâm’ là lực của sự củng cố. Điều này là lực của sự củng cố.             

Lực của sự nhẫn nại là ǵ? ‘Do trạng thái dứt bỏ ước muốn trong các dục, (hành giả) chấp nhận sự thoát ly’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ sân độc, chấp nhận sự không sân độc’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, chấp nhận sự nghĩ tưởng về ánh sáng’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ phóng dật, chấp nhận sự không tản mạn’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ hoài nghi, chấp nhận sự xác định pháp’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ vô minh, chấp nhận trí’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ sự không hứng thú, chấp nhận hân hoan’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ các pháp ngăn che, chấp nhận sơ thiền’ là lực của sự nhẫn nại. ...(như trên)... ‘Do trạng thái dứt bỏ toàn bộ phiền năo, chấp nhận Đạo A-la-hán’ là lực của sự nhẫn nại. Điều này là lực của sự nhẫn nại.                      

Lực của sự chuẩn bị là ǵ? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, nhờ vào tác động của sự thoát ly (hành giả) chuẩn bị tâm’ là lực của sự chuẩn bị. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, nhờ vào tác động của sự không sân độc (hành giả) chuẩn bị tâm’ là lực của sự chuẩn bị. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, nhờ vào tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng (hành giả) chuẩn bị tâm’ là lực của sự chuẩn bị. ...(như trên)... ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền năo, nhờ vào tác động của Đạo A-la-hán (hành giả) chuẩn bị tâm’ là lực của sự chuẩn bị. Điều này là lực của sự chuẩn bị.

Lực của sự thuyết phục là ǵ? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, nhờ vào tác động của sự thoát ly (hành giả) khiến tâm được thuyết phục’ là lực của sự thuyết phục. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, nhờ vào tác động của sự không sân độc (hành giả) khiến tâm được thuyết phục’ là lực của sự thuyết phục. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, nhờ vào tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng (hành giả) khiến tâm được thuyết phục’ là lực của sự thuyết phục. ...(như trên)... ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền năo, nhờ vào tác động của Đạo A-la-hán (hành giả) khiến tâm được thuyết phục’ là lực của sự thuyết phục. Điều này là lực của sự thuyết phục.

Lực của sự thống lănh là ǵ? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, nhờ vào tác động của sự thoát ly (hành giả) chuyển tâm thành ưu thế’ là lực của sự thống lănh. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, nhờ vào tác động của sự không sân độc (hành giả) chuyển tâm thành ưu thế’ là lực của sự thống lănh. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, nhờ vào tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng (hành giả) chuyển tâm thành ưu thế’ là lực của sự thống lănh. ...(như trên)... ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền năo, nhờ vào tác động của Đạo A-la-hán (hành giả) chuyển tâm thành ưu thế’ là lực của sự thống lănh. Điều này là lực của sự thống lănh.

Lực của sự khẳng định là ǵ? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, nhờ vào tác động của sự thoát ly (hành giả) khẳng định tâm’ là lực của sự khẳng định. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, nhờ vào tác động của sự không sân độc (hành giả) khẳng định tâm’ là lực của sự khẳng định. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, nhờ vào tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng (hành giả) khẳng định tâm’ là lực của sự khẳng định. ...(như trên)... ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền năo, nhờ vào tác động của Đạo A-la-hán (hành giả) khẳng định tâm’ là lực của sự khẳng định. Điều này là lực của sự khẳng định.

Lực của chỉ tịnh là ǵ? Do tác động của sự thoát ly, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Do tác động của sự không sân độc, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Do tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. ...(như trên)... Có sự quán xét về từ bỏ, do tác động của hơi thở vào, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Có sự quán xét về từ bỏ, do tác động của hơi thở ra, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh.

Lực của chỉ tịnh: Lực của chỉ tịnh với ư nghĩa ǵ? ‘Nhờ vào sơ thiền, (hành giả) không rung động đối với các pháp ngăn che’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào nhị thiền, (hành giả) không rung động đối với tầm và tứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào tam thiền, (hành giả) không rung động đối với hỷ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào tứ thiền, (hành giả) không rung động đối với lạc và khổ’ là lực của chỉ tịnh.  

‘Nhờ vào sự chứng đạt không vô biên xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về sắc, đối với sự nghĩ tưởng về bất b́nh, đối với sự nghĩ tưởng về sự khác biệt’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt thức vô biên xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt vô sở hữu xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘(Hành giả) không rung động không lay động không chao động đối với các sự phóng dật, đối với các phiền năo đi cùng với phóng dật, và đối với các uẩn’ là lực của chỉ tịnh. Đây là lực của chỉ tịnh.

Lực của minh sát là ǵ? Sự quán xét về vô thường là lực của minh sát. ...(như trên)... Sự quán xét về từ bỏ là lực của minh sát. Sự quán xét về vô thường ở sắc là lực của minh sát. Sự quán xét về khổ năo ở sắc là lực của minh sát. ...(như trên)... Sự quán xét về từ bỏ ở sắc là lực của minh sát. Sự quán xét về vô thường ở thọ ... ở tưởng ... ở các hành ... ở thức ... ở mắt ... ở lăo tử là lực của minh sát. Sự quán xét về khổ năo ở lăo tử là lực của minh sát. ...(như trên)... Sự quán xét về từ bỏ ở lăo tử là lực của minh sát.

Lực của minh sát: Lực của minh sát với ư nghĩa ǵ? ‘Do quán xét về vô thường, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về thường’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về khổ năo, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về lạc’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về vô ngă, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về ngă’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về nhàm chán, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về vui thích’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về ly tham ái, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về tham ái’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về diệt tận, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về nhân sanh khởi’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về từ bỏ, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về nắm giữ’ là lực của minh sát. ‘không rung động không chuyển động không chao động đối với vô minh, đối với các phiền năo đi cùng với vô minh, và đối với các uẩn’ là lực của minh sát. Đây là lực của minh sát.

Mười lực của bậc Hữu Học, mười lực của bậc Vô Học là ǵ? ‘(Hành giả) học tập chánh kiến’ là lực của bậc Hữu Học. ‘Do trạng thái đă học tập xong ở điều ấy’ là lực của bậc Vô Học. ‘(Hành giả) học tập chánh tư duy’ là lực của bậc Hữu Học. ‘Do trạng thái đă học tập xong ở điều ấy’ là lực của bậc Vô Học. ‘(Hành giả) học tập chánh ngữ ... chánh nghiệp ... chánh mạng ... chánh tinh tấn ... chánh niệm ... chánh định ... chánh trí ... chánh giải thoát’ là lực của bậc Hữu Học. ‘Do trạng thái đă học tập xong ở điều ấy’ là lực của bậc Vô Học. Đây là mười lực của bậc Hữu Học, mười lực của bậc Vô Học.  

Mười lực của bậc Lậu Tận là ǵ? Ở đây, đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, tất cả các hành là vô thường được thấy rơ đúng theo thực thể nhờ vào sự nhận biết đúng đắn. Sự việc đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, tất cả các hành là vô thường được thấy rơ đúng theo thực thể nhờ vào sự nhận biết đúng đắn; điều này cũng là lực của vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận. Sau khi đạt đến lực ấy, vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận nhận biết sự đoạn tận của các lậu hoặc rằng: ‘Các lậu hoặc của ta đă cạn kiệt.’

Hơn nữa, đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, các dục tợ như hố than cháy đỏ được thấy rơ đúng theo thực thể nhờ vào sự nhận biết đúng đắn. Sự việc đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, các dục tợ như hố than cháy đỏ được thấy rơ đúng theo thực thể nhờ vào sự nhận biết đúng đắn; điều này cũng là lực của vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận. Sau khi đạt đến lực ấy, vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận nhận biết sự đoạn tận của các lậu hoặc rằng: ‘Các lậu hoặc của ta đă cạn kiệt.’

Hơn nữa, đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, tâm là thuận theo sự viễn ly, là xuôi theo sự viễn ly, là nghiêng theo sự viễn ly, là tồn tại ở sự viễn ly, là hứng thú với sự thoát ly, là được hoàn toàn chấm dứt đối với các pháp đưa đến lậu hoặc. Sự việc đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, tâm là thuận theo sự viễn ly, là xuôi theo sự viễn ly, là nghiêng theo sự viễn ly, là tồn tại ở sự viễn ly, là hứng thú với sự thoát ly, là được hoàn toàn chấm dứt đối với các pháp đưa đến lậu hoặc; điều này cũng là lực của vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận. Sau khi đạt đến lực ấy, vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận nhận biết sự đoạn tận của các lậu hoặc rằng: ‘Các lậu hoặc của ta đă cạn kiệt.’

Hơn nữa, đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, bốn sự thiết lập niệm là đă được tu tập, là đă được tu tập tốt đẹp. Sự việc đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, bốn sự thiết lập niệm là đă được tu tập, là đă được tu tập tốt đẹp; điều này cũng là lực của vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận. Sau khi đạt đến lực ấy, vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận nhận biết sự đoạn tận của các lậu hoặc rằng: ‘Các lậu hoặc của ta đă cạn kiệt.’

Hơn nữa, đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, bốn chánh cần là đă được tu tập, là đă được tu tập tốt đẹp. ...(nt)... bốn nền tảng của thần thông là đă được tu tập, là đă được tu tập tốt đẹp. ...(nt)... năm quyền là đă được tu tập, là đă được tu tập tốt đẹp. ...(nt)... năm lực là đă được tu tập, là đă được tu tập tốt đẹp. ...(nt)... bảy chi phần đưa đến giác ngộ là đă được tu tập, là đă được tu tập tốt đẹp. ...(nt)... Thánh Đạo tám chi phần là đă được tu tập, là đă được tu tập tốt đẹp. Sự việc đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, Thánh Đạo tám chi phần là đă được tu tập, là đă được tu tập tốt đẹp; điều này cũng là lực của vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận. Sau khi đạt đến lực ấy, vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận nhận biết sự đoạn tận của các lậu hoặc rằng: ‘Các lậu hoặc của ta đă cạn kiệt.’ Đây là mười lực của bậc Lậu Tận.  

Mười lực của thần thông là ǵ? Thần thông do chú nguyện, thần thông do biến hóa, thần thông do ư tạo thành, thần thông do sự can thiệp của trí, thần thông do sự can thiệp của định, thần thông thuộc về bậc Thánh, thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp, thần thông của người có phước báu, thần thông do sự hiểu biết, thần thông với ư nghĩa thành công do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp; đây là mười lực của thần thông.

Mười lực của đức Như Lai là ǵ? Ở đây, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về điều hợp lư là hợp lư và điều phi lư là phi lư. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về điều hợp lư là hợp lư và điều phi lư là phi lư, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. Sau khi đạt đến lực ấy, đức Như Lai công bố về tư thế tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử ở giữa hội chúng, chuyển vận Pháp Luân tối thượng.

Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể kết quả các sự thọ nhận về nghiệp ở thời quá khứ hiện tại vị lai tùy theo sự kiện, tùy theo chủng tử. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể kết quả các sự thọ nhận về nghiệp ở thời quá khứ hiện tại vị lai tùy theo sự kiện, tùy theo chủng tử, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. Sau khi đạt đến lực ấy, đức Như Lai công bố về tư thế tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử ở giữa hội chúng, chuyển vận Pháp Luân tối thượng.

Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể sự thực hành đưa đến tất cả các cơi tái sanh. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể sự thực hành đưa đến tất cả các cơi tái sanh, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. Sau khi đạt đến lực ấy, đức Như Lai công bố về tư thế tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử ở giữa hội chúng, chuyển vận Pháp Luân tối thượng.

Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể thế giới có vô số bản chất và có các bản chất khác biệt. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể thế giới có vô số bản chất và có các bản chất khác biệt, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. ...(như trên)... chuyển vận Pháp Luân tối thượng.

Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về khuynh hướng khác biệt của các chúng sanh. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về khuynh hướng khác biệt của các chúng sanh, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. ...(như trên)... chuyển vận Pháp Luân tối thượng.  

Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể khả năng về các quyền của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể khả năng về các quyền của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. ...(như trên)... chuyển vận Pháp Luân tối thượng.

Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về phiền năo, sự thanh lọc, sự thoát ra của thiền, của giải thoát, của định, và của sự chứng đạt. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về phiền năo, sự thanh lọc, sự thoát ra của thiền, của giải thoát, của định, và của sự chứng đạt, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. ...(như trên)... chuyển vận Pháp Luân tối thượng.

Hơn nữa, đức Như Lai nhớ về nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh ...(như trên)...; như thế Ngài nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét cá biệt và đại cương. Sự việc đức Như Lai nhớ về nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh ...(như trên)... điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. ...(như trên)... chuyển vận Pháp Luân tối thượng.

Hơn nữa, đức Như Lai, bằng thiên nhăn thuần tịnh vượt trội loài người, nh́n thấy chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại ...(như trên)... Sự việc đức Như Lai, bằng thiên nhăn thuần tịnh vượt trội loài người, nh́n thấy chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại ...(như trên)... điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. ...(như trên)... chuyển vận Pháp Luân tối thượng.

Hơn nữa, đức Như Lai, do sự đoạn tận của các lậu hoặc ngay trong kiếp hiện tại, sau khi tác chứng sự không c̣n lậu hoặc, sự giải thoát của ư, sự giải thoát của tuệ bằng thắng trí của tự thân, đă thể nhập và an trú. Sự việc đức Như Lai, do sự đoạn tận của các lậu hoặc ngay trong kiếp hiện tại, sau khi tác chứng sự không c̣n lậu hoặc, sự giải thoát của ư, sự giải thoát của tuệ bằng thắng trí của tự thân, đă thể nhập và an trú, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. Sau khi đạt đến lực ấy, đức Như Lai công bố về tư thế tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử ở giữa hội chúng, chuyển vận Pháp Luân tối thượng.

Tín lực với ư nghĩa ǵ? Tấn lực với ư nghĩa ǵ? Niệm lực với ư nghĩa ǵ? Định lực với ư nghĩa ǵ? Tuệ lực với ư nghĩa ǵ? Lực của sự hổ thẹn (tội lỗi) với ư nghĩa ǵ? Lực của sự ghê sợ (tội lỗi) với ư nghĩa ǵ? Lực của sự phân biệt rơ với ư nghĩa ǵ? ...(như trên)... Lực của đức Như Lai với ư nghĩa ǵ?  

Với ư nghĩa của sự không dao động ở sự không có đức tin là tín lực. Với ư nghĩa của sự không dao động ở sự biếng nhác là tấn lực. Với ư nghĩa của sự không dao động ở sự buông lung là niệm lực. Với ư nghĩa của sự không dao động ở sự phóng dật là định lực. Với ư nghĩa của sự không dao động ở vô minh. là tuệ lực. ‘Hổ thẹn về các ác bất thiện pháp’ là lực của sự hổ thẹn (tội lỗi). ‘Ghê sợ về các ác bất thiện pháp’ là lực của sự ghê sợ (tội lỗi). ‘Phân biệt rơ các phiền năo bằng trí’ là lực của sự phân biệt rơ. ‘Các pháp sanh lên trong trường hợp ấy là có nhất vị’ là lực của sự tu tập. ‘Không có ǵ sai trái ở điều ấy’ là lực của sự không sai trái. ‘Do điều ấy, (hành giả) củng cố lại tâm’ là lực của sự củng cố. ‘(Hành giả) chấp nhận điều ấy’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do điều ấy, (hành giả) chuẩn bị tâm’ là lực của sự chuẩn bị. ‘Do điều ấy, (hành giả) khiến tâm được thuyết phục’ là lực của sự thuyết phục. ‘Do điều ấy, (hành giả) chuyển tâm thành ưu thế’ là lực của sự thống lănh. ‘Do điều ấy, (hành giả) khẳng định tâm’ là lực của sự khẳng định. ‘Do điều ấy, tâm được chuyên nhất’ là lực của chỉ tịnh. ‘(Hành giả) quán xét các pháp sanh lên trong trường hợp ấy’ là lực của minh sát. ‘(Hành giả) học tập ở điều ấy’ là lực của bậc Hữu Học. ‘Do trạng thái đă học tập xong ở điều ấy’ là lực của bậc Vô Học. ‘Do điều ấy, các lậu hoặc được cạn kiệt’ là lực của bậc Lậu Tận. ‘Được thành công cho vị ấy’ là lực của thần thông. Với ư nghĩa vô lượng là lực của đức Như Lai.

Phần Giảng về Lực được đầy đủ.

--ooOoo--

 

X. GIẢNG VỀ KHÔNG TÁNH

Tôi đă được nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn ngự tại Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, đại đức Ānanda đă đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đă đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đă ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đă bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, được nói rằng: ‘Thế giới là không, thế giới là không.’ Bạch ngài, cho đến như thế nào được nói rằng: ‘Thế giới là không’?

- Này Ānanda, bởi v́ là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă, do đó được nói rằng: ‘Thế giới là không.’ Và này Ānanda, cái ǵ là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă? Này Ānanda, mắt là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă. Các sắc là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă. Nhăn thức là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă. Nhăn xúc là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă. Cảm thọ nào được sanh lên do duyên nhăn xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă.

Tai là không ... Các thinh là không ... Mũi là không ... Các khí là không ... Lưỡi là không ... Các vị là không ... Thân là không ... Các xúc là không ... Ư là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă. Các pháp là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă. Ư thức là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă. Ư xúc là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă. Cảm thọ nào được sanh lên do duyên ư xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă. Này Ānanda, bởi v́ là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă, do đó được nói rằng: ‘Thế giới là không.’

Không đối với không, không đối với các hành, không do sự chuyển biến, không tối thắng, không do tướng trạng, không do áp chế, không đối với chi phần ấy, không do đoạn trừ, không do tịnh lặng, không do xuất ly, không đối với nội phần, không đối với ngoại phần, không đối với cả hai (nội và ngoại phần), không của cùng nhóm, không do khác nhóm, không do tầm cầu, không do nắm giữ, không do thành đạt, không do thấu triệt, không do tính chất giống nhau, không do tính chất khác biệt, không do nhẫn nại, không do khẳng định, không do thâm nhập, sự chấm dứt vận hành của vị có sự nhận biết rơ rệt là không theo ư nghĩa tuyệt đối của tất cả không tánh.

Cái ǵ là không đối với không? Mắt là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă, đối với vật thường c̣n, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Tai là không ... Mũi là không ... Lưỡi là không ... Thân là không ... Ư là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă, đối với vật thường c̣n, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Đây là không đối với không.

Cái ǵ là không đối với các hành? Có ba hành: phúc hành, phi phúc hành, bất động hành.[1] Phúc hành là không đối với phi phúc hành và đối với bất động hành. Phi phúc hành là không đối với phúc hành và đối với bất động hành. bất động hành là không đối với phúc hành và đối với phi phúc hành. Đây là ba hành.

C̣n có ba hành khác nữa: thân hành, khẩu hành, ư hành. Thân hành là không đối với khẩu hành và đối với ư hành. Khẩu hành là không đối với thân hành và đối với ư hành. Ư hành là không đối với thân hành và đối với khẩu hành. Đây là ba hành.

C̣n có ba hành khác nữa: Hành thời quá khứ, hành thời vị lai, hành thời hiện tại. Hành thời quá khứ là không đối với hành thời vị lai và thời hiện tại. Hành thời vị lai là không đối với hành thời quá khứ và thời hiện tại. Hành thời hiện tại là không đối với hành thời quá khứ và thời vị lai. Đây là ba hành. Đây là không đối với các hành.

Cái ǵ là không do sự chuyển biến? Sắc được sanh lên là không do bản thể, sắc đă qua không những là đă chuyển biến mà c̣n là không. Thọ được sanh lên là không do bản thể, thọ đă qua không những là đă chuyển biến mà c̣n là không. Tưởng được sanh lên ... Các hành được sanh lên ... Thức được sanh lên ... Mắt được sanh lên ... Hữu được sanh lên là không do bản thể, hữu đă qua không những là đă chuyển biến mà c̣n là không. Đây là không do sự chuyển biến.

Cái ǵ là không tối thắng? Địa vị này là tối thắng, địa vị này là hạng nhất, địa vị này là phi thường, tức là sự yên lặng của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự đoạn tận ái, sự ly tham ái, sự diệt tận, Niết Bàn. Đây là không tối thắng.

Cái ǵ là không do tướng trạng? Có hai tướng trạng: Tướng trạng của kẻ ngu và tướng trạng của người trí. Tướng trạng của kẻ ngu là không so với tướng trạng của người trí. Tướng trạng của người trí là không so với tướng trạng của kẻ ngu.

Có ba tướng trạng: Tướng trạng sanh lên, tướng trạng hoại diệt, tướng trạng thay đổi trong khi  tồn tại. Tướng trạng sanh lên là không đối với tướng trạng hoại diệt và đối với tướng trạng thay đổi trong khi  tồn tại. Tướng trạng hoại diệt là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng thay đổi trong khi  tồn tại. Tướng trạng thay đổi trong khi  tồn tại là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng hoại diệt.  

Đối với sắc, tướng trạng sanh lên là không đối với tướng trạng hoại diệt và đối với tướng trạng đổi thay khi trụ lại. Đối với sắc, tướng trạng hoại diệt là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng đổi thay khi trụ lại. Đối với sắc, tướng trạng đổi thay khi trụ lại là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng hoại diệt. Đối với thọ ... tưởng ... các hành ... thức ... mắt ... lăo tử, tướng trạng sanh lên là không đối với tướng trạng hoại diệt và đối với tướng trạng đổi thay khi trụ lại. Đối với lăo tử, tướng trạng hoại diệt là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng đổi thay khi trụ lại. Đối với lăo tử, tướng trạng đổi thay khi trụ lại là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng hoại diệt. Đây là không do tướng trạng.

Cái ǵ là không do áp chế? Do sự thoát ly, ước muốn trong các dục được áp chế và là không. Do không sân độc, sân độc được áp chế và là không. Do sự nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ được áp chế và là không. Do không tản mạn, sự phóng dật được áp chế và là không. Do xác định pháp, hoài nghi được áp chế và là không. Do trí, vô minh được áp chế và là không. Do hân hoan, sự không hứng thú được áp chế và là không. Do sơ thiền, các pháp ngăn che được áp chế và là không. ...(như trên)... Do Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền năo được áp chế và là không. Đây là không do áp chế.

Cái ǵ là không đối với chi phần ấy? Do sự thoát ly, ước muốn trong các dục là không đối với chi phần ấy. Do không sân độc, sân độc là không đối với chi phần ấy. Do sự nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ là không đối với chi phần ấy. Do không tản mạn, sự phóng dật là không đối với chi phần ấy. Do xác định pháp, hoài nghi là không đối với chi phần ấy. Do trí, vô minh là không đối với chi phần ấy. Do hân hoan, sự không hứng thú là không đối với chi phần ấy. Do sơ thiền, các pháp ngăn che là không đối với chi phần ấy. ...(như trên)... Do quán xét về ly khai, cố chấp vào sự ràng buộc là không đối với chi phần ấy. Đây là không đối với chi phần ấy.

Cái ǵ là không do đoạn trừ? Do sự thoát ly, ước muốn trong các dục được đoạn trừ và là không. Do không sân độc, sân độc được đoạn trừ và là không. Do nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ được đoạn trừ và là không. Do không tản mạn, sự phóng dật được đoạn trừ và là không. Do xác định pháp, hoài nghi được đoạn trừ và là không. Do trí, vô minh được đoạn trừ và là không. Do hân hoan, sự không hứng thú được đoạn trừ và là không. Do sơ thiền, các pháp ngăn che được đoạn trừ và là không. ...(nt)... Do Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền năo được đoạn trừ và là không. Đây là không do đoạn trừ.

Cái ǵ là không do tịnh lặng? Do sự thoát ly, ước muốn trong các dục được tịnh lặng và là không. Do không sân độc, sân độc được tịnh lặng và là không. Do nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ được tịnh lặng và là không. Do không tản mạn, phóng dật được tịnh lặng và là không. Do xác định pháp, hoài nghi  được tịnh lặng và là không.

Do trí, vô minh được tịnh lặng và là không. Do hân hoan, sự không hứng thú được tịnh lặng và là không. Do sơ thiền, các pháp ngăn che được tịnh lặng và là không. ...(như trên)... Do Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền năo được tịnh lặng và là không. Đây là không do tịnh lặng.

Cái ǵ là không do xuất ly? Do sự thoát ly, ước muốn trong các dục được xuất ly và là không. Do không sân độc, sân độc được xuất ly và là không. Do sự nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ được xuất ly và là không. Do không tản mạn, sự phóng dật được xuất ly và là không. Do xác định pháp, hoài nghi được xuất ly và là không. Do trí, vô minh được xuất ly và là không. Do hân hoan, sự không hứng thú được xuất ly và là không. Do sơ thiền, các pháp ngăn che được xuất ly và là không. ...(như trên)... Do Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền năo được xuất ly và là không. Đây là không do xuất ly.

Cái ǵ là không đối với nội phần? Mắt thuộc nội phần là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă, đối với vật thường c̣n, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Tai thuộc nội phần là không ... Mũi thuộc nội phần là không ... Lưỡi thuộc nội phần là không ... Thân thuộc nội phần là không ... Ư thuộc nội phần là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă, đối với vật thường c̣n, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Đây là không đối với nội phần.

Cái ǵ là không đối với ngoại phần? Các sắc thuộc ngoại phần là không ...(như trên)... Các pháp thuộc ngoại phần là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă, đối với vật thường c̣n, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Đây là không đối với ngoại phần.

Cái ǵ là không đối với cả hai? Mắt thuộc nội phần và các sắc thuộc ngoại phần, cả hai điều này là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă, đối với vật thường c̣n, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Tai thuộc nội phần và các thinh thuộc ngoại phần ... Mũi thuộc nội phần và các khí thuộc ngoại phần ... Lưỡi thuộc nội phần và các vị thuộc ngoại phần ... Thân thuộc nội phần và các xúc thuộc ngoại phần ... Ư thuộc nội phần và các pháp thuộc ngoại phần, cả hai điều này là không đối với tự ngă hoặc đối với vật thuộc về tự ngă, đối với vật thường c̣n, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Điều này là không đối với cả hai.

Cái ǵ là không của cùng nhóm? Sáu nội xứ là cùng nhóm và là không. Sáu ngoại xứ là cùng nhóm và là không. Sáu nhóm của thức là cùng nhóm và là không. Sáu nhóm của xúc là cùng nhóm và là không. Sáu nhóm của thọ là cùng nhóm và là không. Sáu nhóm của tưởng là cùng nhóm và là không. Sáu nhóm của tư là cùng nhóm và là không. Đây là không của cùng nhóm.  

Cái ǵ là không do khác nhóm? Sáu nội xứ đối với sáu ngoại xứ là khác nhóm và là không. Sáu xứ ngoại đối với sáu nhóm của thức là khác nhóm và là không. Sáu nhóm của thức đối với sáu nhóm của xúc là khác nhóm và là không. Sáu nhóm của xúc đối với sáu nhóm của thọ là khác nhóm và là không. Sáu nhóm của thọ đối với sáu nhóm của tưởng là khác nhóm và là không. Sáu nhóm của tưởng đối với sáu nhóm của tư là khác nhóm và là không. Đây là không do khác nhóm.

Cái ǵ là không do tầm cầu? Tầm cầu sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Tầm cầu sự không sân độc là không đối với sân độc. Tầm cầu sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Tầm cầu sự không tản mạn là không đối với phóng dật. Tầm cầu sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Tầm cầu trí là không đối với vô minh. Tầm cầu sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Tầm cầu sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. ...(như trên)... Tầm cầu Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền năo. Đây là không do tầm cầu.

Cái ǵ là không do nắm giữ? Nắm giữ sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Nắm giữ sự không sân độc là không đối với sân độc. Nắm giữ sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Nắm giữ sự không tản mạn là không đối với sự phóng dật. Nắm giữ sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Nắm giữ trí là không đối với vô minh. Nắm giữ sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Nắm giữ sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. ...(như trên)... Nắm giữ Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền năo. Đây là không do nắm giữ.

Cái ǵ là không do thành đạt? Thành đạt sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Thành đạt sự không sân độc là không đối với sân độc. Thành đạt sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Thành đạt sự không tản mạn là không đối với phóng dật. Thành đạt sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Thành đạt trí là không đối với vô minh. Thành đạt sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Thành đạt sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. ...(như trên)... Thành đạt Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền năo. Đây là không do thành đạt.

Cái ǵ là không do thấu triệt? Thấu triệt sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Thấu triệt sự không sân độc là không đối với sân độc. Thấu triệt sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Thấu triệt sự không tản mạn là không đối với phóng dật. Thấu triệt sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Thấu triệt trí là không đối với vô minh. Thấu triệt sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Thấu triệt sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. ...(như trên)... Thấu triệt Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền năo. Đây là không do thấu triệt.

Cái ǵ là không do tính chất giống nhau, là không do tính chất khác biệt? Ước muốn trong các dục là có tính chất khác biệt, sự thoát ly là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của sự thoát ly, đối với vị ấy là không về ước muốn trong các dục. Sân độc là có tính chất khác biệt, không sân độc là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của không sân độc, đối với vị ấy là không về sân độc. Sự lờ đờ buồn ngủ là có tính chất khác biệt, sự nghĩ tưởng về ánh sáng là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của sự nghĩ tưởng về ánh sáng, đối với vị ấy là không về sự lờ đờ buồn ngủ. Phóng dật là có tính chất khác biệt, sự không tản mạn là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của sự không tản mạn, đối với vị ấy là không về phóng dật. Hoài nghi là có tính chất khác biệt, sự xác định pháp là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của sự xác định pháp, đối với vị ấy là không về hoài nghi. Vô minh là có tính chất khác biệt, trí là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của trí, đối với vị ấy là không về vô minh. Sự không hứng thú là có tính chất khác biệt, hân hoan là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của hân hoan, đối với vị ấy là không về sự không hứng thú. Các pháp ngăn che là có tính chất khác biệt, sơ thiền là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của sơ thiền, đối với vị ấy là không về các pháp ngăn che. ...(như trên)... Toàn bộ phiền năo là có tính chất khác biệt, Đạo A-la-hán là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của Đạo A-la-hán, đối với vị ấy là không về toàn bộ phiền năo. Đây là không do tính chất giống nhau, là không do tính chất khác biệt.

Cái ǵ là không do nhẫn nại? Nhẫn nại đối với sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Nhẫn nại đối với sự không sân độc là không đối với sân độc. Nhẫn nại đối với sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Nhẫn nại đối với sự không tản mạn là không đối với phóng dật. Nhẫn nại đối với sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Nhẫn nại đối với trí là không đối với vô minh. Nhẫn nại đối với sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Nhẫn nại đối với sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. ...(như trên)... Nhẫn nại đối với Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền năo. Đây là không do nhẫn nại.

Cái ǵ là không do khẳng định? Khẳng định sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Khẳng định không sân độc là không đối với sự sân độc. Khẳng định sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Khẳng định sự không tản mạn là không đối với sự phóng dật. Khẳng định sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Khẳng định trí là không đối với vô minh. Khẳng định sự hân hoan là không đối với không hứng thú. Khẳng định sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. ...(nt)... Khẳng định Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền năo. Đây là không do khẳng định.  

Cái ǵ là không do thâm nhập? Thâm nhập sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Thâm nhập sự không sân độc là không đối với sân độc. Thâm nhập sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Thâm nhập sự không tản mạn là không đối với sự phóng dật. Thâm nhập sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Thâm nhập trí là không đối với vô minh. Thâm nhập sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Thâm nhập sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. ...(như trên)... Thâm nhập Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền năo. Đây là không do thâm nhập.

Sự chấm dứt vận hành ǵ ở vị có sự nhận biết rơ rệt là không theo ư nghĩa tuyệt đối của tất cả không tánh? Ở đây, vị có sự nhận biết rơ rệt, chấm dứt sự vận hành của ước muốn trong các dục nhờ vào sự thoát ly, chấm dứt sự vận hành của sân độc nhờ vào không sân độc, chấm dứt sự vận hành của sự lờ đờ buồn ngủ nhờ vào sự nghĩ tưởng về ánh sáng, chấm dứt sự vận hành của phóng dật nhờ vào không tản mạn, chấm dứt sự vận hành của hoài nghi nhờ vào sự xác định pháp, chấm dứt sự vận hành của vô minh nhờ vào trí, chấm dứt sự vận hành của không hứng thú nhờ vào hân hoan, chấm dứt sự vận hành của các pháp ngăn che nhờ vào sơ thiền ...(như trên)... chấm dứt sự vận hành của toàn bộ phiền năo nhờ vào Đạo A-la-hán.

Hoặc là đối với vị có sự nhận biết rơ rệt đang Vô Dư Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không c̣n dư sót, sự vận hành này của mắt được chấm dứt và sự vận hành khác của mắt không sanh lên, sự vận hành này của tai ...(như trên)... sự vận hành này của mũi ...(như trên)... sự vận hành này của lưỡi ...(như trên)... sự vận hành này của thân ...(nt)... sự vận hành này của ư được chấm dứt và sự vận hành khác của ư không sanh lên. Sự chấm dứt vận hành này ở vị có sự nhận biết rơ rệt là không theo ư nghĩa tuyệt đối của tất cả không tánh.

Phần Giảng về Không được đầy đủ.

Phẩm Kết Hợp Chung là phần thứ nh́.

 

Tóm lược phẩm này:

Kết hợp chung, chân lư,    

các chi phần giác ngộ,

tâm từ, ly tham ái             

 là phần giảng thứ năm,         

(các phương pháp) phân tích,    

bánh xe về Chánh Pháp,

tối thượng ở thế gian,               

 lực, và không (là mười).

 

Phần quư báu của các Bộ Kinh đă được thành lập này là phẩm thứ nh́, cao quư, tuyệt vời, không ǵ sánh được.

--ooOoo--

 

C. PHẨM TUỆ

I. GIẢNG VỀ TUỆ

Sự quán xét về vô thường được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về khổ năo được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về vô ngă được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? ...(như trên)... Sự quán xét về từ bỏ được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ?

Sự quán xét về vô thường được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. Sự quán xét về khổ năo được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ nhàm chán được tṛn đủ. Sự quán xét về vô ngă được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ vĩ đại được tṛn đủ. Sự quán xét về nhàm chán được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ sắc bén được tṛn đủ. Sự quán xét về ly tham ái được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ rộng lớn được tṛn đủ. Sự quán xét về diệt tận được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ thâm sâu được tṛn đủ. Sự quán xét về từ bỏ được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ vô song được tṛn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến bản tánh sáng suốt được tṛn đủ. Tám tuệ[2] này được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ phổ thông được tṛn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ vi tiếu được tṛn đủ.

Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ư nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ư nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.

Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? ...(như trên)... Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ?

Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. ...(như trên)... Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ vô song được tṛn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến bản tánh sáng suốt được tṛn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ phổ thông được tṛn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ vi tiếu được tṛn đủ.

Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ư nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ư nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.

Sự quán xét về vô thường ở thọ ... ở tưởng ... ở các hành ... ở thức ... ở mắt ... ở lăo tử được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? ...(như trên)... Sự quán xét về từ bỏ ở lăo tử được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về vô thường ở lăo tử được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. ...(như trên)... Sự quán xét về từ bỏ ở lăo tử được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ vô song được tṛn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến bản tánh sáng suốt được tṛn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ phổ thông được tṛn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ vi tiếu được tṛn đủ.

Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ư nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ư nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.

Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về vô thường ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về khổ năo ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về khổ năo ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về vô ngă ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về vô ngă ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về nhàm chán ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về nhàm chán ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về ly tham ái ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về ly tham ái ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ?

Sự quán xét về diệt tận ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về diệt tận ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ?

Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. Sự quán xét về vô thường ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. Sự quán xét về khổ năo ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ nhàm chán được tṛn đủ. Sự quán xét về khổ năo ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. Sự quán xét về vô ngă ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ vĩ đại được tṛn đủ. Sự quán xét về vô ngă ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. Sự quán xét về nhàm chán ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ sắc bén được tṛn đủ. Sự quán xét về nhàm chán ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. Sự quán xét về ly tham ái ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ rộng lớn được tṛn đủ. Sự quán xét về ly tham ái ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. Sự quán xét về diệt tận ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ thâm sâu được tṛn đủ. Sự quán xét về diệt tận ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ vô song được tṛn đủ. Sự quán xét về từ bỏ ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến bản tánh sáng suốt được tṛn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ phổ thông được tṛn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ vi tiếu được tṛn đủ.

Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ư nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ư nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.  

Sự quán xét về vô thường ở thọ ... ở tưởng ... ở các hành ... ở thức ... ở mắt ... ở lăo tử được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về vô thường ở lăo tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? ...(như trên)... Sự quán xét về từ bỏ ở lăo tử được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở lăo tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ ǵ được tṛn đủ?

Sự quán xét về vô thường ở lăo tử được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. Sự quán xét về vô thường ở lăo tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung măn khiến tuệ đổng tốc được tṛn đủ. ...(nt)... Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.

Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung măn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhập Lưu. Bốn là ǵ? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ư đúng đường lối, thực hành đúng theo ư nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung măn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhập Lưu.

Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung măn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhất Lai. ... đưa đến sự tác chứng Quả Bất Lai. ... đưa đến sự tác chứng Quả A-la-hán. Bốn là ǵ? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ư đúng đường lối, thực hành đúng theo ư nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung măn đưa đến sự tác chứng Quả A-la-hán.

Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung măn, đưa đến sự thành đạt về tuệ ...(như trên)... đưa đến sự tăng trưởng của tuệ ...(như trên)... đưa đến sự tiến triển của tuệ ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ phổ thông ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ vô song ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ bao la ...(như trên)... đưa đến sự dồi dào của tuệ ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ sắc bén ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ thông suốt. Bốn là ǵ? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ư đúng đường lối, thực hành đúng theo ư nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung măn đưa đến sự thành đạt về tuệ ...(như trên)... đưa đến sự tăng trưởng của tuệ ...(như trên)... đưa đến trạng thái tuệ thông suốt.

Đưa đến sự thành đạt về tuệ: Sự thành đạt về tuệ là ǵ? Là sự đạt được, sự thành đạt, sự đạt đến, sự thành tựu, sự chạm đến, sự tác chứng, sự hoàn thành của bốn trí về Đạo, của bốn trí về Quả, của bốn trí phân tích, của sáu thắng trí, của bảy mươi ba trí,[3] của bảy mươi bảy trí.[4] ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự thành đạt về tuệ;’ đây là sự thành đạt về tuệ.

Đưa đến sự tăng trưởng của tuệ: Sự tăng trưởng của tuệ ǵ? Tuệ của 7 vị Hữu Học và của phàm nhân hoàn thiện tăng trưởng, tuệ của vị A-la-hán tăng trưởng. ‘Các sự tăng trưởng đă được tăng trưởng đưa đến sự tăng trưởng của tuệ;’ đây là sự tăng trưởng của tuệ.

Đưa đến sự tiến triển của tuệ: Sự tiến triển của tuệ ǵ? Tuệ của bảy vị Hữu Học và của vị phàm nhân hoàn thiện đi đến sự tiến triển, tuệ của vị A-la-hán đă đi đến sự tiến triển. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự tiến triển của tuệ;’ đây là sự tiến triển của tuệ.

Đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại: Tuệ vĩ đại là ǵ? ‘Nắm giữ các ư nghĩa vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các pháp vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các ngôn từ vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các phép biện giải vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giới uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các định uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các tuệ uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giải thoát uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giải thoát-tri-kiến uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự hợp lư và không hợp lư vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự an trú và chứng đạt vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các chân lư cao thượng vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự thiết lập niệm vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các chánh cần vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các nền tảng thần thông vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các quyền vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các lực vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giác chi vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các Thánh Đạo vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các Quả vị Sa-môn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các thắng trí vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ Niết Bàn có ư nghĩa tuyệt đối vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại;’ đây là tuệ vĩ đại.

Đưa đến trạng thái tuệ phổ thông: Tuệ phổ thông là ǵ? ‘Trí vận hành về các uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông.        ‘Trí vận hành về các giới phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các xứ phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông.   ‘Trí vận hành về các sự sanh khởi tùy thuận phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các trường hợp không đạt        được không tánh phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí       vận hành về các ư nghĩa phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông.   ‘Trí vận hành về  các pháp  phổ thông và khác biệt’ là tuệ  phổ  thông.

‘Trí vận hành về các ngôn từ phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các phép biện giải phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giới uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các định uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các tuệ uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giải thoát uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giải thoát-tri-kiến uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự hợp lư và không hợp lư phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự an trú và chứng đạt phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các chân lư cao thượng phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự thiết lập niệm phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các chánh cần phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các nền tảng thần thông phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các quyền phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các lực phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giác chi phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các Thánh Đạo phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các Quả vị Sa-môn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các thắng trí phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vượt qua các pháp phổ biến đến phàm nhân rồi vận hành về Niết Bàn có ư nghĩa tuyệt đối’ là tuệ phổ thông. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ phổ thông;’ đây là tuệ phổ thông.

Đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn: Tuệ rộng lớn là ǵ? ‘Nắm giữ các ư nghĩa rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các pháp rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các ngôn từ rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các phép biện giải rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giới uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các định uẩn nghĩa rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các tuệ uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giải thoát uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giải thoát-tri-kiến uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự hợp lư và không hợp lư rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự an trú và chứng đạt rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các chân lư cao thượng rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự thiết lập niệm rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các chánh cần rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các nền tảng thần thông rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các quyền rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các lực rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giác chi rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các Thánh Đạo rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các Quả vị Sa-môn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các thắng trí rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ Niết Bàn có ư nghĩa tuyệt đối rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn;’ đây là tuệ rộng lớn.

Đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu: Tuệ thâm sâu là ǵ? ‘Trí vận hành về các uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giới thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các xứ thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự sanh khởi tùy thuận thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các trường hợp không đạt được không tánh thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các ư nghĩa thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các pháp thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các ngôn từ thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các phép biện giải thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giới uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các định uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các tuệ uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giải thoát uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giải thoát-tri-kiến uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự hợp lư và không hợp lư thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự an trú và chứng đạt thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các chân lư cao thượng thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự thiết lập niệm thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các chánh cần thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các nền tảng thần thông thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các quyền thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các lực thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giác chi thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các Thánh Đạo thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các Quả vị Sa-môn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các thắng trí thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vượt qua các pháp phổ biến đến phàm nhân rồi vận hành về Niết Bàn có ư nghĩa tuyệt đối’ là tuệ thâm sâu. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu;’ đây là tuệ thâm sâu.

Đưa đến trạng thái tuệ vô song: Tuệ vô song là ǵ? Cá nhân nào, do xác định ư nghĩa có sự phân tích về ư nghĩa được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định pháp có sự phân tích về pháp được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định ngôn từ có sự phân tích về ngôn từ được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định phép biện giải có sự phân tích về phép biện giải được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, đối với vị ấy không ai có thể vượt trội về ư nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và về phép biện giải. ‘Và vị ấy là không thể bị vượt trội bởi những người khác’ là tuệ vô song.

Tuệ của phàm nhân hoàn thiện so với tuệ của hạng thứ tám (Đạo Nhập Lưu) là xa vời, là xa vời rơ rệt, là xa vời vô cùng rơ rệt, là không gần, là không kề cận; so với phàm nhân hoàn thiện, hạng thứ tám là có tuệ vô song. Tuệ của hạng thứ tám so với tuệ của vị Nhập Lưu là xa vời, là xa vời rơ rệt, là xa vời vô cùng rơ rệt, là không gần, là  không  kề cận; so với hạng thứ tám, vị Nhập Lưu  là  có  tuệ  vô  song.

Tuệ của vị Nhập Lưu so với tuệ của vị Nhất Lai là xa vời, là xa vời rơ rệt, là xa vời vô cùng rơ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Nhập Lưu, vị Nhất Lai là có tuệ vô song. Tuệ của vị Nhất Lai so với tuệ của vị Bất Lai là xa vời, là xa vời rơ rệt, là xa vời vô cùng rơ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Nhất Lai, vị Bất Lai là có tuệ vô song. Tuệ của vị Bất Lai so với tuệ của vị A-la-hán là xa vời, là xa vời rơ rệt, là xa vời vô cùng rơ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Bất Lai, vị A-la-hán là có tuệ vô song. Tuệ của vị A-la-hán so với tuệ của vị Phật Độc Giác là xa vời, là xa vời rơ rệt, là xa vời vô cùng rơ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị A-la-hán, vị Phật Độc Giác là có tuệ vô song; so với vị Phật Độc Giác và thế gian luôn cả chư Thiên, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác là có tuệ vô song tối thắng. Là vị thiện xảo về các loại tuệ, có trí đă được phân hạng, có sự phân tích đă được đắc chứng, đă đạt đến bốn sự tự tín, là vị rành rẽ về mười lực, là bậc Nhân Ngưu, là bậc Nhân Sư, là người như loài rồng, là người có ḍng dơi cao quư, là người cất đi gánh nặng, là vị có trí vô biên, có oai lực vô biên, có danh vọng vô biên, giàu có (về trí tuệ), có tài sản (trí tuệ) lớn lao, có của cải (trí tuệ), là vị lănh đạo, vị hướng đạo, vị dẫn dắt, vị giúp cho nhận biết, vị giúp cho suy nghiệm, vị giúp cho quan sát, vị tạo niềm tin.

Bởi v́ Ngài là đức Thế Tôn, là vị làm sanh lên đạo lộ chưa được sanh lên, là vị làm sanh khởi đạo lộ chưa được sanh khởi, là vị tuyên thuyết về đạo lộ chưa được tuyên thuyết, là vị biết về đạo lộ, là vị hiểu rơ về đạo lộ, là vị thông thạo về đạo lộ, hơn nữa hiện nay các Thinh Văn của Ngài là những người đi theo đạo lộ rồi an trú, là những người tiếp nối.

Bởi v́ Ngài là đức Thế Tôn, là vị biết điều đă được biết, thấy điều đă được thấy, là mắt, là trí, là Pháp, là đấng Brahma, là vị nói ra, là vị nói lên, là vị đem lại ư nghĩa, là vị ban phát Bất Tử, là đấng Pháp Chủ, là đức Như Lai. Đối với đức Thế Tôn ấy, không ǵ là không được biết, không được thấy, không được hiểu, không được tác chứng, không được chạm đến bởi tuệ. Tính luôn cả quá khứ hiện tại vị lai, tất cả các pháp với mọi biểu hiện đều nổi bật ở trí của đức Phật Thế Tôn. Bất cứ điều ǵ được gọi là cần được biết, tất cả các điều ấy đều được biết. Ư nghĩa thuộc về bản thân, hoặc ư nghĩa thuộc về người khác, hoặc ư nghĩa thuộc về cả hai, hoặc ư nghĩa trong thời hiện tại, hoặc ư nghĩa liên quan đến thời vị lai, hoặc ư nghĩa hời hợt, hoặc ư nghĩa thâm sâu, hoặc ư nghĩa khó hiểu, hoặc ư nghĩa được che đậy, hoặc ư nghĩa cần được biết, hoặc ư nghĩa đă được kết luận, hoặc ư nghĩa không sai trái, hoặc ư nghĩa không ô nhiễm, hoặc ư nghĩa thuần khiết, hoặc ư nghĩa tuyệt đối, tất cả các điều ấy đều xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Tất cả các nghiệp về thân đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn. Tất cả các nghiệp về khẩu đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn. Tất cả các nghiệp về ư đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn.

Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm đă qua là không bị chướng ngại. Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm chưa đến là không bị chướng ngại. Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm hiện tại là không bị chướng ngại. Điều cần được biết là đến đâu, trí (của Ngài) là đến thế ấy; trí (của Ngài) là đến đâu, điều cần được biết là đến thế ấy. Trí (của Ngài) có cùng ranh giới với điều cần được biết, điều cần được biết có cùng ranh giới với trí (của Ngài). Sau khi vượt qua điều cần được biết, trí (của Ngài) không vận hành, không có hiện tượng của điều cần được biết vượt qua trí (của Ngài); các pháp ấy có t́nh trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Giống như hai phần của chiếc hộp được gắn liền khít khao, phần hộp ở bên dưới không vượt quá phần bên trên, phần hộp ở bên trên không vượt qua phần bên dưới; chúng có t́nh trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Tương tợ y như thế, điều cần được biết và trí của đức Phật Thế Tôn có t́nh trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Điều cần được biết là đến đâu, trí (của Ngài) là đến thế ấy; trí (của Ngài) là đến đâu, điều cần được biết là đến thế ấy. Trí (của Ngài) có cùng ranh giới với điều cần được biết, điều cần được biết có cùng ranh giới với trí (của Ngài). Sau khi vượt qua điều cần được biết, trí (của Ngài) không vận hành, không có hiện tượng của điều cần được biết vượt qua trí (của Ngài); các pháp ấy có t́nh trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Trí của đức Phật Thế Tôn vận hành ở tất cả các pháp.

Đối với đức Phật Thế Tôn, tất cả các pháp được gắn liền với sự hướng tâm, được gắn liền với sự mong muốn, được gắn liền với tác ư, được gắn liền với sự sanh lên của tâm. Trí của đức Phật Thế Tôn vận hành ở tất cả chúng sanh. Đức Phật biết thiên kiến, biết xu hướng ngủ ngầm, biết tánh hạnh, biết khuynh hướng của tất cả chúng sanh. Ngài nhận biết những chúng sanh có tầm nh́n bị vấy bụi ít và có tầm nh́n bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, có thể hiểu được một cách nhanh chóng và có thể hiểu được một cách khó khăn, có khả năng và không có khả năng. Thế gian tính luôn cơi chư thiên, cơi Ma Vương, cơi Phạm thiên, cho đến ḍng dơi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Giống như bất cứ loài cá và rùa nào, thậm chí tính luôn loại cá ông cá voi, đều xoay chuyển ở giữa biển cả bao la. Tương tợ như vậy, thế gian tính luôn cơi chư thiên, cơi Ma Vương, cơi Phạm thiên, cho đến ḍng dơi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Giống như bất cứ loài có cánh nào, thậm chí tính luôn cả Kim-sỉ-điểu thuộc loại Venateyya, đều xoay chuyển ở khoảng không gian của bầu trời. Tương tợ y như thế, ngay cả những vị là tương đương với Sārīputta về tuệ, những vị ấy cũng chỉ xoay chuyển trong phạm vi trí của đức Phật.

Trí của đức Phật xâm nhập, chiếm cứ, và ngự trị tuệ của chư thiên và nhân loại. Ngay cả các vị thông thái ḍng Sát-đế-lỵ, các vị thông thái ḍng Bà-la-môn, các vị gia chủ thông thái, các vị Sa-môn thông thái, khôn ngoan, biết đến các giáo thuyết của những người khác như là (mũi tên) xuyên qua sợi tóc, nghĩ rằng họ là những người đi đến đập đổ những khuynh hướng tà kiến nhờ vào tuệ đă đạt được. Những người ấy liên tục chuẩn bị câu hỏi rồi đi đến gặp đức Như Lai và chất vấn. Những câu hỏi khó hiểu và che đậy ấy, khi được giảng giải được trả lời bởi đức Thế Tôn, trở thành những sự việc rơ ràng. Và những người ấy trở thành những người hỗ trợ đối với đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn vô cùng rạng rỡ ở tại nơi ấy, tức là về ‘Tuệ.’ Ngài là tối thắng và có tuệ vô song. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vô song;’ đây là tuệ vô song.

Đưa đến trạng thái tuệ bao la: Tuệ bao la là ǵ? ‘Chế ngự tham ái’ là tuệ bao la. ‘Đă được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự sân’ là tuệ bao la. ‘Đă được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự si’ là tuệ bao la. ‘Đă được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự sự giận dữ’ ... sự căm hận ... sự gièm pha ... sự hà hiếp ... sự ganh tỵ ... sự bỏn xẻn ... sự xảo trá ... sự đạo đức giả ... sự bướng bỉnh ... sự cống cao ... sự ngă mạn ... sự cao ngạo ... sự kiêu căng ... sự buông lung ... toàn bộ phiền năo ... tất cả các ác hạnh ... tất cả các hành ... ‘Chế ngự tất cả nghiệp dẫn đến hữu’ là tuệ bao la. ‘Đă được chế ngự’ là tuệ bao la.

‘Tham ái là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Sân là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Si là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Sự giận dữ ... Sự căm hận ... Sự gièm pha ... Sự hà hiếp ... Sự ganh tỵ ... Sự bỏn xẻn ... Sự xảo trá ... Sự đạo đức giả ... Sự bướng bỉnh ... Sự cống cao ... Sự ngă mạn ... Sự cao ngạo ... Sự kiêu căng ... Sự buông lung ... Toàn bộ phiền năo ... Tất cả các ác hạnh ... Tất cả các hành ... ‘Tất cả nghiệp dẫn đến hữu là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. Quả đất được gọi là bao la. ‘Đức Phật hội đủ về tuệ ấy có tính rộng lớn tương tợ như quả đất,’ như thế là tuệ bao la. Hơn nữa, điều này là sự đặt tên cho tuệ. ‘Bao la, mẫn tiệp, liên quan đến lănh đạo’ là tuệ bao la. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ bao la;’ đây là tuệ bao la.

Đưa đến sự dồi dào của tuệ: Sự dồi dào của tuệ là gi? Ở đây, có người chú trọng về tuệ, thực hành về tuệ, có thiên hướng về tuệ, có khuynh hướng về tuệ, có tuệ là ngọn cờ, có tuệ là biểu hiệu, có tuệ là pháp chủ đạo, có nhiều t́m hiểu, nhiều suy xét, nhiều xem xét, nhiều quan sát, có sự việc để quan sát, an trú vào sự việc rơ ràng, thực hành tuệ ấy, chú trọng tuệ ấy, dồi dào tuệ ấy, thuận theo tuệ ấy, xuôi theo tuệ ấy, nghiêng theo tuệ ấy, khuynh hướng về tuệ ấy, có tuệ ấy là chủ đạo. Ví như người chú trọng về đồ chúng được gọi là ‘Người có nhiều đồ chúng;’ người chú trọng về y được gọi là ‘Người có nhiều y;’ người chú trọng về b́nh bát được gọi là ‘Người có nhiều b́nh bát;’ người  chú trọng  về  sàng tọa được gọi là ‘Người có nhiều  sàng  tọa;’ tương tợ như thế, có người chú trọng về tuệ, thực hành về tuệ, có thiên hướng về tuệ, có khuynh hướng về tuệ, có tuệ là ngọn cờ, có tuệ là biểu hiệu, có tuệ là pháp chủ đạo, có nhiều t́m hiểu, nhiều suy xét, nhiều xem xét, nhiều quan sát, có sự việc để quan sát, an trú vào sự việc rơ ràng, thực hành tuệ ấy, chú trọng tuệ ấy, dồi dào tuệ ấy, thuận theo tuệ ấy, xuôi theo tuệ ấy, nghiêng theo tuệ ấy, khuynh hướng về tuệ ấy, có tuệ ấy là chủ đạo. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự dồi dào của tuệ;’ đây là sự dồi dào của tuệ.

Đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén: Tuệ nhạy bén là ǵ? ‘Làm tṛn đủ các giới vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tṛn đủ việc thu thúc các quyền vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tṛn đủ sự tri túc về vật thực vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tṛn đủ sự gắn bó với tỉnh thức vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tṛn đủ giới uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tṛn đủ định uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tṛn đủ tuệ uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tṛn đủ giải thoát uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tṛn đủ giải thoát-tri-kiến uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các sự hợp lư và không hợp lư vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tṛn đủ sự an trú và chứng đạt vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các chân lư cao thượng vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các sự thiết lập niệm vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các chánh cần vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các nền tảng thần thông vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các quyền vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các lực vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các giác chi vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập Thánh Đạo vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tác chứng các Quả vị Sa-môn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các thắng trí vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tác chứng Niết Bàn có ư nghĩa tuyệt đối vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén;’ đây là tuệ nhạy bén.

Đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng: Tuệ nhẹ nhàng là ǵ? ‘Làm tṛn đủ các giới vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tṛn đủ sự thu thúc các quyền vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tṛn đủ sự tri túc về vật thực vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tṛn đủ sự gắn bó với tỉnh thức vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tṛn đủ giới uẩn ... định uẩn ... tuệ uẩn ... giải thoát uẩn ... giải thoát-tri-kiến uẩn vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các sự hợp lư và không hợp lư vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tṛn đủ sự an trú và chứng đạt vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các chân lư cao thượng vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các sự thiết lập niệm vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các chánh cần vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các nền tảng của thần thông vô cùng nhẹ nhàng’ là  tuệ nhẹ  nhàng. ‘Tu tập  các  quyền  vô  cùng  nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các lực vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các giác chi vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập Thánh Đạo vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tác chứng các Quả vị Sa-môn vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các thắng trí vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tác chứng Niết Bàn có ư nghĩa tuyệt đối vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng;’ đây là tuệ nhẹ nhàng.

Đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu: Tuệ vi tiếu là ǵ? Ở đây có người: ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài ḷng, có nhiều hân hoan làm tṛn đủ các giới’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài ḷng, có nhiều hân hoan làm tṛn đủ sự thu thúc các quyền’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài ḷng, có nhiều hân hoan làm tṛn đủ sự tri túc về vật thực’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài ḷng, có nhiều hân hoan làm tṛn đủ sự gắn bó với tỉnh thức’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài ḷng, có nhiều hân hoan làm tṛn đủ giới uẩn’ ... định uẩn ... tuệ uẩn ... giải thoát uẩn ... giải thoát-tri-kiến uẩn ... thấu triệt các sự hợp lư và không hợp lư ... làm tṛn đủ sự an trú và chứng đạt ... thấu triệt các chân lư cao thượng ... tu tập các sự thiết lập niệm ... tu tập các chánh cần ... tu tập các nền tảng thần thông ... tu tập các quyền ... tu tập các lực ... tu tập các giác chi ... tu tập Thánh Đạo ... tác chứng các Quả vị Sa-môn’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài ḷng, có nhiều hân hoan thấu triệt các thắng trí’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài ḷng, có nhiều hân hoan tác chứng Niết Bàn có ư nghĩa tuyệt đối’ là tuệ vi tiếu. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu;’ đây là tuệ vi tiếu.

Đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc: Tuệ đổng tốc là ǵ? Bất cứ sắc nào thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quư, là ở xa hoặc ở gần, về toàn bộ sắc ấy ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ năo’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngă’ là tuệ đổng tốc. Bất cứ thọ nào ...(như trên)... Bất cứ tưỏng nào ...(như trên)... Bất cứ các hành nào ...(như trên)... Bất cứ thức nào thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quư, là ở xa hoặc gần, về toàn bộ thức ấy ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ năo’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngă’ là tuệ đổng tốc. Mắt ...(như trên)... Lăo tử thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ năo’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngă’ là tuệ đổng tốc.

Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rơ rệt rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ư nghĩa đoạn tận, là khổ năo theo ư nghĩa kinh hăi, là vô ngă theo ư nghĩa không có cốt lỏi,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận sắc là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rơ rệt rằng: ‘Thọ ... Tưởng ... Các hành ... Thức ... Mắt ... Lăo tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ư nghĩa đoạn tận, là khổ năo theo ư nghĩa kinh hăi, là vô ngă theo ư nghĩa không có cốt lỏi,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận lăo tử là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc.

Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rơ rệt rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp đoạn tận, là pháp biến hoại, là pháp ly tham ái, là pháp diệt tận,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận sắc là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rơ rệt rằng: ‘Thọ ... Tưởng ... Các hành ... Thức ... Mắt ... Lăo tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp đoạn tận, là pháp biến hoại, là pháp ly tham ái, là pháp diệt tận,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận lăo tử là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc’ là tuệ đổng tốc.

Đưa đến trạng thái tuệ sắc bén: Tuệ sắc bén là ǵ? ‘Cắt đứt các phiền năo một cách mau lẹ’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu dục tầm đă sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu sân độc tầm đă sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu hăm hại tầm đă sanh lên ...(như trên)... các pháp ác bất thiện đă sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu tham ái đă sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu sân đă sanh lên ... si đă sanh lên ... sự giận dữ đă sanh lên ... sự căm hận đă sanh lên ... sự gièm pha ... sự hà hiếp ... sự ganh tỵ ... sự bỏn xẻn ... sự xảo trá ... sự đạo đức giả ... sự bướng bỉnh ... sự cống cao ... sự ngă mạn ... sự cao ngạo ... sự kiêu căng ... sự buông lung ... toàn bộ phiền năo ... tất cả các ác hạnh ... tất cả các hành ... tất cả nghiệp dẫn đến hữu’ là tuệ sắc bén. ‘Ở một chỗ ngồi, bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị Sa-môn, bốn phân tích, sáu thắng trí là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ’ là tuệ sắc bén. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ sắc bén’ là tuệ sắc bén.

Đưa đến trạng thái tuệ thông suốt: Tuệ thông suốt là ǵ? Ở đây, có người có nhiều kinh hoảng về tất cả các hành, có nhiều sợ sệt, có nhiều bất măn, có nhiều không hứng thú, có nhiều không hứng khởi, tỏ vẻ không hứng thú ở tất cả các hành. ‘Thông suốt, khám phá  tham uẩn chưa  được  thông  suốt  trước  đây,  chưa  được  khám  phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá sân uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá si uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá sự giận dữ ... sự căm hận ... sự gièm pha ... sự hà hiếp ... sự ganh tỵ ... sự bỏn xẻn ... sự xảo trá ... sự đạo đức giả ... sự bướng bỉnh ... sự cống cao ... sự ngă mạn ... sự cao ngạo ... sự kiêu căng ... sự buông lung ... toàn bộ phiền năo ... tất cả các ác hạnh ... tất cả các hành ... tất cả nghiệp dẫn đến hữu chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ thông suốt’ là tuệ thông suốt. Đây là 16 tuệ. Cá nhân hội đủ 16 tuệ này đạt đến (tuệ) phân tích.

Có hai hạng người đạt được phân tích: một hạng đă thực tập trước đây, một hạng đă không thực tập trước đây. Người nào đă thực tập trước đây, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.

Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đă thực tập trước đây: một hạng đă nghe nhiều, một hạng đă không nghe nhiều. Người nào nghe nhiều, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.

Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đă thực tập trước đây, cả hai đều đă nghe nhiều: một hạng có nhiều sự thuyết giảng, một hạng không có nhiều sự thuyết giảng. Người nào có nhiều sự thuyết giảng, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.

Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đă thực tập trước đây, cả hai đều đă nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng: một hạng đă nương tựa vào vị thầy, một hạng đă không nương tựa vào vị thầy. Người nào đă nương tựa vào vị thầy, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.

Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đă thực tập trước đây, cả hai đều đă nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đă nương tựa vào vị thầy: một hạng có nhiều sự an trú,[5] một hạng không có nhiều sự an trú. Người nào có nhiều sự an trú, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.

Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đă thực tập trước đây, cả hai đều đă nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đă nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú: một hạng có nhiều sự quán xét lại, một hạng không có nhiều sự quán xét lại. Người nào có nhiều sự quán xét lại, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.

Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đă thực tập trước đây, cả hai đều đă nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đă nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại: một hạng đạt được sự phân tích của bậc Hữu Học, một hạng đạt được sự phân tích của bậc Vô Học. Người nào đạt được sự phân tích của bậc Vô Học, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.

Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đă thực tập trước đây, cả hai đều đă nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đă nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại, cả hai đều đă đạt được sự phân tích của bậc Vô Học: một hạng đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, một hạng không đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn. Người nào đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.

Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đă thực tập trước đây, cả hai đều đă nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đă nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại, cả hai đều đă đạt được sự phân tích của bậc Vô Học: một hạng đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, một hạng là vị Độc Giác Phật. Người nào là vị Độc Giác Phật, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.

Tính luôn vị Độc Giác Phật và thế gian có cả chư thiên, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác là tối thắng, đă đạt đến sự phân tích, là thiện xảo về các loại tuệ, có trí đă được phân hạng, có sự phân tích đă được đắc chứng, đă đạt đến bốn sự tự tín, là vị rành rẽ về mười lực, là bậc Nhân Ngưu, là bậc Nhân Sư ...(như trên)... Ngay cả các vị thông thái ḍng Sát-đế-lỵ, các vị thông thái ḍng Bà-la-môn, các vị gia chủ thông thái, các vị Sa-môn thông thái, khôn ngoan, biết đến các giáo thuyết của những người khác như là (mũi tên) xuyên qua sợi tóc, nghĩ rằng họ là những người đi đến đập đổ những khuynh hướng tà kiến nhờ vào tuệ đă đạt được. Những người ấy liên tục chuẩn bị câu hỏi rồi đi đến gặp đức Như Lai và chất vấn. Những câu hỏi khó hiểu và che đậy ấy, khi được giảng giải được trả lời bởi đức Thế Tôn, trở thành những sự việc rơ ràng. Và những người ấy trở thành những người hỗ trợ đối với đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn vô cùng rạng rỡ ở tại nơi ấy, tức là về ‘Tuệ.’ Ngài đă đạt đến sự phân tích và là vị tối thắng.

Phần Giảng về Tuệ được đầy đủ.

--ooOoo--


 

[1] Phúc hành (puññābhisaṅkhāro) là sự tạo tác đem lại phước báu do năng lực của bố thí, tŕ giới, tham thiền, v.v..., và sự tu tập năm thiền sắc giới, phi phúc hành (apuññābhisaṅkhāro) là sự tạo tác không đem lại phước báu do hậu quả của các hành động như sát sanh, v.v..., bất động hành (āneñjābhisaṅkhāro) là sự tạo tác có kết quả không thay đổi, có liên quan đến bốn thiền vô sắc (PṭsA. 3, 633).

[2] Bảy tuệ thêm vào tuệ có tên “bản tánh sáng suốt (paṇḍiccaṃ)” là tám. Tám tuệ thêm vào tuệ phổ thông (puthupaññā) là chín (PṭsA. 3, 640).

[3] 73 trí: Là 73 trí đă được đề cập ở phần Tiêu Đề (PṭsA. 3, 642), xin xem tập I, trang 2-9.

[4] 73 trí:  Chú giải cho trích dẫn ở Saṃyuttanikāya (PṭsA. 3, 642). Xem Kinh Bộ Tương Ưng, tập II, Chương I b, Phẩm IV, Mục IV: Những Căn Bản Của Trí (bản dịch của HT. Minh Châu): “Trí biết rằng già chết do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thời không có già, chết. v.v...”

[5] Hạng có nhiều sự an trú (vihārabahulo) nghĩa là có nhiều an trú vào minh sát, có nhiều an trú vào sự chứng đạt Quả vị (PṭsA. 3, 653).

 

 

 

   
 

| 09 | 10 | 11 | 12 | 13 |

 
 

<Mục Lục><Đầu Trang>