Trang Chính

Dīghanikāya & Trường Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

DĪGHANIKĀYA & TRƯỜNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Monday, June 25, 2012

 

03. AMBAṬṬHASUTTAṂ

 

03. AMBAṬṬHASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

03. KINH AMBATTHA - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas, phiên bản 7.07

 

254. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Kosalesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṃghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi yena Icchānaṅgalaṃ nāma Kosalānaṃ Brāhmaṇagāmo tadavasari, tatra sudaṃ Bhagavā Icchānaṅgale viharati Icchānaṅgalavanasaṇḍe.

 

Tụng phẩm thứ nhất

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang du hành tại nước Kosala (Câu-tát-la), cùng với Đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đến tại một làng Bà-la-môn ở Kosala tên là Icchànankala. Tại đây, Thế Tôn ở tại Icchànankala trong khu rừng tên là Icchànankala.

 

Pokkharasātivatthu

255. Tena kho pana samayena brāhmaṇo Pokkharasāti (Pokkharasātī - Sī; pokkharasādi - I) ukkaṭṭhaṃ ajjhāvasati sattussadaṃ satiṇakaṭṭhodakaṃ sadhaññaṃ rājabhoggaṃ raññā pasenadinā Kosalena dinnaṃ rājadāyaṃ brahmadeyyaṃ.

 

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi ở tại Ukkattha, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, ngũ cốc phong phú, vốn là đất đai của vua, sau vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) cấp cho để hưởng một phần lợi tức.

 

Assosi kho brāhmaṇo Pokkharasāti “Samaṇo khalu bho Gotamo Sakyaputto Sakyakulā pabbajito Kosalesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṃghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi Icchānaṅgalaṃ anuppatto Icchānaṅgale viharati Icchānaṅgalavanasaṇḍe, taṃ kho pana Bhavantaṃ Gotamaṃ evaṃ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato ‘Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā’ (Bhagavāti - Syā, Kaṃ; uparisoṇadaṇḍasuttādīsupi Buddhaguṇakathāyaṃ evameva dissati), so imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti, so dhammaṃ deseti ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ, sātthaṃ sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti, sādhu kho pana tathārūpānaṃ Arahataṃ dassanaṃ hotī”ti.

 

2. Bà-la-môn Pokkharasàdi nghe đồn: Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ ḍng họ Thích ca, nay đang du hành tại nước Kosala, cùng với Đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đă đến Icchànankala, ở tại Icchànankala trong khu rừng tên là Icchànankala. Những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: "Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài đă tự chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết, Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, tŕnh bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy th́ rất quư".

 

Ambaṭṭhamāṇava

256. Tena kho pana samayena brāhmaṇassa Pokkharasātissa Ambaṭṭho nāma māṇavo antevāsī hoti ajjhāyako mantadharo tiṇṇaṃ vedānaṃ (Bedānaṃ - Ka) pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṃ sākkharappabhedānaṃ itihāsapañcamānaṃ padako veyyākaraṇo lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo anuññātapaṭiññāto sake ācariyake tevijjake pāvacane “Yamahaṃ jānāmi, taṃ tvaṃ jānāsi. Yaṃ tvaṃ jānāsi, tamahaṃ jānāmī”ti.

 

 

3. Lúc bấy giờ, thanh niên Ambattha (A-ma-trú) là đệ tử của Bà-la-môn Pokkharasàdi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp tŕ chú thuật, tinh thông ba tập Vệ đà với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Đại nhân tướng. Vị này độc đáo về ba minh và được công nhận như vậy khiến các thân giáo sư phải nói: "Điều ǵ ta biết, ngươi cũng biết; điều ǵ ngươi biết, ta cũng biết".

 

257. Atha kho brāhmaṇo Pokkharasāti Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ āmantesi “Ayaṃ tāta Ambaṭṭha samaṇo Gotamo Sakyaputto Sakyakulā pabbajito Kosalesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṃghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi Icchānaṅgalaṃ anuppatto Icchānaṅgale viharati Icchānaṅgalavanasaṇḍe, taṃ kho pana bhavantaṃ Gotamaṃ evaṃ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato ‘Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā’, so imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti, so dhammaṃ deseti ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ, sātthaṃ sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti, sādhu kho pana tathārūpānaṃ Arahataṃ dassanaṃ hotī”ti. Ehi tvaṃ tāta Ambaṭṭha yena samaṇo Gotamo tenupasaṅkama, upasaṅkamitvā samaṇaṃ Gotamaṃ jānāhi, yadi vā taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ tathāsantaṃyeva saddo abbhuggato, yadi vā no tathā. Yadi vā so bhavaṃ Gotamo tādiso, yadi vā na tādiso, tathā mayaṃ taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ vedissāmā”ti.

 

4. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với thanh niên Ambattha: "Này Ambattha thân yêu, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ ḍng họ Thích ca, nay đang du hành tại nước Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đă đến tại Icchànankala trú tại Icchànankala. Những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: "Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, ... Phật, Thế Tôn. Ngài đă chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, tŕnh bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy th́ rất quư". Này Ambattha thân yêu, hăy đi đến gặp Sa-môn Gotama, và t́m hiểu lời đồn về Tôn giả Gotama là như vậy hay không phải như vậy. Nhờ vậy, chúng ta sẽ được biết về Tôn giả Gotama".

 

258. Yathā kathaṃ panāhaṃ bho taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ jānissāmi, “Yadi vā taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ tathāsantaṃyeva saddo abbhuggato, yadi vā no tathā. Yadi vā so bhavaṃ Gotamo tādiso, yadi vā na tādiso”ti.

 

5. - Làm thế nào con được biết về Tôn giả Gotama, được biết lời đồn về Tôn giả Gotama như vậy là đúng hay không, có phải Tôn giả Gotama là như vậy, hay không phải như vậy?

Āgatāni kho tāta Ambaṭṭha amhākaṃ mantesu dvattiṃsa mahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveyeva gatiyo bhavanti anaññā. Sace agāraṃ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Tassimāni satta ratanāni bhavanti. Seyyathidaṃ, cakkaratanaṃ, hatthiratanaṃ, assaratanaṃ, maṇiratanaṃ, itthiratanaṃ, gahapatiratanaṃ, pariṇāyakaratanameva sattamaṃ. Parosahassaṃ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā. So imaṃ pathaviṃ sāgarapariyantaṃ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati. Sace kho pana agārasmā anagāriyaṃ pabbajati, Arahaṃ hoti Sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado. Ahaṃ kho pana tāta ambaṭṭha mantānaṃ dātā, tvaṃ mantānaṃ paṭiggahetāti.

 

- Ambattha thân yêu, theo truyền thống của chúng ta về ba mươi hai tướng của vị đại nhân, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn trong hai con đường, không có đường nào khác. Nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy châu báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, ma ni báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một ngàn con trai, là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại quân. Vị này sống, thống lănh quả đất cùng tận cho đến đại dương, và trị v́ với chánh pháp, không dùng gậy, không dùng dao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, vị này sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, quét sạch mê lầm ở đời. Này Ambattha thân yêu, ta đă cho con chú thuật. Con đă nhận những chú thuật ấy.

 

259. “Evaṃ bho”ti kho Ambaṭṭho māṇavo brāhmaṇassa Pokkharasātissa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā brāhmaṇaṃ Pokkharasātiṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā vaḷavārathamāruyha sambahulehi māṇavakehi saddhiṃ yena Icchānaṅgalavanasaṇḍo tena Pāyāsi, yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova ārāmaṃ pāvisi.

 

 

6. - Thưa vâng.

Thanh niên Ambattha vâng theo lời của Bà-la-môn Pokkharasàdi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasàdi, hướng thân về phía hữu, cỡi xe ngựa cái và cùng một số đông thanh niên khác đi đến khu rừng Icchànankala. Đi xe đến chỗ không c̣n đi được xe, Ambattha liền xuống xe đi bộ và đến tại tịnh xá.

 

Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū abbhokāse caṅkamanti. Atha kho Ambaṭṭho māṇavo yena te bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca “Kahaṃ nu kho bho etarahi so bhavaṃ Gotamo viharati, taṃ hi mayaṃ bhavantaṃ Gotamaṃ dassanāya idhūpasaṅkantā”ti.

7. Lúc bấy giờ một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Thanh niên Ambattha liền đến các Tỷ-kheo ấy và hỏi: "Các Hiền giả, nay Tôn gả Gotama ở tại chỗ nào? Chúng tôi đến đây để yết kiến Tôn giả Gotama".

 

260. Atha kho tesaṃ bhikkhūnaṃ etadahosi “Ayaṃ kho Ambaṭṭho māṇavo abhiññātakolañño ceva abhiññātassa ca brāhmaṇassa Pokkharasātissa antevāsī, agaru kho pana Bhagavato evarūpehi kulaputtehi saddhiṃ kathāsallāpo hotī”ti. Te Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ etadavocuṃ “Eso Ambaṭṭha vihāro saṃvutadvāro, tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno āḷindaṃ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṃ ākoṭehi, vivarissati te Bhagavā dvāran”ti.

 

8. Các Tỷ-kheo liền nghĩ: "Thanh niên Ambattha này thuộc một gia đ́nh có danh tiếng, là đệ tử của Bà-la-môn Pokkharasàdi, một vị cũng có danh tiếng. Một cuộc đối thoại như vậy giữa Thế Tôn và con một quư tộc như vậy, không có khó khăn ǵ". Những Tỷ-kheo ấy nói với thanh niên Ambattha: "Này Ambattha, tịnh xá đóng cửa kia là chỗ ở của Ngài. Hăy đến đó một cách yên lặng, không vượt qua hành lang, đằng hắng và gơ vào thanh cửa, Thế Tôn sẽ mở cửa cho ông".

 

261. Atha kho Ambaṭṭho māṇavo yena so vihāro saṃvutadvāro, tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno āḷindaṃ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṃ ākoṭesi, vivari Bhagavā dvāraṃ. Pāvisi Ambaṭṭho māṇavo. Māṇavakāpi pavisitvā Bhagavatā saddhiṃ sammodiṃsu, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Ambaṭṭho pana māṇavo caṅkamantopi nisinnena Bhagavatā kañci kañci (Kiñci kiñci - Ka) kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāreti, ṭhitopi nisinnena Bhagavatā kiñci kiñci kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāreti.

 

9. Thanh niên Ambattha liền đi đến tịnh xá đóng cửa ấy một cách yên lặng, không vượt quá hành lang, đằng hắng và gơ vào thanh cửa. Thế Tôn mở cửa và thanh niên Ambattha bước vào. Các thanh niên khác cũng bước theo, nói những lời chào đón hỏi thăm xă giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên, c̣n thanh niên Ambattha thời đi qua đi lại, thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi, hay đứng lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi.

 

262. Atha kho Bhagavā Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ etadavoca “Evaṃ nu te Ambaṭṭha brāhmaṇehi vuddhehi mahallakehi ācariyapācariyehi saddhiṃ kathāsallāpo hoti, yathayidaṃ caraṃ tiṭṭhaṃ nisinnena mayā kiñci kiñci kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretī”ti.

 

10. Lúc bấy giờ Thế Tôn nói với thanh niên Ambattha:

- Có phải, đối với các bậc Bà-la-môn trưởng lăo, đứng tuổi, các bậc giáo sư và tổ sư, ngươi cũng nói chuyện như vậy, như ngươi đă đi qua lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Ta đang ngồi, hay đứng lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Ta đang ngồi?

 

Paṭhama-ibbhavāda

263. Nohidaṃ bho Gotama. Gacchanto vā hi bho Gotama gacchantena brāhmaṇo brāhmaṇena saddhiṃ sallapitumarahati, ṭhito vā hi bho Gotama ṭhitena brāhmaṇo brāhmaṇena saddhiṃ sallapitumarahati, nisinno vā hi bho Gotama nisinnena brāhmaṇo brāhmaṇena saddhiṃ sallapitumarahati, sayāno vā hi bho Gotama sayānena brāhmaṇo brāhmaṇena saddhiṃ sallapitumarahati, ye ca kho te bho Gotama muṇḍakā samaṇakā ibbhā kaṇhā (Kiṇhā - Ka—Sī, I) bandhupādāpaccā, tehipi me saddhiṃ evaṃ kathāsallāpo hoti, yathariva bhotā Gotamenāti.

 
 

- Không phải vậy, này Gotama. Phải đi mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang đi. Phải đứng mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang đứng. Phải ngồi mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang ngồi. Phải nằm mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang nằm. Chỉ với những vị Sa-môn hèn hạ, trọc đầu, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân của bà con ta, th́ ta mới nói chuyện như vậy, như với ngươi, Gotama".

Atthikavato kho pana te Ambaṭṭha idhāgamanaṃ ahosi, yāyeva kho panatthāya āgaccheyyātha (Āgaccheyyātho - Sī, I), tameva atthaṃ sādhukaṃ manasi kareyyātha (Manasikareyyātho - Sī, I), avusitavāyeva kho pana bho ayaṃ Ambaṭṭho māṇavo vusitamānī kimaññatra avusitattāti.

 

11. - Này Ambattha, h́nh như ngươi đến đây với một ư định ǵ? Ngươi hăy khéo tác ư đến mục đích đă đưa ngươi đến đây. Thanh niên Ambattha này thật vô giáo dục, dầu nó tự cho là có giáo dục. Như vậy là vô giáo dục, có ǵ khác nữa!

 

264. Atha kho Ambaṭṭho māṇavo Bhagavatā avusitavādena vuccamāno kupito anattamano Bhagavantaṃyeva khuṃsento Bhagavantaṃyeva vambhento Bhagavantaṃyeva upavadamāno “Samaṇo ca me bho Gotamo pāpito bhavissatī”ti Bhagavantaṃ etadavoca

 

12. Thanh niên Ambattha bị Thế Tôn gọi là vô giáo dục như vậy, liền phẫn nộ, tức tối, muốn nhục mạ Thế Tôn, phỉ báng Thế Tôn, công kích Thế Tôn, và nghĩ: "Sa-môn Gotama có ác ư đối với ta", liền nói với Thế Tôn:

 

“Caṇḍā bho Gotama Sakyajāti, pharusā bho Gotama Sakyajāti, lahusā bho Gotama Sakyajāti, bhassā bho Gotama Sakyajāti, ibbhā santā ibbhā samānā na brāhmaṇe sakkaronti, na brāhmaṇe garuṃ karonti (Garukaronti - Sī, Syā, Kaṃ, I), na brāhmaṇe mānenti, na brāhmaṇe pūjenti, na brāhmaṇe apacāyanti. Tayidaṃ bho Gotama nacchannaṃ, tayidaṃ nappatirūpaṃ, yadime Sakyā ibbhā santā ibbhā samānā na brāhmaṇe sakkaronti, na brāhmaṇe garuṃ karonti, na brāhmaṇe mānenti, na brāhmaṇe pūjenti, na brāhmaṇe apacāyantīti. Itiha Ambaṭṭho māṇavo idaṃ paṭhamaṃ Sakyesu ibbhavādaṃ nipātesi.

 

- Này Gotama, thô bạo là ḍng họ Thích ca; này Gotama, ác độc là ḍng họ Thích ca; này Gotama, khinh suất là ḍng họ Thích ca; này Gotama hung dữ là ḍng họ Thích ca. Là đê tiện, thuộc thành phần đê tiện, ḍng họ Thích ca không kính nhường Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn . Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp, khi ḍng họ Thích ca này, những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn .

Như vậy, thanh niên Ambattha lần đầu tiên đă buộc tội ḍng họ Thích ca là đê tiện. .

 

Dutiya-ibbhavāda

265. Kiṃ pana te Ambaṭṭha Sakyā aparaddhunti.

Ekamidāhaṃ bho Gotama samayaṃ ācariyassa brāhmaṇassa Pokkharasātissa kenacideva karaṇīyena Kapilavatthuṃ agamāsiṃ, yena Sakyānaṃ sandhāgāraṃ tenupasaṅkamiṃ, tena kho pana samayena sambahulā Sakyā ceva Sakyakumārā ca sandhāgāre (Santhāgāre - Sī, I) uccesu āsanesu nisinnā honti aññamaññaṃ aṅgulipatodakehi (Aṅgulipatodakena - I) sañjagghantā saṃkīḷantā, aññadatthu mamaññeva maññe anujagghantā, na maṃ koci āsanenapi nimantesi. Tayidaṃ bho Gotama nacchannaṃ, tayidaṃ nappatirūpaṃ, yadime Sakyā ibbhā santā ibbhā samānā na brāhmaṇe sakkaronti, na brāhmaṇe garuṃ karonti, na brāhmaṇe mānenti, na brāhmaṇe pūjenti, na brāhmaṇe apacāyantīti.

Itiha Ambaṭṭho māṇavo idaṃ dutiyaṃ Sakyesu ibbhavādaṃ nipātesi.

 

 

13. - Này Ambattha, ḍng họ Thích ca đă làm ǵ phật ḷng ngươi?

- Này Gotama, một thời ta đi đến Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) có việc phải làm cho thầy ta là Bà-la-môn Pokkharasàdi, và đến tại công hội trường của ḍng họ Thích. Lúc bấy giờ một số đông ḍng họ Thích ca và thanh niên Thích ca đang ngồi trên ghế cao tại công hội trường. Chúng cười với nhau, dùng ngón tay thọc cù nôn với nhau, ta nghĩ chắc chắn ta là mục tiêu cho chúng đùa giỡn với nhau, lại không ai mời ta ngồi. Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp, khi chúng Thích ca này là những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn .

Như vậy thanh niên Ambattha lần thứ hai đă buộc tội ḍng họ Thích ca là đê tiện.

 

Tatiya-ibbhavāda

266. Laṭukikāpi kho Ambaṭṭha sakuṇikā sake kulāvake kāmalāpinī hoti. Sakaṃ kho panetaṃ Ambaṭṭha Sakyānaṃ yadidaṃ Kapilavatthuṃ, nārahatāyasmā Ambaṭṭho imāya appamattāya abhisajjitunti.

 

 

14. - Này Ambattha, cũng như con chim cáy, con chim cáy con có thể tự hát thỏa thích trong tổ của nó. Này Ambattha, Kapilavatthu thuộc ḍng họ Thích ca. Thật không xứng để cho Ambattha phải phật ḷng v́ một vấn đề nhỏ mọn này.

 

Cattārome bho Gotama vaṇṇā khattiyā brāhmaṇā vessā suddā, imesaṃ hi bho Gotama catunnaṃ vaṇṇānaṃ tayo vaṇṇā khattiyā ca vessā ca suddā ca, aññadatthu brāhmaṇasseva paricārakā sampajjanti. Tayidaṃ bho Gotama nacchannaṃ, tayidaṃ nappatirūpaṃ, yadime Sakyā ibbhā santā ibbhā samānā na brāhmaṇe sakkaronti, na brāhmaṇe garuṃ karonti, na brāhmaṇe mānenti, na brāhmaṇe pūjenti, na brāhmaṇe apacāyantīti.

Itiha Ambaṭṭho māṇavo idaṃ tatiyaṃ Sakyesu ibbhavādaṃ nipātesi.

 

15. - Này Gotama, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà-la. Này Gotama, trong bốn giai cấp này, ba giai cấp Sát-đế-lỵ, Phệ-xá và Thủ-đà-la là để hầu hạ hạng Bà-la-môn . Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp khi chúng Thích-ca này là những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện, lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn .

Như vậy, thanh niên Ambattha lần thứ ba đă buộc tội ḍng họ Thích ca là đê tiện.

 

Dāsiputtavāda

267. Atha kho Bhagavato etadahosi “Atibāḷhaṃ kho ayaṃ Ambaṭṭho māṇavo Sakyesu ibbhavādena nimmādeti, yaṃnūnāhaṃ gottaṃ puccheyyan”ti. Atha kho Bhagavā Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ etadavoca

 “Kathaṃ gottosi Ambaṭṭhā”ti.

Kaṇhāyanohamasmi bho Gotamāti.

 

 

16. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ: "Thanh niên Ambattha này đă phỉ báng ḍng họ Thích-ca đê tiện một cách quá đáng. Nay ta phải hỏi ḍng họ của nó". Rồi Thế Tôn hỏi thanh niên Ambattha:

- Ḍng họ ngươi là ǵ?

- Này Gotama, ḍng họ ta là Kanhàyana.

 

Porāṇaṃ kho pana te Ambaṭṭha mātāpettikaṃ nāmagottaṃ anussarato ayyaputtā Sakyā bhavanti, dāsiputto tvamasi Sakyānaṃ, Sakyā kho pana Ambaṭṭha rājānaṃ okkākaṃ pitāmahaṃ dahanti.

Bhūtapubbaṃ Ambaṭṭha rājā okkāko yā sā mahesī piyā manāpā, tassā puttassa rajjaṃ pariṇāmetukāmo jeṭṭhakumāre raṭṭhasmā pabbājesi okkāmukhaṃ karakaṇḍaṃ (Ukkāmukhaṃ karakaṇḍuṃ - Sī, Syā) hatthinikaṃ sinisūraṃ (Sinipuraṃ - Sī, Syā), te raṭṭhasmā pabbājitā himavantapasse pokkharaṇiyā tīre mahāsākasaṇḍo, tattha vāsaṃ kappesuṃ, te jātisambhedabhayā sakāhi bhaginīhi saddhiṃ saṃvāsaṃ kappesuṃ.

- Này Ambattha, nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi về quá khứ, thời ḍng họ Thích ca là thầy của ngươi. Và ngươi là con của một nữ tỳ của ḍng họ Thích ca. Này thanh niên Ambattha, tổ tiên của Thích ca là vua Okkàka. Thuở xưa, này Ambattha, vua Okkàka muốn trao vương vị cho hoàng tử con bà hoàng hậu chính mà vua thương yêu, bèn đuổi ra khỏi nước những người con đầu của ḿnh là Okkàmukha, Karandu, Hatthiniya, Sinipura. Bị tẩn xuất khỏi nước, những hoàng tử này đến sống tại một khu rừng lớn bên một hồ nước, trên sườn núi Hy-mă-lạp sơn. V́ sợ huyết thống của ḿnh bị lẫn lộn với huyết thống khác, các vị hoàng tử này ăn nằm với những người chị của ḿnh.

 

Atha kho Ambaṭṭha rājā okkāko amacce pārisajje āmantesi “Kahaṃ nu kho bho etarahi kumārā sammantī”ti. Atthi deva himavantapasse pokkharaṇiyā tīre mahāsākasaṇḍo, tatthetarahi kumārā sammanti, te jātisambhedabhayā sakāhi bhaginīhi saddhiṃ saṃvāsaṃ kappentīti.

 

- Này Ambattha, một hôm vua Okkàka nói với vị đại thần tùy tùng: "Này các khanh, các hoàng tử hiện nay ở đâu?" - "Bạch Đại vương, có một khu rừng lớn, bên một hồ nước trên sườn núi Hy-mă-lạp-sơn. Nay các hoàng tử ở tại chỗ ấy. Các hoàng tử, v́ sợ huyết thống của ḿnh lẫn lộn huyết thống khác nên ăn nằm với những người chị của ḿnh".

 

Atha kho Ambaṭṭha rājā okkāko udānaṃ udānesi “Sakyā vata bho kumārā paramasakyā vata bho kumārā”ti, tadagge kho pana Ambaṭṭha Sakyā paññāyanti, so ca nesaṃ pubbapuriso.

Rañño kho pana Ambaṭṭha okkākassa disā nāma dāsī ahosi, sā kaṇhaṃ nāma Sā kaṇhaṃ - I() janesi, jāto kaṇho pabyāhāsi “Dhovatha maṃ amma, nahāpetha maṃ amma, imasmā maṃ asucismā parimocetha, atthāya vo bhavissāmī”ti. Yathā kho pana Ambaṭṭha etarahi manussā pisāce disvā pisācāti sañjānanti, evameva kho Ambaṭṭha tena kho pana samayena manussā pisāce kaṇhāti sañjānanti, te evamāhaṃsu “Ayaṃ jāto pabyāhāsi, kaṇho jāto pisāco jāto”ti, tadagge kho pana Ambaṭṭha kaṇhāyanā paññāyanti, so ca kaṇhāyanānaṃ pubbapuriso. Iti kho te Ambaṭṭha porāṇaṃ mātāpettikaṃ nāmagottaṃ anussarato ayyaputtā Sakyā bhavanti, dāsiputto tvamasi Sakyānanti.

 

- Này Ambattha, vua Okkàka liền cảm hứng thốt lời tụng hân hoan: "Các hoàng tử thật là những Sakya (cứng như lơi cây sồi), các hoàng tử thật là những Sakya xuất chúng". Này Ambattha, từ đó trở đi, các hoàng tử được gọi là Sakya và vua Okkàka là vua tổ của ḍng họ Thích-ca. Này Ambattha, vua ấy có một nữ tỳ tên là Disà. Nữ tỳ này sinh hạ một người con da đen. Vừa mới sinh, Kanha liền nói: "Này mẹ, hăy rửa cho con; này mẹ hăy tắm cho con; này mẹ hăy gội sạch đồ bất tịnh này. Và con sẽ giúp ích cho mẹ". Này Ambattha, v́ người ta gọi những ác quỷ là ác quỷ nên người ta cũng gọi Kanhà là ác quỷ. Chúng nói như thế này: "Đứa trẻ này, vừa mới sanh đă nói. Một Kanha vừa mới sanh". Này Ambattha, từ đó trở đi chữ Kanhàyanà được biết đến. Và Kanha là tổ phụ của ḍng họ Kanhàyana. Này Ambattha, nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi về quá khứ, thời ḍng họ Thích-ca là thầy của ngươi, và ngươi là con một nữ tỳ của ḍng họ Thích ca.

 

268. Evaṃ vutte te māṇavakā Bhagavantaṃ etadavocuṃ

“Mā bhavaṃ Gotamo Ambaṭṭhaṃ atibāḷhaṃ dāsiputtavādena nimmādesi, sujāto ca bho Gotama Ambaṭṭho māṇavo, kulaputto ca Ambaṭṭho māṇavo, bahussuto ca Ambaṭṭho māṇavo, kalyāṇavākkaraṇo ca Ambaṭṭho māṇavo, paṇḍito ca Ambaṭṭho māṇavo, pahoti ca Ambaṭṭho māṇavo bhotā Gotamena saddhiṃ asmiṃ vacane paṭimantetun”ti.

 

17. Khi Thế Tôn nói vậy, những thanh niên nói với Thế Tôn:

- Này Gotama, chớ có phỉ báng quá đáng thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ. Này Gotama, thanh niên Ambattha sinh vào quư tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này.

 

269. Atha kho Bhagavā te māṇavake etadavoca

“Sace kho tumhākaṃ māṇavakānaṃ evaṃ hoti ‘Dujjāto ca Ambaṭṭho māṇavo, akulaputto ca Ambaṭṭho māṇavo, appassuto ca Ambaṭṭho māṇavo, akalyāṇavākkaraṇo ca Ambaṭṭho māṇavo, duppañño ca Ambaṭṭho māṇavo, na ca pahoti Ambaṭṭho māṇavo samaṇena Gotamena saddhiṃ asmiṃ vacane paṭimantetun’ti, tiṭṭhatu Ambaṭṭho māṇavo, tumhe mayā saddhiṃ mantavho asmiṃ vacane. Sace pana tumhākaṃ māṇavakānaṃ evaṃ hoti ‘Sujāto ca Ambaṭṭho māṇavo, kulaputto ca Ambaṭṭho māṇavo, bahussuto ca Ambaṭṭho māṇavo, kalyāṇavākkaraṇo ca Ambaṭṭho māṇavo, paṇḍito ca Ambaṭṭho māṇavo, pahoti ca Ambaṭṭho māṇavo samaṇena Gotamena saddhiṃ asmiṃ vacane paṭimantetun’ti, tiṭṭhatha tumhe, Ambaṭṭho māṇavo mayā saddhiṃ paṭimantetū”ti.

18. Thế Tôn liền nói với những thanh niên ấy.

- Nếu những thanh niên các ngươi nghĩ: "Thanh niên Ambattha không được sanh vào quư tộc, thanh niên Ambattha không thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha không phải là bậc đa văn, thanh niên Ambattha không phải là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha không phải là nhà bác học, thanh niên Ambattha không thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này", thời thanh niên Ambattha hăy đứng ra một bên và để các thanh niên biện luận với Ta về vấn đề này. Nếu các ngươi nghĩ: "Thanh niên Ambattha được sanh vào quư tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Gotama về vấn đề này", thời các ngươi hăy đứng ra một bên và để thanh niên Ambattha biện luận với ta về vấn đề này.

 

Sujāto ca bho Gotama Ambaṭṭho māṇavo, kulaputto ca Ambaṭṭho māṇavo, bahussuto ca Ambaṭṭho māṇavo, kalyāṇavākkaraṇo ca Ambaṭṭho māṇavo, paṇḍito ca Ambaṭṭho māṇavo, pahoti ca Ambaṭṭho māṇavo bhotā Gotamena saddhiṃ asmiṃ vacane paṭimantetuṃ, tuṇhī mayaṃ bhavissāma, Ambaṭṭho māṇavo bhotā Gotamena saddhiṃ asmiṃ vacane paṭimantetūti.

 

19. - Này Gotama, thanh niên Ambattha được sanh vào quư tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này. Chúng tôi sẽ đứng im lặng. Thanh niên Ambattha sẽ cùng với Gotama biện luận về vấn đề này.

 

270. Atha kho Bhagavā Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ etadavoca “Ayaṃ kho pana te Ambaṭṭha sahadhammiko pañho āgacchati, akāmā byākātabbo, sace tvaṃ na byākarissasi, aññena vā aññaṃ paṭicarissasi, tuṇhī vā bhavissasi, pakkamissasi vā, ettheva te sattadhā muddhā phalissati. Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, kinti te sutaṃ brāhmaṇānaṃ vuddhānaṃ mahallakānaṃ ācariyapācariyānaṃ bhāsamānānaṃ kutopabhutikā kaṇhāyanā, ko ca kaṇhāyanānaṃ pubbapuriso”ti.

 

20. Thế Tôn liền nói với thanh niên Ambattha:

- Này Ambattha, câu hỏi hợp lư này được đem ra hỏi ngươi dầu không muốn, ngươi cũng phải trả lời. Nếu ngươi không trả lời, hoặc trả lời tránh qua một vấn đề khác, hoặc giữ im lặng, hoặc bỏ đi, thời ngay tại chỗ, đầu ngươi sẽ bị bể ra làm bảy mảnh. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các Bà-la-môn, trưởng lăo, tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn gốc của ḍng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của ḍng họ Kanhàyanà?

 

Evaṃ vutte Ambaṭṭho māṇavo tuṇhī ahosi, dutiyampi kho Bhagavā Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ etadavoca “Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, kinti te sutaṃ brāhmaṇānaṃ vuddhānaṃ mahallakānaṃ ācariyapācariyānaṃ bhāsamānānaṃ kutopabhutikā kaṇhāyanā, ko ca kaṇhāyanānaṃ pubbapuriso”ti.

 

Nghe nói vậy thanh niên Ambattha giữ im lặng. Lần thứ hai Thế Tôn nói với thanh niên Ambattha:

- Này Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các nguồn gốc của ḍng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của ḍng họ Kanhàyanà?

 

Dutiyampi kho Ambaṭṭho māṇavo tuṇhī ahosi. Atha kho Bhagavā Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ etadavoca “Byākarohi dāni Ambaṭṭha, na dāni te tuṇhībhāvassa kālo, yo kho Ambaṭṭha Tathāgatena yāvatatiyakaṃ sahadhammikaṃ pañhaṃ puṭṭho na byākaroti, etthevassa sattadhā muddhā phalissatī”ti.

 

Lần thứ hai thanh niên Ambattha giữ im lặng. Thế Tôn lại nói với thanh niên Ambattha:

- Ambattha, nay ngươi phải trả lời, nay không phải thời ngươi giữ im lặng nữa. Này Ambattha ai được Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lư mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.

 

271. Tena kho pana samayena vajirapāṇī yakkho mahantaṃ ayokūṭaṃ ādāya ādittaṃ sampajjalitaṃ sajotibhūtaṃ (Sañjotibhūtaṃ - Syā) Ambaṭṭhassa māṇavassa upari vehāsaṃ ṭhito hoti “Sacāyaṃ Ambaṭṭho māṇavo Bhagavatā yāvatatiyakaṃ sahadhammikaṃ pañhaṃ puṭṭho na byākarissati, etthevassa sattadhā muddhaṃ phālessāmī”ti. Taṃ kho pana vajirapāṇiṃ yakkhaṃ Bhagavā ceva passati Ambaṭṭho ca māṇavo.

 

21. Lúc bấy giờ, thần Dạ xoa Vajirapàni đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói đứng trên đầu của thanh niên Ambattha với ư định: "Nếu Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba, một câu hỏi hợp lư mà thanh niên Ambattha không trả lời, thời ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh". Chỉ có Thế Tôn và thanh niên Ambattha mới thấy thần Dạ xoa Vajirapàni.

 

272. Atha kho Ambaṭṭho māṇavo bhīto saṃviggo lomahaṭṭhajāto Bhagavantaṃyeva tāṇaṃ gavesī Bhagavantaṃyeva leṇaṃ gavesī Bhagavantaṃyeva saraṇaṃ gavesī upanisīditvā Bhagavantaṃ etadavoca “Kimetaṃ (Kiṃ me taṃ - Ka) bhavaṃ Gotamo āha, puna bhavaṃ Gotamo bravitū”ti (Brūtu - Syā).

 

Thanh niên Ambattha thấy vị thần ấy liền sợ hăi, hoảng hốt, lông dựng ngược, chỉ t́m sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ t́m sự hỗ trợ nơi Thế Tôn, liền cúi rạp ḿnh xuống và bạch Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama đă nói ǵ? Mong Tôn giả Gotama nói lại cho.

Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, kinti te sutaṃ brāhmaṇānaṃ vuddhānaṃ mahallakānaṃ ācariyapācariyānaṃ bhāsamānānaṃ kutopabhutikā kaṇhāyanā, ko ca kaṇhāyanānaṃ pubbapurisoti.

Evameva me bho Gotama sutaṃ yatheva bhavaṃ Gotamo āha, tatopabhutikā kaṇhāyanā, so ca kaṇhāyanānaṃ pubbapurisoti.

 

- Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các vị Bà-la-môn, trưởng lăo, tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn gốc của ḍng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của ḍng họ Kanhàyanà?

- Tôn giả Gotama, con đă có nghe, đúng như Tôn giả Gotama đă nói. Chính từ đó nguồn gốc của ḍng họ Kanhàyanà. Vị ấy là tổ phụ của ḍng họ Kanhàyanà.

 

Ambaṭṭhavaṃsakathā

273. Evaṃ vutte te māṇavakā unnādino uccāsaddamahāsaddā ahesuṃ “Dujjāto kira bho Ambaṭṭho māṇavo, akulaputto kira bho Ambaṭṭho māṇavo, dāsiputto kira bho Ambaṭṭho māṇavo Sakyānaṃ, ayyaputtā kira bho Ambaṭṭhassa māṇavassa Sakyā bhavanti, dhammavādiṃyeva kira mayaṃ samaṇaṃ Gotamaṃ apasādetabbaṃ amaññimhā”ti.

 

 

22. Khi nghe nói vậy, các thanh niên liền la hét lớn:

- Người ta nói thanh niên Ambattha là tiện sanh, người ta nói thanh niên Ambattha là con ḍng không phải quư phái; người ta nói thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ của ḍng họ Thích-ca; người ta nói ḍng họ Thích-ca là chủ của thanh niên Ambattha. Chúng tôi không nghĩ rằng Sa-môn Gotama mà lời nói bao giờ cũng chân thực, lại không phải là người có thể tin được.

 

274. Atha kho Bhagavato etadahosi “Atibāḷhaṃ kho ime māṇavakā Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ dāsiputtavādena nimmādenti, yaṃnūnāhaṃ parimoceyyan”ti. Atha kho Bhagavā te māṇavake etadavoca

23. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ rằng: "Các thanh niên đă phỉ báng quá đáng thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ rồi. Nay Ta hăy giải tỏa cho Ambattha". Rồi Thế Tôn nói với các thanh niên:

 

“Mā kho tumhe māṇavakā Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ atibāḷhaṃ dāsiputtavādena nimmādetha, uḷāro so kaṇho isi ahosi, so dakkhiṇajanapadaṃ gantvā brahmamante adhīyitvā rājānaṃ Okkākaṃ upasaṅkamitvā maddarūpiṃ dhītaraṃ yāci, tassa rājā Okkāko “Ko nevaṃ re ayaṃ mayhaṃ dāsiputto samāno maddarūpiṃ dhītaraṃ yācatī”ti kupito anattamano khurappaṃ sannayhi (Sannahi - Ka), so taṃ khurappaṃ neva asakkhi muñcituṃ, no paṭisaṃharituṃ.

 

- Các thanh niên, các ngươi chớ có phỉ báng quá đáng thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ. Kanha ấy trở thành một tu sĩ vĩ đại. Vị này đi về miền Nam, học các chú thuật Phạm thiên, rồi về yết kiến vua Okkàka và yêu cầu gả công chúa Khuddarùpi cho ḿnh. Vua Okkàka vừa giận, vừa tức, mắng rằng: "Ngươi là ai, con đứa nữ tỳ của ta mà dám xin con gái Khuddarùpi của ta", và vua liền lắp tên vào cung. Nhưng vua không thể bắn tên đi, cũng không thể cất mũi tên xuống.

 

Atha kho māṇavakā amaccā pārisajjā kaṇhaṃ isiṃ upasaṅkamitvā etadavocuṃ “Sotthi bhaddante (Bhadante - Sī, Syā) hotu rañño, sotthi bhaddante hotu rañño”ti. Sotthi bhavissati rañño, api ca rājā yadi adho khurappaṃ muñcissati, yāvatā rañño vijitaṃ, ettāvatā pathavī undriyissatīti. Sotthi bhaddante hotu rañño, sotthi janapadassāti. Sotthi bhavissati rañño sotthi janapadassa, api ca rājā yadi uddhaṃ khurappaṃ muñcissati, yāvatā rañño vijitaṃ, ettāvatā sattavassāni devo na vassissatīti. Sotthi bhaddante hotu rañño sotthi janapadassa devo ca vassatūti. Sotthi bhavissati rañño sotthi janapadassa devo ca vassissati, api ca rājā jeṭṭhakumāre khurappaṃ patiṭṭhāpetu, sotthi kumāro pallomo bhavissatīti. Atha kho māṇavakā amaccā Okkākassa ārocesuṃ “Okkāko jeṭṭhakumāre khurappaṃ patiṭṭhāpetu, sotthi kumāro pallomo bhavissatī”ti.

 

Khi bấy giờ, các thanh niên thị giả, các đại thần và tùy tùng đến thưa với ẩn sĩ Kanhà: - "Đại đức, hăy để cho vua an toàn! Đại đức, hăy để cho vua được an toàn!" - "Nhà vua sẽ được an toàn, và nếu nhà vua bắn mũi tên xuống đất, thời toàn thể quốc độ nhà vua sẽ bị hạn, khô héo!" - "Đại đức hăy để cho vua được an toàn! Hăy để cho quốc độ được an toàn!" - "Nhà vua sẽ được an toàn, quốc độ sẽ được an toàn! Nhưng nếu nhà vua bắn tên lên trời, thời toàn thể quốc độ sẽ không mưa trong bảy năm!" - "Đại đức, hăy để cho nhà vua được an toàn, hăy để cho quốc độ được an toàn! Và hăy để cho trời mưa!" - "Nhà vua sẽ được an toàn, quốc độ sẽ được an toàn và trời sẽ mưa. Nhưng vua hăy nhắm cây cung đến phía thái tử. Một sợi lông của thái tử cũng sẽ được an toàn!".

 

Atha kho rājā Okkāko jeṭṭhakumāre khurappaṃ patiṭṭhapesi, sotthi kumāro pallomo samabhavi. Atha kho tassa rājā Okkāko bhīto saṃviggo lomahaṭṭhajāto brahmadaṇḍena tajjito maddarūpiṃ dhītaraṃ adāsi. Mā kho tumhe māṇavakā ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ atibāḷhaṃ dāsiputtavādena nimmādetha, uḷāro so kaṇho isi ahosīti.

 

Khi bấy giờ, các thị giả trẻ tuổi, các đại thần nói với Okkàka: "Okkàka hăy nhắm cây cung đến phía thái tử. Một sợi lông của thái tử sẽ được an toàn". Vua Okkàka nhắm cây cung đến phía thái tử và một sợi lông của thái tử cũng được an toàn. Vua Okkàka hoảng sợ, khiếp đảm sự trừng phạt, thuận cho con gái Khuddàrùpi. Này các thanh niên, chớ có phỉ báng thanh niên Ambattha một cách quá đáng là con của một nữ tỳ. Kanha là một vị ẩn sĩ vĩ đại.

 

Khattiyaseṭṭhabhāva

275. Atha kho Bhagavā Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ āmantesi “Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, idha khattiyakumāro brāhmaṇakaññāya saddhiṃ saṃvāsaṃ kappeyya, tesaṃ saṃvāsamanvāya putto jāyetha, yo so khattiyakumārena brāhmaṇakaññāya putto uppanno, api nu so labhetha brāhmaṇesu āsanaṃ vā udakaṃ vā”ti. Labhetha bho Gotama.

 

 

24. Khi bấy giờ, Như Lai nói với thanh niên Ambattha:

- Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Một thanh niên Sát-đế-lỵ cưới một thiếu nữ Bà-la-môn . Do sự sum họp ấy, một người con trai được sinh. Một người sanh từ một thanh niên Sát-đế-lỵ và một thiếu nữ Bà-la-môn có thể thọ lănh chỗ ngồi hay nước giữa những người Bà-la-môn không?

- Tôn giả Gotama, có thể thọ lănh.

 

Apinu naṃ brāhmaṇā bhojeyyuṃ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vāti. Bhojeyyuṃ bho Gotama.

- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng món đồ ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng cho thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

- Tôn giả Gotama, có mời.

 

Apinu naṃ brāhmaṇā mante vāceyyuṃ vā no vāti.

Vāceyyuṃ bho Gotama.

- Và những người Bà-la-môn có dạy các chú thuật hay không?

- Tôn giả Gotama, có dạy.

 

Apinussa itthīsu āvaṭaṃ vā assa anāvaṭaṃ vāti.

Anāvaṭaṃ hissa bho Gotama.

 

- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng hay mở cửa?

- Tôn giả Gotama, mở cửa.

Apinu naṃ khattiyā khattiyābhisekena abhisiñceyyunti.

Nohidaṃ bho Gotama,

 

taṃ kissa hetu,

mātito hi bho Gotama anupapannoti.

- Và những người Sát-đế-lỵ có quán đảnh cho người ấy để thành một Sát-đế-lỵ không?

- Tôn giả Gotama, thưa không.

 

- Tại sao không?

- V́ nó không được sinh (là Sát đế lỵ) từ mẫu hệ.

 

Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, idha brāhmaṇakumāro khattiyakaññāya saddhiṃ saṃvāsaṃ kappeyya, tesaṃ saṃvāsamanvāya putto jāyetha, yo so brāhmaṇakumārena khattiyakaññāya putto uppanno, apinu so labhetha brāhmaṇesu āsanaṃ vā udakaṃ vāti.

Labhetha bho Gotama.

 

25. - Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây một thanh niên Bà-la-môn cưới một thiếu nữ Sát-đế-lỵ. Do sự sum họp này, một người con trai được sanh. Một người sanh từ một thanh niên Bà-la-môn và một thiếu nữ Sát-đế-lỵ có thể thọ lănh chỗ ngồi hay nước giữa những Bà-la-môn hay không?

- Tôn giả Gotama, có thể thọ lănh.

 

Apinu naṃ brāhmaṇā bhojeyyuṃ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vāti.

Bhojeyyuṃ bho Gotama.

 

Apinu naṃ brāhmaṇā mante vāceyyuṃ vā no vāti.

Vāceyyuṃ bho Gotama.

 

- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng các món ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng theo thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

- Tôn giả Gotama, có mời.

 

- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không?

- Tôn giả Gotama, có dạy.

 

Apinussa itthīsu āvaṭaṃ vā assa anāvaṭaṃ vāti.

Anāvaṭaṃ hissa bho Gotama.

 

Apinu naṃ khattiyā khattiyābhisekena abhisiñceyyunti.

Nohidaṃ bho Gotama,

 

taṃ kissa hetu,

pitito hi bho Gotama anupapannoti.

 

- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng, hay mở cửa?

- Tôn giả Gotama, chúng mở cửa.

 

- Và những người Sát-đế-lỵ có làm lễ quán đỉnh cho người ấy để thành một Sát-đế-lỵ không?

- Tôn giả Gotama, thưa không.

 

- Tại sao vậy?

- Tôn giả Gotama, v́ không được sinh (là Sát đế lỵ) từ phụ hệ.

 

276. Iti kho Ambaṭṭha itthiyā vā itthiṃ karitvā purisena vā purisaṃ karitvā khattiyāva seṭṭhā hīnā brāhmaṇā, taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, idha brāhmaṇā brāhmaṇaṃ kismiñcideva pakaraṇe khuramuṇḍaṃ karitvā bhassapuṭena vadhitvā raṭṭhā vā nagarā vā pabbājeyyuṃ, apinu so labhetha brāhmaṇesu āsanaṃ vā udakaṃ vāti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

26. - Này Ambattha, nếu so sánh đàn bà với đàn bà, đàn ông với đàn ông, th́ giai cấp Sát đế lỵ là ưu, Bà-la-môn là liệt. Này Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, giả sử do một nguyên nhân ǵ những người Bà-la-môn cạo đầu một người Bà-la-môn, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất ngươi ấy ra khỏi nước hay thành phố. Người ấy có được thọ lănh chỗ ngồi và nước giữa những người Bà-la-môn không?

- Tôn giả, không được.

 

Apinu naṃ brāhmaṇā bhojeyyuṃ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vāti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

Apinu naṃ brāhmaṇā mante vāceyyuṃ vā no vāti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

Apinussa itthīsu āvaṭaṃ vā assa anāvaṭaṃ vāti.

Āvaṭaṃ hissa bho Gotama.

 

- Và những người Bà-la-môn, có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng các món ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng cho thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

- Tôn giả Gotama, không có mời.

 

- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không?

- Tôn giả Gotama, không dạy.

 

- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng, hay mở cửa?

- Tôn giả Gotama, đóng cửa.

 

Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, idha khattiyā khattiyaṃ kismiñcideva pakaraṇe khuramuṇḍaṃ karitvā bhassapuṭena vadhitvā raṭṭhā vā nagarā vā pabbājeyyuṃ, apinu so labhetha brāhmaṇesu āsanaṃ vā udakaṃ vāti.

Labhetha bho Gotama.

 

27. - Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây giả sử do một nguyên nhân ǵ, những người Sát đế lỵ cạo đầu một người Sát đế lỵ, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người ấy ra khỏi nước hay thành phố, người ấy có được thọ lănh chỗ ngồi và nước uống giữa những người Bà-la-môn không?

- Tôn giả Gotama, được thọ lănh.

 

Apinu naṃ brāhmaṇā bhojeyyuṃ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vāti.

Bhojeyyuṃ bho Gotama.

 

Apinu naṃ brāhmaṇā mante vāceyyuṃ vā no vāti.

Vāceyyuṃ bho Gotama.

 

Apinussa itthīsu āvaṭaṃ vā assa anāvaṭaṃ vāti.

Anāvaṭaṃ hissa bho Gotama.

- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết, hay dùng những món ăn cúng dường, hoặc đồ ăn cúng cho thiên thần, hay đồ ăn gửi đến như những tặng phẩm không?

- Tôn giả Gotama, có mời.

 

- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không?

- Tôn giả Gotama, có dạy:

 

- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng, hay mở cửa?

- Tôn giả Gotama, mở cửa.

 

277. Ettāvatā kho Ambaṭṭha khattiyo paramanihīnataṃ patto hoti, yadeva naṃ khattiyā khuramuṇḍaṃ karitvā bhassapuṭena vadhitvā raṭṭhā vā nagarā vā pabbājenti, iti kho Ambaṭṭha yadā khattiyo paramanihīnataṃ patto hoti, tadāpi khattiyāva seṭṭhā, hīnā brāhmaṇā.

 

- Này Ambattha, đến như vậy là sự đọa lạc tột cùng của người Sát-đế-lỵ, đă bị những người Sát-đế-lỵ cạo đầu, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người ấy ra khỏi nước hay thành phố, như vậy, này Ambattha, khi người Sát-đế-lỵ bị đọa lạc tột cùng, các Sát đế lỵ vẫn giữ phần ưu thắng và các Bà-la-môn vẫn ở địa vị hạ liệt.

 

Brahmunā pesā Ambaṭṭha (Brahmunāpi ambaṭṭha - Ka; brahmunāpi esā ambaṭṭha - I) sanaṅkumārena gāthā bhāsitā–

28. - Này Ambattha, bài kệ này do Phạm thiên Sanam Kumàra thuyết:

Khattiyo seṭṭho janetasmiṃ,

Ye gottapaṭisārino.

 

Vijjācaraṇasampanno,

So seṭṭho devamānuse”ti.

 

"Đối với chúng sanh tin tưởng ở giai cấp,

Sát-đế-lỵ chiếm địa vị tối thắng ở nhân gian.


Những vị nào giới hạnh và trí tuệ đầy đủ,

vị này chiếm địa vị tối thắng giữa Người và chư Thiên".

Sā kho panesā Ambaṭṭha brahmunā sanaṅkumārena gāthā sugītā no duggītā, subhāsitā no dubbhāsitā, atthasañhitā no anatthasañhitā, anumatā mayā. Ahaṃpi hi Ambaṭṭha evaṃ vadāmi–

Khattiyo seṭṭho janetasmiṃ,

Ye gottapaṭisārino.

 

Vijjācaraṇasampanno,

So seṭṭho devamānuse”ti.

 

Bhāṇavāro paṭhamo.

 

 

<Bài Kinh Trước>

<Trang Kế>

 

 | 03-01 | 03-02 |
| Mục lục Trường Bộ I | Mục lục Trường Bộ II | Mục lục Trường Bộ III |
 

<Đầu Trang>