Trang Chính

Trang Văn Học Pāli

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT tập 36

 

CULLANIDDESAPĀḶI - TIỂU DIỄN GIẢI

 

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

Cập Nhật: Saturday, April 21, 2018

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

***

 

Niddesa là tựa đề của tập Kinh thứ mười một trong mười lăm tập thuộc Khuddakanikāya - Tiểu Bộ. Niddesa được chia làm hai tập: Mahāniddesapāḷi - Đại Diễn Giải (TTPV 35) và Cullaniddesapāḷi - Tiểu Diễn Giải (TTPV 36). Tập Kinh Mahāniddesapāḷi - Đại Diễn Giải là tài liệu giải thích về phẩm 4, Aṭṭhakavagga - Phẩm Nhóm Tám, c̣n Cullaniddesapāḷi - Tiểu Diễn Giải giải thích tiếp phẩm 5, Pārāyanavagga - Phẩm Đường Đi Đến Bờ Kia, tức là phẩm cuối, và cộng thêm bài Kinh Khaggavisāṇa - Kinh Sừng Tê Ngưu thuộc phẩm 1, Uragavagga - Phẩm Rắn, tất cả đều được trích ra từ tập Kinh Suttanipātapāḷi - Kinh Tập, thuộc Tạng Kinh, Tiểu Bộ. Chúng tôi không nghiệm ra được lư do tác giả lại chọn lọc và diễn giải hai phẩm trên cộng thêm chỉ một bài Kinh Khaggavisāṇa - Kinh Sừng Tê Ngưu của tập Suttanipātapāḷi - Kinh Tập mà bỏ qua các phẩm và các bài Kinh c̣n lại. Cách thức diễn giải ở tập Kinh này, Cullaniddesapāḷi - Tiểu Diễn Giải, cũng tương tự như ở tập 1, Mahāniddesapāḷi - Đại Diễn Giải, nghĩa là chú trọng vào việc giải thích các từ đơn và các lời giải thích này được lập lại mỗi khi những từ ấy xuất hiện ở các kệ ngôn khác, thêm vào đó là các phần giải thích cho các nhóm từ hoặc một phần của câu kệ ngôn; đôi lúc lời giải thích chỉ là sự sắp xếp lại thứ tự của các từ ở câu văn giúp cho việc xác định ư nghĩa được dễ dàng hơn.

 

Nội dung của Pārāyanavagganiddeso - Diễn Giải Phẩm Đường Đi Đến Bờ Kia mở đầu với phần tŕnh bày lại đầy đủ các kệ ngôn của Pārāyanavagga - Phẩm Đường Đi Đến Bờ Kia và gồm có ba phần:

- Phần mở đầu: Vatthugāthā - Kệ Ngôn Dẫn Chuyện, giới thiệu câu chuyện của vị Bà-la-môn Bāvari và lư do vị này phái các đệ tử của ḿnh đi đến gặp đức Phật (56 kệ ngôn).

- Phần các câu hỏi: ghi lại các câu hỏi và đáp diễn ra giữa 16 đệ tử của vị Bà-la-môn Bāvari và đức Phật, bắt đầu với các câu hỏi của thanh niên Bà-la-môn Ajita, v.v... (93 kệ ngôn)

- Và phần kết: Pārāyanānugīti - Phần Tường Thuật Về Đường Đi Đến Bờ Kia, kể lại việc thanh niên Bà-la-môn Piṅgiya, cháu gọi Bà-la-môn Bāvari bằng cậu, đă trở về để gặp lại và tường thuật mọi chuyện cho Bà-la-môn Bāvari, đồng thời cũng đă tạo duyên cho vị này đạt đến quả vị A-la-hán (26 kệ ngôn).

Tác giả đă không giải thích 56 kệ ngôn của phần mở đầu, có lẽ ư nghĩa của câu chuyện dẫn nhập ở phần này không có ǵ khó hiểu, mà chỉ thực hiện việc diễn giải cho hai phần sau: Phần các câu hỏi gồm 93 kệ ngôn, được chia làm 16 phần nhỏ tương xứng với 16 vị đệ tử của Bà-la-môn Bāvari với số lượng câu hỏi ít hay nhiều tùy theo mỗi vị. Thanh niên Bà-la-môn Tissametteyya hỏi ít nhất với 3 câu hỏi, thanh niên Bà-la-môn Mettagū hỏi nhiều nhất với 12 câu hỏi, các vị khác th́ tùy duyên sự với 4, 5, 6, 7, hoặc 8 câu hỏi. Với mỗi câu hỏi của các vị ấy th́ có câu trả lời của đức Thế Tôn. Và phần kết gồm có 26 kệ ngôn cũng đă được giải thích đầy đủ. Tổng cộng các kệ ngôn đă được diễn giải gồm có 119 câu và được liệt kê chi tiết như sau:

 

1.   Ajitasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Ajita

2.   Tissametteyyasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Tissametteyya

3.   Puṇṇakasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Puṇṇaka

4.   Mettagūsuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Mettagū

5.   Dhotakasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Dhotaka

6.   Upasīvasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Upasīva

7.   Nandasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Nanda

8.   Hemakasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Hemaka

9.   Todeyyasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Todeyya

10. Kappasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Kappa

11.  Jatukaṇṇīsuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Jatukaṇṇī

12. Bhadrāvudhasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Bhadrāvudha

13. Udayasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Udaya

14. Posālasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Posāla

15. Mogharājasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Mogharāja

16. Piṅgiyasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Piṅgiya

17. Pārāyanānugītiniddeso - Diễn Giải Phần Tường Thuật Về Đường Đi Đến Bờ Kia.

 

Nội dung của Khaggavisāṇasuttaniddeso - Diễn Giải Kinh Sừng Tê Ngưu được chia làm bốn vagga (phẩm), tổng cộng gồm có 41 kệ ngôn được phân chia ra như sau:

 

Paṭhamo Vaggo - Phẩm Thứ Nhất (10 kệ ngôn)

Dutiyo Vaggo - Phẩm Thứ Nh́ (10 kệ ngôn)

Tatiyo Vaggo - Phẩm Thứ Ba (10 kệ ngôn)

Catuttho Vaggo - Phẩm Thứ Tư (10 kệ ngôn)

 

*****

 

Văn bản Pāḷi được tŕnh bày ở tập Kinh này đă được phiên âm lại từ văn bản Pāḷi - Sinhala, ấn bản Buddha Jayanti Tripitaka Series của nước quốc giáo Sri Lanka. Chúng tôi xin thành tâm tán dương công đức của Venerable Mettāvihārī đă hoan hỷ cho phép chúng tôi sử dụng văn bản đă được phiên âm sẵn đang phổ biến trên mạng internet. Điểm đóng góp của chúng tôi trong việc thực hiện văn bản Pāḷi Roman này là ḍ lại kỹ lưỡng văn bản đă được phiên âm và so sánh kiểm tra những điểm khác biệt về văn tự ở Tam Tạng của các nước Thái Lan, Miến Điện, và Anh Quốc được ghi ở phần cước chú, đồng thời bổ sung thêm một số điểm khác biệt đă phát hiện được trong lúc so sánh các văn bản với nhau.

 

Về phương diện dịch thuật và tŕnh bày văn bản tiếng Việt, chúng tôi đă ghi nghĩa Việt của các kệ ngôn bằng văn xuôi nhằm diễn tả trọn vẹn ư nghĩa của văn bản gốc. Trong phần nhiều các trường hợp, hai ḍng kệ ngôn gồm bốn pāda là được hoàn chỉnh về ư nghĩa. Nhưng có một vài trường hợp, ư nghĩa được nối từ kệ ngôn này sang kệ ngôn khác, th́ chúng tôi dịch gom chung các kệ ngôn có liên quan lại với nhau; ngược lại, ở một số nơi khác, nếu thứ tự sắp xếp các đoạn dịch Việt là thuận tiện cho việc tách rời, th́ chúng tôi sử dụng dấu gạch ngang (—) ở cuối kệ ngôn trước và ở đầu kệ ngôn sau để báo hiệu sự tiếp nối. Trong trường hợp một số các kệ ngôn Pāḷi gồm 3 hoặc 4 ḍng có ư nghĩa được tách biệt theo từng ḍng một, chúng tôi ngắt câu dịch Việt thành từng ḍng riêng biệt tương ứng với từng câu Pāḷi để tiện việc đối chiếu, so sánh, t́m hiểu, và học hỏi.

 

Về văn phong của lời dịch, chúng tôi chủ trương ghi lại lời tiếng Việt sát theo văn bản gốc và cố gắng không bỏ sót từ nào không dịch. Lời văn tiếng Việt của chúng tôi có chứa đựng những mấu chốt giúp cho những ai có ư thích nghiên cứu Pāḷi thấy ra được cấu trúc của loại ngôn ngữ này, đồng thời tạo sự thuận tiện cho công việc hiệu đính trong tương lai. Việc làm này của chúng tôi không hẳn đă được hoàn hảo, dẫu sao cũng là bước khởi đầu nhằm thúc đẩy phong trào nghiên cứu cổ ngữ Phật Học của người Việt Nam. Tuy nhiên, một số sai sót trong quá tŕnh phiên dịch đương nhiên không thể tránh khỏi, chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về tŕnh độ có hạn.

 

Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân thành ghi nhận sự quan tâm chăm sóc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với công tác phiên dịch của chúng tôi về phương diện vật thực bồi dưỡng và thuốc men chữa bệnh của các vị hữu ân sau: tập thể Phật tử Việt Nam tại Hong Kong, gia đ́nh Phật tử Phạm Trọng Độ, gia đ́nh Phật tử Minh Hỷ & Diệu Tâm, gia đ́nh Nha Sĩ Phạm Văn Giai, Đạo Hữu Nguyễn Tín Dũng, Phật tử Hoàng Thị Nhàn, Phật tử Bùi Lan Khanh, Phật tử Phạm Thu Hương, Phật tử Vivian Nguyen (Hoa Kỳ), Phật tử Tâm Hạnh (Đức), Phật tử Nguyễn Thị Thanh Bạch (Úc), Phật tử Nguyễn Thị Kim Liên, gia đ́nh Phật tử Vũ Đ́nh Lâm, Phật tử Lê Ngọc Diệp, Phật tử Nguyễn Thị Mai Thào, Phật tử Đặng Thu Trang, và sự động viên tinh thần của Phật tử Dương Tường Khải Như (Việt Nam) trong quá tŕnh phiên dịch. Công việc soạn thảo này được thông suốt, không bị gián đoạn, chính là nhờ có sự hỗ trợ nhiệt t́nh và quư báu của quư vị. Thành tâm cầu chúc quư vị luôn giữ vững niềm tin và thành tựu được nhiều kết quả trong công việc tu tập giải thoát.

 

Một điều thiếu sót lớn nếu không đề cập đến sự nhiệt t́nh giúp đỡ của Sư Cô Mỹ Thúy đă sắp xếp thời gian để đọc lại bản thảo một cách kỹ lưỡng và đă đóng góp nhiều ư kiến sâu sắc giúp cho chúng tôi tránh được một số điểm vụng về trong việc sử dụng từ ngữ tiếng Việt. Chúng tôi cũng xin thành tâm tùy hỷ và tán dương công đức của các thí chủ đă nhiệt tâm đóng góp tài chánh giúp cho Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi - Việt được tồn tại và phát triến, mong sao phước báu Pháp thí này luôn dẫn dắt quư vị vào con đường tu tập đúng theo Chánh Pháp, thành tựu Chánh Trí, chứng ngộ Niết Bàn, không c̣n luân hồi sanh tử nữa.

 

Nhân đây, cũng xin thành kính tri ân công đức của Ngài Ḥa Thượng Ven. Devahandiye Paññāsekara Nāyaka Mahāthera, tu viện trưởng tu viện Sri Jayawardhanaramaya Colombo 8 - Sri Lanka, đă cung cấp trú xứ và các vật dụng cần thiết giúp cho chúng tôi có thể tập trung toàn thời gian cho công việc thực hiện tập Kinh này.

 

Cuối cùng, ngưỡng mong phước báu phát sanh trong công việc soạn thảo tập Kinh này được thành tựu đến thầy tổ, song thân, và tất cả chúng sanh trong tam giới. Nguyện cho hết thảy đều được an vui, sức khỏe, có trí tuệ, và tinh tấn tu tập ngơ hầu thành đạt cứu cánh giải thoát, chấm dứt khổ đau.

 

                                                                                                           Kính bút,  

                                                                           ngày 21 tháng 04 năm 2018

                                                    Tỳ Khưu Indacanda (Trương đ́nh Dũng)

 

 
   
 

<Mục Lục Cullaniddesa>

 
 

<Đầu Trang>