Trang Chính

TTPV 36: Cullaniddesapāḷi - Tiểu Diễn Giải

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

KHUDDAKANIKĀYA - TIỂU BỘ

CULLANIDDESAPĀḶI - TIỂU DIỄN GIẢI

* TTPV tập 36 *

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

Cập Nhật: Friday, July 21, 2017

 

PĀRĀYANAVAGGO - PHẨM ĐI ĐẾN BỜ KIA (tiếp theo)

 

 

Nguồn: Tam Tạng Pāli - Sinhala thuộc Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS)

 

 

Lời tiếng Việt: Tỳ khưu Indacanda

 

 

Trang 26:

Trang 27:

 

 

6. UPASĪVAMĀṆAVAPUCCHĀ

 

6. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN UPASĪVA

 

 

(VII) Câu hỏi của thanh niên Upasiva

 

6-1. Eko ahaṃ sakka mahantamoghaṃ (iccāyasmā upasīvo)
anissito no visahāmi tarituṃ
ārammaṇaṃ brūhi samantacakkhu
yaṃ nissito oghamimaṃ tareyyaṃ.

 

6-1. (Tôn giả Upasīva nói rằng:) “Thưa vị ḍng Sakya, một ḿnh con, không nương tựa (nơi nào), con không có khả năng vượt qua ḍng lũ lớn. Thưa bậc Toàn Nhăn, xin ngài hăy nói về đối tượng, được nương tựa vào nơi ấy, con có thể vượt qua ḍng lũ này.”

 

Upasiva:
1069. Tôn giả U-pa-si-va:
Kính thưa bậc Thích tử,
Một ḿnh, không y chỉ,
Con không thể vượt khỏi,
Ḍng nước lớn mạnh này,
Kính thưa bậc Biến nhăn,
Hăy nói cho sở duyên,
Y chỉ sở duyên này,
Có thể vượt qua khỏi,
Ḍng nước chảy mạnh này.

(Kinh Tập, chương V)

6-2. Ākiñcaññaṃ pekkhamāno satīmā (upasīvāti bhagavā)
natthīti nissāya tarassu oghaṃ
kāme pahāya virato kathāhi
taṇhakkhayaṃ nattamahābhipassa.

 

6-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) trong khi xem xét về Vô Sở Hữu Xứ, có niệm, nương tựa vào (ư niệm) ‘không có ǵ,’ ngươi hăy vượt qua ḍng lũ. Sau khi dứt bỏ các dục, đă xa lánh hẳn các điều nghi hoặc, ngươi hăy quán sát sự cạn kiệt của tham ái, đêm và ngày.”

 

Thế Tôn:
1070. Đây lời dạy Thế Tôn:
Này U-pa-si-va,
Biết ǵn giữ chánh niệm,
Không mong đợi vật ǵ,
Ông sẽ vượt bộc lưu,
Nương tựa: "không có ǵ ",
Ngày đêm ngươi nhận thấy,
Đoạn dục, ly nghi ngờ,
Ái diệt là Niết-bàn.

6-3. Sabbesu kāmesu yo vītarāgo (iccāyasmā upasīvo)
ākiñcaññaṃ nissito hitva aññaṃ
saññāvimokkhe paramedhimutto
tiṭṭhe nu so tattha anānuyāyi.

 

6-3. (Tôn giả Upasīva nói rằng:): “Vị nào đă xa ĺa sự luyến ái ở tất cả các dục, đă nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ sau khi từ bỏ pháp (chứng đắc) khác,[1] đă thiên về sự giải-thoát-do-tưởng cao nhất, phải chăng vị ấy có thể trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa?”


[1] Pháp (chứng đắc) khác: nói đến sáu loại chứng đắc thấp hơn (SnA. ii, 593-594), tức là sự chứng đắc bốn tầng thiền Sắc Giới và hai tầng thiền Không Vô Biên Xứ và Thức Vô Biên Xứ thuộc Vô Sắc Giới (ND).

 

Upasiva:
1071. U-pa-si-va nói:
Ai là người ly tham,
Đối với tất cả dục,
Y chỉ không có ǵ,
Từ bỏ mọi ǵ khác,
Được giải thoát hoàn toàn,
Tưởng giải thoát tối thượng,
Tại đấy vị ấy trú,
Không tiếp tục đi tới.

6-4. Sabbesu kāmesu yo vītarāgo (upasīvāti bhagavā)
ākiñcaññaṃ nissito hitvamaññaṃ
saññāvimokkhe paramedhimutto
tiṭṭheyya so tattha anānuyāyī.
 

6-4. (Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) vị nào đă xa ĺa sự luyến ái ở tất cả các dục, đă nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ sau khi từ bỏ pháp (chứng đắc) khác, đă thiên về sự giải-thoát-do-tưởng cao nhất, vị ấy có thể trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa.”

Thế Tôn:
1072. Thế Tôn nói như sau:
Này U-pa-si-va,
Ai hoàn toàn ly tham,
Đối với tất cả dục,
Y chỉ không có ǵ,
Từ bỏ mọi ǵ khác,
Được giải thoát hoàn toàn,
Tương giải thoát tối thượng,
Tại đấy, vị ấy trú,
Không tiếp tục đi tới.

Trang 28:

 

Trang 29:

 

 

6-5. Tiṭṭhe ce so tattha anānuyāyī (iccāyasmā upasīvo)
yugampi vassānaṃ samantacakkhu
tattheva so sītī siyā vimutto
cavetha viññāṇaṃ tathāvidhassa.
 

6-5. (Tôn giả Upasīva nói rằng:) “Nếu vị ấy trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa, thậm chí một số năm, thưa bậc Toàn Nhăn, ngay tại chỗ ấy, vị ấy có thể có sự mát mẻ, được giải thoát, có phải thức của vị thuộc hạng như thế ấy có thể diệt tắt?”

Upasiva:
1073. Nếu vị ấy tại đấy,
An trú không đi tiếp,
Trong một số nhiều năm,
Ôi bậc có biến nhăn!
Nếu vị ấy tại đấy,
Được mát lạnh giải thoát,
Với vị được như vậy,
C̣n có thức hay không?

6-6. Acci yathā vātavegena khittā (upasīvāti bhagavā)
atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ
evaṃ munī nāmakāyā vimutto
atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ.

 

6-6. (Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) giống như ngọn lửa đă bị dập tắt bởi lực đẩy của làn gió, thời đi đến sự chấm dứt, không đạt đến danh xưng; tương tự như vậy, vị hiền trí đă được giải thoát khỏi danh thân (tập hợp các yếu tố thuộc về tâm) thời đi đến sự chấm dứt, không đạt đến danh xưng.

Thế Tôn:
1074. Đây lời Thế Tôn nói:
Hỡi U-pa-si-va!
Cũng giống như ngọn lửa,
Bị sức gió mạnh thổi,
Đi đến chỗ tận cùng,
Không có thể ước lượng,
Cũng vậy, vị ẩn sĩ,
Được giải thoát danh thân,
Đi đến chỗ tận cùng,
Không có thể ước lượng.

6-7. Atthaṃ gato so udavā so natthi (iccāyasmā upasīvo)
udāhu ve sassatiyā arogo
taṃ me munī sādhu viyākarohi
tathā hi te vidito esa dhammo.
 

6-7. (Tôn giả Upasīva nói rằng:) “Có phải vị ấy đi đến sự chấm dứt hay vị ấy không có (hiện hữu), hay là vị ấy thật sự ở vào trạng thái trường tồn, vô bệnh? Thưa bậc hiền trí, xin ngài hăy giải thích tường tận điều ấy cho con, bởi v́ pháp này đă được ngài biết đúng theo bản thể.”

Upasiva:
1075. Vị đi đến tận cùng,
Có phải không hiện hữu,
Hai vị ấy thường hằng,
Đạt được sự không bệnh,
Lành thay, bậc ẩn sĩ,
Hăy trả lời cho con,
Có vậy, con hiểu được,
Pháp như thật Ngài giảng.

6-8. Atthaṃ gatassa na pamāṇamatthi (upasīvāti bhagavā)
yena naṃ vajju taṃ tassa natthi
sabbesu dhammesu samūhatesu
samūhatā vādapathāpi sabbe ”ti.
 

6-8. (Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) đối với vị đă đi đến sự chấm dứt, th́ không có sự ước lượng. Với điều nào người ta có thể nói về vị ấy, th́ điều ấy không c̣n có đối với vị ấy. Khi tất cả các pháp đă được bứng lên hoàn toàn, ngay cả đường lối của lời nói cũng được bứng lên hoàn toàn.”

Thế Tôn:
1076. Thế Tôn nói như sau:
Hỡi U-pa-si-va,
Người đi đến tận cùng,
Không thể c̣n ước lượng,
Với ǵ, nói đến nó,
Không c̣n có cái ấy,
Khi tất cả các pháp,
Đă được nhổ hẳn lên,
Mọi con đường nói phô,
Được nhổ lên sạch hết.

 

Upasīvamāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Upasīva.  

 
 

7. NANDAMĀṆAVAPUCCHĀ

 

 

7. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN NANDA

 

 

(VIII) Các câu hỏi của thanh niên Nanda

7-1. Santi loke munayo (iccāyasmā nando)
janā vadanti tayidaṃ kathaṃsu
ñāṇūpapannaṃ no muniṃ vadanti
udāhu ve jīvitenūpapannaṃ.
 

(Tôn giả Nanda nói rằng:) “‘Các bậc hiền trí hiện hữu ở thế gian,’ dân chúng nói như thế; theo ngài, điều này (có ư nghĩa) thế nào? Họ nói người đă thành tựu về trí là bậc hiền trí, hay là người đă thực sự thành tựu về lối sống?”

Nanda:
1077. Tôn giả Nan-da nói:
Quần chúng có nói rằng:
Có ẩn sĩ ở đời,
Ngài nghĩ như thế nào?
Chúng gọi là ẩn sĩ
Vị có đầy đủ trí?
Hay vị đầy đủ mạng?

(Kinh Tập, chương V)

7-2. Na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena (nandāti bhagavā)
munīdha nanda kusalā vadanti
visenikatvā anīghā nirāsā
caranti ye te munayo ’ti brūmi.
 

7-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Nanda,) không phải do thấy, không phải do nghe, không phải do trí, mà các bậc thiện xảo ở nơi đây gọi là bậc hiền trí. Những người nào sau khi tiêu diệt đạo binh (ô nhiễm), sống không phiền muộn, không mong cầu, Ta nói rằng những người ấy là các bậc hiền trí.”

Thế Tôn:
1078. Các bậc thiện nói rằng:
Ở đời này Nan-da,
Không phải v́ tri kiến,
V́ truyền thống, v́ trí
Được gọi là ẩn sĩ,
Ta chỉ gọi ẩn sĩ,
Những ai diệt quân lực,
Không phiền năo, không cầu.

Trang 30:

 

Trang 31:

 
 

7-3. Ye kecime samaṇabrāhmaṇā se (iccāyasmā nando)
diṭṭhe sutenāpi vadanti suddhiṃ
sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ
anekarūpena vadanti suddhiṃ
kacci su te bhagavā tattha yathā carantā
atāru jātiṃ ca jaraṃ ca mārisa
pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ.
 

7-3. (Tôn giả Nanda nói rằng:) “Bất cứ những Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều h́nh thức, có phải những vị ấy, thưa đức Thế Tôn, trong khi sống kiềm chế ở nơi ấy, họ đă vượt qua sanh và già, thưa ngài? Con hỏi ngài, thưa đức Thế Tôn, xin ngài hăy trả lời con về điều này.”  

Nanda:
1079. Tôn giả Nan-đa thưa:
Có Sa-môn, Phạm chí,
Nói rằng sự thanh tịnh
Là nhờ thấy, nhờ nghe;
Có người lại nói rằng:
Thanh tịnh do giới cấm;
Có người lại nói rằng:
Thanh tịnh do nhiều pháp.
Bạch Thế Tôn, như vậy,
Là sở hành của chúng,
Vậy Ngài nghĩ thế nào,
Chúng có thể vượt qua,
Sanh và già thưa Ngài,
Con kính hỏi Thế Tôn,
Mong Ngài trả lời con.

7-4. Ye kecime samaṇabrāhmaṇā se (nandāti bhagavā)
diṭṭhe sutenāpi vadanti suddhiṃ
sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ
anekarūpena vadanti suddhiṃ
kiñcāpi te tattha yathā caranti
nātariṃsu jātijaranti brūmi.

 

7-4. (Đức Thế Tôn nói: “Này Nanda,) bất cứ những vị Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều h́nh thức, mặc dầu những vị ấy, trong khi sống kiềm chế ở nơi ấy, Ta nói rằng: ‘Họ đă không vượt qua sanh và già.’”  

Thế Tôn:
1080. Thế Tôn nói: Nan-đa!
Sa-môn, Phạm chí này,
Nói rằng sự thanh tịnh
Là nhờ thấy, nhờ nghe;
Có người lại nói rằng:
Thanh tịnh do giới cấm;
Có người lại nói rằng:
Thanh tịnh do nhiều pháp.
Dầu chúng ở tại đây,
Với sở hành như vậy,
Ta nói chúng không vượt,
Khỏi sanh và khỏi già.

7-5. Ye kecime samaṇabrāhmaṇā se (iccāyasmā nando)
diṭṭhe sutenāpi vadanti suddhiṃ
sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ
anekarūpena vadanti suddhiṃ.
 

7-5. (Tôn giả Nanda nói rằng:) “Bất cứ những vị Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều h́nh thức.

 

Nan-da:
1081. Tôn giả Nan-đa thưa:
Sa-môn, Phạm chí này,
Nói rằng sự thanh tịnh
Là nhờ thấy, nhờ nghe;
Có người lại nói rằng:
Thanh tịnh do giới cấm;
Có người lại nói rằng:
Thanh tịnh do nhiều pháp.

7-6. Te ce munī brūhi anoghatiṇṇe
atha ko carahi devamanussaloke
atāri jātiñca jarañca mārisa
pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ.


 

7-6. Thưa bậc hiền trí, nếu ngài nói những vị ấy là không vượt qua ḍng lũ, vậy giờ đây, thưa ngài, người nào ở thế giới chư Thiên và nhân loại đă vượt qua sanh và già? Con hỏi ngài, thưa đức Thế Tôn, xin ngài hăy trả lời con về điều này.”
 

Thưa ẩn sĩ, Ngài nói:
Chúng không vượt bộc lưu,
Vậy ai có thể được,
Giữa thế giới Trời, Người,
Có thể vượt qua được,
Sanh và già, thưa Ngài,
Con xin hỏi Thế Tôn
Mong Ngài trả lời con.

7-7. Nāhaṃ sabbe samaṇabrāhmaṇā se (nandāti bhagavā)
jātijarāya nivutā ’ti brūmi
ye sūdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā
sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ
anekarūpampi pahāya sabbaṃ
taṇhaṃ pariññāya anāsavā se
te ve narā oghatiṇṇā ’ti brūmi.

 

7-7. (Đức Thế Tôn nói: “Này Nanda,) Ta không nói rằng tất cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn đều bị bao trùm bởi sanh và già. Ở đây, những vị nào đă dứt bỏ điều đă được thấy, hoặc đă được nghe, hoặc đă được cảm giác, hoặc thậm chí tất cả giới và phận sự, hoặc đă dứt bỏ mọi h́nh thức nhiều loại, đă biết toàn diện về tham ái, không c̣n lậu hoặc, Ta nói rằng ‘những con người ấy thật sự đă vượt qua ḍng lũ.’”

Thế Tôn:
1082. Thế Tôn nói: Nan-đa
Ta không nói tất cả,
Sa-môn, Bà-la-môn
Bị sanh già che lấp.
Những ai ở đời này,
Đoạn tận khắp tất cả,
Điều được nghe được thấy,
Được cảm tưởng, giới cấm,
Và đoạn nhiều pháp khác,
Liễu tri ái, vô lậu,
Ta nói những người ấy,
Vượt qua được bộc lưu.

Trang 32:

 

Trang 33:

 

 

7-8. Etābhinandāmi vaco mahesino (iccāyasmā nando)
sukittitaṃ gotamanūpadhīkaṃ
ye sūdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā
sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ
anekarūpampi pahāya sabbaṃ
taṇhaṃ pariññāya anāsavā se
ahampi te oghatiṇṇā ’ti brūmī ”ti.
 

7-8. (Tôn giả Nanda nói rằng:) “Thưa ngài Gotama, con thích thú lời nói này của bậc đại ẩn sĩ, đă khéo được tŕnh bày, không liên quan đến mầm tái sanh. Ở đây, những vị nào đă dứt bỏ điều đă được thấy, hoặc đă được nghe, hoặc đă được cảm giác, hoặc thậm chí tất cả giới và phận sự, hoặc đă dứt bỏ mọi h́nh thức nhiều loại, đă biết toàn diện về tham ái, không c̣n lậu hoặc, con cũng nói rằng ‘những vị ấy đă vượt qua ḍng lũ.’”

Nanda:
1083. Con cảm thấy hoan hỷ,
Lời Đại sĩ Cù-đàm,
Được Ngài khéo thuyết giảng,
Về chấm dứt sanh y,
Những ai ở đời này,
Đoạn tận khắp tất cả,
Điều được nghe, được thấy,
Được cảm tưởng, giới cấm,
Và đoạn nhiều pháp khác,
Liễu tri ái, vô lậu,
Ta nói những người ấy,
Vượt qua khỏi bộc lưu.

 

Nandamāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Nanda.

 
 

8. HEMAKAMĀṆAVAPUCCHĀ

 

 

8. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN HEMAKA

 

 

(IX) Các câu hỏi của thanh niên Hemaka

8-1. Ye me pubbe vyākaṃsu (iccāyasmā hemako)
huraṃ gotamasāsanā
iccāsi iti bhavissati
sabbaṃ taṃ itihītihaṃ
sabbaṃ taṃ takkavaḍḍhanaṃ
nāhaṃ tattha abhiramiṃ.

 

8-1. (Tôn giả Hemaka nói rằng:) “Những người nào trước đây đă giải thích cho con khác với lời dạy của Gotama (nói rằng): ‘Đă là như vầy, sẽ là như vầy,’ mọi điều ấy đều do nghe nói lại theo truyền thống, mọi điều ấy đều là sự tăng trưởng suy nghĩ, con không thích thú về điều ấy.

 

Hemaka:
1084. Tôn giả He-ma-ka:
Những ai trong thời trước,
Đă trả lời cho con,
Về lời dạy Cù-đàm,
Trước đă như thế nào,
Sau sẽ là như vậy,
Tất cả đều truyền thống,
Tất cả tăng suy tư.

1085. Đây, con không hoan hỷ,

(Kinh Tập, chương V)

8-2. Tvaṃ ca me dhammamakkhāhi
taṇhānigghātanaṃ muni
yaṃ viditvā sato caraṃ
tare loke visattikaṃ.

 

8-2. Và xin ngài hăy nói ra cho con về pháp diệt trừ tham ái, thưa bậc hiền trí; sau khi hiểu pháp ấy, con có niệm, trong khi sống, có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian.”

Ngài nói Pháp cho con,
Ôi mong bậc ẩn sĩ,
Nói Pháp đoạn khát ái,
Biết xong, sống chánh niệm,
Vượt ái trước ở đời.

8-3. Idha diṭṭhasutamuta -
viññātesu piyarūpesu hemaka
chandarāgavinodanaṃ
nibbānapadamaccutaṃ.

 

8-3. “Ở đây, sự xua đi mong muốn và luyến ái ở các vật có vẻ đáng yêu đă được thấy, đă được nghe, đă được cảm giác, đă được nhận thức, này Hemaka, là vị thế Niết Bàn, Bất Hoại.  

Thế Tôn:
1086. He-ma-ka ở đây,
Đối các Pháp khả ái,
Được nghe và được thấy,
Được cảm tưởng, nhận thức,
Tẩy sạch ước muốn tham,
Là Niết-bàn, bất tử.

8-4. Etadaññāya ye satā
diṭṭhadhammābhinibbutā
upasantā ca te sadā
tiṇṇā loke visattikan ”ti.
 

8-4. Sau khi hiểu thông điều này, những người nào có niệm, đă nhận thức được Giáo Pháp, đă được diệt tắt, và những người ấy luôn luôn yên tịnh, họ đă vượt qua sự vướng mắc ở thế gian.”
 

1087. Biết vậy, giữ chánh niệm,
Hiện tại, đạt mát lạnh,
Vị ấy thường an tịnh,
Vượt chấp trước ở đời.

 

Hemakamāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Hemaka.

 

 

Trang 34:

 

Trang 35:

 
 
 

9. TODEYYAMĀṆAVAPUCCHĀ

 

 

9. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN TODEYYA

 

 

(X) Câu hỏi của thanh niên Todeyya

 

9-1. Yasmiṃ kāmā na vasanti (iccāyasmā todeyyo)
taṇhā yassa na vijjati
kathaṃkathā ca yo tiṇṇo
vimokkho tassa kīdiso.

 

9-1. (Tôn giả Todeyya nói rằng:) “Ở người nào các dục không sinh tồn, đối với người nào tham ái không t́m thấy, và người nào đă vượt qua các nỗi nghi hoặc, sự giải thoát của người ấy là như thế nào?”

Todeyya:
1088. Tôn giả Tô-đê-ya:
Ai sống không dục vọng,
Ai sống không có ái,
Ai vượt khỏi nghi hoặc,
Giải thoát của vị ấy,
Giải thoát như thế nào?

(Kinh Tập, chương V)

9-2. Yasmiṃ kāmā na vasanti (todeyyāti bhagavā)
taṇhā yassa na vijjati
kathaṃkathā ca yo tiṇṇo
vimokkho tassa nāparo.

 

9-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Todeyya,) ở người nào các dục không sinh tồn, đối với người nào tham ái không t́m thấy, và người nào đă vượt qua các nỗi nghi hoặc, đối với người ấy không có sự giải thoát nào khác nữa.”

Thế Tôn:
1089. Đây lời nói Thế Tôn:
Hỡi năy Tô-đê-ya,
Ai sống không dục vọng,
Ai sống không có ái,
Ai vượt khỏi nghi hoặc
Giải thoát của vị ấy
Không có ǵ là khác.

9-3. Nirāsaso so uda āsasāno (iccāyasmā todeyyo)
paññāṇavā so uda paññakappī
muniṃ ahaṃ sakka yathā vijaññaṃ
taṃ me viyācikkha samantacakkhu.

 

9-3. “Vị ấy không c̣n mong ước, hay là (vị ấy) đang mong ước? Vị ấy có tuệ hay là có sự sắp đặt nhờ vào tuệ? Thưa vị ḍng Sakya, để cho con có thể nhận biết về vị hiền trí, thưa bậc Toàn Nhăn, xin ngài hăy nói rơ điều ấy cho con.”

 

Todeyya:
1090. Vị sống không ước vọng
Hay sống có ước vọng,
Vị ấy có trí tuệ,
Hay tác thành trí tuệ,
Ôi kính bậc Biến nhăn,
Hăy trả lời con rơ,
Để con có thể biết,
Thế nào là ẩn sĩ,
Ôi kính bậc Thích tử.

9-4. Nirāsaso so na so āsasāno
paññāṇavā so na ca paññakappī
evampi todeyya muniṃ vijāna
akiñcanaṃ kāmabhave asattan ”ti.
 

9-4. “Vị ấy không c̣n mong ước, vị ấy không mong ước. Vị ấy có tuệ và không có sự sắp đặt nhờ vào tuệ. Này Todeyya, ngươi hăy nhận biết về vị hiền trí là như vậy, là vị không c̣n vướng bận, không bị dính mắc ở dục và hữu.”

 

Thế Tôn:
1091. Vị sống không ước vọng,
Không có ước vọng nào,
Vị ấy có trí tuệ,
Không tác thành trí tuệ,
Như vậy, Tô-đê-ya,
Hăy biết bậc ẩn sĩ,
Không có sở hữu ǵ,
Không tham dính dục hữu.

 

Todeyyamāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Todeyya.

 

 
 

10. KAPPAMĀṆAVAPUCCHĀ

 

 

10. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN KAPPA

 

 

(XI) Câu hỏi của thanh niên Kappa

 

10-1. Majjhe sarasmiṃ tiṭṭhataṃ (iccāyasmā kappo)
oghe jāte mahabbhaye
jarāmaccuparetānaṃ
dīpaṃ pabrūhi mārisa
tvaṃ ca me dīpamakkhāhi
yathayidaṃ nāparaṃ siyā.
 

10-1. (Tôn giả Kappa nói rằng:) “Thưa ngài, xin ngài hăy nói về ḥn đảo cho những người đang bị chế ngự bởi sanh và tử, cho những người đang đứng giữa hồ nước, ở ḍng lũ có sự nguy hiểm lớn đă được sanh ra. Và xin ngài hăy nói ra cho con về ḥn đảo để cho cái (khổ) khác giống như cái (khổ) này không thể xảy ra.”

Kappa:
1092. Tôn giả Káp-pa nói:
Những ai đứng giữa nước,
Trong ḍng nước mạnh chảy,
Giữa sợ hăi lớn lao,
Thưa Ngài hăy nói lên,
Ḥn đảo cho những kẻ,
Bị già chết chinh phục,
Ngài nói con ḥn đảo,
Để không có khổ khác,
Giống như đau khổ này.

(Kinh Tập, chương V)

Trang 36:

 

Trang 37:

 
 

10-2. Majjhe sarasmiṃ tiṭṭhitaṃ (kappāti bhagavā)
oghe jāte mahabbhaye
jarāmaccuparetānaṃ
dīpaṃ pabrūmi kappa te.
 

10-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Kappa,) Ta sẽ nói với ngươi về ḥn đảo cho những người đang bị chế ngự bởi sanh và tử, cho những người đang đứng giữa hồ nước, ở ḍng lũ có sự nguy hiểm lớn đă được sanh ra, này Kappa.

Thế Tôn:
1093. Thế Tôn nói Kap-pa,
Những ai đứng giữa nước,
Trong ḍng nước mạnh chảy,
Giữa sợ hăi lớn lao,
Ta nói Ông ḥn đảo,
Cho những ai đang bị,
Già và chết chinh phục.

10-3. Akiñcanaṃ anādānaṃ
etaṃ dīpaṃ anāparaṃ
nibbānaṃ iti naṃ brūmi
jarāmaccuparikkhayaṃ.

 

10-3. Ḥn đảo này là không vướng bận, không nắm giữ, không có cái nào khác, Ta gọi cái ấy là ‘Niết Bàn,’ sự đoạn diệt hoàn toàn sanh và tử.

1094. Ḥn đảo vô song này,
Không sở hữu, chấp trước,
Ta nói Ông Niết-bàn,
Già chết được đoạn diệt,

10-4. Etadaññāya ye satā
diṭṭhadhammābhinibbutā
na te māravasānugā
na te mārassa paddhagū ”ti.

 

10-4. Sau khi hiểu thông điều này, những người nào có niệm, đă nhận thức được Giáo Pháp, đă được diệt tắt, những người ấy không đi theo quyền lực của Ma Vương, những người ấy không là nô bộc của Ma Vương.”

1095. Biết vậy, giữ chánh niệm,
Hiện tại đạt mát lạnh,
Không rơi vào ma lực,
Không tùy tùng theo ma.

 

Kappamāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Kappa.

 

 
 

11. JATUKAṆṆĪMĀṆAVAPUCCHĀ

 

 

11. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN JATUKAṆṆĪ

 

 

(XII) Câu hỏi của thanh niên Jatukanni

 

11-1. Sutvānahaṃ vīramakāmakāmiṃ (iccāyasmā jātukaṇṇī )
oghātigaṃ puṭṭhumakāmamāgamaṃ
santipadaṃ brūhi sahajanetta
yathātacchaṃ bhagavā brūhi metaṃ.

 

11-1. (Tôn giả Jatukaṇṇī nói rằng:) “Thưa bậc anh hùng, sau khi con nghe về vị không có ham muốn các dục, con đă đi đến để hỏi vị đă vượt qua ḍng lũ, không có ham muốn. Thưa bậc có nhăn quan (trí Toàn Giác) đă được đồng sanh, xin ngài hăy nói về vị thế an tịnh. Thưa đức Thế Tôn, xin ngài hăy nói cho con về điều này đúng theo sự thật.

Jatukanni:
1096. Ja-tu-kan-ni nói:
Được nghe bậc anh hùng,
Không tham đắm dục vọng,
Nên con đă đến đây,
Để hỏi bậc vô dục,
Đă thoát khỏi bộc lưu,
Bậc sanh với con mắt,
Hăy nói đường an tịnh,
Thế Tôn hăy như thật,
Nói cho con được biết.

(Kinh Tập, chương V)

11-2. Bhagavā hi kāme abhibhuyya irīyati
ādiccova paṭhaviṃ tejī tejasā
parittapaññassa me bhūripañña
ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ
jātijarāya idha vippahānaṃ.

 

11-2. Bởi v́ sau khi đă chế ngự các dục, đức Thế Tôn hành xử (các oai nghi) ví như thái dương có sức nóng (chế ngự) trái đất bằng sức nóng. Thưa bậc có tuệ bao la, đối với con là người có tuệ nhỏ nhoi, xin ngài hăy chỉ bảo về Giáo Pháp để con có thể nhận thức sự ĺa bỏ đối với sanh và già ở nơi đây.”

1097. Chinh phục dục vọng xong,
Thế Tôn sống ở đời,
Như mặt trời chiếu sáng,
Cơi đất với hào quang,
Bậc trí tuệ rộng lớn,
Hăy nói pháp cho con,
Kẻ trí tuệ bé nhỏ,
Do rơ biết pháp này,
Ở đây, con đoạn được,
Kể cả sanh và già.

11-3. Kāmesu vinaya gedhaṃ (jatukaṇṇīti bhagavā)
nekkhammaṃ daṭṭhu khemato
uggahitaṃ niratthaṃ vā
mā te vijjittha kiñcanaṃ.
 

11-3. (Đức Thế Tôn nói: “Này Jatukaṇṇī,) ngươi hăy dẹp bỏ sự thèm khát ở các dục để nh́n thấy sự xuất ly là an toàn. Dầu đă được nắm bắt hay đă được vứt bỏ, sự vướng bận chớ có hiện diện đối với ngươi.

Thế Tôn:
1098. Thế Tôn nói như sau:
Hỡi Ja-tu-kan-ni!
Hăy nhiếp phục ḷng tham,
Đối với các dục vọng;
Hăy nh́n hạnh xuất ly,
Đưa đến sự an ổn;
Chớ chấp chờ, từ bỏ,
Sự vật ǵ ở đời.

Trang 38:

 

Trang 39:

 

 

11-4. Yaṃ pubbe taṃ visosehi
pacchā te māhu kiñcanaṃ
majjhe ce no gahessasi
upasanto carissasi.

 

11-4. Điều (ô nhiễm) nào trước đây (quá khứ), ngươi hăy làm khô héo điều ấy. Chớ có bất cứ điều (ô nhiễm) ǵ sanh khởi đến ngươi sau này (vị lai). Nếu ngươi sẽ không nắm lấy (điều ǵ) ở khoảng giữa (hiện tại), ngươi sẽ sống, được an tịnh.

1099. Những ǵ có trước Ông,
Hăy làm nó khô cạn,
Đừng có sự vật ǵ,
Ở phía đàng sau Ông,
Ở giữa, Ông không chấp,
Ông sẽ sống an tịnh.

11-5. Sabbaso nāmarūpasmiṃ
vītagedhassa brāhmaṇa
āsavāssa na vijjanti
yehi maccuvasaṃ vaje ”ti.
 

11-5. Này Bà-la-môn, đối với vị đă xa ĺa sự thèm khát ở danh và sắc về mọi phương diện, đối với vị này các lậu hoặc không hiện hữu, bởi v́ chúng, con người rơi vào sự thống trị của Tử thần.”

1100. Hỡi này Bà-la-môn!
Đối với danh và sắc,
Hoàn toàn không tham đắm,
Không có các lậu hoặc,
Chính do lậu hoặc này,
Bị thần chết chi phối.

 

Jatukaṇṇīmāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Jatukaṇṇī.

 

 

 
 

12. BHADRĀVUDHAMĀṆAVAPUCCHĀ

 

 

12. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN BHADRĀVUDHA

 

 

(XIII) Câu hỏi của thanh niên Bhadràvudha

 

12-1. Okaṃ jahaṃ taṇhacchidaṃ anejaṃ (iccāyasmā bhadrāvudho)
nandiṃ jahaṃ oghatiṇṇaṃ vimuttaṃ
kappaṃ jahaṃ abhiyāce sumedhaṃ
sutvāna nāgassa apanamissanti ito.

 

12-1. (Tôn giả Bhadrāvudha nói rằng:) “Con khẩn cầu bậc khôn ngoan, bậc từ bỏ chỗ trú ngụ, bậc cắt đứt tham ái, bậc không c̣n dục vọng, bậc từ bỏ niềm vui, bậc đă vượt qua ḍng lũ, bậc đă được giải thoát, bậc từ bỏ sự sắp đặt (do tham ái và tà kiến). Sau khi lắng nghe bậc Long Tượng, từ đây họ sẽ ra đi.  

Bhadràvudha:
1101. Bha-đra-vu-đa nói:
Con có lời yêu cầu,
Bậc Thiện Tuệ nói lên,
Bậc bỏ nhà, đoạn ái,
Bất động, bỏ hỷ ái,
Giải thoát, vượt bộc lưu,
Thời gian, không chi phối,
Nghe xong, bậc Long tượng,
Từ đây, họ ra đi.

(Kinh Tập, chương V)

12-2. Nānā janā janapadehi saṅgatā
tava vīra vākyaṃ abhikaṅkhamānā
tesaṃ tuvaṃ sādhu viyākarohi
tathā hi te vidito esa dhammo.

 

12-2. Trong khi mong mỏi lời nói của Ngài, thưa bậc anh hùng, vô số người từ các xứ sở đă tụ hội lại. Xin Ngài hăy khéo léo giải thích cho họ, bởi v́ pháp này đă được Ngài biết đúng theo bản thể.”  

1102. Quần chúng sai biệt ấy,
Từ quốc độ tụ họp,
Họ ao ước khát vọng,
Được nghe lời của Ngài,
Ôi anh hùng chiến thắng,
Ngài hăy khéo trả lời,
Pháp Ngài dạy thế này,
Như vậy họ hiểu biết.

12-3. Ādānataṇhaṃ vinayetha sabbaṃ (bhadrāvudhāti bhagavā)
uddhaṃ adho tiriyaṃ cāpi majjhe
yaṃ yaṃ hi lokasmiṃ upādiyanti
teneva māro anveti jantuṃ.

 
12-3. (Đức Thế Tôn nói: “Này Bhadrāvudha,) nên dẹp bỏ mọi sự nắm giữ và tham ái ở bên trên, bên dưới, luôn cả bề ngang và khoảng giữa. Bởi v́, mỗi một điều ǵ họ chấp thủ ở thế gian, do chính điều ấy Ma Vương theo đuổi loài người.  

Thế Tôn:
1103. Thế Tôn nói như sau:
Này Bha-đra-vu-đa!
Hăy nhiếp phục tất cả,
Mọi tham ái chấp thủ,
Trên, dưới cả bề ngang,
Và kể luôn chặng giữa,
Những ai có chấp thủ,
Sự ǵ ở trong đời,
Chính do sự việc ấy,
Ác ma theo người ấy.

12-4. Tasmā pajānaṃ na upādiyetha
bhikkhu sato kiñcanaṃ sabbaloke
ādānasatte iti pekkhamāno
pajaṃ imaṃ maccudheyye visattan ”ti.
 

12-4. Bởi vậy, trong khi nhận biết, vị tỳ khưu, có niệm, không nên chấp thủ bất cứ điều ǵ ở khắp thế gian, trong khi xem xét chúng sanh bị dính mắc ở sự nắm giữ, nhân loại này bị vướng mắc ở lănh địa của Thần Chết.”
 

1104. Do vậy, bậc hiểu biết,
Không có chấp thủ ǵ,
Tỷ-kheo giữ chánh niệm,
Trong tất cả thế giới,
Phàm có sở hữu ǵ,
Vị ấy không mong ước,
Nh́n xem quần chúng này,
Là chúng sanh chấp thủ,
Trong lănh vực của Ma,
Bị tham dính chấp trước.

 

Bhadrāvudhamāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Bhadrāvudha.

 

 

 

 

Trang 0:

 

Trang 41:

 

 

 

13. UDAYAMĀṆAVAPUCCHĀ

 

 

13. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN UDAYA

 

 

(XIV) Câu hỏi của thanh niên Udaya

 

13-1. Jhāyiṃ virajamāsīnaṃ (iccāyasmā udayo)
katakiccaṃ anāsavaṃ
pāraguṃ sabbadhammānaṃ
atthi pañhena āgamaṃ
aññāvimokkhaṃ pabrūhi
avijjāya pabhedanaṃ.
 

13-1. (Tôn giả Udaya nói rằng:) “Với ư định (hỏi) câu hỏi, con đă đi đến bậc có thiền chứng, không c̣n bụi bặm, đang ngồi, bậc đă làm xong phận sự, không c̣n lậu hoặc, đă đi đến bờ kia của tất cả các pháp, xin ngài hăy nói về sự giải thoát do trí giác ngộ, về sự phá vỡ vô minh.

Udaya:
1105. Tôn giả U-da-ya:
Con đến với câu hỏi,
Về tất cả mọi pháp,
Để hỏi bậc tu thiền,
Bậc an tọa không bụi;
Trách nhiệm đă làm xong,
Bậc không có lậu hoặc,
Đă đạt bờ bên kia,
Hăy nói trí giải thoát
Để phá hoại vô minh.

(Kinh Tập, chương V)

13-2. Pahānaṃ kāmacchandānaṃ (udayāti bhagavā)
domanassāna cūbhayaṃ
thīnassa ca panūdanaṃ
kukkuccānaṃ nivāraṇaṃ.
 

13-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Udaya,) sự dứt bỏ đối với những mong muốn về dục và những nỗi ưu phiền, cả hai loại, việc xua đi sự dă dượi, và việc che lấp các trạng thái hối hận.

 

Thế Tôn:
1106. Đây lời Thế Tôn nói:
Hỡi này U-đa-ya,
Đoạn ước muốn, dục vọng,
Và cả hai loại ưu,
Và trừ bỏ hôn trầm,
Ngăn chận mọi hối hận.

13-3. Upekkhāsatisaṃsuddhaṃ
dhammatakkapurejavaṃ
aññāvimokkhaṃ pabrūmi
avijjāya pabhedanaṃ.
 

13-3. Ta nói về sự giải thoát do trí giác ngộ, về sự phá vỡ vô minh có xả và niệm hoàn toàn trong sạch, có sự suy tầm đúng pháp đi trước.”

1107. Ta nói trí giải thoát,
Để phá hoại vô minh,
Thanh tịnh nhờ xả niệm,
Suy tư pháp đi trước.

13-4. Kiṃ su saṃyojano loko (iccāyasmā udayo)
kiṃ su tassa vicāraṇaṃ
kissassa vippahānena
nibbānamiti vuccati.

 

13-4. (Tôn giả Udaya nói rằng:) “Thế gian có cái ǵ là sự ràng buộc? Cái ǵ, đối với nó, là phương tiện xem xét? Do ĺa bỏ cái ǵ được gọi là ‘Niết Bàn’?”

 

Udaya:
1108. Đời cái ǵ trói buộc,
Cái ǵ, đời vận hành?
Do đoạn được cái ǵ,
Được gọi là Niết-bàn?

13-5. Nandisaṃyojano loko (udayāti bhagavā)
vitakkassa vicāraṇā
taṇhāya vippahānena
nibbānaṃ iti vuccati.

 

13-5. (Đức Thế Tôn nói: “Này Udaya,) Thế gian có vui thích là sự ràng buộc. Suy tầm, đối với nó, là phương tiện xem xét. Do ĺa bỏ tham ái được gọi là ‘Niết Bàn.’”

 

Thế Tôn:
1109. Đời bị hỷ trói buộc,
Suy tầm là sở hành,
Do đoạn được khát ái,
Được gọi là Niết-bàn.

13-6. Kathaṃ satassa carato (iccāyasmā udayo)
viññāṇaṃ uparujjhati
bhagavantaṃ puṭṭhumāgamma
taṃ suṇoma vaco tava.

 

13-6. (Tôn giả Udaya nói rằng:) “Như thế nào đối với vị có niệm, trong lúc thực hành, thức (của vị ấy) được đ́nh chỉ? Chúng con đă đi đến để hỏi đức Thế Tôn, hăy cho chúng con nghe lời nói ấy của Ngài.”

Udaya:
1110. Người sở hành chánh niệm,
Thức được diệt thế nào?
Con đến hỏi Thế Tôn,
Nghe lời Thế Tôn nói.

13-7. Ajjhattaṃ ca bahiddhā ca
vedanaṃ nābhinandato
evaṃ satassa carato
viññāṇaṃ uparujjhatī ”ti.
 

13-7. “Đối với vị không thích thú cảm thọ ở nội phần và ngoại phần, đối với vị có niệm như vậy, trong lúc thực hành, thức (của vị ấy) được đ́nh chỉ.”

Thế Tôn:
1111. Ai không có hoan hỷ,
Với nội và ngoại thọ,
Sở hành chánh niệm vậy,
Thức đạt được hoại diệt.

 

Udayamāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Udaya.

 

 

Trang 42:

 

Trang 43:

 

 

 

14. POSĀLAMĀṆAVAPUCCHĀ

 

 

14. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN POSĀLA

 

 

(XV) Câu hỏi của thanh niên Posàla

 

14-1. Yo atītaṃ ādisati (iccāyasmā posālo)
anejo chinnasaṃsayo
pāraguṃ sabbadhammānaṃ
atthi pañhena āgamaṃ.

 

14-1. (Tôn giả Posāla nói rằng:) “Với ư định (hỏi) câu hỏi, con đă đi đến gặp bậc đă ngự đến bờ kia của tất cả các pháp, vị chỉ ra thời quá khứ, không c̣n dục vọng, đă cắt đứt sự nghi ngờ.

Posàla:
1112. Tôn giả Po-sa-la:
Vị nói về quá khứ,
Bất động nghi hoặc đoạn,
Đă đến bờ bên kia,
Con đến với câu hỏi
Hỏi về hết thảy pháp.

(Kinh Tập, chương V)

14-2. Vibhūtarūpasaññissa
sabbakāyappahāyino
ajjhattaṃ ca bahiddhā ca
natthi kiñcīti passato
ñāṇaṃ sakkānupucchāmi
kathaṃ neyyo tathāvidho.

 

14-2. Đối với vị có sắc tưởng đă không c̣n, có sự dứt bỏ toàn bộ về thân, đang nh́n thấy nội phần và ngoại phần là ‘không có ǵ,’ thưa vị ḍng Sakya, con hỏi thêm về trí (của vị ấy); vị thuộc hạng như thế ấy nên được hướng dẫn thế nào?”
 

1113. Với ai, sắc tưởng diệt,
Đoạn tận hết thảy thân,
Nh́n thấy nội và ngoại,
Thật sự không có ǵ,
Con hỏi bậc Thích-ca,
Thế nào người như vậy,
Có thể bị dắt dẫn?

14-3. Viññāṇaṭṭhitiyo sabbā (posālāti bhagavā)
abhijānaṃ tathāgato
tiṭṭhantamenaṃ jānāti
dhimuttaṃ tapparāyaṇaṃ.

 

14-3. (Đức Thế Tôn nói: “Này Posāla,) trong khi biết rơ tất cả các chỗ trú của thức, đức Như Lai biết vị ấy đang trú (ở đâu), bị thiên về (điều ǵ), có điều ấy là mục tiêu.

Thế Tôn:
1114. Thế Tôn bèn đáp rằng:
Hỡi này Pô-sa-la,
Như Lai được thắng trí,
Tất cả nhờ thức trú,
Rơ biết vị an trú,
Giải thoát, đạt cứu cánh.

14-4. Ākiñcaññā sambhavaṃ ñatvā
nandi saṃyojanaṃ iti
evametaṃ abhiññāya
tato tattha vipassati
etaṃ ñāṇaṃ tathā tassa
brāhmaṇassa vusīmato ”ti.
 

14-4. Sau khi biết được nguồn sanh khởi của Vô Sở Hữu, (biết được) rằng: ‘sự ràng buộc bởi vui thích,’ sau khi biết rơ điều ấy như vậy, từ đó nh́n thấy rơ nơi ấy; đây là trí như thật của vị ấy, của vị Bà-la-môn đă sống hoàn hảo.”
 

1115. Biết được sự tác thành,
Thuộc về vô sở hữu,
Biết hỷ là kiết sử,
Do thắng tri như vậy,
Tại đấy, thấy như vậy,
Đây là trí như thật,
Của vị Bà-la-môn,
Đă thành tựu Phạm hạnh.

 

Posālamāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Posāla.

.

 

 

 

 

15. MOGHARĀJAMĀṆAVAPUCCHĀ

 

 

15. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN MOGHARĀJA

 

 

(XVI) Câu hỏi của thanh niên Mogharàja

 

15-1. Dvāhaṃ sakkaṃ apucchissaṃ (iccāyasmā mogharājā)
na me vyākāsi cakkhumā
yāva tatiyaṃ ca devisī
vyākarotīti me sutaṃ.
 

15-1. (Tôn giả Mogharāja nói rằng:) “Con đă hỏi vị ḍng Sakya hai lần. Bậc Hữu Nhăn đă không giải đáp cho con. Và con đă được nghe rằng: ‘(Được hỏi) đến lần thứ ba, bậc Thiên Nhân Ẩn Sĩ (sẽ) giải đáp.’

 

Mogharàja:
1116. Mo-gha-rà-ja nói:
Đă hai lần con hỏi,
Bậc có mắt, họ Thích,
Ngài chưa trả lời con,
Nhưng con được nghe rằng,
Cho đến lần thứ ba,
Vị Thiên nhân ẩn sĩ,
Sẽ trả lời cho con.

(Kinh Tập, chương V)

Trang 44:

 

Trang 45:

 

 

15-2. Ayaṃ loko paro loko
brahmaloko sadevako
diṭṭhinte nābhijānāti
gotamassa yasassino.

 

15-2. Thế giới này, thế giới khác, thế giới Phạm Thiên luôn cả chư Thiên không (thể) biết rơ quan điểm của Ngài, của vị Gotama có danh tiếng.

 

1117. Đời này và đời sau,
Phạm thiên giới, thiên giới,
Con không rơ quan điểm,
Gotama lừng danh.

15-3. Evaṃ abhikkantadassāviṃ
atthi pañhena āgamaṃ
kathaṃ lokaṃ avekkhantaṃ
maccurājā na passati.

 

15-3. Con đă đi đến bậc có nhăn quan vượt trội như vậy với ư định (hỏi) câu hỏi: Người đang xem xét thế gian như thế nào th́ Tử Thần không nh́n thấy (người ấy)?”

 

1118. Vị thầy được thù diệu,
Con đến với câu hỏi,
Cần nh́n đời thế nào,
Để thần chết không thấy.

15-4. Suññato lokaṃ avekkhassu
mogharāja sadā sato
attānudiṭṭhiṃ ūhacca
evaṃ maccutaro siyā
evaṃ lokaṃ avekkhantaṃ
maccurājā na passatī ”ti.
 

 

Thế Tôn:
1119. Này Mô-gha-ra-ja,
Hăy nh́n đời trống không,
Luôn luôn giữ chánh niệm,
Nhô lên ngă tùy kiến,
Như vậy vượt tử vong,
Hăy nh́n đời như vậy,
Thần chết không thấy được.

 

Mogharājamāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Mogharāja.

 

 

 

 

 

16. PIṄGIYAMĀṆAVAPUCCHĀ

 

 

16. CÂU HỎI CỦA THANH NIÊN PIṄGIYA

 

 

(XVII) Câu hỏi của thanh niên Pingiya

 

16-1. Jiṇṇo ’hamasmi abalo vītavaṇṇo (iccāyasmā piṅgiyo)
nettā na suddhā savaṇaṃ na phāsu
māhaṃ nassaṃ momuho antarāva
ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ
jātijarāya idha vippahānaṃ.
 

 

Pingiya:
1120. Tôn giả Pin-gi-ya:
Con đă già, yếu đuối,
Không c̣n có dung sắc,
Mắt không thấy rơ ràng,
Tai không nghe thông suốt,
Để con khỏi mệnh chung,
Với tâm tư si ám,
Mong Ngài nói Chánh pháp,
Nhờ rơ biết pháp ấy,
Chính tại ở đời này,
Con đoạn tận sanh già.

(Kinh Tập, chương V)

16-2. Disvāna rūpesu vihaññamāne (piṅgiyāti bhagavā)
ruppanti rūpesu janā pamattā
tasmā tuvaṃ piṅgiya appamatto
jahassu rūpaṃ apunabbhavāya.
 

 

Thế Tôn:
1121. Thế Tôn đáp lại rằng:
Hỡi này Pin-gi-ya,
Thấy được sự tác hại,
Trong các loại sắc pháp,
Chúng sanh sống phóng dật,
Bị phiền lụy trong sắc,
Do vậy, Pin-gi-ya,
Ông chớ có phóng dật,
Hăy từ bỏ sắc pháp
Chớ đi đến tái sanh.

Trang 46:

 

Trang 47:

 

 

16-3. Disā catasso vidisā catasso (iccāyasmā piṅgiyo)
uddhaṃ adho dasadisā imāyo
na tuyhaṃ adiṭṭhaṃ asutaṃ amutaṃ
atho aviññātaṃ kiñci natthi loke
ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ
jātijarāya idha vippahānaṃ.

 

 

Pingiya:
1122. Bốn phương chính, bốn phụ,
Cộng thêm trên và dưới,
Như vậy có mười phương,
Và trong thế giới này,
Không có sự việc ǵ,
Mà Ngài không được thấy,
Không nghe, không nghĩ đến,
Và không được thức tri,
Hăy nói đến Chánh pháp,
Nhờ rơ biết pháp này,
Con ngay tại đời này,
Đoạn tận được sanh già.

16-4. Taṇhādhipanne manuje pekkhamāno (piṅgiyāti bhagavā)
santāpajāte jarasā parete
tasmā tuvaṃ piṅgiya appamatto
jahassu taṇhaṃ apunabbhavāyā ”ti.
 

 

Thế Tôn:
1123. Thế Tôn nói như sau:
Hỡi này Pin-gi-ya!
Thấy chúng sanh loài Người,
Rơi vào trong khát ái,
Bị già nua đốt cháy,
Bị già nua chinh phục
Do vậy, Pin-gi-ya,
Ông chớ có phóng dật
Hăy từ bỏ khát ái,
Không c̣n bị tái sanh.

 

Piṅgiyamāṇavapucchā niṭṭhitā.

 

 

Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Piṅgiya.

 

 

 

 

 

*****

 

 

*****

 

 

(XVIII) Kết luận

 

Idamavoca bhagavā magadhesu viharanto pāsāṇake cetiye paricārakasoḷasānaṃ brāhmaṇānaṃ ajjhiṭṭho puṭṭho puṭṭho pañhaṃ vyākāsi. Ekamekassa cepi pañhassa atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammaṃ paṭipajjeyya gaccheyyeva jarāmaraṇassa pāraṃ. Pāraṃ gamanīyā ime dhammā ti tasmā imassa dhammapariyāyassa pārāyanaṃtveva adhivacanaṃ.

 

Thế Tôn nói như vậy. Trong khi ở tại Magadha, tại điện Phà-xa-na-ka, Thế Tôn được mười sáu Bà-la-môn đệ tử của Bàvani t́m đến, được hỏi nhiều câu hỏi và Ngài đă trả lời. Nêu từng câu hỏi một, sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp và tùy pháp, th́ có thể đi đến bờ bên kia của già chết. Những pháp này có thể đưa người qua bờ bên kia, cho nên pháp môn này cũng được gọi là Pàràyanam: "Con đường đưa đến bờ bên kia".
(Kinh Tập, chương V)

1. Ajito tissametteyyo - puṇṇako atha mettagū
dhotako upasīvo ca - nando ca atha hemako.

 

 

1124. Phạm chí Ajita,
Tissa-Met-tayya,
Phạm chí Pun-na-ka,
Cùng với Met-ta-gù,
Thanh niên Dhotaka,
Và Upasiva,
Nan-đa, He-ma-ka,
Cả hai vị thanh niên.

2. Todeyyakappā dubhayo - jatukaṇṇī ca paṇḍito
bhadrāvudho udayo ca - posālo cāpi brāhmaṇo
mogharājā ca medhāvī - piṅgiyo ca mahāisi.

 

 

1125. To-dey-ya, Kap-pà;
Và Ja-tu-kha-ni,
Với Bhad-rà-vu-dha
Phạm chí U-da-ya
Phạm chí Po-sà-la,
Với Mo-gha-rà-ja
Là bậc đại Hiền trí,
Cùng với bậc đại sĩ,
Tên là Pin-gi-ya.

3. Ete buddhaṃ upāgañchuṃ - sampannacaraṇaṃ isiṃ
pucchantā nipuṇe pañhe - buddhaseṭṭhaṃ upāgamuṃ.

 

 

1126. Những vị này đi đến,
Đức Phật, bậc Tiên nhân,
Bậc hạnh đức đầy đủ,
Những vị này đi đến,
Bậc giác ngộ tối thượng,
Hỏi câu hỏi tế nhị.

4. Tesaṃ buddho vyākāsi - pañhe puṭṭho yathātathaṃ
pañhānaṃ veyyākaraṇena - tosesi brāhmaṇe muni.

 

 

1127. Đức Phật đă như thật,
Trả lời các vị ấy,
Tùy theo các câu hỏi,
Và bậc đại ẩn sĩ
Trả lời những câu hỏi,
Khiến các Bà-la-môn,
Được hoan hỷ vui thích.

Trang 48:

 

Trang 49:

 

 

5. Te tositā cakkhumatā - buddhenādiccabandhunā
brahmacariyamacariṃsu - varapaññassa santike.

 

 

1128. Họ được vui, hoan hỷ,
Nhờ Phật, bậc có mắt,
Nhờ bà con mặt trời,
Họ hành tŕ Phạm hạnh,
Dưới chỉ đạo hướng dẫn,
Bậc trí tuệ tuyệt diệu.

6. Ekamekassa pañhassa - yathā buddhena desitaṃ
tathā yo paṭipajjeyya - gacche pāraṃ apārato.

 

 

1129. Theo từng câu hỏi một,
Tùy đức Phật thuyết giảng,
Ai như vậy hành tŕ,
Đi được từ bờ này,
Đến được bờ bên kia.

7. Apārā pāraṃ gaccheyya - bhāvento maggamuttamaṃ
maggo so pāraṃ gamanāya - tasmā pārāyanaṃ iti.

 

 

1130. Đi được từ bờ này,
Đến được bờ bên kia,
Tu tập đạo vô thượng,
Và chính con đường ấy,
Đưa đến bờ bên kia,
Do vậy được tên gọi,
Con đường đến bờ kia.

 

 

Rồi Tôn giả Pingiya đi về Godhàvari và nói lại với Bà-la-môn Bàvari những điều đă xảy ra.

8. Pārāyanamanugāyissaṃ (iccāyasmā piṅgiyo)
yathā addakkhi tathā akkhāsi
vimalo bhūrimedhaso
nikkāmo nibbano nāgo
kissa hetu musā bhaṇe.

 

 

Pingiya:
1131. Tôn giả Pin-gi-ya:
Con sẽ đọc tụng lên
Con đường đến bờ kia,
Ngài được thấy thế nào,
Ngài nói lên thế ấy,
Bậc vô cấu, quảng trí,
Bậc lănh đạo không dục,
Bậc Niết-bàn an tịnh,
Làm sao do nhân ǵ,
Ngài nói điều không thật.

9. Pahīnamalamohassa
mānamakkhappahāyino
handāhaṃ kittayissāmi
giraṃ vaṇṇūpasaṃhitaṃ.

 

 

1132. Bậc đă đoạn trừ hết,
Uế nhiễm và si mê,
Bậc đă diệt trừ sạch,
Kiêu mạn và gièm pha,
Con sẽ nói tán thán,
Âm thanh vi diệu ấy.

10. Tamonudo buddho samantacakkhu
lokantagū sabbabhavātivatto
anāsavo sabbadukkhappahīno
saccavhayo brahme upāsito me.

 

 

1133. Bậc quét sạch u ám,
Phật-đà, bậc Biến nhăn,
Đă đến, tận cùng đời,
Đă vượt qua sanh hữu,
Bậc không có lậu hoặc,
Đoạn tận mọi đau khổ,
Vị được gọi sự thật,
Hỡi vị Bà-la-môn,
Con được hầu vị ấy.

11. Dvijo yathā kubbanakaṃ pahāya
bahupphalaṃ kānanamāvaseyya
evaṃ pahaṃ appadasse pahāya
mahodadhiṃ haṃsarivajjhapatto.

 

 

1134. Như chim bỏ rừng hoang,
Đến ở rừng nhiều trái,
Cũng vậy con từ bỏ,
Những bậc thấy nhỏ nhen,
Con đạt đến biển lớn,
Chẳng khác con thiên nga.

12. Ye me pubbe viyākaṃsu
huraṃ gotamasāsanā
iccāsīti bhavissati
sabbaṃ taṃ itihītihaṃ
sabbaṃ taṃ takkavaḍḍhanaṃ.
 

 

1135. Những ai trong đời khác,
Đă nói cho con nghe,
Lời dạy bậc Cù-đàm
Như vậy đă xảy ra,
Như vậy sẽ xảy đến,
Tất cả là tin đồn,
Chỉ làm tăng nghi ngờ.

Trang 50:

 

Trang 51:

 

 

13. Eko tamanudāsīno
jutimā so pabhaṅkaro
gotamo bhūripaññāṇo
gotamo bhūrimedhaso.

 

 

1136. Chỉ một vị an trú,
Quét sạch các hắn ám,
Sanh trưởng gia đ́nh quư,
Vị ấy chiếu hào quang,
Cù-đàm, bậc quảng tuệ,
Cù-đàm, bậc quảng trí.

14. Yo me dhammamadesesi
sandiṭṭhikamakālikaṃ
taṇhakkhayamanītikaṃ
yassa natthi upamā kvaci.

 

 

1137. Ai thuyết pháp cho con,
Pháp thiết thực hiện tại,
Đến ngay không chờ đợi,
Ái diệt, vượt đau khổ,
Vị ấy không ai sánh.

15. Kinnu tamhā vippavasasi
muhuttamapi piṅgiya
gotamā bhūripaññāṇā
gotamā bhūrimedhasā.

 

 

Bàvari:
1138. Hỡi này Pin-gi-ya,
Sao Ông lại không thể,
Sống xa lánh vị ấy,
Chỉ trong một chốc lát,
Bậc Cù-đàm quảng tuệ,
Bậc Cù-đàm quảng trí,

16. Yo te dhammamadesesi
sandiṭṭhikamakālikaṃ
taṇhakkhayamanītikaṃ
yassa natthi upamā kvaci.

 

 

1139. Vị thuyết pháp cho người,
Pháp thiết thực hiện tại,
Đến ngay không chờ đợi,
Ái diệt, vượt đau khổ,
Vị ấy không ai sánh.

17. Nāhaṃ tamhā vippavasāmi
muhuttamapi brāhmaṇa
gotamā bhūripaññāṇā
gotamā bhūrimedhasā.
 

 

Pingiya:
1140. Hỡi này Bà-la-môn,
Con không có thể được,
Sống xa lánh vị ấy
Chỉ trong một chốc lát,
Gotama quảng tuệ,
Gotama quảng trí.

18. Yo me dhammamadesesi
sandiṭṭhikamakālikaṃ
taṇhakkhayamanītikaṃ
yassa natthi upamā kvaci.

 

 

1141. Vị thuyết pháp cho con,
Pháp thiết thực hiện tại,
Đến ngay không chờ đợi,
Ái diệt, vượt đau khổ,
Vị ấy không ai sánh.

19. Passāmi naṃ manasā cakkhunā va
rattiṃ divaṃ brāhmaṇa appamatto
namassamāno vivasemi rattiṃ
teneva maññāmi avippavāsaṃ.
 

 

1142. Chính con thấy vị ấy,
Với ư, với con mắt,
Ngày đêm không phóng dật,
Kính thưa Bà-la-môn,
Con trải qua suốt đêm
Đảnh lễ, kính vị ấy,
Do vậy con nghĩ rằng,
Con không xa vị ấy.

Trang 52:

 

Trang 53:

 

 

20. Saddhā ca pītī ca mano satī ca
nāpenti me gotamasāsanamhā
yaṃ yaṃ disaṃ vajati bhūripañño
sa tena teneva natohamasmi.

 

 

1143. Với tín và với hỷ,
Với ư luôn chánh niệm,
Không làm con xa rời,
Lời dạy Gotama!
Chính tại phương hướng nào,
Bậc quảng tuệ đi đến,
Chính ở phương hướng ấy,
Con được dắt dẫn đến.

21. Jiṇṇassa me dubbalathāmakassa
teneva kāyo na paleti tattha
saṃkappayattāya vajāmi niccaṃ.
mano hi me brāhmaṇa tena yutto.

 

 

1144. Với con tuổi đă già,
Yếu đuối, không sức mạnh,
Do vậy thân thể này,
Không đến được chỗ ấy,
Với tâm tư quyết chí,
Con thường hằng đi đến.
V́ rằng thưa Phạm chí,
Ư con cột vị ấy.

22. Paṅke sayāno pariphandamāno
dīpā dīpaṃ uppalaviṃ
athaddasāsiṃ sambuddhaṃ
oghatiṇṇamanāsavaṃ.

 

 

1145. Nằm dài trong vũng bùn,
Vùng vẫy, vật qua lại,
Con đă bơi qua lại,
Đảo này đến đảo khác,
Con đă thấy đức Phật,
Vượt bộc lưu, vô lậu.

 

 

Đến đây, khi chúng đang nói, đức Phật hiện ra và nói:

23. Yathā ahu vakkali muttasaddho
bhadrāvudho āḷavi gotamo ca
evameva tvampi pamuñcassu saddhaṃ
gamissasi tvaṃ piṅgiya maccudheyyassa pāraṃ.



 

 

Thế Tôn:
1146. Cũng như Vak-ka-li
Nhờ tin, được giải thoát,
Với Bhad-rà-vu-dha,
A-la-vi, Cù-đàm,
Cũng vậy, Ông đă được,
Giải thoát nhờ ḷng tin.
Hỡi này Pin-gi-ya,
Ông sẽ đi đến được,
Đến được bờ bên kia,
Của thế giới thần chết.

24. Esa bhīyo pasīdāmi
sutvāna munino vaco
vivattacchaddo sambuddho
akhilo paṭibhānavā.

 

 

Pingiya:
1147. Được nghe lời ẩn sĩ,
Con tăng trưởng tịnh tín,
Bậc Chánh đẳng Chánh giác,
Đă vén lên tấm màn,
Không cứng cỏi, biện tài.

25. Adhideve abhiññāya
sabbaṃ vedi parovaraṃ
pañhānantakaro satthā
kaṅkhīnaṃ paṭijānataṃ.

 

 

1148. Thắng tri các chư Thiên,
Biết tất cả cao thấp,
Bậc Đạo Sư chấm dứt,
Tất cả các câu hỏi,
Với những ai tự nhận,
C̣n có chỗ nghi ngờ.

26. Asaṃhīraṃ asaṃkuppaṃ
yassa natthi upamā kvaci
addhā gamissāmi na mettha kaṅkhā
evaṃ maṃ dhārehi adhimuttacittan ”ti.

 

 

1149. Không run rẩy, dao động,
Không ai có thể sánh,
Chắc chắn con sẽ đi,
Tại đây, con không nghi,
Như vậy, thọ tŕ Ta
Như tâm người tín giải.

 

Piṅgiyasuttantaṃ soḷasi.

 

Pārāyanavaggo niṭṭhito.

 

   

Phẩm "Con đường đi đến bờ bên kia " đă xong.

 

<Trang Trước>

<Trang Kế>

 

<Đầu Trang>