Trang Chính

Trang Các Bản Dịch Mới

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

PETAVATTHUPĀḶI & CHUYỆN NGẠ QUỶ

 

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. TIỂU PHẨM

 

3. 1

 

392. “Ngươi di chuyển ở đây, nơi con sông Gaṅgā, không làm (mặt) nước bị vỡ ra. Ngươi lơa lồ, nửa phần bên trên không giống ngạ quỷ, có mang tràng hoa, đă được trang điểm. Này ngạ quỷ, ngươi sẽ đi đâu? Chỗ trú ngụ sẽ là nơi nào?”

 

393. Ngạ quỷ ấy nói rằng: ‘Tôi sẽ đi đến Cundatthika, ở trong khoảng đường đi đến làng vāsabha, và ở vùng phụ cận của Bārāṇasī.’[1]

 

394. Và sau khi nh́n thấy ngạ quỷ ấy, viên quan đại thần nổi tiếng tên Koliya đă bố thí đến ngạ quỷ ấy bánh lúa mạch, thức ăn, và hai xấp vải màu vàng.

 

395. Khi con thuyền đang dừng lại, viên quan đại thần đă bảo cho (các vật trên) đến người thợ cạo; khi đă được ban phát đến người thợ cạo th́ ngay lập tức (các vật thí) được thấy ở (cơ thể của) ngạ quỷ.

 

396. Do đó, (ngạ quỷ) được mặc vải đẹp, có mang tràng hoa, đă được trang điểm. Sự cúng dường được đặt đúng chỗ đă có lợi ích đến ngạ quỷ ấy. Bởi thế, v́ ḷng thương tưởng quư vị nên bố thí đến các ngạ quỷ lần này đến lần khác.

 

397. Một số có sự ăn mặc rách rưới, một số khác che đậy bằng mái tóc, các ngạ quỷ di chuyển, ra đi hướng này hướng khác v́ thức ăn.

 

398. Một số chạy đi đến các nơi xa, không được thọ lănh, đă quay trở lại, bị đói, bị choáng váng, lảo đảo, quỵ xuống ở mặt đất.

 

399. Tại nơi ấy, một số nào đó bị té ngă, quỵ xuống ở mặt đất, tựa như bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vào mùa hạ, do trong thời quá khứ đă không làm việc tốt lành.

 

400. ‘Chúng tôi, trong thời quá khứ, có bản tính xấu xa, là nữ gia chủ, là những người mẹ trong gia đ́nh; trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, chúng tôi đă không tạo lập ḥn đảo (nương nhờ) cho bản thân.

 

401. Ngay cả khi có nhiều cơm ăn nước uống thậm chí bị quăng bỏ, chúng tôi đă không bố thí bất cứ vật ǵ đến bậc xuất gia đă thực hành chân chánh.

 

402. Là những người ưa thích công việc sai trái, biếng nhác, ưa thích ngọt ngào, ham ăn, là những thí chủ cho thức ăn từng vắt nhỏ, chúng tôi mắng nhiếc những người nhận.

 

403. Những căn nhà ấy và những tớ gái ấy, luôn cả những vật trang sức ấy của chúng tôi, chúng phục vụ những người khác, c̣n chúng tôi lănh phần khổ đau.

 

404. (Khi hết thời hạn ngạ quỷ, được sanh làm người) họ là những thợ đan tre bị khinh rẻ, và những người thợ đóng xe gian dối, là những người hạ tiện nghèo khó, và là những người hầu tắm lần này đến lần khác.

 

405. Những gia đ́nh nào là hạ tiện và nghèo khó, họ sanh ra ngay ở những gia đ́nh ấy đấy; đây là phần số của những kẻ bỏn xẻn.

 

406. Những người nào, ngay trong thời quá khứ đă làm việc tốt lành, là những thí chủ đă xa ĺa sự bỏn xẻn, những người ấy làm cho cơi Trời được tràn ngập và vườn hoa Nandana được chiếu sáng.

 

407. Họ vui thích ở ṭa lâu đài Vejayanta, có dục lạc theo như ước muốn. Từ nơi đó chết đi, họ được sanh vào các gia tộc quư phái có của cải.

 

408. Ở ngôi nhà mái nhọn và ở ṭa lâu đài, ở chiếc ghế dài được trải tấm thảm len lông dài, các phần cơ thể (của họ) được quạt mát bởi những người cầm quạt lông công; được sanh ra ở gia đ́nh danh giá, họ là những người có danh tiếng.

 

409. Có mang tràng hoa, được trang điểm, họ di chuyển từ sự ẵm bồng này đến sự ẵm bồng khác; các vú nuôi hầu cận đêm ngày, t́m cách tạo sự thoải mái.

 

410. (Vườn hoa) không sầu muộn Nandana đáng yêu, khu vườn lớn ở cơi Ba Mươi (Ba), nơi này không dành cho những người đă không làm việc phước thiện, nơi này chỉ dành cho những người đă làm việc phước thiện.

 

411. Đối với những người đă không làm việc phước thiện, th́ không có sự an lạc ở đời này và đời sau; c̣n đối với những người đă làm việc phước thiện, th́ có sự an lạc ở đời này và luôn cả đời sau nữa.

 

412. Những người có ước muốn được cộng sự với các vị (chư Thiên) ấy cần phải làm nhiều việc thiện, bởi v́ những người đă làm việc phước thiện vui sướng ở cơi Trời, có đầy đủ của cải.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ Không Làm (Mặt) Nước Bị Vỡ Ra là thứ nhất.

 

3. 2

 

413. Vị trưởng lăo của thành phố Kuṇḍi có sự cư ngụ ở núi Sānuvāsī, có tên là Poṭṭhapāda, là vị Sa-môn có giác quan đă được tu tập.

 

414. Mẹ, cha, em trai của vị ấy bị đọa đày, thuộc cơi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đă đi đến thế giới ngạ quỷ.

 

415. Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lơa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ hăi, có nỗi sợ hăi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện h́nh cho thấy.

 

416. Người em trai của vị ấy, lơa lồ, một ḿnh trên lối đi bộ, quỳ chống hai tay, đă vội vă tiến đến và hiện h́nh ra cho vị trưởng lăo nh́n thấy.

 

417. Và vị trưởng lăo không để ư đến, có trạng thái im lặng, đă bước đi. Và người ấy đă cho vị trưởng lăo biết rằng: ‘Tôi là em trai, đă trở thành ngạ quỷ.

 

418. Thưa ngài, mẹ và cha của ngài bị đọa đày, thuộc cơi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đă đi đến thế giới ngạ quỷ.

 

419. Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lơa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ sệt, có nỗi sợ hăi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện h́nh cho thấy.

 

420. Là người có ḷng bi mẫn, xin ngài hăy thương xót. Xin ngài hăy bố thí rồi chỉ định (việc ấy là) dành cho chúng tôi. Nhờ vào vật thí đă được ngài bố thí, những kẻ có nghiệp ghê rợn sẽ được nuôi sống.’

 

421. Sau khi đi khất thực, vị trưởng lăo và mười hai vị tỳ khưu khác nữa đă tụ tập tại một chỗ với lư do phân chia vật thực.

 

422. Vị trưởng lăo đă nói với toàn bộ tất cả các vị ấy rằng: ‘Xin các vị hăy cho tôi phần đă nhận được, tôi sẽ thực hiện bữa ăn dâng đến Hội Chúng, v́ ḷng thương xót các thân quyến.’

 

423. Các vị đă trao cho vị trưởng lăo. Vị trưởng lăo đă thỉnh mời hội chúng. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lăo đă chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:

 

424. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định th́ vật thực đă được sanh lên ngay lập tức.

 

425. (Vật thực) là sạch sẽ, hảo hạng, được đầy đủ, có nước xúp với nhiều gia vị. Kế đó, người em trai đă hiện ra, có sắc vóc, có sức mạnh, có sự an lạc.

 

426. ‘Thưa ngài, có nhiều thức ăn rồi. Xin ngài hăy nh́n xem chúng tôi bị lơa lồ. Thưa ngài, xin ngài hăy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được vải vóc.’

 

427. Sau khi góp nhặt những mảnh vải rách từ nơi đống rác, vị trưởng lăo đă chế biến vải vụn thành y phục rồi dâng đến Hội Chúng bốn phương.

 

428. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lăo đă chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’

 

429. Khi được chỉ định th́ các vải mặc đă được sanh lên ngay lập tức. Kế đó, được mặc vải đẹp, (người em trai) đă hiện thân ra cho vị trưởng lăo nh́n thấy.

 

430. ‘Thưa ngài, các vải vóc ở lănh thổ của đức vua Nanda nhiều chừng nào, th́ các vải vóc và các y phục của chúng tôi c̣n nhiều hơn thế ấy.

 

431. Chúng bằng tơ lụa, sợi len, sợi lanh, và bông vải. Chúng dư thừa và có trị giá cao, hơn nữa chúng treo lủng lẳng ở không trung.

 

432. Chúng tôi đây chỉ khoác vào cái nào thích ư. Thưa ngài, xin ngài hăy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nhà ở.’

 

433. Sau khi làm cái cốc bằng lá, vị trưởng lăo đă dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lăo đă chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:

 

434. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định th́ các ngôi nhà đă được sanh lên ngay lập tức.

 

435. Những ngôi nhà mái nhọn và các chỗ ngụ là được phân chia thành từng phần cân xứng. Các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây như thế nào th́ ở loài người không giống như thế này.

 

436. Ở các cơi Trời như thế nào th́ các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây giống như thế ấy. Trong lúc tỏa sáng rực rỡ, chúng chiếu sáng bốn phương ở xung quanh.

 

437. ‘Thưa ngài, xin ngài hăy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nước uống.’ Sau khi làm đầy b́nh đựng nước, vị trưởng lăo đă dâng đến Hội Chúng bốn phương.

 

438. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lăo đă chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’

 

439. Khi được chỉ định th́ nước uống đă được sanh lên ngay lập tức. Có các hồ sen sâu thẳm, h́nh chữ nhật, đă khéo được hóa hiện ra.

 

440. Có nước trong, có những bến băi xinh đẹp, mát mẻ, có mùi thơm, được che phủ bởi nhiều loại sen hồng và sen xanh, tràn ngập nước và phấn hoa.

 

441. Sau khi tắm và uống nước ở nơi ấy, họ đă xuất hiện cho vị trưởng lăo thấy (nói rằng): ‘Thưa ngài, có nhiều nước uống rồi. Các bàn chân của chúng tôi bị nứt nẻ đau đớn.

 

442. Trong khi lang thang, chúng tôi đi khập khiễng ở nơi sỏi đá, ở gai nhọn của cỏ kusa. Thưa ngài, xin ngài hăy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được phương tiện di chuyển.’

 

443. Sau khi nhận được chiếc giày, vị trưởng lăo đă dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lăo đă chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:

 

444. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định th́ ngay lập tức các ngạ quỷ đă đi đến bằng cỗ xe.

 

445. ‘Thưa ngài đại đức, chúng tôi đă được thương xót với vật thực, với y phục, với ngôi nhà, với sự bố thí nước uống, với sự bố thí phương tiện di chuyển, và cả hai.[2] Thưa ngài, chúng tôi đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.’

 

Chuyện Ngạ Quỷ ở Núi Sānuvāsī là thứ nh́.

 

3. 3

 

446. “Hỡi nàng tiên có đại oai lực, sau khi bước lên cung điện có cây cột bằng ngọc bích, đáng yêu, rực rỡ, được tô điểm nhiều màu sắc, nàng ngụ ở nơi ấy, tựa như mặt trăng ngày rằm ở quỹ đạo của nó.[3]

 

447. Thêm nữa, nàng có màu da tương tự như vàng, có vóc dáng rạng rỡ đáng nh́n vô cùng. Nàng một ḿnh ngồi xuống ở chiếc ghế dài hạng nhất vô song, và nàng không có chồng.

 

448. Và ở xung quanh nàng có các hồ sen này với vô số bông hoa, với nhiều sen trắng, được phủ lên toàn bộ bằng bụi phấn vàng; ở nơi ấy bùn và lầy không t́m thấy.

 

449. Và các con chim thiên nga này, đáng nh́n, làm thích ư, bơi lội loanh quanh ở trong nước vào mọi lúc, sau khi tụ họp lại tất cả kêu vang một cách ngọt ngào, với âm giọng đầy đặn tựa như tiếng vang của những chiếc trống.

 

450. Này cô nàng có danh tiếng, trong lúc đang tỏa sáng rực rỡ nhờ vào danh tiếng, nàng nằm dài nghỉ ngơi ở trong con thuyền. Hỡi cô nàng có lông mi rậm, cười đùa, có lời nói yêu dấu, có sự xinh đẹp ở mọi phần thân thể, nàng vô cùng chói sáng.

 

451. Thiên cung này không bụi bặm, tọa lạc ở chỗ bằng phẳng, có vườn hoa, có sự tăng trưởng vui thú và hoan lạc. Hỡi cô nàng có dáng vóc tuyệt vời, ta muốn cùng nàng vui sướng ở nơi đây, tại vườn hoa Nandana.”

 

452. “Chàng hăy tạo nghiệp đưa đến cảm thọ ở nơi này, và tâm của chàng hăy tập trung ở nơi này, sau khi đă tạo nghiệp đưa đến cảm thọ ở nơi này, như vậy chàng sẽ đạt được (thiếp) người có dục lạc theo như ước muốn.”

 

453. “Tốt lắm!” Người ấy sau khi hứa hẹn với nàng ấy, đă tạo nghiệp đưa đến cảm thọ ở nơi ấy, sau khi đă tạo nghiệp đưa đến cảm thọ ở nơi ấy, người thanh niên ấy đă được sanh lên cộng trú với nàng ấy.[4]

 

Chuyện Ngạ Quỷ ở Hồ Rathakāra là thứ ba.[5]

 

TỤNG PHẨM THỨ NH̀.

 

3. 4

 

454. “Một người ăn các vỏ trấu của hạt lúa sāli, thêm một người khác nữa, và người đàn bà này ăn thịt và máu của ḿnh, c̣n ngươi ăn phân dơ bẩn, ghê tởm; đây là quả thành tựu của việc ǵ?”

 

455. “Người này trước đây đă hăm hại mẹ, c̣n người này lại là thương buôn gian xảo, người này sau khi ăn (vụng) các miếng thịt đă lừa gạt bằng lời nói dối.

 

456. Tôi, khi là con người ở cơi nhân loại, đă là nữ gia chủ, có quyền cai quản toàn bộ gia đ́nh. Trong khi có của cải, tôi đă cất giấu và chẳng bố thí bất cứ vật ǵ trong số đó.

 

457. Tôi đă che đậy bằng cách nói dối rằng: ‘Không có vật ấy trong nhà của tôi. Nếu vật ấy có và tôi thu giấu nó, th́ phân hăy là thức ăn của tôi.’

 

458. Do quả thành tựu của cả hai, của nghiệp ấy và của việc nói dối, bữa ăn gồm gạo sāli có mùi thơm biến đổi thành phân cho tôi.

 

459. Các nghiệp không phải là không kết quả, bởi v́ nghiệp không bị tiêu hoại; tôi ăn và uống phân có mùi thối tha đă sanh ḍi.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ Vỏ Trấu là thứ tư.

 

3. 5

 

460. Trí tuệ của đấng Thiện Thệ có bản chất kỳ diệu, bậc Đạo Sư đă giải thích theo từng cá nhân: Mặc dầu có phước báu dồi dào, nhiều người trở thành (hạ liệt), mặc dầu có phước báu ít ỏi, nhiều ngưởi trở thành (cao quư).

 

461. Đứa bé trai này, bị quăng bỏ ở băi tha ma, đă được nuôi dưỡng ban đêm nhờ vào dịch chất từ ngón tay. Dạ-xoa và quỷ sứ hay là các loài ḅ sát không thể quấy nhiễu đứa bé trai là người có phước báu đă tạo.

 

462. Ngay cả các con chó c̣n liếm hai bàn chân của đứa bé này, các con quạ, các con chó rừng di chuyển xung quanh, các bầy chim mang đi chất nhơ của bào thai, c̣n các con quạ lấy đi ghèn ở mắt.

 

463. Đối với đứa bé này, đă không có bất cứ người nào sắp xếp việc bảo vệ, việc thuốc men, hay là việc xông khói mù-tạt, cũng đă không xác định sự liên hệ với các v́ tinh tú, cũng đă không rải rắc tất cả các loại hạt.

 

464. (Đứa bé đă) bị rơi vào trường hợp cực kỳ khó khăn như thế ấy, bị đem đi vào ban đêm, bị quăng bỏ ở băi tha ma, trong khi run rẩy tựa như miếng bơ tươi, phần c̣n lại của mạng sống là điều hoài nghi.

 

465. Bậc được tôn vinh bởi chư Thiên và nhân loại đă nh́n thấy đứa bé ấy. Và sau khi nh́n thấy, đấng có tuệ bao la đă tiên tri về đứa bé rằng: ‘Nhờ vào tài sản, đứa bé trai này sẽ là người thuộc gia tộc tột đỉnh của thành phố này.”

 

466. “Đứa bé có sự hành tŕ ǵ, thêm nữa có hạnh kiểm cao đẹp ǵ, quả thành tựu này là của việc thực hành ǵ mà sau khi nhận chịu sự bất hạnh như thế này lại sẽ được hưởng thụ sự thành công như thế ấy?”

 

467. “Mọi người đă thực hiện việc cúng dường cao sang đến Hội Chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu, tâm của đứa bé này đă có quan điểm khác về sự việc ấy, nó đă nói lời thô lỗ, không lễ độ.

 

468. Sau khi đă xua đi tư tưởng ấy, sau khi đă đạt lại được niềm vui và sự tin tưởng, sau đó đứa bé ấy đă phục vụ cháo bảy ngày đến đức Như Lai trong khi Ngài ngự tại Jetavana.

 

469. Đứa bé có sự hành tŕ ấy, thêm nữa có hạnh kiểm cao đẹp ấy, quả thành tựu này là của việc thực hành ấy khiến sau khi nhận chịu sự bất hạnh như thế này th́ sẽ hưởng thụ sự thành công như thế ấy.

 

470. Đứa bé ấy, sau khi tồn tại ngay ở nơi này một trăm năm, được đầy đủ với tất cả các dục, do sự tan ră của thân xác, vào kiếp sống kế tiếp (sẽ) đi đến sự cộng trú với (Thiên Chủ) Vāsava.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ về Đứa Bé Trai là thứ năm.

 

3. 6

 

471. “Này cô nàng ḷi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lơa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”[6]

 

472. “Thưa ông, tôi là nữ ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cơi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đă đi đến thế giới ngạ quỷ.”

 

473. “Vậy ác hạnh ǵ đă được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ư? Do quả thành tựu của nghiệp ǵ mà nàng đă đi đến thế giới ngạ quỷ?”

 

474. “Ở những bến tắm không bị ngăn cấm, tôi đă góp nhặt từng nửa đồng tiền māsaka. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, tôi đă không tạo lập ḥn đảo (nương nhờ) cho bản thân.

 

475. Bị khát (nước), tôi đi đến gần ḍng sông th́ ḍng sông trở nên khô cạn. Vào những lúc nóng, tôi đi đến gần bóng râm th́ bóng râm trở thành ánh nắng mặt trời.

 

476. Và làn gió, với dáng vẻ của ngọn lửa, thổi đến đốt nóng tôi. Và thưa ngài, tôi xứng đáng với việc này và việc khác tồi tệ hơn thế ấy.

 

477. Sau khi đi đến thành phố Hatthinī, ngài nên nói với mẹ của tôi rằng: ‘Tôi đă nh́n thấy con gái của bà; cô ta bị đọa đày, thuộc cơi Dạ-ma.

 

478. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây cô ta đă đi đến thế giới ngạ quỷ.’ Và ở nơi đây có vật đă được tôi cất giấu, tôi đă không nói về điều ấy.

 

479. Có bốn trăm ngàn ở bên dưới chiếc ghế dài. Nhờ đó, v́ tôi bà ta hăy ban phát vật thí, và mong rằng bà ta có được sự sinh sống.

 

480. Và sau khi ban phát vật thí, mẹ tôi hăy chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu tất cả các dục.”

 

481. “Tốt lắm!” Sau khi thỏa thuận, vị ấy đă đi đến thành phố Hatthinī và đă nói với mẹ của cô ấy rằng: “Tôi đă nh́n thấy con gái của bà; cô ta bị đọa đày, thuộc cơi Dạ-ma.

 

482. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây cô ta đă đi đến thế giới ngạ quỷ. Tại nơi đó, cô ấy đă thúc giục tôi: - Ngài nên nói với mẹ của tôi rằng:

 

483. ‘Tôi đă nh́n thấy con gái của bà; cô ta bị đọa đày, thuộc cơi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây cô ta đă đi đến thế giới ngạ quỷ.’

 

484. Và ở nơi đây có vật đă được tôi cất giấu, và tôi đă không nói về điều ấy. Có bốn trăm ngàn ở bên dưới chiếc ghế dài. Nhờ đó, v́ tôi bà ta hăy ban phát vật thí, và mong rằng bà ta có được sự sinh sống.

 

485. Và sau khi ban phát vật thí, mẹ tôi hăy chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu tất cả các dục.”

 

486. Chính v́ thế, bà ấy đă ban phát vật thí, và sau khi ban phát đă chỉ định sự cúng dường là dành cho cô ấy. Và nữ ngạ quỷ đă được hạnh phúc, có thân xác, có dáng vẻ dễ mến.

 

Chuyện Ngạ Quỷ Seriṇī là thứ sáu.[7]

 

3. 7

 

487. “Đang tuổi thanh xuân, được tôn vinh bởi các người nam người nữ, ngươi chói sáng với các loại dục lạc vào ban đêm, và chịu đựng khổ h́nh vào ban ngày; ngươi đă làm việc ǵ trong kiếp sống trước dây?”

 

488. “Ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi trước đây đă là người thợ săn tàn bạo, có bàn tay vấy máu.

 

489. Có tâm ư độc ác đối với các loài sinh vật không gây hại, đối với các chúng sanh thông thường, khi ấy tôi đă đi đó đây, vô cùng tàn bạo, thích thú trong việc hăm hại kẻ khác, không tự kiềm chế.

 

490. Tôi đây có người bạn tâm huyết là nam cư sĩ có đức tin. Trong khi thương xót đến tôi, vị ấy cũng đă cản ngăn lần này đến lần khác:

 

491. ‘Này bạn thân, bạn chớ tạo nghiệp ác, chớ đi đến cảnh giới khổ đau. Nếu bạn mong muốn sự an lạc sau khi chết, bạn hăy lánh xa việc giết hại mạng sống, việc không tự kiềm chế.’

 

492. Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, người có ḷng mong mỏi hạnh phúc, có ḷng thương tưởng đến điều lợi ích (cho tôi), (tuy nhiên) là người thích thú việc ác trong thời gian dài, không có sự sáng suốt, tôi đă không làm theo toàn bộ lời khuyên bảo.

 

493. Vị ấy, có trí thông minh bao la, v́ ḷng thương xót đă quy định thêm cho tôi về sự tự kiềm chế: ‘Nếu bạn giết hại các sanh mạng vào ban ngày, th́ bạn hăy có sự tự kiềm chế vào ban đêm.’

 

494. Tôi đây, sau khi giết chết các mạng sống vào ban ngày, đă lánh xa, đă tự kiềm chế vào ban đêm. (Giờ đây) vào ban đêm tôi hoàn toàn hài ḷng, vào ban ngày tôi đi đến khổ cảnh, bị nhai nghiến.

 

495. Do nghiệp thiện ấy, tôi hưởng thụ (dục lạc) không thuộc loài người vào ban đêm, vào ban ngày các con chó vừa mới bị đánh đập chạy đến gần (tôi) để nhai nghiến khắp mọi chỗ.

 

496. Và những vị nào thường xuyên đeo đuổi, luôn luôn gắn bó vào lời dạy của đấng Thiện Thệ, tôi nghĩ rằng những người ấy chứng đắc trọn vẹn chính trạng thái Bất Tử, vị thế không c̣n tạo tác.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ Người Thợ Săn Thú là thứ bảy.  

 

3. 8

 

497. “Ở ngôi nhà mái nhọn và ở ṭa lâu đài, ở chiếc ghế dài được trải tấm thảm len lông dài, ngươi vui thích ở phần tŕnh tấu khéo léo với năm loại nhạc cụ.

 

498. Sau đó, vào lúc cuối đêm cho đến lúc mọc lên của mặt trời, ngươi bị thảy ra ở nơi nghĩa địa, trải nghiệm nhiều sự khổ đau.

 

499. Vậy ác hạnh ǵ đă được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ư? Do quả thành tựu của nghiệp ǵ mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?”

 

500. “Ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi trước đây đă là người thợ săn thú rừng, và tôi đă là người thợ săn không tự kiềm chế.

 

501. Tôi đây có người bạn tâm huyết là nam cư sĩ có đức tin. Vị tỳ khưu thường xuyên lui tới nhà của bạn ấy đă là Thinh Văn của đức Gotama.

 

502. Trong khi thương xót đến tôi, bạn ấy cũng đă cản ngăn lần này đến lần khác: ‘Này bạn thân, bạn chớ tạo nghiệp ác, chớ đi đến cảnh giới khổ đau.

 

503. Nếu bạn mong muốn sự an lạc sau khi chết, bạn hăy lánh xa việc giết hại mạng sống, việc không tự kiềm chế.’ Tôi đă lắng nghe lời nói của bạn ấy, người có ḷng mong mỏi hạnh phúc, có ḷng thương tưởng đến điều lợi ích (cho tôi).

 

504. (Tuy nhiên) là người thích thú việc ác trong thời gian dài, không có sự sáng suốt, tôi đă không làm theo toàn bộ lời khuyên bảo. Vị (tỳ khưu) ấy,[8] có trí thông minh bao la, v́ ḷng thương xót đă c̣n quy định thêm cho tôi về sự tự kiềm chế:

 

505. ‘Nếu đạo hữu giết hại các sanh mạng vào ban ngày, th́ đạo hữu hăy có sự tự kiềm chế vào ban đêm.’ Tôi đây, sau khi giết chết các mạng sống vào ban ngày, đă lánh xa, đă tự kiềm chế vào ban đêm.

 

506. (Giờ đây) vào ban đêm tôi hoàn toàn hài ḷng, vào ban ngày tôi đi đến khổ cảnh, bị nhai nghiến. Do nghiệp thiện ấy, tôi hưởng thụ (dục lạc) không thuộc loài người vào ban đêm, vào ban ngày các con chó vừa mới bị đánh đập chạy đến gần (tôi) để nhai nghiến khắp mọi chỗ.

 

507. Và những vị nào thường xuyên đeo đuổi, luôn luôn gắn bó vào lời dạy của đấng Thiện Thệ, tôi nghĩ rằng những người ấy chứng đắc trọn vẹn chính trạng thái Bất Tử, vị thế không bị tạo tác.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ Người Thợ Săn Thú thứ nh́ là thứ tám.

 

3. 9

 

508. “Ngươi có tràng hoa, có đội măo, có ṿng xuyến, các phần thân thể của ngươi có chất bôi thơm là trầm hương, ngươi có sắc diện tươi tỉnh, ngươi chói sáng tựa như màu sắc của mặt trời.

 

509. Các tùy tùng nam của ngươi thuộc tập thể không phải nhân loại, các hầu cận nữ của ngươi là mười ngàn thiếu nữ.

 

510. Các cô ấy có mang các ṿng xuyến bằng vàng, được điểm trang với ṿng hoa đội đầu bằng vàng. Ngươi có đại oai lực, có dáng vóc khiến nổi da gà, ngươi tự ḿnh rứt ra rồi ngấu nghiến các miếng thịt lưng của ḿnh.

 

511. Vậy ác hạnh ǵ đă được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ư? Do quả thành tựu của nghiệp ǵ mà ngươi lại tự ḿnh rứt ra rồi ngấu nghiến các miếng thịt lưng của ḿnh?”

 

512. “Trong cuộc sống ở thế gian, tôi đă cư xử bằng sự đâm thọc và lời nói dối, bằng sự gian trá và lừa gạt đem lại điều không lợi ích cho bản thân.

 

513. Tại nơi ấy, sau khi đi đến tập thể vào thời điểm (xác định) sự thật đă được thiết lập, tôi đă không đếm xỉa đến phương thức có sự lợi ích, tôi đă hành xử theo điều sai trái.

 

514. Như thế, kẻ nào là người nói xấu sau lưng, kẻ ấy ngấu nghiến bản thân, giống như tôi hôm nay ngấu nghiến các miếng thịt lưng của ḿnh.

 

515. Thưa ngài Nārada, việc này đây đă được ngài đích thân nh́n thấy. Những người có ḷng thương xót, tốt lành có thể nói rằng: ‘Chớ nói đâm thọc và chớ nói lời dối trá, đúng vậy ngươi chớ là kẻ nói xấu sau lưng.’”

 

Chuyện Ngạ Quỷ có sự Quyết Đoán Sái Quấy là thứ chín.

 

3. 10

 

516. “Ngươi đứng ở không trung, có mùi hôi, toát ra mùi thối tha, và những con ḍi rúc rỉa cái miệng có mùi hôi thối của ngươi; ngươi đă tạo nghiệp ǵ trước đây?

 

517. Sau đó, chúng cầm lấy cây dao cắt xẻo lần này đến lần khác. Chúng rưới khắp (thân ngươi) với chất kiềm rồi cắt xẻo lần này đến lần khác.

 

518. Vậy ác hạnh ǵ đă được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ư? Do quả thành tựu của nghiệp ǵ mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?”

 

519. “Thưa ngài, ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi đă là chủ nhân của tài sản và lúa gạo vô cùng dồi dào.

 

520. Người vợ này của tôi đây, con gái và con dâu của tôi, trong khi các cô ấy đang mang tràng hoa, luôn cả hoa sen xanh, và dầu thoa đắt giá đến ngôi bảo tháp, tôi đă ngăn cản; việc xấu xa ấy đă do tôi gây ra.

 

521. Tám mươi sáu ngàn người chúng tôi có cảm thọ (khổ) riêng biệt, sau khi chê bai việc cúng dường đến ngôi bảo tháp, chúng tôi bị nung nấu dữ dội ở địa ngục.

 

522. Và trong khi lễ hội của bậc A-la-hán đang được cử hành, những kẻ nào công bố điều bất lợi đối với việc cúng dường ngôi bảo tháp, quư vị hăy tách ly những kẻ ấy khỏi nơi đó.

 

523. Và quư vị hăy nh́n xem các cô nàng đang đi đến, có mang tràng hoa, đă được trang điểm, các cô ấy hưởng thụ quả thành tựu về tràng hoa, có sự thành công, có danh tiếng.

 

524. Và sau khi nh́n thấy điều kỳ diệu, phi thường, khiến nổi da gà ấy, các bậc có trí tuệ thực hiện việc nghiêng ḿnh đảnh lễ ngài, bậc đại hiền trí.

 

525. Chắc chắn rằng chính tôi đây, sau khi đi khỏi nơi này, sau khi đạt được sự xuất thân thuộc loài người, sẽ thực hiện việc đảnh lễ ngôi bảo tháp, không bị xao lăng, lần này đến lần khác.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ Do Chê Bai Xá-Lợi là thứ mười.

 

Tiểu Phẩm là thứ ba.

 

*****

 

TÓM LƯỢC PHẨM NÀY

 

Chuyện không làm (mặt) nước bị vỡ ra, vị Koṇḍañña, ở hồ Rathakāra, và với vỏ trấu, đứa bé trai, luôn cả cô kỹ nữ, hai người thợ săn, (nói xấu) sau lưng, cúng dường; bởi vậy phẩm được gọi tên thế ấy.

 

--ooOoo--

 

4. ĐẠI PHẨM

 

4. 1

 

526. Xứ Vajjī có thành phố tên là Vesālī. (Đức vua) Ambasakkhara ḍng dơi Licchavi đă ngụ tại nơi ấy. Sau khi nh́n thấy ngạ quỷ ở bên ngoài thành phố, đức vua Ambasakkhara, là người muốn biết lư do, ngay tại nơi ấy đă hỏi ngạ quỷ ấy rằng:[9]

 

527. “Không có giường nằm ghế ngồi dành cho gă này, không có việc đi tới hay đi lui, việc được ăn, được uống, được nhai, vải vóc, của cải, người hầu gái, (các) điều ấy cũng không có cho gă này.

 

528. Những người nào là bà con, thân hữu đă nh́n thấy, đă nghe, đă là những người có ḷng thương tưởng đến gă ấy trước đây, những người ấy giờ đây cũng không thể nh́n thấy gă ấy, bởi v́ t́nh trạng đă bị cách ly với họ.

 

529. Người có t́nh trạng sa sút không có bạn bè; bạn bè từ bỏ sau khi biết được sự thiếu thốn (của người ấy). Và họ vây quanh sau khi nh́n thấy sự lợi ích; người có t́nh trạng khá giả có nhiều bạn bè.

 

530. Với t́nh trạng bị tiêu hoại tất cả các của cải, bị khốn khổ, bị lấm lem, có thân thể hoàn toàn bị găy đổ, tựa như giọt sương đang đeo bám (vào chiếc lá), sự chấm dứt mạng sống là trong nay mai.

 

531. Này Dạ-xoa, vậy với tư cách ǵ mà ngươi nói với kẻ đă đi đến sự khốn khổ tột cùng như thế này, đă bị cắm lên ở cọc nhọn bằng gỗ nimba rằng: ‘Này cháu yêu, cháu hăy sống. Sống đương nhiên là tốt hơn’?”

 

532. “Này đức vua, gă ấy đă có cùng huyết thống với tôi; tôi nhớ lại vào kiếp sống trước đây. Và sau khi nh́n thấy, tôi đă có ḷng thương xót rằng: ‘Mong sao kẻ có tính chất xấu xa này chớ rơi vào địa ngục.’

 

533. Này vị Licchavi, người nam ấy, kẻ gây nên hành động đă được thực hiện một cách xấu xa, bị chết từ nơi này, (sẽ) bị sanh vào địa ngục đầy dẫy chúng sanh, có h́nh thức ghê rợn, có sức nóng khủng khiếp, dữ dội, tạo ra sự sợ hăi.

 

534. Chính cái cọc nhọn này c̣n tốt hơn địa ngục ấy nhiều lần về tính chất, ‘Mong sao kẻ này chớ rơi vào địa ngục có sự khổ đau cùng tột, dữ dội, gây nên nỗi sợ hăi, có sự tàn nhẫn cùng tột.’

 

535. Và sau khi nghe lời nói này của tôi, kẻ ấy có thể bị đưa đến khổ đau mà ĺa bỏ sanh mạng; v́ thế tôi không nói (lời nói này) trước mặt (kẻ ấy), chớ để sự chấm dứt mạng sống (của kẻ này) là do tôi gây nên.”

 

536. “Sự việc ấy của người đàn ông đă được biết, tuy nhiên chúng tôi muốn hỏi ngươi việc khác. Nếu ngươi tạo cho chúng tôi cơ hội, trẫm sẽ hỏi điều ấy, và không nên nổi sân với chúng tôi.”

 

537. “Đương nhiên, vào lúc ấy tôi đă có lời thỏa thuận. Không có việc chỉ bày cho người không được vừa ḷng. Xin bệ hạ hăy xem tôi là người có lời nói đáng tin dầu là nghịch ư. Bệ hạ hăy hỏi tôi điều bệ hạ muốn, (tôi sẽ trả lời) tùy theo khả năng.”

 

538. “Bất cứ việc ǵ trẫm sẽ nh́n thấy tận mắt, trẫm có thể tin tưởng tất cả điều ấy. Nhưng nếu sau khi nh́n thấy điều ấy mà trẫm vẫn không thể tin tưởng, này Dạ-xoa, ngươi có thể thực hiện việc quở trách đối với trẫm.”

 

539. “Mong rằng sự thỏa thuận ấy của bệ hạ đối với tôi là chân thật. Là người có mục đích t́m hiểu và không có tâm địa xấu xa, xin bệ hạ hăy lắng nghe và tiếp nhận sự việc với niềm tin. Sự việc nào mà bệ hạ đă được nghe và thậm chí c̣n chưa được nghe, tôi sẽ chỉ bày tất cả theo như sự nhận biết.”

 

540. “Bằng con ngựa màu trắng đă được trang điểm, ngươi đi đến trước mặt kẻ bị cắm vào cọc nhọn. Phương tiện di chuyển này là tuyệt vời, duyên dáng; quả thành tựu này là của nghiệp nào?”

 

541. “Tại Vesālī, ở giữa thành phố ấy, nơi con đường lầy lội đă có một hố trũng. Với tâm tận t́nh, tôi đă cầm lấy một cái xương đầu ḅ màu trắng đặt xuống hố trũng.

 

542. Sau khi đă đặt các bàn chân ở nơi ấy, chúng tôi và những người khác đă vượt qua. Phương tiện di chuyển này là tuyệt vời, duyên dáng; quả thành tựu này là của chính nghiệp ấy.”

 

543. “Màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương, và mùi hương của ngươi tỏa ra khắp các phương. Ngươi đă đạt được thần thông của Dạ-xoa, có đại oai lực, và ngươi bị lơa lồ; quả thành tựu này là của việc ǵ?”

 

544. “Không có giận dữ, và luôn luôn có tâm tận t́nh, tôi chuyện tṛ với mọi người bằng những lời nói mềm mỏng; quả thành tựu này là của chính nghiệp ấy: màu da thuộc về cơi Trời của tôi thường xuyên chiếu sáng.

 

545. Với tâm tận t́nh, tôi nh́n nhận, tán dương danh vọng và tiếng tốt của những người đă đứng vững trong Giáo Pháp; quả thành tựu này là của chính nghiệp ấy: mùi hương thuộc về cơi Trời của tôi thường xuyên tỏa ra.

 

546. Là người có mục đích đùa giỡn và không có tâm địa xấu xa, tôi đă lấy y phục của những người bạn đang tắm ở bến tắm và giấu ở nơi khô ráo; v́ điều ấy tôi bị lơa lồ và sự sinh hoạt bị khốn khó.”

 

547. “Người nào thực hiện việc xấu xa trong khi vui đùa, người ta nói rằng quả thành tựu của nghiệp ấy là như thế này. Trái lại, người nào làm trong lúc không phải vui đùa, th́ người ta nói ǵ về quả thành tựu của nghiệp ấy?”

 

548. “Những người nào có sự suy nghĩ và tâm ư xấu xa, bị ô nhiễm do thân và do khẩu, do sự tan ră của thân xác, vào kiếp sống kế tiếp những người ấy chắc chắn (sẽ) đi đến địa ngục.

 

549. Trái lại, những người khác mong mỏi cảnh giới an vui, ưa thích việc bố thí, có bản tính nhân hậu, do sự tan ră của thân xác, vào kiếp sống kế tiếp những người ấy chắc chắn (sẽ) đi đến chốn an vui.”

 

550. “Làm thế nào trẫm có thể biết chắc chắn về điều ấy rằng quả thành tựu này là của việc tốt và việc xấu? Hoặc là, sau khi nh́n thấy trẫm có thể tin được không? Hoặc nữa, người nào có thể khiến cho trẫm tin được điều ấy?”

 

551. “Sau khi nh́n thấy hoặc sau khi lắng nghe, bệ hạ hăy tin tưởng rằng quả thành tựu này là của việc tốt và việc xấu. Khi cả hai tốt và xấu không hiện hữu, có thể nào chúng sanh lại đi đến nhàn cảnh hay đọa vào khổ cảnh?

 

552. Ở đây, nếu loài người không làm các nghiệp tốt và xấu ở thế giới nhân loại, chúng sanh đă không đi đến nhàn cảnh hay đọa vào khổ cảnh, và đă không trở nên thấp hèn hay cao sang ở thế giới nhân loại.

 

553. Và bởi v́ loài người làm các nghiệp tốt và xấu ở thế giới nhân loại, chính v́ thế chúng sanh đi đến nhàn cảnh hay đọa vào khổ cảnh, và trở nên thấp hèn hay cao sang ở thế giới nhân loại.

 

554. Hôm nay, người ta nói quả thành tựu của các nghiệp có hai loại: cảm thọ của lạc và của khổ. Các vị Thiên nhân ấy nhàn hạ, những kẻ ngu không nh́n thấy tính chất đi đôi (nghiệp và quả của nghiệp) bị nung nấu (khổ đau).

 

555. Tôi không có các nghiệp (thiện) đă được tự ḿnh làm, thậm chí sau khi bố thí y phục, giường nằm, rồi cơm ăn nước uống cũng không có người chỉ định (việc ấy là) dành cho tôi; v́ điều ấy tôi bị lơa lồ và sự sinh hoạt bị khốn khó.”

 

556. “Này Dạ-xoa, có thể có cách thức nào nhờ đó ngươi có thể đạt được y phục? Nếu có nguyên do th́ ngươi hăy nói điều ấy cho trẫm, chúng tôi sẽ lắng nghe lời nói về nguyên do đă được tin cậy.”

 

557. “Ở nơi đây, có vị tỳ khưu tên Kappinaka, có thiền chứng, có thiện giới, là vị A-la-hán, đă được giải thoát, có giác quan đă được canh pḥng, có giới bổn Pātimokkha đă được thu thúc, có trạng thái mát mẻ, đă đạt được chánh kiến tối thượng.

 

558. Vị ấy nhă nhặn, biết lắng nghe, dễ tính, có khuôn mặt nhân hậu, có sự truyền thừa tốt đẹp, và có lời nói khôn khẻo, là thửa ruộng phước, có sự an trú tâm b́nh lặng, xứng đáng được cúng dường bởi chư Thiên và nhân loại.

 

559. An tịnh, không tầm cầu sai trái, không khổ nhọc, không luyến ái, đă được giải thoát, không c̣n mũi tên (tham ái), không chấp ngă, không khúc mắc, không c̣n mầm mống tái sanh, đă cạn kiệt tất cả chướng ngại, đă đạt đến ba Minh, có sự sáng suốt.

 

560. Do ít được biết đến, thậm chí sau khi nh́n thấy cũng không dễ biết được, ở xứ Vajji người ta gọi vị ấy là ‘bậc hiền trí,’ các hàng Dạ-xoa biết vị ấy là không c̣n dục vọng, có bản chất tốt đẹp, đang du hành ở thế gian.

 

561. Nếu quư ngài có thể dâng cúng đến vị ấy một hoặc hai xấp vải đôi rồi chỉ định là dành cho tôi, và nếu chúng có thể được thọ nhận th́ quư ngài sẽ nh́n thấy tôi có y phục đă được mặc vào.”

 

562. “Vị Sa-môn đang ngụ ở khu vực nào? Chúng tôi có thể đi đến và gặp vị ấy bây giờ. Hôm nay, người nào đây có thể xua đi sự nghi ngờ, sự phân vân, và các luận điểm trườn uốn của tà kiến cho trẫm?”

 

563. “Vị ấy đă ngồi xuống ở Kapinaccanā,[10] được vây quanh bởi nhiều Thiên nhân; vị có tên gọi chân thật đang thuyết bài giảng về Giáo Pháp, là vị không xao lăng trong lời giáo huấn của bậc ḍng Sakya.”

 

564. “Giờ đây, trẫm sẽ đi và sẽ làm như thế. Trẫm sẽ choàng lên vị Sa-môn với xấp vải đôi, chúng sẽ được thọ nhận, và chúng tôi có thể nh́n thấy ngươi có y phục đă được mặc vào.”

 

565. “Chớ đi đến gần vị xuất gia không đúng thời điểm. Này vị Licchavi, tốt lắm, điều ấy không phải là thói quen của bệ hạ. Và sau đó, vào lúc đúng thời, bệ hạ hăy đi đến và nh́n thấy, ngay tại nơi ấy, vị ngồi, cô độc.”

 

566. Sau khi nói rằng: “Hăy là như vậy,” vị Licchavi, được tháp tùng bởi đám nô lệ, đă đi đến nơi ấy. Sau khi đi đến thành phố ấy, đức vua đă đi đến chỗ ở, nơi trú ngụ của ḿnh.

 

567. Và sau đó, vào buổi sáng, sau khi đă làm các phận sự của người tại gia, đức vua đă tắm và uống nước. Sau khi đạt được thời điểm, vị Licchavi đă chọn lựa tám xấp vải đôi từ trong rương rồi bảo đám nô lệ cầm lấy.

 

568. Sau khi đi đến khu vực ấy, đức vua đă nh́n thấy vị Sa-môn có tâm an tịnh ấy, đang trở về từ nơi khất thực, đă về đến nơi, đă ngồi xuống ở gốc cây, có trạng thái mát mẻ.

 

569. Sau khi đi đến gần, đức vua đă nói điều ấy với vị ấy, đă hỏi về trạng thái thiểu bệnh và sự an trú thoải mái rằng: “Thưa ngài đại đức, trẫm thuộc ḍng dơi Licchavi ở Vesālī, người ta biết trẫm là Ambasakkhara ḍng dơi Licchavi.

 

570. Thưa ngài, xin ngài hăy thọ nhận tám xấp vải đôi xinh đẹp này của trẫm; trẫm xin dâng đến ngài. Chính v́ mục đích ấy mà trẫm đă đi đến nơi đây, như thế trẫm có thể được hoan hỷ.”

 

571. “Các vị Sa-môn và Bà-la-môn tránh né nơi trú ngụ của bệ hạ từ đàng xa. Và ở nơi trú ngụ của bệ hạ, các b́nh bát bị đập vỡ và các y hai lớp cũng bị xé rách.

 

572. Rồi những kẻ khác làm cho các vị Sa-môn té ngă dập đầu bởi những bàn chân như lưỡi búa. Các vị xuất gia, các vị Sa-môn gánh lấy sự hăm hại như thế ấy đă do bệ hạ làm.

 

573. Bệ hạ không bố thí thậm chí dầu đốt đèn cùng với cọng cỏ, cũng không chỉ đường cho người lạc lối, bệ hạ đích thân giật lấy cây gậy của người mù, người như thế ấy là keo kiệt, không thu thúc. Giờ v́ lư do ǵ, sau khi nh́n thấy chính điều ǵ mà bệ hạ lại thực hiện việc san sẻ với chúng tôi?”

 

574. “Thưa ngài, trẫm hiểu được điều ngài nói; trẫm đă hăm hại các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Là người có mục đích đùa giỡn và không có tâm địa xấu xa, thưa ngài, điều này cũng chính là việc đă làm sai trái của trẫm.

 

575. Sau khi gây nên việc xấu xa do đùa giỡn, gă Dạ-xoa cảm nhận khổ đau, có sự thọ hưởng không được đầy đủ. Là người trẻ tuổi, thanh niên, có số phần của t́nh trạng lơa lồ, c̣n có khổ đau nào hơn thế cho gă ấy?

 

576. Thưa ngài, sau khi nh́n thấy điều ấy trẫm đă có sự chấn động. Do duyên ấy, trẫm dâng cúng vật thí này. Thưa ngài, xin ngài hăy thọ nhận tám xấp vải đôi; mong sao các vật cúng dường này đến với Dạ-xoa.”

 

577. “Bởi v́ sự bố thí đương nhiên được ca tụng theo nhiều cách, mong sao là pháp không lui sụt đối với bệ hạ trong khi bố thí. Ta thọ nhận tám xấp vải đôi của bệ hạ; mong sao các vật cúng dường này đến với Dạ-xoa.”

 

578. Và sau đó, vị Licchavi đă rưới nước (ở bàn tay) rồi đă dâng cúng tám xấp vải đôi đến vị trưởng lăo (nói rằng): “Cầu mong các vật này được thọ nhận!” (Và vị trưởng lăo đă bảo rằng) “Quư vị hăy nh́n xem gă Dạ-xoa có y phục đă được mặc vào.”

 

579. Đức vua đă nh́n thấy Dạ-xoa ấy, đă được thoa tinh chất của trầm hương, đă cỡi lên con ngựa thuần chủng, có màu da quư phái, đă được trang điểm, có y phục được mặc vào khéo léo, được (tùy tùng) vây quanh, đă đạt đến đại thần lực của Dạ-xoa.

 

580. Sau khi nh́n thấy Dạ-xoa ấy, đức vua được hoan hỷ, phấn khởi, có tâm tư phấn chấn, có dáng vẻ rạng rỡ sau khi đă nh́n thấy nghiệp và quả thành tựu lớn lao được thấy rơ ràng, sau khi đă chứng thực bằng mắt.

 

581. Sau khi đi đến gần, đức vua đă nói điều ấy với Dạ-xoa ấy rằng: “Trẫm sẽ dâng cúng vật thí đến các Sa-môn và Bà-la-môn. Và thậm chí đối với trẫm không có vật ǵ là không thể bố thí. Và này Dạ-xoa, ngươi có nhiều sự hỗ trợ đối với trẫm.”

 

582. “Này vị Licchavi, bệ hạ đă dâng cúng các vật thí, có một phần là dành cho tôi, điều ấy không phải vô ích. Tôi đây sẽ thực hiện việc quen biết với bệ hạ, một hạng phi nhân cùng với một người nhân loại.”

 

583. “Ngươi là số phận, là thân quyến, là sự nâng đỡ, và là người bạn của trẫm, rồi là vị Thiên nhân. Trẫm chắp tay lại khẩn cầu: ‘Này Dạ-xoa, trẫm muốn nh́n thấy ngươi thêm lần nữa.’”

 

584. “Nếu bệ hạ không c̣n niềm tin, có dáng vẻ keo kiệt, có tâm bị lầm lạc, do chính điều ấy bệ hạ sẽ không đạt được việc nh́n thấy tôi nữa, và tôi sau khi nh́n thấy bệ hạ, cũng sẽ không tṛ chuyện.

 

585. Nếu bệ hạ sẽ có sự tôn kính Giáo Pháp, ưa thích việc bố thí, có bản tính nhân hậu, là nguồn cung ứng (vật chất) đối với các Sa-môn và Bà-la-môn, như vậy bệ hạ sẽ đạt được việc nh́n thấy tôi.

 

586. Và này bậc đáng kính, sau khi nh́n thấy bệ hạ, tôi sẽ tṛ chuyện. Và bệ hạ hăy nhanh chóng phóng thích người này khỏi cọc nhọn. Bắt đầu từ người này, chúng ta đă thực hiện việc quen biết, chúng ta hăy nghĩ là bởi lư do của người bị cắm vào cọc nhọn.

 

587. Chúng ta đây đă thực hiện việc quen biết lẫn nhau. Và người bị cắm vào cọc nhọn này nên được phóng thích nhanh chóng. Trong khi thực hành các pháp một cách nghiêm chỉnh, người ấy có thể thoát khỏi địa ngục ấy.

 

588. Nghiệp có thể được cảm thọ ở nơi khác. Bệ hạ hăy đi đến gặp vị Kappinaka, sau khi san sẻ (vật thực) với chính vị ấy vào lúc đúng thời, sau khi đă ngồi xuống gần bên, đối diện, bệ hạ hăy đích thân hỏi.

 

589. Vị ấy sẽ chỉ bày cho bệ hạ về ư nghĩa ấy. Sau khi đi đến gần chính vị tỳ khưu ấy, (với tư cách) là người có mục đích t́m hiểu và không có tâm địa xấu xa, bệ hạ hăy hỏi. Vị ấy sẽ chỉ bày tất cả đúng theo sự nhận biết về Giáo Pháp điều mà bệ hạ đă được nghe và thậm chí c̣n chưa được nghe.”

 

590. Tại nơi ấy, sau khi đă chuyện tṛ một cách kín đáo, sau khi đă thực hiện việc quen biết với hàng phi nhân, đức vua đă ra đi đến nơi có mặt các vi Licchavi, rồi đă nói với tập thể đang ngồi tụ tập rằng:

 

591. “Này các khanh, hăy lắng nghe một lời nói của trẫm. Nếu trẫm có thể chọn điều ước muốn, trẫm sẽ chọn lấy điều lợi ích. Người đàn ông có hành động tàn bạo đă bị cắm ở cọc nhọn, đă bị áp dụng hành phạt, có vóc dáng của kẻ thuần phục.

 

592. Cho đến bây giờ là hai mươi đêm kể từ lúc bị cắm (ở cọc nhọn) gă chẳng những không sống mà cũng chẳng bị chết. Giờ đây, trẫm sẽ phóng thích gă ấy; mong rằng tập thể chấp nhận theo suy nghĩ như vậy.”

 

593. “Bệ hạ hăy nhanh chóng phóng thích gă này và gă khác. Ai có thể nói bệ hạ trong khi bệ hạ làm như thế ấy. Bệ hạ nhận thức như thế nào th́ bệ hạ hăy thực hiện như thế ấy; tập thể thuận theo suy nghĩ như vậy.”

 

594. Sau khi đi đến khu vực ấy, đức vua đă vô cùng nhanh chóng phóng thích người bị cắm ở cọc nhọn và đă nói với gă ấy rằng: “Này anh bạn, chớ sợ hăi,” rồi đă bàn giao cho các vị y sĩ.

 

595. Và sau khi đă đi đến gặp vị Kappinaka, sau khi đă san sẻ (vật thực) đồng đều với vị ấy vào lúc đúng thời, sau khi đích thân ngồi xuống gần bên đối diện, vị Licchavi là người muốn biết lư do, ngay tại nơi ấy, đă hỏi vị ấy rằng:

 

596. “Người đàn ông có hành động tàn bạo đă bị cắm ở cọc nhọn, đă bị áp dụng hành phạt, có vóc dáng của kẻ thuần phục. Cho đến bây giờ là hai mươi đêm kể từ lúc gă bị cắm (ở cọc nhọn) chẳng những không sống mà cũng chẳng bị chết.

 

597. Được tha bổng, gă ấy giờ đây đă đi với trẫm bởi v́ lời nói của Dạ-xoa này. Thưa ngài, phải chăng có lư do nào đó khiến cho gă ấy có thể khỏi đi đến địa ngục?

 

598. Thưa ngài, nếu có nguyên do xin ngài hăy chỉ bày; chúng tôi sẽ lắng nghe lời nói về nguyên do đă được tin cậy. Phải chăng không có sự triệt tiêu các nghiệp ấy? Phải chăng có t́nh trạng chấm dứt ở đây mà không phải cảm thọ?”

 

599. “Nếu người ấy thực hành các pháp một cách nghiêm chỉnh đêm ngày không xao lăng, người ấy có thể thoát khỏi địa ngục ấy. Nghiệp có thể được cảm thọ ở nơi khác.”

 

600. “Vấn đề của gă đàn ông ấy đă được thấu hiểu. Thưa ngài, giờ đây xin ngài cũng hăy thương xót đến trẫm. Thưa vị có tuệ bao la, xin ngài hăy chỉ dạy, hăy giáo huấn trẫm để cho trẫm không phải đi địa ngục.”

 

601. “Ngay ngày hôm nay, với tâm tịnh tín bệ hạ hăy đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng. Tương tự y như thế, bệ hạ hăy thọ tŕ năm điều học không bị bể vỡ hay sứt mẻ.

 

602. Bệ hạ hăy lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, hăy xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, chớ có việc uống chất say và nói lời dối trá, và hăy vui thích (chỉ) với người vợ của ḿnh. Hăy thọ tŕ việc thiện đưa đến sự an lạc, được gắn liền với tám chi phần cao quư thánh thiện này.

 

603. Với tâm ư tịnh tín, bệ hạ hăy dâng cúng y phục và vật thực, vật dụng, chỗ nằm ngồi, cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc và chỗ trú ngụ đến các vị có bản thể chính trực.

 

604. Bệ hạ cũng hăy làm toại ư các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đă xa ĺa luyến ái, có sự học rộng, với cơm ăn và nước uống; phước báu luôn luôn tăng trưởng.

 

605. Và trong khi thực hành các pháp một cách nghiêm chỉnh đêm ngày không xao lăng như thế, bệ hạ đây có thể thoát khỏi địa ngục ấy; nghiệp nếu có sẽ được cảm thọ ở nơi khác.”

 

606. “Ngay ngày hôm nay, với tâm tịnh tín trẫm đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng. Tương tự y như thế, trẫm thọ tŕ năm điều học không bị bể vỡ hay sứt mẻ.

 

607. Trẫm lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say và không nói lời dối trá, trẫm vui thích (chỉ) riêng với người vợ của ḿnh. Trẫm thọ tŕ việc thiện đưa đến sự an lạc, được gắn liền với tám chi phần cao quư thánh thiện này.”

 

608-609. Được vui thích ở lời dạy của chư Phật, trẫm c̣n dâng cúng y phục và vật thực, vật dụng, chỗ nằm ngồi, cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc và chỗ trú ngụ đến các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đă xa ĺa luyến ái, có sự học rộng.”

 

610. (Đức vua) Licchavi Ambasakkhara là như thế ấy, một vị cận sự nam khác nữa của thành Vesālī, có đức tin, nhu thuận, người làm công việc hỗ trợ, và từ đó đă hộ độ hội chúng tỳ khưu một cách nghiêm chỉnh.

 

611. C̣n người bị cắm ở cọc nhọn, sau khi hết bệnh, có sự chọn lựa, có sự an vui, đă đi đến việc xuất gia. Và nhờ vào vị tỳ khưu Kappinaka tối thượng, cả hai cũng đă chứng đạt các quả vị của Sa-môn.

 

612. Việc thân cận với những bậc chân nhân như thế ấy, các bậc tốt lành có sự nhận thức, th́ có quả báo lớn lao: Người bị cắm ở cọc nhọn đă chạm đến quả vị cao tột (A-la-hán), c̣n Ambasakkhara quả vị thấp nhất (Nhập Lưu).”

 

Chuyện Ngạ Quỷ của Ambasakkhara là thứ nhất.

 

4. 2

 

613. Chúng ta hăy lắng nghe về sự gặp gỡ của vị Dạ-xoa và các người thương buôn đă xảy ra vào lúc ấy. Câu chuyện đă khéo được trao đổi bởi người này với người kia như thế nào, xin tất cả hăy lắng nghe câu chuyện ấy.

 

614. Vị vua ấy tên là Pāyāsi, có danh tiếng, đă đi đến cộng trú với chư Thiên địa cầu. Ngay trong lúc đang vui thích ở Thiên cung của ḿnh, vị phi nhân ấy đă nói với loài người rằng:[11]

 

615. “Ở khu rừng hiểm trở, nơi không có loài người, ở sa mạc, thiếu nước, thiếu thức ăn, nơi vô cùng khó đi, ở giữa đầm cát, nhiều người bị mất trí v́ nỗi sợ hăi sự hiểm trở.

 

616. Ở nơi đây, không có các trái cây, và các loại cây có rễ, không có củi lửa, lấy đâu ở đây có thức ăn, ngoại trừ nhiều bụi bặm, lắm cát, các sự thiêu đốt, các sự nóng bức, và các sự khắc nghiệt?

 

617. Vùng sa mạc tựa như cái chảo đă được đốt nóng, không có lợi ích, tương đương với thế giới khác (địa ngục); chỗ trú ngụ này là của những kẻ hung dữ trước đây, là vùng đất bị nguyền rủa.

 

618. C̣n các người, v́ nguyên nhân ǵ, trong khi đang mong mỏi điều ǵ, lại vội vă tập hợp rồi đi vào chính khu vực này, do ḷng tham, do sự sợ hăi, hay là đă bị lầm lẫn?”

 

619. “Các chủ đoàn xe ở xứ sở Magadha và Aṅga sau khi cho chất lên hàng hoá với số lượng dồi dào, những người ấy đi đến vùng đất Sindhu và Sovīra với mục đích về tài sản, với mong mỏi về lợi nhuận.

 

620. Vào ban ngày, do không chịu đựng được cơn khát và măi quan tâm đến sự thương xót đối với các con vật kéo xe, tất cả chúng tôi di chuyển với tốc độ này và đến được con đường vào ban đêm, không đúng thời điểm.

 

621. Đă khởi hành chậm trễ, đă bị lạc đường, bị rối loạn như người mù, đă bị lạc lối trong khu rừng, ở chỗ vô cùng khó đi, ở giữa biển cát, chúng tôi đây không nhận ra phương hướng, có tâm bị hoang mang.

 

622. Và thưa vị Dạ-xoa, sau khi nh́n thấy việc này, việc chưa được thấy trước đây, là Thiên cung hạng nhất và ngài, trong khi đang mong mỏi về mạng sống sau này, đến lúc nh́n thấy (ngài), chúng tôi trở nên mừng rỡ, có tâm ư vui vẻ, phấn khởi.”

 

623. “V́ nguyên nhân của cải, quư vị đi đến những phương trời khác biệt, đến bờ bên kia của biển cả và đầm cát này, đến con đường có sự di chuyển với gậy chống và lối đi có cắm cọc, đến những con sông, thêm nữa là những con đường hiểm trở ở các ngọn núi.

 

624. Này quư vị, sau khi tiến vào lănh thổ của những người khác, trong khi ngắm nh́n những con người thuộc nhiều quốc độ, điều nào đă được quư vị nghe, hoặc nh́n thấy, hăy cho chúng tôi nghe điều kỳ diệu ấy từ quư vị.”

 

625. “Thưa Thiên tử, điều kỳ diệu hơn thế này chúng tôi không được nghe hoặc được nh́n thấy, tất cả đều vượt trội (thế giới) loài người, sau khi nh́n thấy chúng tôi được thỏa măn về vẻ đẹp tuyệt vời.

 

626. Ở không trung có những hồ sen với vô số bông hoa, với nhiều sen trắng, và những cây cối này được trổ quả thường xuyên, có những hương thơm tỏa ra cực kỳ thơm ngát.

 

627. Có những cây cột bằng ngọc bích vươn cao một trăm (ratana),[12] có bề mặt trải dài làm bằng đá và san hô, có các viên ngọc mắt mèo và các viên hồng ngọc, c̣n những trụ cột này làm bằng ngọc như ư.

 

628. Có ngàn cây cột có năng lực không sánh bằng, phía trên chúng là Thiên cung tốt đẹp này, ở bên trong có châu báu, được kết hợp với hành lang bằng vàng, và được che phủ một cách khéo léo với những tấm lợp bằng vàng.

 

629. (Thiên cung) này chói sáng với vàng từ sông Jambu đă được tinh luyện. (Khu vực ấy) khéo được đánh bóng, được hiện hữu với các ṭa lâu đài, các cầu thang, các sân thượng, vững chăi, dễ thương, có dáng xinh xắn, khéo được phối hợp, vô cùng cuốn hút sự nh́n ngắm, làm hài ḷng.

 

630. Ở bên trong (Thiên cung) châu ngọc, có nhiều thức ăn thức uống, được vây quanh bởi đoàn tiên nữ, được vang vang tiếng trống con, trống lớn, và các nhạc cụ, ngài được tôn vinh với sự ngợi ca và lễ bái.

 

631. Ở ṭa lâu đài nơi Thiên cung cao quư, làm thích ư, với sự đánh thức bởi các nhóm phụ nữ, ngài đây, không thể nghĩ bàn, có đủ mọi đức tính, vui sướng giống như đức vua Vessavaṇa ở Nalinī.

 

632. Ngài là Thiên nhân, hay ngài là Dạ-xoa, là Chúa của chư Thiên, hay là bản thể nhân loại? Những người thương buôn, các chủ đoàn xe hỏi ngài. Xin ngài hăy nói tên (của ngài) là ǵ, có phải ngài là Dạ-xoa?”

 

633. “Tôi chính là Dạ-xoa tên Serissaka, sống ở sa mạc, là người canh giữ đầm cát. Tôi hộ tŕ khu vực này, là người thực thi mệnh lệnh của đức Vua Vessavaṇa.”

 

634. “(Công việc này) được nhận lănh bởi ngài một cách ngẫu nhiên, được nảy sanh do sự phát triển, tự ḿnh tạo ra, hay được chư Thiên giao cho? Những người thương buôn, các chủ đoàn xe hỏi ngài: Bằng cách nào mà ngài đă đạt được công việc hài ḷng này?”

 

635. “(Công việc này) không được nhận lănh bởi tôi một cách ngẫu nhiên, không được nảy sanh do sự phát triển, không tự ḿnh tạo ra, cũng không được chư Thiên giao cho. Công việc hài ḷng này tôi đă đạt được nhờ vào những nghiệp không xấu xa, nhờ vào những phước thiện của chính ḿnh.”

 

636. “(Trước đây) phận sự của ngài là ǵ? C̣n có hạnh kiểm cao đẹp ǵ? Quả thành tựu này là của việc ǵ đă khéo được thực hành? Những người thương buôn, các chủ đoàn xe hỏi ngài: Bằng cách nào mà ngài đă đạt được Thiên cung này?”

 

637. “Vào lúc tôi cai quản vương quốc Kosala, Pāyāsi đă là danh hiệu của tôi. Lúc ấy tôi đă là người có quan điểm hư vô, keo kiệt, có bản tính xấu xa, và là người tuyên bố về đoạn kiến.

 

638. Và rồi đă có vị Sa-môn Kumārakassapa, đa văn, có sự thuyết giảng sinh động, cao thượng. Khi ấy, vị ấy đă thực hiện việc thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi, đă xua đuổi những sự méo mó về quan điểm cho tôi.

 

639. Tôi đây, sau khi lắng nghe sự thuyết giảng Giáo Pháp của vị ấy, đă tuyên bố bản thân là người cư sĩ. Tôi đă kiêng chừa việc giết hại mạng sống, tôi đă xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, và tôi đă không nói lời dối trá, tôi đă được vui thích (chỉ) với người vợ của ḿnh.

 

640. Việc ấy là phận sự của tôi, việc ấy c̣n là hạnh kiểm cao đẹp. Quả thành tựu này là của việc đă khéo được thực hành ấy. Nhờ vào những nghiệp không xấu xa, nhờ vào những phước thiện ấy đấy, mà tôi đă đạt được Thiên cung này.”

 

641. “Nghe rằng những người có trí tuệ đă nói sự thật; lời nói của các bậc hiền trí là không sai khác. Người có nghiệp phước thiện đi đến bất cứ nơi nào đều vui sướng ở tại nơi ấy, là người có dục lạc theo như ước muốn.

 

642. Bất cứ nơi nào có sự sầu muộn và than văn, có sự giết chóc và sự giam cầm, có sự chướng ngại, kẻ có ác pháp đi đến nơi ấy, không khi nào được thoát khỏi cảnh giới khổ đau.”

 

643. “Tập thể (chư Thiên) tựa như có vẻ bị bối rối, tựa như đă bị làm vẩn đục vào giây phút này. Thưa Thiên tử, vậy th́ do điều ǵ mà tập thể này và ngài đă có sự thất vọng?”

 

644. “Thưa quư vị, từ khu rừng sirīsa kế cận những hương thơm này thuộc cơi Trời tỏa ra thơm ngát; sau khi đă tiêu diệt bóng tối vào ban ngày và ban đêm chúng tự tỏa đến Thiên cung này.

 

645. Và khi đă trải qua một trăm năm, chỉ một quả của những cây này được kết trái. Kể từ khi tôi được sanh ra ở tập thể (chư Thiên) tại nơi này th́ một trăm năm nhân loại đă trôi qua.

 

646. Thưa quư vị, tôi đă nh́n thấy tôi sẽ tồn tại ở Thiên cung này năm trăm năm, do sự cạn kiệt của tuổi thọ, do sự cạn kiệt của phước báu, tôi sẽ chết; chính v́ nỗi sầu muộn ấy tôi bị hoảng loạn.”

 

647. “Bằng cách nào mà vị ấy, thuộc thành phần như thế, sau khi đạt được Thiên cung không thể sánh bằng một cách lâu dài, lại có thể sầu muộn? Chỉ có những người nào đă được sanh lên một cách ngắn ngủi, phải chăng những người ấy, với phước báu ít ỏi, mới có thể sầu muộn?”

 

648. “Việc quư vị nói lời nói yêu mến với tôi (nghĩa là) điều khuyên bảo của tôi thích hợp đối với quư vị. Thưa quư vị, quư vị đă được tôi hộ tŕ theo như ước muốn, v́ thế quư vị hăy lên đường một cách an toàn.”

 

649. “Sau khi đi đến vùng đất Sindhu và Sovīra, chúng tôi với mục đích về tài sản, với mong mỏi về lợi nhuận, có sự hào phóng đầy đủ theo như kế hoạch, sẽ làm lễ hội cao sang cho Serissa.”

 

650. “Quư vị chớ có làm lễ hội cho Serissa, và tất cả sẽ trở thành hiện thực cho quư vị theo điều quư vị nói. Quư vị hăy tránh xa hẳn các nghiệp ác xấu, và hăy phát nguyện gắn bó với Giáo Pháp.

 

651. Ở tập thể này, có người cận sự nam đa văn, được đầy đủ giới hạnh và phận sự, có đức tin, có sự hào phóng, và vô cùng tốt lành, có sự suy xét, tự hài ḷng, có sự thận trọng.

 

652. Là người không cố t́nh nói lời dối trá, không suy nghĩ đến việc hăm hại người khác, không gây ra sự chia rẽ, đâm thọc, và nói lời mềm mỏng, tử tế.

 

653. Có sự tôn kính, có sự phục tùng, đă được huấn luyện, không độc ác, thanh tịnh về giới bậc thượng, có hạnh kiểm thánh thiện, con người ấy nuôi dưỡng mẹ và luôn cả cha đúng theo Pháp.

 

654. Tôi nghĩ rằng vị ấy tầm cầu của cải v́ lư do (phụng dưỡng) mẹ cha, không v́ nguyên nhân của bản thân. Với sự qua đời của mẹ và cha, người ấy, với khuynh hướng xuất ly, sẽ thực hành Phạm hạnh.

 

655. Là người ngay thẳng, không khúc mắc, không gian trá, không xảo quyệt, và không phát biểu theo lối viện cớ. Vị ấy, như thế ấy, là người tạo nên hành động đă được thực hiện một cách tốt đẹp, đứng vững trong Giáo Pháp, sao lại nhận lănh sự khổ đau?

 

656. Bởi lư do người ấy, tôi tự thân hiện ra; v́ thế, quư vị thương buôn hăy nhận thức Giáo Pháp. Ở đây, không có người ấy, quư vị có thể trở thành tro bụi, bị rối loạn như người mù, bị lạc lối trong khu rừng; (bởi v́) đối với kẻ đang xử tệ người ấy, như thế ấy hay việc khác nữa là điều dễ dàng. Quả vậy, việc kết giao với người tốt lành là hạnh phúc.”

 

657. “Người ấy tên là ǵ, làm nghề nghiệp ǵ, tên gọi là ǵ, hơn nữa họ của người ấy là ǵ? Thưa vị Dạ-xoa, chúng tôi cũng có mong muốn được gặp người ấy, v́ ḷng thương tưởng người ấy mà ngài đă đi đến nơi đây, bởi v́ người nào mà ngài yêu quư th́ lợi ích là thuộc về người ấy.”

 

658. “Người nào là thợ cạo, có tên gọi là Sambhava, là người cận sự nam, có sự nuôi mạng bằng lược và dao cạo, quư vị biết người ấy, người ấy là người sai vặt của quư vị. Đúng vậy, chớ khinh chê người ấy, người ấy vô cùng tốt lành.”

 

659. Thưa vị Dạ-xoa, chúng tôi biết người mà ngài nói, nhưng chúng tôi quả không biết người ấy là người như thế ấy. Thưa vị Dạ-xoa, chúng tôi cũng sẽ tôn vinh người ấy sau khi lắng nghe lời nói cao cả của ngài.”

 

660. “Bất cứ người nào ở đoàn xe này, thanh niên, lăo niên, luôn cả trung niên, hết thảy tất cả những người ấy hăy bước lên Thiên cung, những kẻ keo kiệt hăy nh́n xem quả báo của các việc phước thiện.”

 

661. “Tại đó, sau khi đă đưa người thợ cạo ấy lên phía trước tại nơi ấy, hết thảy tất cả những người ấy (đă nói rằng): ‘Tôi trước,’ hết thảy tất cả những người ấy đă bước lên Thiên cung tựa như (Thiên cung) Masakkasāra của vị Vāsava (Chúa Trời Sakka).[13]

 

662. Tại đó, hết thảy tất cả những người ấy (đă nói rằng): ‘Tôi trước’ và đă tuyên bố bản thân là người cư sĩ. Họ đă kiêng chừa việc giết hại mạng sống, họ đă xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời.

 

663. Không có việc uống chất say, và họ đă không nói lời dối trá, họ đă được vui thích (chỉ) với người vợ của ḿnh. Tại đó, hết thảy tất cả những người ấy (đă nói rằng): ‘Tôi trước’ và đă tuyên bố bản thân là người cư sĩ. Trong khi đang tùy hỷ với thần thông của vị Dạ-xoa đợt này đến đợt khác, đoàn xe, được cho phép, đă khởi hành.

 

664. Sau khi đi đến vùng đất Sindhu và Sovīra, những người ấy với mục đích về tài sản, với mong mỏi về lợi nhuận, có sự đạt được đầy đủ theo như kế hoạch, đă trở về lại Pāṭaliputta không bị tổn hại.

 

665. Những người ấy, sau khi đi về đến căn nhà của ḿnh, có sự an toàn, được gần gũi với những người con và những người vợ, có sự vui thích, hớn hở, có tâm ư vui vẻ, trở nên mừng rỡ, đă làm lễ hội cao sang cho Serissa.

 

666. Những người ấy đă cho xây dựng ṭa nhà Serissakā. Sự thân cận với những người tốt lành là như thế ấy, sự thân cận với những đức tính của Giáo Pháp là có lợi ích lớn, nhờ vào sự lợi ích của một cận sự nam, hết thảy tất cả chúng sanh đă có trạng thái hạnh phúc.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ Serissaka là thứ nh́.

 

TỤNG PHẨM THỨ BA.

 

4. 3

 

667. Đức vua tên Piṅgalaka đă là vị chúa tể của xứ Suraṭṭha. Sau khi đi đến trợ giúp cho những người Moriya, đức vua đă trở về lại Suraṭṭha.

 

668. Vào lúc giữa trưa nóng nực, đức vua đă đi đến đầm lầy và đă nh́n thấy con đường đáng yêu, lối đi bằng cát của các ngạ quỷ.

 

669. Đức vua đă nói với người đánh xe rằng: “Con đường này xinh đẹp, an toàn, may mắn, tốt lành. Này xa phu, người hăy đi bằng lối này từ đây cho đến khu vực phụ cận của xứ Suraṭṭha.”

 

670. Đức vua xứ Suraṭṭha cùng với đạo binh gồm bốn binh chủng đă xuất phát theo lối đi ấy. Có (một) người nam với dáng vẻ kinh hoàng đă nói với đức vua xứ Suraṭṭha điều này:

 

671. “Chúng tôi đă đi vào con đường sai trái, ghê rợn, khiến nổi da gà, con đường được nh́n thấy ở phía trước và không được nh́n thấy ở phía sau.

 

672. Chúng tôi đă đi vào con đường sai trái, ở gần khu vực của các nam nhân cơi Dạ-ma, có mùi phi nhân tỏa ra, có âm thanh ghê rợn được nghe.”

 

673. Đức vua xứ Suraṭṭha, bị rúng động, đă nói với người đánh xe rằng: “Chúng ta đă đi vào con đường sai trái, ghê rợn, khiến nổi da gà; con đường được nh́n thấy ở phía trước và không được nh́n thấy ở phía sau.

 

674. Chúng ta đă đi vào con đường sai trái, ở gần nơi của các nam nhân cơi Dạ-ma, có mùi phi nhân tỏa ra, có âm thanh ghê rợn được nghe.”

 

675. Rồi đức vua đă cỡi lên lưng voi, quan sát bốn phương, và đă nh́n thấy cây đa đáng yêu, có bóng râm, giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa.

 

676. Đức vua đă nói với người đánh xe rằng: “Vật to lớn kia trông giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa là vật ǵ vậy?”

 

677. “Tâu đại vương, vật ấy là cây đa, có bóng râm, giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa.”

 

678. Vua xứ Suraṭṭha đă tiến theo lối đi ấy về phía vật to lớn ấy, được nh́n thấy giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa.

 

679. Sau khi leo xuống từ lưng voi, đức vua đă đi đến gần thân cây, rồi đă ngồi xuống ở gốc cây với viên quan cận thần và đoàn tùy tùng.

 

680. Đức vua đă nh́n thấy b́nh nước đầy và các loại bánh ngọt đa dạng. Và có (một) người nam với dáng vẻ Thiên nhân, được điểm tô với tất cả đồ trang sức, đă đi đến gần đức vua xứ Suraṭṭha và đă nói điều này:

 

681. “Tâu đại vương, việc đi đến của quư vị là tốt đẹp, hơn nữa đối với quư vị không phải là việc đi đến sai trái. Tâu vị thuần phục kẻ thù, xin bệ hạ hăy uống nước, hăy ăn các bánh ngọt.”

 

682. Đức vua cùng viên quan cận thần và nhóm tùy tùng đă uống nước, và đă ăn các bánh ngọt. Uống xong, đức vua xứ Suraṭṭha đă nói điều này:

 

683. “Phải chăng ngươi là Thiên nhân, là nhạc sĩ Thiên đ́nh, hay là (Chúa Trời) Sakka, người đă bố thí trước đây? Trong khi không biết, chúng tôi hỏi ngươi, làm thế nào chúng tôi có thể nhận biết ngươi?”

 

684. “Tôi không là Thiên nhân, không là nhạc sĩ Thiên đ́nh, cũng không là (Chúa Trời) Sakka, người đă bố thí trước đây; tâu đại vương, tôi là ngạ quỷ đă từ xứ Suraṭṭha đi đến đây.”

 

685. “Trước đây ở Suraṭṭha ngươi đă có giới hạnh ǵ, có sự thực hành ǵ? Do hạnh kiểm cao đẹp nào của ngươi mà ngươi có năng lực này?”

 

686. “Tâu đại vương, tâu vị thuần phục kẻ thù, tâu vị làm quốc độ phát triển, xin bệ hạ hăy lắng nghe điều ấy; các viên quan cận thần, đoàn tùy tùng, và vị Bà-la-môn viên quan tế tự (cũng thế).

 

687. Tâu bệ hạ, từ xứ Suraṭṭha, tôi đă là người đàn ông có tâm ư ác xấu, có tà kiến và có giới tồi, keo kiệt, là kẻ mắng nhiếc (các Sa-môn và Bà-la-môn).

 

688. Tôi đă ngăn cản nhiều người trong khi họ đang bố thí. Tôi đă là người gây chướng ngại cho những người khác trong khi họ đang ban phát, (bằng cách nói rằng):

 

689. ‘Không có quả thành tựu của việc bố thí, từ đâu có quả báo của việc thu thúc (giới)? Không có người gọi là thầy dạy học, ai sẽ huấn luyện cho kẻ không được huấn luyện?

 

690. Các chúng sanh đều bằng nhau b́nh đẳng, do đâu lại có việc tôn kính người trưởng thượng? Không có sức mạnh hay sự tinh tấn, do đâu lại có người với sự vươn lên?

 

691. Không có cái gọi là quả báo của sự bố thí, không thể xóa sạch sự thù hằn, loài người nhận lănh điều sẽ phải nhận lănh, được sanh lên do sự xoay vần của số phận.

 

692. Không có mẹ, cha, anh em trai, không có thế giới nào khác với thế giới này, không có việc đă được bố thí, không có việc đă được hiến dâng, thậm chí việc đă khéo được quy định không được biết đến.

 

693. Thậm chí ai đó có thể giết chết người, có thể chặt đầu người khác, th́ cũng chẳng có người nào giết chết người nào cả, (con dao đâm vào) khe hở ở khoảng giữa của bảy nhóm (các yếu tố cấu thành cơ thể).[14]

 

694. Mạng sống không thể bị cắt đứt, không thể bị đập vỡ, là h́nh bát giác, là quả cầu tṛn, (cao) năm trăm do-tuần, kẻ nào có khả năng cắt đứt mạng sống?

 

695. Giống như cuộn chỉ được ném ra, trong khi tháo rời, nó lăn đi, cũng tương tự y như thế, mạng sống ấy trong khi tháo rời, nó lăn đi.

 

696. Giống như người sau khi rời khỏi ngôi làng th́ đi vào ngôi làng khác, cũng tương tự y như thế, mạng sống ấy đi vào thân thể khác.

 

697. Giống như người sau khi rời khỏi ngôi nhà th́ đi vào ngôi nhà khác, cũng tương tự y như thế, mạng sống ấy đi vào thân thể khác.

 

698. Bởi v́ những kẻ ngu và các người trí sau khi bị ném vào luân hồi cho đến tám mươi bốn trăm ngàn (8.400.000) đại kiếp th́ sẽ thực hiện việc chấm dứt khổ đau.

 

699. Các khổ và lạc được đo lường bằng các đấu và các giỏ; đấng Chiến Thắng biết rơ tất cả, c̣n những người khác hoàn toàn mê muội.

 

700. Trước đây, tôi đă có tà kiến như vậy, hoàn toàn mê muội, bị bao trùm bởi si mê, có tà kiến và có giới tồi, keo kiệt, là kẻ mắng nhiếc (các Sa-môn và Bà-la-môn).

 

701. Trong ṿng sáu tháng nữa, tôi sẽ chết. Tôi sẽ rơi vào địa ngục vô cùng khổ sở, ghê rợn.

 

702. Địa ngục có bốn góc, có bốn cửa, được phân chia thành các phần cân xứng, được bao quanh bằng tường sắt, được đậy lại bằng tấm sắt.

 

703. Mặt nền của nó làm bằng sắt, cháy rực, có sức nóng, tỏa rộng ra xung quanh một trăm do-tuần, và luôn luôn tồn tại.[15]

 

704. Cứ đến mỗi một trăm ngàn năm th́ được nghe tiếng vang. Tâu đại vương, đó là một lakkha; một trăm lần (lakkha) là số năm tính theo koṭi.[16]

 

705. Những kẻ có tà kiến và có giới tồi, và những kẻ chỉ trích bậc Thánh nhân bị nung nấu ở địa ngục một trăm ngàn koṭi năm.

 

706. Tại nơi ấy, tôi đă cảm giác cảm thọ khổ, quả báo của nghiệp ác một thời gian dài lâu; v́ việc ấy tôi sầu muộn vô cùng.

 

707. Tâu đại vương, tâu vị thuần phục kẻ thù, tâu vị làm quốc độ phát triển, xin bệ hạ hăy lắng nghe điều ấy. Tâu đại vương, con gái của tôi là Uttarā. Cầu mong bệ hạ được điều tốt lành.

 

708. Cô ấy tạo nghiệp tốt lành, thích thú các giới và ngày trai giới, có sự tự kiềm chế và có sự san sẻ, có sự ân cần, đă xa ĺa sự bỏn xẻn.

 

709. Cô ấy là người có sự thực hành không bể vỡ về điều học, và nhu ḿ ở các gia đ́nh những người khác, là cận sự nữ của vị Hiền Trí ḍng Sakya, bậc Toàn Giác, đấng Vinh Quang.

 

710. Có vị tỳ khưu đầy đủ giới đức đă đi vào làng để khất thực, mắt nh́n xuống, có niệm, có giác quan được canh pḥng, khéo được thu thúc.

 

711. Trong khi đi tuần tự theo từng nhà, vị ấy đă đi đến chỗ trú ngụ ấy. Tâu đại vương, Uttarā đă nh́n thấy vị ấy. Cầu mong bệ hạ được điều tốt lành.

 

712. Và cô ấy đă dâng cúng b́nh nước đầy và các loại bánh ngọt đa dạng (nói rằng): ‘Thưa ngài, cha tôi đă qua đời, mong rằng việc này thành tựu đến ông ấy.’

 

713. Khi được chỉ định th́ quả thành tựu đă được sanh lên ngay lập tức, tôi thọ hưởng, là người có dục lạc theo như ước muốn, giống như Thiên Vương Vessavaṇa.

 

714. Tâu đại vương, tâu vị thuần phục kẻ thù, tâu vị làm quốc độ phát triển, xin bệ hạ hăy lắng nghe điều ấy. Đức Phật được gọi là bậc cao cả của thế gian luôn cả chư Thiên. Tâu vị thuần phục kẻ thù, bệ hạ cùng vợ và các con hăy đi đến nương nhờ đức Phật ấy.

 

715. Nhờ vào Đạo Lộ tám chi phần, các ngài chạm đến vị thế Bất Tử. Tâu vị thuần phục kẻ thù, bệ hạ cùng vợ và các con hăy đi đến nương nhờ Giáo Pháp ấy.

 

716. Bốn hạng đă thực hành Đạo Lộ và bốn hạng đă trụ ở Quả vị, Hội Chúng ấy có bản thể chính trực, có Giới - Định - Tuệ. Tâu vị thuần phục kẻ thù, bệ hạ cùng vợ và các con hăy đi đến nương nhờ Hội Chúng ấy.

 

717. Bệ hạ hăy lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, hăy xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, chớ có việc uống chất say và nói lời dối trá, và hăy vui thích (chỉ) với người vợ của ḿnh.”

 

718. “Này vị Dạ-xoa, ngươi là người mong mỏi sự tốt đẹp cho trẫm. Này vị Thiên nhân, ngươi là người mong mỏi sự lợi ích cho trẫm. Trẫm thực hành lời nói của ngươi; ngươi là thầy dạy học của trẫm.

 

719. Trẫm đi đến nương nhờ đức Phật, luôn cả Giáo Pháp vô thượng, và trẫm đi đến nương nhờ Hội Chúng thuộc về vị Trời của nhân loại.

 

720. Trẫm lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, trẫm xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, và trẫm không nói lời dối trá, và trẫm vui thích (chỉ) với người vợ của ḿnh.”

 

721. Trẫm (sẽ) sàng lọc ở trong cơn gió mạnh, hoặc ở ḍng sông chảy xiết, rồi loại bỏ tà kiến ác xấu; trẫm (sẽ) vui thích trong lời dạy của chư Phật.”

 

722. Sau khi nói điều này, sau khi loại bỏ quan điểm ác xấu, sau khi thực hiện việc kính lễ đến đức Thế Tôn, vị vua xứ Suraṭṭha đă bước lên xe, mặt nh́n hướng đông.

 

Chuyện Ngạ Quỷ Nandaka là thứ ba.

 

4. 4

 

723. “Này Revatā, này cô nàng có bản tính vô cùng xấu xa, cô hăy đứng lên. Này cô nàng không có nết hạnh bố thí, cánh cửa (địa ngục) là không bị đóng lại. Chúng tôi sẽ đưa cô đến nơi mà những kẻ bị đọa vào khổ cảnh than khóc, (và) những kẻ địa ngục bị gánh chịu khổ đau.”[17]

 

724. Sau khi chỉ nói như thế, các sứ giả cơi Dạ-ma, hai Dạ-xoa ấy, có cặp mắt đỏ ngầu, cao to, mỗi người một cánh tay, đă nắm lấy Revatā rồi đi đến nơi có sự hiện diện của hội chúng chư Thiên.

 

725. “Thiên cung xinh đẹp, được che phủ bằng mạng lưới vàng, có màu sắc của mặt trời, đáng yêu, rực rỡ. Thiên cung này, có người đông đảo, đang rực sáng tựa như hào quang của mặt trời, là của người nào?

 

726. Các nhóm phụ nữ, được thoa tinh chất của trầm hương, làm cho cung điện được sáng chói cả hai nơi (bên trong và bên ngoài). Thiên cung được nh́n thấy có màu sắc như là mặt trời. Người nào đă đạt đến cơi Trời và vui sướng ở Thiên cung?”[18]

 

727. “Ở Bārāṇasī, đă có người cận sự nam tên là Nandiya, không bỏn xẻn, là người thí chủ, là người nhân từ. Thiên cung này, có người đông đảo, đang rực sáng tựa như hào quang của mặt trời, là của người ấy.

 

728. Các nhóm phụ nữ, được thoa tinh chất của trầm hương, làm cho cung điện được rực sáng cả hai nơi (bên trong và bên ngoài). Thiên cung được nh́n thấy có màu sắc như là mặt trời. Người ấy đă đạt đến cơi Trời và vui sướng ở Thiên cung.”

 

729. “Tôi là người vợ của Nandiya, là nữ gia chủ, có uy quyền đối với tất cả gia đ́nh. Giờ đây, tôi sẽ thích thú ở Thiên cung của chồng, tôi không mong mỏi về việc nh́n thấy địa ngục.”

 

730. “Này cô nàng có bản tính vô cùng xấu xa, cái địa ngục ấy là dành cho cô. Việc phước thiện đă không được cô làm khi ở thế giới có cuộc sống. Bởi v́ người nữ bỏn xẻn, giận dữ, có bản tính xấu xa, không đạt được sự cộng trú với những người đă đi đến cơi Trời.”

 

731. “Phân và nước tiểu nhơ bẩn được nh́n thấy là cái ǵ vậy? Cái mùi hôi thối này là cái ǵ? Cái phân bốc mùi này là cái ǵ?”

 

732. “Này Revatā, cái ấy gọi là địa ngục Saṃsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam, là nơi cô (sẽ) bị nung nấu hàng ngàn năm.”

 

733. “Vậy việc làm ác nào đă được làm do thân, do khẩu, do ư? V́ việc ǵ mà bị gánh chịu địa ngục Saṃsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam?”

 

734. “Cô lừa gạt các Sa-môn, các Bà-la-môn, và luôn cả những người khốn khổ khác nữa bằng lời nói dối trá; việc xấu xa ấy đă do cô gây ra.

 

735. Này Revatā, do việc ấy mà bị gánh chịu địa ngục Saṃsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam, ở nơi ấy cô (sẽ) bị nung nấu hàng ngàn năm.

 

736. Chúng chặt các bàn tay, rồi luôn cả các bàn chân, chúng xẻo các lỗ tai, rồi luôn cả lỗ mũi, rồi c̣n có các bầy quạ bu lại, tụ tập lại, ngấu nghiến kẻ đang quằn quại.”

 

737. “Quả là tốt đẹp, xin các vị hăy đưa tôi trở về, tôi sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp với việc bố thí, với việc hành thiện, với việc thu thúc, với việc rèn luyện, là việc mà sau khi thực hành, người ta được hạnh phúc và không bị ân hận về sau này.”

 

738. “Trước đây cô đă xao lăng rồi bây giờ than van. Cô sẽ gánh chịu quả thành tựu của các nghiệp đă làm của ḿnh.”

 

739. “Vị nào, sau khi từ thế giới chư Thiên đi đến thế giới loài người, được tôi hỏi rồi nói như vầy: ‘Nàng nên dâng cúng vật thí, y phục, chỗ nằm, và cơm nước ở những vị đă buông các gậy gộc xuống, bởi v́ người nữ bỏn xẻn, giận dữ, có bản tính xấu xa, không đạt được sự cộng trú với những người đă đi đến cơi Trời?’

 

740. Chắc chắn rằng tôi đây, khi đă đi khỏi nơi này, sau khi đạt được việc sanh lại làm người, (tôi sẽ) là người nhân từ, đầy đủ giới hạnh, tôi sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp với việc bố thí, với việc hành thiện, với việc thu thúc, với việc rèn luyện.

 

741. Với tâm ư tịnh tín, tôi sẽ cho dựng lên các tu viện, các cây cầu ở chỗ khó đi, nước uống dọc đường, và giếng nước.

 

742. Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ tŕ tốt đẹp về tám giới.

 

743. Tôi sẽ hành tŕ ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới, và sẽ không xao lăng trong việc bố thí; điều này đă được đích thân tôi nh́n thấy.”

 

744. Trong khi cô ấy đang rên rỉ như thế, đang quằn quại thế này thế khác, chúng đă ném cô ấy vào địa ngục ghê rợn, chân phía trên, đầu phía dưới.

 

745. “Trước đây, tôi đă là người bỏn xẻn, là người mắng nhiếc các vị Sa-môn và Bà-la-môn, và sau khi dối gạt người chồng bằng việc không thật, tôi bị nung nấu ở địa ngục có h́nh thức ghê rợn.”

 

Chuyện Nữ Ngạ Quỷ Revatī là thứ tư.

 

4. 5

 

746. “Rừng mía rộng lớn này sanh lên cho tôi là quả phước không phải ít, mà giờ đây nó không đem lại (cho tôi) việc thọ hưởng. Thưa ngài, xin ngài hăy nói cho đây là quả thành tựu của việc ǵ?

 

747. Tôi bị đánh đập và bị nhai nghiến. (Khi) tôi ra sức, cố gắng thọ dụng cái ǵ đó, th́ tôi đây có sức lực bị đứt đoạn, thê thảm, nên than văn; đây là quả thành tựu của việc ǵ?

 

748. Và bị đánh đập, tôi ngă quỵ ở mặt đất. Tôi lăn quay trong sự nóng bức tựa như loài cá (ở đất khô nóng bỏng). Và trong khi khóc lóc, nước mắt của tôi nhỏ xuống. Thưa ngài, xin ngài hăy nói cho đây là quả thành tựu của việc ǵ?

 

749. Bị đói, bị nhọc mệt, và bị khát, bị hoảng sợ, tôi không t́m thấy thoải mái, an lạc. Thưa ngài đại đức, tôi hỏi ngài về việc này, làm thế nào tôi có thể đạt được việc thọ dụng mía?”

 

750. “Trước đây, ngươi đă đích thân tạo nghiệp khi là con người trong kiếp sống trước đây. Và ta nói cho ngươi về việc này. Sau khi lắng nghe, ngươi hăy nhận biết về việc này.

 

751. Ngươi đă bước đi trong lúc nhai mía. Và người đàn ông đă đi theo sau lưng ngươi. Trong lúc mong mỏi, người ấy đă nói với ngươi, ngươi đă không nói điều ǵ với người ấy.

 

752. Và trong lúc ngươi không nói, người ấy đă cầu xin và đă nói với ngươi rằng: ‘Này ông, xin ông cho mía.’ Ngươi đă cho người ấy cây mía ở sau lưng của ngươi; đây là quả thành tựu của nghiệp ấy.

 

753. ‘Này, ông hăy cầm lấy cây mía ở sau lưng, sau khi cầm lấy ông hăy ăn tùy theo ư thích. Do chính điều ấy, ông sẽ hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, và hứng thú.’

 

754. Người ấy đă đi đến cầm lấy (cây mía) ở sau lưng, sau khi cầm lấy đă nhai nó tùy theo ư thích. Do chính điều ấy, ông ấy đă trở nên hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, và hứng thú.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ Mía là thứ năm.

 

4. 6

 

755. Ở sườn núi Hy-mă-lạp có thành phố tên là Sāvatthi. Tôi đă được nghe rằng: ‘Có hai thanh niên, con trai của đức vua, đă ngụ tại nơi ấy.’

 

756. Bị say đắm ở các sự ái luyến, vui thích sự khoái lạc ở các dục, tham đắm ở sự sung sướng trong hiện tại, họ đă không nh́n về tương lai.

 

757. Và họ đă chết đi, ĺa bản thể nhân loại, từ nơi đây họ đă đi đến thế giới khác. Ở nơi này, trong khi không được nh́n thấy, họ kêu than về việc xấu xa đă làm của bản thân trong thời quá khứ (nói rằng):

 

758. “Hỡi ôi, khi các bậc đạo đức có nhiều, khi các vật bố thí được sẵn sàng, chúng tôi đă không thể làm chút ít việc đem lại sự an lạc cho bản thân.

 

759. Có thể có việc ǵ tồi tệ hơn thế ấy, là việc chúng tôi đă chết đi từ ḍng dơi vua chúa rồi bị sanh vào cảnh giới ngạ quỷ, bị gánh chịu sự đói khát?”

 

760. Họ đă là những người chủ ở nơi đây, và không c̣n là những người chủ ở nơi khác. Lúc là loài người, họ đă được nâng cao, và (giờ đây) bị hạ thấp, họ lang thang trong sự đói khát.

 

761. Sau khi biết được điều bất lợi ấy có nguồn sanh khởi là sự say đắm quyền lực, sau khi dứt bỏ sự say đắm quyền lực, con người có thể đi đến cơi Trời; do sự tan ră của thân xác, người có trí tuệ ấy được sanh lên cơi Trời.

 

Chuyện Ngạ Quỷ Hai Người Thanh Niên là thứ sáu.

 

4. 7

 

762. Quả thành tựu của các nghiệp đă được làm trong thời quá khứ có thể khuấy động tâm ư do duyên cảnh sắc, thinh, vị, hương, và xúc làm thích ư.

 

763. Sau khi hưởng thụ điệu vũ, lời ca, sự khoái lạc, sự vui thích không phải là ít, sau khi đi lang thang ở vườn hoa, (vị Sát-đế-lỵ) đi vào Giribbaja.

 

764. Vị Sát-đế-lỵ đă nh́n thấy bậc ẩn sĩ Sunetta, vị đă chế ngự bản thân, được định tĩnh, có ít ham muốn, thành tựu sự khiêm tốn, thích thú với vật được bỏ vào b́nh bát do sự khất thực.

 

765. Sau khi leo xuống từ lưng voi, vị Sát-đế-lỵ đă nói rằng: ‘Thưa ngài, đă được nhận lănh (vật thực) chưa ạ?’ rồi đă cầm lấy b́nh bát của vị ấy đưa lên cao.

 

766. Trong lúc cười giỡn, vị Sát-đế-lỵ đă đập vỡ b́nh bát ở nền đất cứng, rồi đă bỏ đi (nói rằng): ‘Tôi là con trai của đức vua Kitava. Này ông tỳ khưu, ông sẽ làm ǵ tôi?’

 

767. Quả thành tựu của hành động thô lỗ của vị (Sát-đế-lỵ) ấy đă là dữ dội, là việc người con trai của đức vua đă cảm thọ, đă bị gánh chịu ở địa ngục.

 

768. Kẻ đă làm điều tội lỗi đă trải nghiệm sự khổ sở vô cùng ở địa ngục đến sáu lần của thời gian tám mươi bốn ngàn năm.

 

769. Kẻ ấy đă bị nung nấu ở tư thế nằm ngửa, nằm sấp, nằm nghiêng bên trái, nằm nghiêng bên phải, chân ở phía trên (chổng ngược), và luôn cả tư thế đứng; kẻ ngu si đă bị nung nấu dài lâu.

 

770. Trong nhiều ngàn năm và nhiều lần mười ngàn (năm), kẻ đă làm điều tội lỗi đă trải nghiệm sự khổ sở vô cùng ở địa ngục.

 

771. Thật vậy, sau khi công kích bậc ẩn sĩ có sự hành tŕ tốt đẹp, không tồi bại, không tội lỗi, những kẻ có hành động ác xấu bị nung nấu dữ dội như thế ấy.

 

772. Sau khi cảm thọ nhiều khổ đau ở tại nơi ấy nhiều năm, sau khi chết đi từ nơi ấy đă trở thành ngạ quỷ, đương nhiên bị hành hạ bởi sự đói khát.

 

773. Sau khi biết được điều bất lợi ấy có nguồn sanh khởi là sự say đắm quyền lực, sau khi dứt bỏ sự say đắm quyền lực, nên hành xử theo lối nhún nhường.

 

774. Người nào có sự tôn kính đối với chư Phật được sự ngợi khen ngay trong hiện tại; do sự tan ră của thân xác, người có trí tuệ ấy được sanh lên cơi Trời.

 

Chuyện Ngạ Quỷ Con Trai của Đức Vua là thứ bảy.

  

4. 8

 

775. “Sau khi đi lên từ hố phân, ngươi là ai mà đứng thật thảm thương? Đương nhiên là kẻ có hành động ác xấu, tại sao ngươi lại gây tiếng ồn?”[19]

 

776. “Thưa ngài đại đức, con là ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cơi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây con đă đi đến thế giới ngạ quỷ.”

 

777. “Vậy ác hạnh ǵ đă được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ư? Do quả thành tựu của nghiệp ǵ mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?”

 

778. “Vị (tỳ khưu) thường trú (ở trú xá) của con đă có sự ganh tỵ, có sự bỏn xẻn về gia đ́nh (thí chủ). Bị dính mắc với trú xá của con, vị ấy trở nên keo kiệt, là kẻ mắng nhiếc.

 

779. Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, con đă mắng nhiếc các vị tỳ khưu. Do quả thành tựu của nghiệp ấy, từ nơi đây con đă đi đến thế giới ngạ quỷ.”

 

780. “Kẻ thường tới lui với gia đ́nh ngươi có dáng vẻ bạn hữu nhưng không phải là bạn hữu; do sự tan ră của thân xác, kẻ có trí tồi ấy sau khi chết đă đi đến cảnh giới nào?”

 

781. “Con đứng ở trên đầu, nơi chóp đỉnh, của chính kẻ có hành động ác xấu ấy, và kẻ ấy đă đạt đến vị thế khác, là người hầu hạ của riêng con.

 

782. Thưa ngài, vật nào mà những người khác thải ra, vật ấy là thức ăn của con. Và sau đó, vật mà con thải ra, kẻ ấy sống nhờ vật ấy.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ Ăn Phân là thứ tám.

 

4. 9

 

783. Sau khi đi lên từ hố phân, cô là ai mà đứng thật thảm thương? Đương nhiên là kẻ có hành động ác xấu, tại sao cô lại gây tiếng ồn?”[20]

 

784. “Thưa ngài đại đức, con là nữ ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cơi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây con đă đi đến thế giới ngạ quỷ.”

 

785. “Vậy ác hạnh ǵ đă được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ư? Do quả thành tựu của nghiệp ǵ mà cô lại trải nghiệm sự khổ đau này?”

 

786. “Vị (tỳ khưu) thường trú (ở trú xá) của con đă có sự ganh tỵ, có sự bỏn xẻn về gia đ́nh (thí chủ). Bị dính mắc với trú xá của con, vị ấy trở nên keo kiệt, là kẻ mắng nhiếc.

 

787. Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, con đă mắng nhiếc các vị tỳ khưu. Do quả thành tựu của nghiệp ấy, từ nơi đây con đă đi đến thế giới ngạ quỷ.”

 

788. Kẻ thường tới lui với gia đ́nh cô với dáng vẻ bạn hữu không phải là bạn hữu, do sự tan ră của thân xác, kẻ có trí tồi sau khi chết đă đi đến cảnh giới nào?”

 

789. “Con đứng ở đầu, nơi chóp đỉnh, của chính kẻ có hành động ác xấu ấy, và kẻ ấy đă đạt đến lănh vực khác, là người hầu hạ của riêng con.

 

790. Thưa ngài, vật nào mà những người khác thải ra, vật ấy là thức ăn của con. Và sau đó, vật mà con thải ra, kẻ ấy sống nhờ vật ấy.”

 

Chuyện Nữ Ngạ Quỷ Ăn Phân là thứ chín.

 

4. 10

 

791. Này các ông, các ông có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân, ḷi cả xương sườn, gầy guộc, các ông là những ai vậy?”

 

792. “Thưa ngài đại đức, chúng tôi là ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cơi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây chúng tôi đă đi đến thế giới ngạ quỷ.”

 

793. “Vậy ác hạnh ǵ đă được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ư? Do quả thành tựu của nghiệp ǵ mà từ nơi đây các ông đă đi đến thế giới ngạ quỷ?”

 

794. “Ở những bến tắm không bị ngăn cấm, chúng tôi đă góp nhặt từng nửa đồng tiền māsaka. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, chúng tôi đă không tạo lập ḥn đảo (nương nhờ) cho bản thân.

 

795. Bị khát (nước), chúng tôi đi đến gần ḍng sông th́ ḍng sông trở nên khô cạn. Vào những lúc nóng, chúng tôi đi đến gần bóng râm th́ bóng râm trở thành ánh nắng mặt trời.

 

796. Và làn gió, có dáng vẻ của ngọn lửa, thổi đến đốt nóng chúng tôi. Và thưa ngài, chúng tôi xứng đáng với việc này và việc khác tồi tệ hơn thế ấy.

 

797. Chúng tôi c̣n đi nhiều do-tuần, bị đói ăn, có sự ham muốn về vật thực, lại chẳng được thọ lănh, chúng tôi quay trở lại. Ôi, t́nh trạng phước báu ít ỏi của chúng tôi!

 

798. Bị đói, bị choáng váng, lảo đảo, quỵ xuống ở mặt đất, chúng tôi dă dượi nằm ngửa ra, chúng tôi té ngă sụm xuống.

 

799. Và ngay tại nơi ấy, bị té ngă, quỵ xuống ở mặt đất, chúng tôi đây đấm ngực và đầu. Ôi, t́nh trạng phước báu ít ỏi của chúng tôi!

 

800. Và thưa ngài, chúng tôi xứng đáng với việc này và việc khác tồi tệ hơn thế ấy. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, chúng tôi đă không tạo lập ḥn đảo (nương nhờ) cho bản thân.

 

801. Chắc chắn rằng chúng tôi đây, sau khi đi khỏi nơi này, sau khi đạt được sự xuất thân thuộc loài người, sẽ là những người nhân từ, đầy đủ giới hạnh, sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp.”

 

Chuyện Nhóm Ngạ Quỷ là thứ mười.

 

4. 11

 

802. “Nàng đă nh́n thấy địa ngục, chủng loại súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-la, luôn cả loài người, chư Thiên. Nàng đă đích thân nh́n thấy quả thành tựu của nghiệp của bản thân, ta sẽ đưa nàng đến Pāṭaliputta, không bị tổn hại. Sau khi đi đến nơi ấy, nàng hăy tạo nghiệp tốt lành.”

 

803. “Thưa vị Dạ-xoa, ngài là người mong mỏi sự tốt đẹp cho thiếp. Thưa vị Thiên nhân, ngài là người mong mỏi sự lợi ích cho thiếp. Thiếp thực hành lời nói của ngài; ngài là thầy dạy học của thiếp.

 

804. Thiếp đă nh́n thấy địa ngục, chủng loại súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-la, luôn cả loài người, chư Thiên. Thiếp đă đích thân nh́n thấy quả thành tựu của nghiệp của bản thân, thiếp sẽ thực hiện không ít các việc phước thiện.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ ở Pāṭaliputta là thứ mười một.

 

4. 12

 

805. “Và hồ sen này của ngươi rất đáng yêu, có những băi tắm đẹp bằng phẳng, và có nhiều nước, đă khéo được trổ hoa, có các bầy ong ṿ vẽ lúc nhúc; bằng cách nào ngươi đạt được (hồ sen) làm hài ḷng này?

 

806. Và khu rừng xoài này của ngươi rất đáng yêu, mang nặng các trái ở tất cả các mùa, đă khéo được trổ hoa, có các bầy ong ṿ vẽ lúc nhúc; bằng cách nào ngươi đạt được cung điện này?”

 

807. “(Vật thí gồm có) xoài chín, nước, cháo; nhờ vào vật thí đă được dâng cúng ấy của người con gái, ở nơi này tôi đă đạt được bóng râm mát mẻ, làm thích ư.”

 

808. “Quư vị hăy nh́n xem nghiệp được thấy rơ ràng như thế này, quả thành tựu của sự bố thí, của sự rèn luyện, của sự thu thúc: sau khi là nữ tỳ trong các gia đ́nh của ông chủ, tôi trở thành con dâu và là nữ chủ nhân của gia đ́nh.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ ở Hồ Sen là thứ mười hai.

 

4. 13

 

809. “Vật mà người bố thí, không hẳn (quả thành tựu) lại là vật ấy. Ông hăy bố thí; người ban bố vật thí vượt qua cả hai (khổ đau và bất hạnh trong kiếp này và vị lai), nhờ vào việc bố thí ấy mà đi đến cả hai (sự lợi ích và an vui trong kiếp này và vị lai). Ông hăy tỉnh thức, ông chớ xao lăng.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ ở Cây Xoài là thứ mười ba.

 

4. 14

 

810. “Chúng tôi gom góp các của cải theo cách đúng đắn và không đúng đắn; những người khác thọ hưởng các của cải ấy, c̣n chúng tôi chịu phần khổ đau.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ Gom Góp Của Cải là thứ mười bốn.

 

4. 15

 

811. Tổng cộng là sáu mươi ngàn năm tṛn, khi nào sẽ là sự chấm dứt cho (chúng tôi) những người đang bị nung nấu ở địa ngục?

 

812. Thưa ông, theo như việc ác đă do tôi và ông đă gây ra th́ (sự khổ đau của tôi và ông) không có sự chấm dứt, sự chấm dứt do đâu mà có, sự chấm dứt không được nh́n thấy.

 

813. Chúng tôi đă sống cuộc sống tồi tệ, chúng tôi đă không bố thí các vật đang có. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, chúng tôi đă không tạo lập ḥn đảo (nương nhờ) cho bản thân.

 

814. Chắc chắn rằng tôi đây, sau khi đi khỏi nơi này, sau khi đạt được sự xuất thân thuộc loài người, sẽ là người nhân từ, đầy đủ giới hạnh, sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp.”

 

Chuyện Ngạ Quỷ Các Con Trai Nhà Triệu Phú là thứ mười lăm.

 

4. 16

 

815. “Tại sao ngươi bỏ chạy như có vẻ điên khùng, tựa như con nai bị lạc lối? Đương nhiên là kẻ có hành động ác xấu, tại sao ngươi lại gây tiếng ồn?”

 

816. “Thưa ngài đại đức, tôi là ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cơi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đă đi đến thế giới ngạ quỷ.

 

817. Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của tôi; và chúng làm vỡ cái đầu (của tôi).”

 

818. “Vậy ác hạnh ǵ đă được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ư? Do quả thành tựu của nghiệp ǵ mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?

 

819. Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của ngươi; và chúng làm vỡ cái đầu (của ngươi).”

 

820. “Khi ấy, tôi đă nh́n thấy đấng Giác Ngộ Sunetta, có giác quan đă được tu tập, ngồi ở gốc cây, đang tham thiền, không có sự sợ hăi từ bất cứ đâu.

 

821. Bằng việc ném đá, tôi đă làm vỡ cái đầu của vị ấy. Do quả thành tựu của nghiệp ấy mà tôi trải nghiệm sự khổ đau này.

 

822. Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của tôi; và chúng làm vỡ cái đầu (của tôi).”

 

823. “Này kẻ xấu xa, một cách hợp lẽ đối với ngươi. Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của ngươi; và chúng làm vỡ cái đầu (của ngươi).”

 

Chuyện Ngạ Quỷ với Sáu Mươi Ngàn Quả Búa Tạ là thứ mười sáu.

 

Đại Phẩm là thứ tư.

 

*****

 

TÓM LƯỢC PHẨM NÀY

 

(Chuyện) Ambasakkhara, Serissaka, Piṅgala, Revatī, những kẻ ăn mía, hai người thanh niên, hai kẻ ăn phân, nhóm (ngạ quỷ), Pāṭaliputta, và hồ sen, cây xoài, gom góp của cải, con trai nhà triệu phú, sáu mươi (ngàn) quả búa tạ, như vậy là mười sáu câu chuyện; bởi vậy phẩm được gọi tên thế ấy.

 

CHUYỆN NGẠ QUỶ ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ.

 

--ooOoo--

 


 

[1] Các câu kệ từ 393 trở đi là lời thuật lại của các vị tham gia cuộc Kết Tập (Sđd. 169).

[2] Và cả hai: thứ nhất là bốn món vật cần thiết để sống gồm có vật thực, y phục, nhà ở, và thuốc men (ở đây là nước uống) và thứ hai là phương tiện di chuyển (Sđd. 186).

[3] Chú giải cho biết đây là nữ ngạ quỷ thuộc dạng vimānapetī (Sđd.).

[4] Câu kệ 453 là lời của các vị tham gia cuộc Kết Tập (Sđd. 191).

[5] Tựa đề của câu chuyện này đúng ra phải là Rathakārapetivatthu - Chuyện Nữ Ngạ Quỷ ở Hồ Rathakāra.

[6] Một nam cư sĩ ngụ tại thành phố Hatthinī đă nh́n thấy nữ ngạ quỷ ấy và đă có cuộc tṛ chuyện này (Sđd. 201).

[7] Tựa đề của câu chuyện này đúng ra phải là Seriṇīpetivatthu - Chuyện Nữ Ngạ Quỷ Seriṇī.

[8] Người bạn ấy khuyên bảo không có kết quả nên đă thỉnh vị tỳ khưu giáo huấn (Sđd. 208).

[9] Câu kệ này là lời giới thiệu của các vị Kết Tập. Năm câu kệ kế tiếp (527-531) là lời đức vua Ambasakkhara hỏi ngạ quỷ về gă đàn ông đang chịu h́nh phạt cắm ở cọc nhọn (Sđd. 217).

[10] Kapinaccanā: do sự nhảy múa (naccanaṃ) của các con khỉ (kapi) mà khu vực đă được gọi tên như vậy (Sđd. 231).

[11] Câu chuyện này giống câu chuyện Thiên Cung của Serissaka (TTPV 30, Chuyện Thiên Cung, chương 7, trang 202).

[12] 1 ratana = 0.25 mét; như vậy 100 ratana = 25 mét.

[13] Sáu câu kệ cuối cùng, 661-666, là của các vị tham gia cuộc Kết Tập (VvA, 350).

[14] Pakudha Kaccāyana thuyết về bảy nhóm (kāya): đất, nước, lửa, gió, sự khổ, sự lạc, mạng sống (Xem TTPV tập 01, Trường Bộ tập 1, bài Kinh Sāmaññaphalasuttaṃ, trang 99).

[15] Hai câu kệ 702, 703 giống hai câu kệ 70, 71.

[16] 1 lakkha = 100.000, 1 koṭi = 10000.000.

[17] Câu chuyện này giống câu chuyện Thiên Cung của Revatī (TTPV 30, Chuyện Thiên Cung, chương 5, trang 123).

[18] Hai câu kệ 725, 726 là lời của Revatā.

[19] Câu hỏi này là của ngài Moggallāna (PvA, 267).

[20] Câu chuyện này có nội dung hoàn toàn giống với câu chuyện trước, tuy nhiên người đối thoại với ngài Moggallāna ở đây là ngạ quỷ nữ (ND).

 

 

--ooOoo--

 


 


[1] Hai câu kệ 286, 287 không có ở Tạng Miến Điện và Thái Lan (ND).

[2] Hai câu kệ này là lời của đức Thế Tôn khi Ngài liên hệ đến thời kỳ quá khứ, lúc là thầy giáo dạy đàn tên Guttila, c̣n người học tṛ đă thách thức tài nghệ với thầy có tên Mūsila, là tiền thân của Devadatta. Chi tiết câu chuyện được ghi lại ở Chú Giải của tập Kinh này. Bổn Sanh 243 (Guttilajātakaṃ) ở Chú Giải Kinh Bổn Sanh có nội dung cũng tương tợ.

[3] pañcaṅgulikaṃ: (pañca: số 5, aṅgulikaṃ: thuộc về ngón tay), pañcaṅgulikaṃ là một nhúm vật thơm do năm ngón tay chụm lại rồi bốc lên.

[4] Chúa Trời Sakka nh́n thấy ánh sáng vượt trội của Subhaddā nên đă hỏi Bhaddā về điều ấy (Sđd. 153).

[5] Chuyện Thiên Cung Khúc Mía này giống như chuyện Thiên Cung của Người Nữ Bố Thí Mía (các câu kệ 297-307), chỉ thay đổi một chi tiết là “cầm lấy cục đất” thay v́ “cầm lấy chiếc ghế” trong việc đả thương cô con dâu của người mẹ chồng (ND).

 

 

   
 

| 00 | 01 | 02 |

 
 

<Mục Lục><Đầu Trang>