Trang Chính

Trang Các Bản Dịch Mới

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT tập 07

 

TIỂU PHẨM tập II

ẤN BẢN 2013

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VIII. CHƯƠNG PHẬN SỰ

 

 

1. PHẬN SỰ CỦA VỊ VĂNG LAI

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu văng lai đi vào tu viện vẫn mang dép, đi vào tu viện vẫn căng dù, đi vào tu viện vẫn trùm đầu, vẫn đội y ở đầu rồi đi vào tu viện, rửa các bàn chân với nước dùng để uống, không đảnh lễ các tỳ khưu thường trú thâm niên hơn, không hỏi về chỗ trú ngụ.

 

Có vị tỳ khưu văng lai nọ đă mở chốt gài, đẩy cánh cửa, rồi vội vă đi vào trú xá không có người ở. Có con rắn từ đà ngang phía trên đă rơi xuống vị ấy. Vị ấy hoảng sợ đă kêu thét lên. Các tỳ khưu đă chạy lại và đă nói với vị tỳ khưu ấy điều này: - “Này đại đức, tại sao đại đức kêu thét lên vậy?” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đă kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu văng lai lại đi vào tu viện vẫn mang dép, đi vào tu viện vẫn căng dù, ―(như trên)― không hỏi về chỗ trú ngụ?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

- “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu văng lai đi vào tu viện vẫn mang dép, ―(như trên)― không hỏi về chỗ trú ngụ, có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

 

Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này các tỳ khưu, v́ sao các tỳ khưu văng lai lại đi vào tu viện vẫn mang dép, ―(như trên)― không hỏi về chỗ trú ngụ? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đă có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đă có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu văng lai, các tỳ khưu văng lai nên thực hành như thế. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu văng lai (nghĩ rằng): ‘Bây giờ ta sẽ đi vào tu viện,’ nên tháo dép ra, để dưới thấp, giũ sạch, rồi cầm lấy, hạ dù xuống, cởi đầu trần, lấy y ở đầu để xuống ở vai, rồi đi vào tu viện một cách nghiêm trang không vội vă. Khi đi vào tu viện, nên quan sát xem: ‘Các tỳ khưu thường trú tụ hội ở đâu?’ Các tỳ khưu thường trú tụ hội ở nơi nào: trong pḥng hội họp, ở mái hiên, hay ở gốc cây, sau khi đi đến nơi ấy, nên để b́nh bát xuống một bên, nên để y xuống một bên, nên chọn chỗ ngồi thích hợp, rồi ngồi xuống. Nên hỏi về nước uống, nên hỏi về nước rửa: ‘Nước nào là nước uống? Nước nào là nước rửa?’ Nếu có sự cần dùng với nước uống, sau khi lấy nước uống rồi nên uống. Nếu có sự cần dùng với nước rửa, sau khi lấy nước rửa rồi nên rửa hai bàn chân. Trong khi rửa hai bàn chân, nên xối nước bằng một tay, nên rửa bàn chân bằng một tay. Không nên xối nước chỉ bằng tay ấy, không nên rửa bàn chân chỉ bằng tay ấy.

 

Nên hỏi miếng giẻ lau dép rồi lau đôi dép. Trong khi lau đôi dép, trước tiên nên lau với miếng giẻ khô sau đó với miếng giẻ ướt. Sau khi giặt miếng giẻ lau dép rồi nên phơi ở một góc. Nếu vị tỳ khưu thường trú thâm niên hơn th́ nên đảnh lễ. Nếu là vị mới tu th́ nên để vị ấy đảnh lễ.

 

Nên hỏi về chỗ trú ngụ: ‘Chỗ trú ngụ nào dành cho tôi?’ Nên hỏi (chỗ trú ngụ ấy) có người ở hay không có. Nên hỏi về khu vực đi khất thực, nên hỏi về khu vực không thể đi khất thực. Nên hỏi về các gia đ́nh được xác định là Thánh Hữu Học. Nên hỏi về chỗ tiêu, nên hỏi về chỗ tiểu, nên hỏi về (chỗ lấy) nước uống, nên hỏi về (chỗ lấy) nước rửa, nên hỏi về gậy để chống, nên hỏi về qui định của hội chúng: ‘Giờ nào có thể đi vào? Giờ nào có thể đi ra?’

 

2. Nếu trú xá không có người, nên gơ vào cánh cửa lớn, chờ trong chốc lát, rồi tháo chốt gài, mở cánh cửa lớn ra, nên đứng bên ngoài nh́n vào bên trong. Nếu trú xá có rác bẩn hoặc là giường được chồng lên giường hoặc là ghế được chồng lên ghế và vật nằm ngồi được chất thành đống ở bên trên, nếu có nỗ lực th́ nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên gỡ thảm trải nền đem ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc.

 

Nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc.

 

Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm ướt khăn chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm ướt khăn chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi đem đổ bỏ ở một góc.

 

Sau khi phơi nắng tấm trải nền ở một góc, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.

 

3. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế, rồi nên đặt b́nh bát xuống. Và không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.

 

Nếu pḥng có rác bẩn, nên quét pḥng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu pḥng hội họp có rác bẩn, nên quét pḥng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh.

 

Nếu nước uống không có, nên đem lại nước uống. Nếu nước rửa không có, nên đem lại nước rửa. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu văng lai, các tỳ khưu văng lai nên thực hành như thế.”

 

*****

 

 

2. PHẬN SỰ CỦA VỊ THƯỜNG TRÚ

 

4. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu thường trú khi thấy các tỳ khưu văng lai không chịu sắp xếp chỗ ngồi, không đem đến nước rửa chân, không (đem đến) ghế kê chân, không (đem đến) tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, họ không rước y bát, không hỏi về nước uống, không hỏi về nước rửa, cũng không đảnh lễ các tỳ khưu văng lai thâm niên hơn, không sắp xếp chỗ trú ngụ. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu thường trú khi thấy các tỳ khưu văng lai lại không chịu sắp xếp chỗ ngồi, ―(như trên)― không sắp xếp chỗ trú ngụ?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

- “Này các tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)―

 

Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu thường trú, các tỳ khưu thường trú nên thực hành như thế.

 

5. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thường trú khi thấy vị tỳ khưu văng lai thâm niên hơn nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem đến nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y bát, nên hỏi (dâng) nước uống. Nếu có nỗ lực, (vị thường trú) nên lau đôi dép (của vị kia). Trong khi lau đôi dép, trước tiên nên lau bằng miếng giẻ khô sau đó bằng miếng giẻ ướt. Sau khi giặt miếng giẻ lau dép rồi nên phơi ở một góc. Nên đảnh lễ vị tỳ khưu văng lai thâm niên hơn. Nên sắp xếp chỗ trú ngụ: ‘Chỗ trú ngụ này dành cho đại đức.’ Nên nói rơ (chỗ trú ngụ ấy) có người ở hay không có. Nên nói rơ về khu vực đi khất thực, nên nói rơ về khu vực không nên đi khất thực. Nên nói rơ về các gia đ́nh được xác định là Thánh Hữu Học. Nên nói rơ về chỗ tiêu, nên nói rơ về chỗ tiểu. Nên nói rơ về (chỗ lấy) nước uống, nên nói rơ về (chỗ lấy) nước rửa. Nên nói rơ về gậy để chống. Nên nói rơ về qui định của hội chúng: ‘Giờ này có thể đi vào. Giờ này có thể đi ra.’

 

Nếu (vị văng lai) là vị mới tu, vị (thường trú) vẫn ngồi nên nói rơ: ‘Để b́nh bát chỗ này, để y chỗ này, ngồi ở chỗ ngồi này.’ Nên nói rơ chỗ nước uống, nên nói rơ chỗ nước rửa. Nên nói rơ về giẻ lau đôi dép. Nên để cho vị tỳ khưu văng lai mới tu đảnh lễ. Nên nói rơ chỗ trú ngụ: ‘Chỗ trú ngụ này dành cho đại đức.’ Nên nói rơ (chỗ trú ngụ ấy) có người ở hay không có. Nên nói rơ về khu vực đi khất thực, nên nói rơ về khu vực nào không nên đi khất thực. Nên nói rơ về các gia đ́nh được xác định là Thánh Hữu Học. Nên nói rơ về chỗ tiêu, nên nói rơ về chỗ tiểu. Nên nói rơ về (chỗ lấy) nước uống, nên nói rơ về (chỗ lấy) nước rửa. Nên nói rơ về gậy để chống. Nên nói rơ về qui định của hội chúng: ‘Giờ này có thể đi vào. Giờ này có thể đi ra.’

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu thường trú, các tỳ khưu thường trú nên thực hành như thế.”

 

*****

 

 

3. PHẬN SỰ CỦA VỊ XUẤT HÀNH

 

6. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu xuất hành không thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung, mở ra cửa lớn và cửa sổ, không thông báo về chỗ trú ngụ, rồi ra đi. Các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung bị mất mát. Chỗ trú ngụ không được bảo quản. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu xuất hành lại không thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung, mở ra cửa lớn và cửa sổ, không thông báo về chỗ trú ngụ, rồi ra đi khiến các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung bị mất mát, chỗ trú ngụ không được bảo quản?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

- “Này các tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)―

 

Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu xuất hành, các tỳ khưu xuất hành nên thực hành như thế.

 

7. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xuất hành trước khi ra đi nên thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung, nên đóng lại cửa lớn và cửa sổ, nên thông báo về chỗ trú ngụ. Nếu không có tỳ khưu, nên thông báo cho vị sa di. Nếu không có sa di, nên thông báo cho người phụ việc chùa. Nếu không có người phụ việc chùa, nên thông báo cho nam cư sĩ. Nếu tỳ khưu, hoặc sa di, hoặc người phụ việc chùa, hoặc nam cư sĩ đều không có, nên sắp xếp cái giường lên trên bốn ḥn đá, rồi đặt cái giường lên trên cái giường, đặt cái ghế lên trên cái ghế, c̣n sàng tọa nên chất thành đống ở phía bên trên, nên thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung, nên đóng lại cửa lớn và cửa sổ, rồi mới nên ra đi.

 

Nếu trú xá bị dột nước mưa, nên lợp lại nếu có nỗ lực, hoặc nên thực hiện sự nỗ lực (nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để trú xá có thể được lợp?’ Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp; nếu không đạt được, tại vị trí nào không bị nước mưa dột th́ tại chỗ đó nên sắp xếp cái giường lên trên bốn ḥn đá, rồi đặt cái giường lên trên cái giường, đặt cái ghế lên trên cái ghế, c̣n sàng tọa nên chất thành đống ở phía bên trên, nên thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung, nên đóng lại cửa lớn và cửa sổ, rồi mới nên ra đi.

 

Nếu toàn bộ trú xá đều bị nước mưa dột, nên mang sàng tọa vào làng nếu có nỗ lực, hoặc nên thực hiện sự nỗ lực (nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để sàng tọa có thể được mang vào làng?’ Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp; nếu không đạt được, nên sắp xếp cái giường lên trên bốn ḥn đá ở ngoài trời, rồi đặt cái giường lên trên cái giường, đặt cái ghế lên trên cái ghế, c̣n sàng tọa nên chất thành đống ở phía bên trên. Nên thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung. Nên lấy cỏ hoặc lá phủ lên, rồi mới nên ra đi (nghĩ rằng): ‘Có lẽ các thứ này sẽ c̣n được tồn tại.’

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu xuất hành, các tỳ khưu xuất hành nên thực hành như thế.”

 

*****

 

 

4. PHẬN SỰ TÙY HỶ

 

8. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại không nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực?” Các tỳ khưu đă nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, ta cho phép nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực.”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă khởi ư điều này: “Vị nào sẽ nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực?” Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lăo nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực.”

 

Vào lúc bấy giờ, có bữa trai phạn dâng đến hội chúng của nhóm người nọ. Đại đức Sāriputta là trưởng lăo của hội chúng. Các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn đă cho phép vị tỳ khưu trưởng lăo nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực’ nên đă để đại đức Sāriputta ở lại mỗi một ḿnh rồi ra đi. Khi ấy, đại đức Sāriputta đă làm hoan hỷ những người ấy rồi đă đi về chỉ mỗi một ḿnh sau cùng. Đức Thế Tôn đă nh́n thấy đại đức Sāriputta mỗi một ḿnh đang đi lại từ đàng xa, sau khi nh́n thấy đă nói với đại đức Sāriputta điều này: - “Này Sāriputta, chắc hẳn bữa thọ thực đă được tốt đẹp?” - “Bạch ngài, bữa thọ thực đă được tốt đẹp. Tuy nhiên các tỳ khưu đă để con ở lại mỗi một ḿnh và ra đi.”

 

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, ta cho phép bốn hay năm vị tỳ khưu trưởng lăo hoặc kế tiếp vị trưởng lăo chờ đợi ở chỗ thọ thực.”

 

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu trưởng lăo nọ bị mắc tiêu đă chờ đợi ở chỗ thọ thực. Trong lúc không thể kiềm chế việc đại tiện, vị ấy bị ngất xỉu ngă xuống. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

- “Này các tỳ khưu, ta cho phép ra đi khi có việc cần làm sau khi đă thông báo cho vị tỳ khưu kế bên.”

 

*****

 

 

5. PHẬN SỰ Ở CHỖ THỌ THỰC

 

9. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách đi đến chỗ thọ thực, tách ra rồi đi lên phía trước các tỳ khưu trưởng lăo, chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống, c̣n xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi, lại c̣n trải ra y hai lớp rồi ngồi xuống ở trong xóm nhà. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách lại đi đến chỗ thọ thực, tách ra rồi đi lên phía trước các tỳ khưu trưởng lăo, chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống, c̣n xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi, lại c̣n trải ra y hai lớp rồi ngồi xuống ở trong xóm nhà?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

- “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách đi đến chỗ thọ thực, ―(như trên)― lại c̣n trải ra y hai lớp rồi ngồi xuống ở trong xóm nhà, có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

 

Đức Thế Tôn đă khiển trách rằng: ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở chỗ thọ thực cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở chỗ thọ thực nên thực hành như thế.

 

10. Nếu thời giờ được thông báo ở trong tu viện, vị (tỳ khưu) nên mặc y nội tṛn đều với sự che phủ ba ṿng tṛn,[1] nên buộc dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trùm lên, nên thắt lại dây buộc, nên rửa b́nh bát rồi cầm lấy, nên đi vào làng một cách nghiêm trang không hấp tấp. Không nên tách ra rồi đi lên phía trước các tỳ khưu trưởng lăo. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. Nên ―(như trên)― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―(như trên)― với mắt nh́n xuống. Không nên ―(như trên)― với thân bị vén hở ra. Không nên ―(như trên)― với tiếng cười vang. Nên ―(như trên)― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa thân. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―(như trên)― với sự lắc lư đầu. Không nên ―(như trên)― với tay chống nạnh. Không nên ―(như trên)― với (đầu) được trùm lại. Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.

 

Nên ngồi ở trong nhà với y được che kín đáo. Nên ―(như trên)― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―(như trên)― với mắt nh́n xuống. Không nên ―(như trên)― với thân bị vén hở ra. Không nên ―(như trên)― với tiếng cười vang. Nên ―(như trên)― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa thân. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―(như trên)― với sự lắc lư đầu. Không nên ―(như trên)― với tay chống nạnh. Không nên ―(như trên)― với (đầu) được trùm lại. Không nên ―(như trên)― với sự ôm đầu gối. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Không nên trải ra y hai lớp rồi ngồi xuống ở trong nhà.

 

11. Trong khi được dâng nước, nên cầm b́nh bát bằng hai tay và thọ lănh nước. Nên hạ thấp xuống rồi rửa b́nh bát một cách cẩn thận không chà xát mạnh. Nếu có vật chứa nước rửa, nên hạ thấp xuống rồi đổ nước vào trong vật chứa nước rửa (nghĩ rằng): ‘Chớ làm vật chứa nước rửa bị văng nước tung tóe, chớ làm các tỳ khưu xung quanh bị nước văng nhằm, chớ làm y hai lớp bị dính nước.’

 

Nếu vật chứa nước rửa không có, nên hạ thấp xuống rồi tưới lên trên mặt đất (nghĩ rằng): ‘Chớ làm các tỳ khưu xung quanh bị nước văng nhằm, chớ làm y hai lớp bị dính nước.’

 

Trong khi được dâng cơm, nên cầm b́nh bát bằng hai tay rồi thọ lănh cơm. Nên chừa chỗ cho xúp. Nếu có bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc thức ăn ngon, vị trưởng lăo nên nói rằng: ‘Nên chia đều ra cho tất cả.’

 

Nên thọ lănh vật thực một cách nghiêm trang. Nên thọ lănh vật thực với sự chú tâm ở b́nh bát. Nên thọ lănh vật thực với lượng xúp tương xứng. Nên thọ lănh vật thực vừa ngang miệng (b́nh bát). Vị trưởng lăo không nên thọ thực khi tất cả chưa được đầy đủ cơm.

 

Nên thọ dụng vật thực một cách nghiêm trang. Nên thọ dụng vật thực với sự chú tâm ở b́nh bát. Nên thọ dụng vật thực theo tuần tự. Nên thọ dụng vật thực với lượng xúp tương xứng. Không nên vun lên thành đống rồi thọ dụng vật thực. Không nên dùng cơm che lấp xúp hoặc thức ăn với ư muốn được nhiều hơn. Vị không bị bệnh không nên yêu cầu xúp và cơm v́ nhu cầu của bản thân rồi thọ thực.

 

12. Không nên nh́n vào b́nh bát của các vị khác với ư định t́m lỗi. Không nên làm vắt cơm quá lớn. Nên làm vắt cơm tṛn đều. Không nên há miệng ra khi vắt cơm chưa được đưa đến. Không nên đưa trọn bàn tay vào miệng trong lúc thọ thực. Không nên nói chuyện với miệng có vắt cơm. Không nên thọ thực theo lối đưa thức ăn vào miệng một cách liên tục. Không nên thọ thực theo lối cắn vắt cơm từng chút một. Không nên thọ thực theo lối làm phồng má. Không nên thọ thực có sự vung rảy bàn tay. Không nên thọ thực có sự làm rơi đổ cơm. Không nên thọ thực có sự le lưỡi. Không nên thọ thực có làm tiếng chép chép. Không nên thọ thực có làm tiếng rột rột. Không nên thọ thực có sự liếm tay. Không nên thọ thực có sự nạo vét b́nh bát. Không nên thọ thực có sự liếm môi. Không nên thọ lănh tô nước uống bằng bàn tay có dính thức ăn.

 

Vị trưởng lăo không nên thọ lănh nước khi tất cả c̣n chưa thọ thực xong. Trong khi được dâng nước, nên cầm b́nh bát bằng hai tay rồi thọ lănh nước. Nên hạ thấp xuống rồi rửa b́nh bát một cách cẩn thận không chà xát mạnh. Nếu có vật chứa nước rửa, nên hạ thấp xuống rồi đổ nước vào trong vật chứa nước rửa (nghĩ rằng): ‘Chớ làm vật chứa nước rửa bị văng nước tung tóe, chớ làm các tỳ khưu xung quanh bị nước văng nhằm, chớ làm y hai lớp bị dính nước.’ Nếu vật chứa nước rửa không có, nên hạ thấp xuống rồi tưới lên trên mặt đất (nghĩ rằng): ‘Chớ làm các tỳ khưu xung quanh bị nước văng nhằm, chớ làm y hai lớp bị dính nước.’ Không nên đổ bỏ nước rửa b́nh bát có lẫn cơm ở nơi xóm nhà.

 

Trong khi đi trở về, các tỳ khưu mới tu nên đi về trước tiên, sau đó là các vị trưởng lăo. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. Nên ―(như trên)― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―(như trên)― với mắt nh́n xuống. Không nên ―(như trên)― với thân bị vén hở ra. Không nên ―(như trên)― với tiếng cười vang. Nên ―(như trên)― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa thân. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―(như trên)― với sự lắc lư đầu. Không nên ―(như trên)― với tay chống nạnh. Không nên ―(như trên)― với (đầu) được trùm lại. Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở chỗ thọ thực của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở chỗ thọ thực nên thực hành như thế.”

 

Tụng phẩm thứ nhất.

 

*****

 

 

6. PHẬN SỰ CỦA VỊ ĐI KHẤT THỰC

 

1. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi khất thực mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách rồi đi khất thực. Các vị đi vào tư gia không suy xét trước, đi ra không suy xét trước, đi vào vô cùng vội vă, đi ra cũng vô cùng vội vă, đứng quá xa, đứng quá gần, đứng lại quá lâu, và quay đi quá lẹ.

 

C̣n có vị tỳ khưu đi khất thực nọ đă đi vào tư gia không suy xét trước. Và vị ấy trong khi nghĩ là cửa lớn rồi đă bước (lầm) vào hậu pḥng nọ. Và ở trong hậu pḥng ấy, có người đàn bà khỏa thân đang nằm ngửa ra. Vị tỳ khưu ấy đă nh́n thấy người đàn bà ấy khỏa thân đang nằm ngửa ra, sau khi nh́n thấy (nghĩ rằng): ‘Đây không phải là cửa lớn, đây là hậu pḥng’ rồi đă từ hậu pḥng ấy đi ra. Chồng của người đàn bà ấy đă nh́n thấy người đàn bà ấy khỏa thân đang nằm ngửa ra, sau khi nh́n thấy (nghĩ rằng): ‘Vợ của ta đă bị gă tỳ khưu này làm nhơ’ nên đă giữ vị tỳ khưu ấy lại và đánh đ̣n.

 

Khi ấy, người đàn bà ấy đă thức dậy v́ tiếng động ấy và đă nói với người chồng ấy điều này: ­- “Phu quân, v́ sao ông lại đánh đ̣n vị tỳ khưu này vậy?”

 

- “Gă tỳ khưu này đă làm nhơ bà.”

 

- “Phu quân, thiếp không có bị vị tỳ khưu này làm nhơ. Vị tỳ khưu ấy không có làm.” Và đă bảo thả vị tỳ khưu ấy.

 

Sau đó, vị tỳ khưu ấy đă đi đến tu viện và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu đi khất thực lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách rồi đi khất thực, đi vào tư gia không suy xét trước, đi ra không suy xét trước, đi vào vô cùng vội vă, đi ra cũng vô cùng vội vă, đứng quá xa, đứng quá gần, đứng lại quá lâu, và quay đi quá lẹ?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

- “Này các tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

 

Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu đi khất thực, các tỳ khưu đi khất thực nên thực hành như thế.

 

2. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đi khất thực (nghĩ rằng): ‘Bây giờ ta sẽ đi vào làng,’ th́ nên mặc y nội tṛn đều với sự che phủ ba ṿng tṛn, nên buộc dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trùm lên, nên thắt lại dây buộc, nên rửa b́nh bát rồi cầm lấy, nên đi vào làng một cách nghiêm trang không hấp tấp. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. Nên ―(như trên)― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―(như trên)― với mắt nh́n xuống. Không nên ―(như trên)― với thân bị vén hở ra. Không nên ―(như trên)― với tiếng cười vang. Nên ―(như trên)― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa thân. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―(như trên)― với sự lắc lư đầu. Không nên ―(như trên)― với tay chống nạnh. Không nên ―(như trên)― với (đầu) được trùm lại. Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.

 

Trong khi đi vào tư gia nên suy xét rằng: ‘Ta sẽ đi vào lối này, ta sẽ đi ra bằng lối này.’ Không nên đi vào quá vội vă. Không nên đi ra quá vội vă. Không nên đứng quá xa. Không nên đứng quá gần. Không nên đứng lại quá lâu. Không nên quay đi quá lẹ. Khi đứng nên suy xét rằng: ‘(Gia chủ) có ư muốn bố thí vật thực hay không có ư muốn bố thí?’ Nếu (gia chủ) ngưng công việc, hoặc từ chỗ ngồi đứng dậy, hoặc đụng đến cái muỗng, hoặc đụng đến cái đĩa, hoặc thỉnh đứng lại th́ nên đứng lại (nghĩ rằng): ‘Dường như có ư định bố thí.’ Trong khi được dâng vật thực, nên dùng bàn tay trái vén y hai lớp lên, dùng bàn tay phải mở nắp b́nh bát, rồi dùng hai tay ôm b́nh bát và thọ lănh vật thực. Và không nên nh́n mặt người nữ thí chủ bố thí vật thực.[2]

 

Nên suy xét rằng: ‘(Gia chủ) có ư muốn bố thí xúp hay không có ư muốn bố thí?’ Nếu (gia chủ) đụng đến cái muỗng, hoặc đụng đến cái đĩa, hoặc thỉnh đứng lại th́ nên đứng lại (nghĩ rằng): ‘Dường như có ư định bố thí.’ Khi vật thực đă được bố thí, nên dùng y hai lớp che b́nh bát lại rồi quay đi một cách nghiêm trang không hấp tấp.

 

3. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. Nên ―(như trên)― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―(như trên)― với mắt nh́n xuống. Không nên ―(như trên)― với thân bị vén hở ra. Không nên ―(như trên)― với tiếng cười vang. Nên ―(như trên)― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa thân. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―(như trên)― với sự lắc lư đầu. Không nên ―(như trên)― với tay chống nạnh. Không nên ―(như trên)― với (đầu) được trùm lại. Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.

 

Vị nào đi khất thực từ làng trở về trước tiên, vị ấy nên sắp xếp chỗ ngồi; nên chuẩn bị nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên rửa chậu đựng đồ thừa rồi đem lại. Nên đem lại nước uống và nước rửa. Vị nào đi khất thực từ làng trở về sau cùng, nếu vật thực được ăn c̣n thừa lại, nếu muốn th́ vị ấy ăn; nếu không muốn, th́ đem quăng bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật.

 

Vị ấy nên xếp chỗ ngồi lại. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên rửa chậu đựng đồ thừa rồi cất đi. Nên dọn dẹp nước uống, nước rửa. Nên quét nhà ăn. Vị nào thấy lu nước uống, hoặc lu nước rửa, hoặc lu nước nhà vệ sinh hết nước, trống trơn, vị ấy nên đổ nước vào. Nếu vị ấy không làm nổi, th́ nên mời vị thứ hai lại với dấu hiệu bằng tay và nhờ phụ giúp với hành động bằng tay, và không v́ lư do đó mà nói ra bằng lời.

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu đi khất thực, các tỳ khưu đi khất thực nên thực hành như thế.”

 

*****

 

 

7. PHẬN SỰ CỦA VỊ NGỤ Ở RỪNG

 

4. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu cư ngụ ở trong rừng. Các vị ấy không dự trữ nước uống, không dự trữ nước rửa, không dự trữ lửa, không dự trữ vật tạo lửa, không biết về các vị trí của những ngôi sao, không biết phương hướng và khu vực. Bọn trộm cướp sau khi đi đến nơi ấy đă nói với các tỳ khưu ấy điều này: - “Thưa ngài có nước uống không?”

 

- “Anh bạn à, không có.”

 

- “Thưa ngài, có nước rửa không?”

 

- “Anh bạn à, không có.” 

 

- “Thưa ngài, có lửa không?”

 

- “Anh bạn à, không có.” 

 

- “Thưa ngài, có vật tạo lửa không?”

 

- “Anh bạn à, không có.” 

 

- “Thưa ngài, có các vị trí của những ngôi sao không?”

 

- “Anh bạn à, chúng tôi không biết.” 

 

- “Thưa ngài, có phương hướng và khu vực không?”

 

- “Anh bạn à, chúng tôi không biết.” 

 

- “Thưa ngài, hôm nay liên quan đến điều ǵ?”

 

- “Anh bạn à, chúng tôi không biết.” 

 

- “Thưa ngài, hướng này là hướng ǵ?”

 

- “Anh bạn à, chúng tôi không biết.” 

 

Khi ấy, bọn trộm cướp ấy (nghĩ rằng): ‘Những người này không có nước uống, không có nước rửa, không có lửa, không có vật tạo lửa, không biết các vị trí của những ngôi sao, không biết phương hướng và khu vực; những người này là trộm cướp, những người này không phải là các tỳ khưu’ nên đă đánh đập rồi bỏ đi. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu ở rừng, các tỳ khưu ở rừng nên thực hành như thế.

 

5. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ngụ ở rừng sau khi thức dậy vào lúc sáng sớm nên để b́nh bát vào trong túi xách, đeo lên vai, khoác y lên người, mang dép vào, thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung lại, đóng cửa lớn và cửa sổ, rồi rời chỗ trú ngụ (nghĩ rằng): ‘Bây giờ, ta sẽ đi vào làng.’ Nên tháo dép ra, để ở chỗ thấp, giũ sạch, rồi bỏ vào túi xách, đeo lên vai, nên mặc y nội tṛn đều với sự che phủ ba ṿng tṛn, nên buộc dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trùm lên, nên thắt lại dây buộc, nên rửa b́nh bát rồi cầm lấy, nên đi vào làng một cách nghiêm trang không hấp tấp. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. Nên ―(như trên)― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―(như trên)― với mắt nh́n xuống. Không nên ―(như trên)― với thân bị vén hở ra. Không nên ―(như trên)― với tiếng cười vang. Nên ―(như trên)― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa thân. Không nên ―(như trên)― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―(như trên)― với sự lắc lư đầu. Không nên ―(như trên)― với tay chống nạnh. Không nên ―(như trên)― với (đầu) được trùm lại. Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.

 

Trong khi đi vào tư gia nên suy xét rằng: ‘Ta sẽ đi vào lối này, ta sẽ đi ra bằng lối này.’ Không nên đi vào quá vội vă. Không nên đi ra quá vội vă. Không nên đứng quá xa. Không nên đứng quá gần. Không nên đứng lại quá lâu. Không nên quay đi quá lẹ. Khi đứng nên suy xét rằng: ‘(Gia chủ) có ư muốn bố thí vật thực hay không có ư muốn bố thí?’ Nếu (gia chủ) ngưng công việc, hoặc từ chỗ ngồi đứng dậy, hoặc đụng đến cái muỗng, hoặc đụng đến cái đĩa, hoặc thỉnh đứng lại th́ nên đứng lại (nghĩ rằng): ‘Dường như có ư định bố thí.’ Trong khi được dâng vật thực, nên dùng bàn tay trái vén y hai lớp lên, dùng bàn tay phải mở nắp b́nh bát, rồi dùng hai tay ôm b́nh bát và thọ lănh vật thực. Và không nên nh́n mặt người nữ thí chủ bố thí vật thực. Nên suy xét rằng: ‘(Gia chủ) có ư muốn bố thí xúp hay không có ư muốn bố thí?’ Nếu (gia chủ) đụng đến cái muỗng, hoặc đụng đến cái đĩa, hoặc thỉnh đứng lại th́ nên đứng lại (nghĩ rằng): ‘Dường như có ư định bố thí.’ Khi vật thực đă được bố thí, nên dùng y hai lớp che b́nh bát lại rồi quay đi một cách nghiêm trang không hấp tấp. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. ―(như trên)― Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.

 

Sau khi đi ra khỏi làng, nên để b́nh bát vào trong túi xách, đeo lên vai, cuốn tṛn y lại, đội lên đầu, mang dép vào, rồi đi về.

 

6. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ngụ ở rừng nên dự trữ nước uống. Nên dự trữ nước rửa. Nên dự trữ lửa. Nên dự trữ vật tạo lửa. Nên dự trữ cây gậy để chống. Nên học về các vị trí của những ngôi sao toàn bộ hoặc một phần. Nên rành rẽ về các phương hướng. Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu ở rừng, các tỳ khưu ở rừng nên thực hành như thế.”

 

*****

 

 

8. PHẬN SỰ Ở NƠI CƯ NGỤ

 

7. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang may y ở ngoài trời. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đă đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên. Các vị tỳ khưu đă bị lấm bụi. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên khiến các tỳ khưu bị lấm bụi?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên khiến các tỳ khưu bị lấm bụi, có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở nơi cư ngụ cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nơi cư ngụ nên thực hành như thế.

 

8. Vị (tỳ khưu) cư ngụ trong trú xá nào, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nên làm sạch sẽ nếu có nỗ lực. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.

 

Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che. Nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu phần nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần các tỳ khưu. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần các trú xá. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần nước uống. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần nước rửa. Không nên đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên. Nên đập giũ sàng tọa ở phía dưới gió.

 

9. Sau khi phơi nắng tấm trải nền ở một góc, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.

 

Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

10. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.

 

Nếu pḥng có rác bẩn, nên quét pḥng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu pḥng hội họp có rác bẩn, nên quét pḥng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên lại đem nước uống. Nếu nước rửa không có, nên đem lại nước rửa. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

 

Nếu cư ngụ trong trú xá với vị thâm niên, khi chưa xin phép vị thâm niên không nên đọc tụng, không nên đưa ra các câu hỏi, không nên học bài, không nên giảng Pháp, không nên thắp đèn, không nên thổi tắt đèn, không nên mở cửa sổ, không nên đóng cửa sổ. Nếu đi kinh hành cùng với vị thâm niên trên cùng một đường kinh hành, khi đối đầu với vị thâm niên th́ nên xoay lại và không nên va chạm vị thâm niên dù là bằng chéo y hai lớp.

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở nơi cư ngụ của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nơi cư ngụ nên thực hành như thế.” 

 

*****

 

 

9. PHẬN SỰ Ở NHÀ TẮM HƠI

 

11. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lăo, do không kính trọng nên đem lại nhiều củi, đốt lửa, đóng cửa ra vào, và ngồi xuống ở cửa ra vào. Các tỳ khưu bị hành hạ bởi sức nóng, không mở cửa được, nên bị ngất xỉu ngă xuống. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lăo, do không kính trọng nên đem lại nhiều củi, đốt lửa, đóng cửa ra vào, và ngồi xuống ở cửa ra vào khiến các tỳ khưu bị hành hạ bởi sức nóng, không mở cửa được, nên bị ngất xỉu ngă xuống?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

- “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lăo, do không kính trọng nên đem lại nhiều củi, đốt lửa, đóng cửa ra vào, và ngồi xuống ở cửa ra vào khiến các tỳ khưu bị hành hạ bởi sức nóng, không mở cửa được, nên bị ngất xỉu ngă xuống, có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lăo, do không kính trọng không nên đem lại nhiều củi và đốt lửa; vị nào đốt th́ phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, không nên đóng cửa ra vào rồi ngồi xuống ở cửa ra vào; vị nào ngồi th́ phạm tội dukkaṭa

 

12. Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở nhà tắm hơi cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà tắm hơi nên thực hành như thế.

 

Vị nào đi vào nhà tắm hơi trước tiên, nếu tro tích lũy nhiều (vị ấy) nên đem tro đi đổ. Nếu nhà tắm hơi có rác bẩn, nên quét nhà tắm hơi. Nếu bục nền xung quanh có rác bẩn, nên quét bục nền xung quanh. Nếu căn pḥng có rác bẩn nên quét căn pḥng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu gian pḥng lớn của nhà tắm hơi có rác bẩn, nên quét gian pḥng lớn của nhà tắm hơi. Nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét, nên đổ nước vào máng nước. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi, nếu có nỗ lực nên kỳ cọ cho các tỳ khưu trưởng lăo. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi ra khỏi nhà tắm hơi. Ở trong nước, nếu có nỗ lực nên kỳ cọ cho các tỳ khưu trưởng lăo. Không nên tắm ở phía trước, không nên tắm ở phía trên các tỳ khưu trưởng lăo. Vị đă tắm xong trong khi đi ra (khỏi nước) nên nhường đường cho vị đi xuống. Vị nào rời nhà tắm hơi cuối cùng, nếu nhà tắm hơi bị lầy lội nên rửa sạch, nên rửa sạch máng đất sét, nên dọn dẹp ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên dập tắt lửa, nên đóng cửa, rồi đi ra.

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở nhà tắm hơi của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà tắm hơi nên thực hành như thế.”

 

*****

 

 

10. PHẬN SỰ Ở NHÀ VỆ SINH

 

13. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ḍng dơi Bà-la-môn đại tiện xong không muốn rửa sạch (nghĩ rằng): “Ai lại đụng đến đồ hôi hám hạ tiện này?” Có con giun đũa đă dính ở hậu môn của vị ấy. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đă kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu.

 

- “Này đại đức, có phải đại đức đại tiện xong mà không rửa sạch?”

 

- “Này các đại đức, đúng vậy.”

 

Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao vị tỳ khưu đại tiện xong lại không rửa sạch?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

- “Này tỳ khưu, nghe nói ngươi đại tiện xong lại không rửa sạch, có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, sau khi đại tiện xong nếu có nước không nên không rửa sạch; vị nào không rửa sạch th́ phạm tội dukkaṭa.”

 

14. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi đại tiện ở nhà vệ sinh theo thứ tự thâm niên. Các tỳ khưu mới tu đi đến trước tiên bị mắc tiêu vẫn chờ đợi. Trong lúc kiềm chế việc đại tiện, các vị ấy bị ngất xỉu ngă xuống. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, việc đại tiện ở nhà vệ sinh không nên thực hành theo thứ tự thâm niên; vị nào thực hành th́ phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc đại tiện theo thứ tự đi đến.”

 

15. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đi vào nhà vệ sinh vô cùng vội vă, vén y lên rồi đi vào, đại tiện rặn thành tiếng, đại tiện trong lúc nhai gỗ chà răng, đại tiện ra ngoài máng đựng phân, tiểu tiện ra ngoài máng nước tiểu, khạc nhổ vào máng nước tiểu, chùi bằng khúc cây chùi bị sần sùi, làm rơi khúc cây chùi vào hố phân, đi ra vô cùng vội vă, vén y lên rồi đi ra, rửa ráy có làm tiếng chắt lưỡi, chừa lại nước ở trong gáo múc nước rửa. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đi vào nhà vệ sinh vô cùng vội vă, ―(như trên)― chừa lại nước ở trong gáo múc nước rửa?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)―

 

- “Này tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở nhà vệ sinh cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà vệ sinh nên thực hành như thế.

 

Vị đi đến nhà vệ sinh, đứng ở bên ngoài, nên tằng hắng. Vị ngồi bên trong cũng nên tằng hắng. Nên máng y lên sào treo y hoặc dây phơi y rồi nên đi vào nhà vệ sinh một cách cẩn thận không hấp tấp. Không nên đi vào quá vội vă. Không nên vén y (nội) lên rồi đi vào. Khi đă đứng trên bệ nhà vệ sinh mới nên kéo y (nội) lên. Không nên đại tiện rặn thành tiếng. Không nên đại tiện trong lúc nhai gỗ chà răng. Không nên đại tiện ra ngoài máng đựng phân. Không nên tiểu tiện ra ngoài máng nước tiểu. Không nên khạc nhổ vào máng nước tiểu. Không nên chùi với khúc cây chùi bị sần sùi. Không nên làm rơi khúc cây chùi vào hố phân. Khi c̣n đứng trên bệ nhà vệ sinh, nên che lại kín đáo. Không nên đi ra vô cùng vội vă. Không nên vén y (nội) lên rồi đi ra. Khi đă đứng ở sàn rửa mới nên vén y lên. Không nên rửa ráy có làm tiếng chắt lưỡi. Không nên chừa lại nước ở trong gáo múc nước rửa. Khi c̣n đứng ở sàn rửa, nên che lại kín đáo. Nếu nhà vệ sinh bị dơ nên rửa sạch. Nếu thùng đựng đồ chùi bị đầy, nên đổ bỏ các khúc cây chùi. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn nên quét nhà vệ sinh. Nếu bục nền xung quanh có rác bẩn nên quét bục nền xung quanh. Nếu căn pḥng có rác bẩn nên quét căn pḥng. Nếu cổng có rác bẩn nên quét cổng. Nếu lu nước rửa không có nước, nên đổ nước vào lu nước rửa.

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở nhà vệ sinh của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà vệ sinh nên thực hành như thế.”

 

*****

 

 

11. PHẬN SỰ ĐỐI VỚI THẦY TẾ ĐỘ

 

16. Vào lúc bấy giờ, các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

- “Này các tỳ khưu, nghe nói các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ, có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

 

Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này các tỳ khưu, v́ sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đă có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đă có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các vị thầy tế độ cho các người đệ tử, đối với các vị thầy tế độ các người đệ tử nên thực hành như thế.

 

Này các tỳ khưu, người đệ tử nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy tế độ. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:

 

Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng. Nên dâng nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đă uống cháo xong, nên dâng nước, nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi thầy tế độ đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi.

 

Nếu khu vực ấy có rác bẩn th́ nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ư định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đă thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao b́nh bát c̣n đẫm nước sau khi đă rửa sạch. Nếu thầy tế độ muốn có vị Sa-môn hầu cận, (người đệ tử) nên mặc y nội tṛn đều với sự che phủ ba ṿng tṛn, buộc dây thắt lưng, gấp y hai lớp thành nếp rồi đắp lên, thắt lại dây buộc, rửa b́nh bát và cầm lấy, rồi làm vị Sa-môn hầu cận cho thầy tế độ. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy b́nh bát được (vị thầy) hoán đổi.

 

Khi thầy tế độ đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy tế độ có khả năng phạm tội lúc đang nói th́ nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và b́nh bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đă gấp lại.

 

17. Nếu có đồ ăn khất thực và thầy tế độ có ư muốn thọ dụng th́ nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ư thầy tế độ về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại b́nh bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn b́nh bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Và không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót.

 

Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

Khi thầy tế độ đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn th́ nên quét khu vực ấy.

 

Nếu thầy tế độ có ư muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu thầy tế độ có ư muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy tế độ, nên nhận lấy y và để ở một bên. Nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.

 

Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi đă tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của ḿnh, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy tế độ. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ư thầy tế độ về nước uống.

 

18. Nếu có ư muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ư muốn hỏi đạo, th́ có thể hỏi đạo. Ở trú xá nào thầy tế độ cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực th́ nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.

 

Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che. Nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu phần nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc.

 

Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.

 

19. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại.

 

Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.

 

Nếu pḥng có rác bẩn, nên quét pḥng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu pḥng hội họp có rác bẩn, nên quét pḥng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh.

 

Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

 

20. Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu thầy tế độ bị phạm tội nặng xứng đáng h́nh phạt parivāsa, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban h́nh phạt parivāsa cho thầy tế độ?’

 

Nếu thầy tế độ xứng đáng việc đưa về lại (h́nh phạt) ban đầu, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa thầy tế độ về lại (h́nh phạt) ban đầu?’ Nếu thầy tế độ xứng đáng h́nh phạt mānatta, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban h́nh phạt mānatta cho thầy tế độ?’ Nếu thầy tế độ xứng đáng sự giải tội, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy tế độ?’ Nếu hội chúng có ư định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với thầy tế độ, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đă thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thầy tế độ có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’

 

21. Nếu y của thầy tế độ cần phải giặt, người đệ tử nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được giặt?’ Nếu y của thầy tế độ cần phải may, người đệ tử nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được may?’ Nếu thuốc nhuộm của thầy tế độ cần phải nấu, người đệ tử nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy tế độ được nấu?’ Nếu y của thầy tế độ cần phải nhuộm, người đệ tử nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên nhuộm bằng cách đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.

 

Không có phép của thầy tế độ, không nên cho b́nh bát đến người khác, không nên thọ lănh b́nh bát của người khác, không nên cho y đến người khác, không nên thọ lănh y của người khác, không nên cho vật dụng đến người khác, không nên thọ lănh vật dụng của người khác, không nên cạo tóc cho người khác, không nên bảo người khác cạo tóc, không nên kỳ cọ người khác, không nên bảo người khác kỳ cọ, không nên hầu hạ người khác, không nên bảo người khác hầu hạ, không nên làm vị Sa-môn hầu cận cho người khác, không nên nhận người khác làm vị Sa-môn hầu cận, không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác, không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.

 

Chưa xin phép thầy tế độ không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy tế độ bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời, nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các vị thầy tế độ của các người đệ tử, các người đệ tử đối với các vị thầy tế độ nên thực hành như thế.” 

 

*****

 

 

12. PHẬN SỰ ĐỐI VỚI ĐỆ TỬ

 

22. Vào lúc bấy giờ, các vị thầy tế độ không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người đệ tử. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các vị thầy tế độ lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người đệ tử?”

 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các vị thầy tế độ không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người đệ tử, có đúng không vậy?”

 

- “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các người đệ tử cho các vị thầy tế độ, các vị thầy tế độ đối với các người đệ tử nên thực hành như thế.

 

Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người đệ tử. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:

 

Này các tỳ khưu, thầy tế độ nên quan tâm đến người đệ tử, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự giảng dạy. Nếu thầy tế độ có b́nh bát và người đệ tử không có b́nh bát, thầy tế độ nên cho b́nh bát đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để b́nh bát có thể phát sanh đến đệ tử?’ Nếu thầy tế độ có y và người đệ tử không có y, thầy tế độ nên cho y đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y có thể phát sanh đến đệ tử?’ Nếu thầy tế độ có vật dụng và người đệ tử không có vật dụng, thầy tế độ nên cho vật dụng đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến đệ tử?’

 

23. Nếu người đệ tử bị bệnh, (vị thầy tế độ) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi người đệ tử đă uống cháo xong, nên trao nước (rửa), nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi người đệ tử đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn th́ nên quét khu vực ấy.

 

Nếu người đệ tử có ư định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đă thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao b́nh bát c̣n đẫm nước sau khi đă rửa sạch. (Nghĩ rằng): ‘Đến lúc vị ấy sắp trở về,’ nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và b́nh bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đă gấp lại.

 

Nếu có đồ ăn khất thực và người đệ tử có ư muốn thọ dụng th́ nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ư người đệ tử về nước uống. Khi người đệ tử ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại b́nh bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn b́nh bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Và không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót.

 

Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống. Khi người đệ tử đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn th́ nên quét khu vực ấy.

 

24. Nếu người đệ tử có ư muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu người đệ tử có ư muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm. Nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi nên đem để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.

 

Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người đệ tử. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi đă tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của ḿnh, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người đệ tử. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ư người đệ tử về nước uống. Ở trú xá nào người đệ tử cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực th́ (vị thầy) nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y và b́nh bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. ―(như trên)― Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng. Nếu sự bực bội sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.

 

25. Nếu người đệ tử bị phạm tội nặng xứng đáng h́nh phạt parivāsa, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban h́nh phạt parivāsa cho đệ tử?’ Nếu người đệ tử xứng đáng việc đưa về lại (h́nh phạt) ban đầu, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa đệ tử về lại (h́nh phạt) ban đầu?’ Nếu người đệ tử xứng đáng h́nh phạt mānatta, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban h́nh phạt mānatta cho đệ tử?’ Nếu người đệ tử xứng đáng sự giải tội, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho đệ tử?’

 

Nếu hội chúng có ư định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với đệ tử, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đă thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để đệ tử có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’

 

Nếu y của người đệ tử cần phải giặt, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên giặt như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử được giặt?’ Nếu y của người đệ tử cần phải may, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên may như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử được may?’ Nếu thuốc nhuộm của người đệ tử cần phải nấu, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nấu như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của đệ tử được nấu?’ Nếu y của người đệ tử cần phải nhuộm, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nhuộm như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người đệ tử bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các người đệ tử của các vị thầy tế độ. Các vị thầy tế độ đối với các người đệ tử nên thực hành như thế.” 

 

Dứt tụng phẩm thứ nh́.

 

*****

 

 

13. PHẬN SỰ ĐỐI VỚI THẦY DẠY HỌC

 

26. Vào lúc bấy giờ, các người học tṛ không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: ­- “V́ sao các người học tṛ lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ­

 

- “Này các tỳ khưu, nghe nói các người học tṛ không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các vị thầy dạy học cho các người học tṛ, các người học tṛ đối với các vị thầy dạy học nên thực hành như thế.

 

Này các tỳ khưu, người học tṛ nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy dạy học. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:

 

Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đă uống cháo xong, nên dâng nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi thầy dạy học đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi.

 

Nếu khu vực ấy có rác bẩn th́ nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ư định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đă thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao b́nh bát c̣n đẫm nước sau khi đă rửa sạch. Nếu thầy dạy học muốn có vị Sa-môn hầu cận, vị ấy nên mặc y nội tṛn đều với sự che phủ ba ṿng tṛn, buộc dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trùm lên, thắt lại dây buộc, rửa b́nh bát và cầm lấy, rồi làm vị Sa-môn hầu cận cho thầy dạy học. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy b́nh bát được (vị thầy) hoán đổi.

 

27. Khi thầy dạy học đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy dạy học có khả năng phạm tội lúc đang nói th́ nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và b́nh bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đă gấp lại.

 

Nếu có đồ ăn khất thực và thầy dạy học có ư muốn thọ dụng th́ nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ư thầy dạy học về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại b́nh bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn b́nh bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Và không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

Khi thầy dạy học đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn th́ nên quét khu vực ấy.

 

Nếu thầy dạy học có ư muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (thầy dạy học) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu thầy dạy học có ư muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy dạy học, nên nhận lấy y, và để ở một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.

 

28. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Khi đă tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của ḿnh, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy dạy học. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ư thầy dạy học về nước uống. Nếu có ư muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ư muốn hỏi đạo, th́ có thể hỏi đạo.

 

Ở trú xá nào thầy dạy học cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực th́ nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.

 

Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi đem đổ bỏ ở một góc.

 

29. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây).

 

Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và đồ trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.

 

Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm. Nếu pḥng có rác bẩn, nên quét pḥng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu pḥng hội họp có rác bẩn, nên quét pḥng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

 

30. Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy dạy học, người học tṛ nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở thầy dạy học, người học tṛ nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy dạy học, người học tṛ nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu thầy dạy học bị phạm tội nặng xứng đáng h́nh phạt parivāsa, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban h́nh phạt parivāsa cho thầy dạy học?’

 

Nếu thầy dạy học xứng đáng việc đưa về lại (h́nh phạt) ban đầu, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa thầy dạy học về lại (h́nh phạt) ban đầu?’ Nếu thầy dạy học xứng đáng h́nh phạt mānatta, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban h́nh phạt mānatta cho thầy dạy học?’ Nếu thầy dạy học xứng đáng sự giải tội, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy dạy học?’ Nếu hội chúng có ư định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với thầy dạy học, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với thầy dạy học, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đă thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với vị thầy dạy học, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thầy dạy học có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’

 

Nếu y của thầy dạy học cần phải giặt, người học tṛ nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy dạy học được giặt?’ Nếu y của thầy dạy học cần phải may, người học tṛ nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy dạy học được may?’ Nếu thuốc nhuộm của thầy dạy học cần phải nấu, người học tṛ nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy dạy học được nấu?’ Nếu y của thầy dạy học cần phải nhuộm, người học tṛ nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy dạy học được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.

 

Không có phép của thầy dạy học, không nên cho b́nh bát đến người khác. Không nên thọ lănh b́nh bát của người khác. Không nên cho y đến người khác. Không nên thọ lănh y của người khác. Không nên cho vật dụng đến người khác. Không nên thọ lănh vật dụng của người khác. Không nên cạo tóc cho người khác. Không nên bảo người khác cạo tóc. Không nên kỳ cọ người khác. Không nên bảo người khác kỳ cọ. Không nên hầu hạ người khác. Không nên bảo người khác hầu hạ. Không nên làm vị Sa-môn hầu cận cho người khác. Không nên nhận người khác làm vị Sa-môn hầu cận. Không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác. Không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.

 

Chưa xin phép thầy dạy học không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy dạy học bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các vị thầy dạy học của các người học tṛ, các người học tṛ đối với các vị thầy dạy học nên thực hành như thế.”

 

*****

 

 

14. PHẬN SỰ ĐỐI VỚI HỌC TR̉

 

31. Vào lúc bấy giờ, các vị thầy dạy học không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học tṛ. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các vị thầy dạy học lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học tṛ?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, nghe nói các vị thầy dạy học không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học tṛ, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các người học tṛ cho các vị thầy dạy học, các vị thầy dạy học đối với các người học tṛ nên thực hành như thế.

 

Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người học tṛ. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:

 

Này các tỳ khưu, thầy dạy học nên quan tâm đến người học tṛ, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự giảng dạy. Nếu thầy dạy học có b́nh bát và người học tṛ không có b́nh bát, thầy dạy học nên cho b́nh bát đến người học tṛ, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để b́nh bát có thể phát sanh đến học tṛ?’

 

Nếu thầy dạy học có y và người học tṛ không có y, thầy dạy học nên cho y đến người học tṛ, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y có thể phát sanh đến học tṛ?’

 

Nếu thầy dạy học có vật dụng và người học tṛ không có vật dụng, thầy dạy học nên cho vật dụng đến người học tṛ, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến học tṛ?’

 

32. Nếu người học tṛ bị bệnh, (vị thầy dạy học) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi người học tṛ đă uống cháo xong, nên cho nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi người học tṛ đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn th́ nên quét khu vực ấy.

 

Nếu người học tṛ có ư định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đă thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao b́nh bát c̣n đẫm nước sau khi đă rửa sạch. (Nghĩ rằng): ‘Đến lúc vị ấy sắp trở về,’ nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và b́nh bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi).

 

Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đă gấp lại.

 

33. Nếu có đồ ăn khất thực và người học tṛ có ư muốn thọ dụng th́ nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ư người học tṛ về nước uống. Khi người học tṛ ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại b́nh bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn b́nh bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Và không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống. Khi người học tṛ đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân.

 

Nếu khu vực ấy có rác bẩn th́ nên quét khu vực ấy. Nếu người học tṛ có ư muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (người học tṛ) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu người học tṛ có ư muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.

 

Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người học tṛ. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người học tṛ. Khi đă tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của ḿnh, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người học tṛ. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ư người học tṛ về nước uống. Ở trú xá nào người học tṛ cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực th́ nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. ―(như trên)― Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

 

34. Nếu sự bực bội sanh khởi ở người học tṛ, vị thầy dạy học nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở người học tṛ, vị thầy dạy học nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người học tṛ, vị thầy dạy học nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.

 

Nếu người học tṛ bị phạm tội nặng xứng đáng h́nh phạt parivāsa, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban h́nh phạt parivāsa cho học tṛ?’ Nếu người học tṛ xứng đáng việc đưa về lại (h́nh phạt) ban đầu, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa học tṛ về lại (h́nh phạt) ban đầu?’ Nếu người học tṛ xứng đáng h́nh phạt mānatta, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban h́nh phạt mānatta cho học tṛ?’ Nếu người học tṛ xứng đáng sự giải tội, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho học tṛ?’

 

Nếu hội chúng có ư định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với người học tṛ, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với học tṛ, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đă thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với người học tṛ, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để học tṛ có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’

 

Nếu y của người học tṛ cần phải giặt, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên giặt như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học tṛ được giặt?’ Nếu y của học tṛ cần phải may, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên may như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học tṛ được may?’ Nếu thuốc nhuộm của người học tṛ cần phải nấu, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nấu như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của học tṛ được nấu?’

 

Nếu y của người học tṛ cần phải nhuộm, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nhuộm như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học tṛ được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người học tṛ bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.

 

Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các người học tṛ của các vị thầy dạy học. Các vị thầy dạy học đối với các người học tṛ nên thực hành như thế.” 

 

Chương Phận Sự là thứ tám.

 

*****

 

 

Trong chương này có năm mươi lăm sự việc.

 

 

TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY

 

 

1. Có mang dép, và che dù, trùm đầu, đội y, nước uống, với sự không đảnh lễ, không hỏi (về chỗ ngụ), con rắn, các vị hiền thiện phàn nàn.

 

2. Vị đă cởi (dép), (hạ) dù, ở vai, và không vội vă trong khi đi đến, đă đặt y và bát xuống, và (chỗ ngồi) thích hợp, (các việc) đă được hỏi.

 

3. Nên xối nước, với vị đă rửa, (lau) giày dép với khăn khô, rồi ướt, vị trưởng thượng, vị mới tu, nên hỏi, (pḥng) đă có người ở, và khu vực đi khất thực.

 

4. Các vị Thánh Hữu Học, nhà tiêu, nước uống, nước rửa, cây gậy chống, điều qui định từ nơi ấy, giờ giấc, (chờ) trong chốc lát, rác bẩn, nên đem ra ngoài thảm trải nền.

 

5. Khung giường, nệm gối, giường, ghế, và ống nhổ, tấm ván kê, tấm màn che, các hốc kẹt, màu đỏ, màu đen, (nền) không được thực hiện.

 

6. Rác, và tấm thảm trải nền, khung giường, giường và ghế, nệm gối, vật lót ngồi, ống nhổ, và tấm ván kê đầu.

 

7. Y và b́nh bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này, từ hướng đông, và từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam.

 

8. Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, căn pḥng, cổng ra vào, pḥng hội họp, nhà đốt lửa, và phận sự ở các nhà vệ sinh.

 

9. Nước uống, nước rửa, và hũ nước cho các việc súc miệng, phận sự đă được bậc Vô Song quy định, các điều này (nên được thực hành) bởi các vị văng lai.

 

10. Không chịu (sắp xếp) chỗ ngồi, không nước, không đón tiếp, và không nước uống, không đảnh lễ, không sắp xếp (chỗ ngụ), và các vị hiền thiện phàn nàn.

 

11. Chỗ ngồi cho vị thâm niên, và nước rửa, sau khi đi ra đón tiếp, và nước uống, (nên lau) đôi dép, (phơi) ở một góc, nên đảnh lễ và nên sắp xếp (chỗ ngụ).

 

12. Đă có người ở, khu vực đi khất thực, và vị Thánh Hữu Học, chỗ nước uống và nước rửa, cây gậy chống, điều quy định, giờ giấc, đối với vị mới tu, về vị vẫn ngồi.

 

13. Nên cho đảnh lễ, nên chỉ rơ, tương tợ như đường lối dưới đây, phận sự đă được vị Hướng Dẫn Đoàn Xe chỉ dạy, các điều này (nên được thực hành) bởi các vị thường trú.

 

14. Vị xuất hành, đồ gỗ, và các đồ đất nung, sau khi mở ra, không được thông báo, các vật bị mất, và không được bảo vệ, và các vị hiền thiện phàn nàn.

 

15. Sau khi thu xếp, sau khi đóng cửa, sau khi thông báo rồi nên ra đi, vị tỳ khưu, hoặc sa di, hoặc người phụ việc chùa, hoặc cư sĩ.

 

16. Ở trên các ḥn đá, và nên thu xếp thành đống, và nên đóng cửa, hoặc vị có nỗ lực, hoặc (thực hiện) sự nỗ lực, và tương tợ y như thế ở chỗ không dột.

 

17. Toàn bộ đều bị dột, (nên mang) vào làng, và tương tợ y như thế ở ngoài trời (nghĩ rằng): ‘Có lẽ các thứ này sẽ c̣n được tồn tại,’ phận sự (nên được thực hành) bởi vị tỳ khưu xuất hành.

 

18. Các vị không nói lời tùy hỷ, bởi vị trưởng lăo, sau khi để ở lại, với bốn hay năm vị, bị mắc tiêu, đă bị ngất xỉu, các điều này là các phận sự trong các việc nói lời tùy hỷ.

 

19. Các vị nhóm Lục Sư mặc y luộm thuộm, và lại c̣n trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách, và sau khi tách ra, chen vào (chỗ) các vị trưởng lăo.

 

20. Và (đuổi) các vị mới tu, (trải ra) y hai lớp, và các vị hiền thiện phàn nàn, sau khi quấn che ba ṿng tṛn, dây thắt lưng, với nếp gấp, dây buộc.

 

21. Không tách ra, được che kín, khéo thu thúc, với mắt nh́n xuống, bị vén hở ra, với tiếng cười vang, âm thanh (giọng nói), và c̣n thêm ba sự đung đưa.

 

22. Chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, được che kín, khéo thu thúc, với mắt nh́n xuống, bị vén hở ra, tiếng cười vang, giọng nói nhỏ nhẹ, ba sự đung đưa.

 

23. Chống nạnh, trùm đầu, ôm đầu gối, việc chen vào, ở chỗ ngồi, sau khi trải ra, nước, sau khi hạ thấp xuống, không nên làm văng nước.

 

24. Vật chứa nước rửa, ở xung quanh, y hai lớp, và khi (được dâng) cơm, nên thọ lănh, xúp, với thức ăn ngon, cho tất cả, và ngang miệng (bát).

 

25. Nghiêm trang, và có sự chú tâm ở b́nh bát, và theo tuần tự, với lượng xúp, không vun thành đống, che lấp, yêu cầu, với ư định t́m lỗi.

 

26. (Vắt cơm) lớn, tṛn đều, cửa miệng, trọn bàn tay, không nói chuyện, đưa thức ăn liên tục, việc cắn (từng chút), phồng má, vung rảy tay, sự làm rơi đổ cơm.

 

27. Và luôn cả việc le lưỡi, tiếng chép chép, và với tiếng rột rột, liếm tay, vét b́nh bát, liếm môi, có dính thức ăn, về việc thọ lănh.

 

28. Không (thọ nhận) nước rửa cho đến khi tất cả (đă ăn xong), sau khi hạ thấp, không nên làm văng, vật chứa nước rửa, ở xung quanh, y hai lớp, sau khi hạ thấp, và ở mặt đất.

 

29. (Nước) có lẫn cơm, trong khi đi trở về, được che kín đáo, sự nhón gót, đây là phận sự ở nhà ăn đă được quy định bởi bậc Pháp Vương.

 

30. Mặc y phục luộm thuộm, không đúng quy cách, sau khi không suy xét, và vội vă, xa, gần, lâu, mau, tương tợ y như thế là vị đi khất thực.

 

31. Với sự che kín rồi nên đi, khéo thu thúc, với mắt nh́n xuống, bị vén hở ra, với tiếng cười vang, âm thanh (giọng nói), và c̣n thêm ba sự đung đưa.

 

32. Chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, sau khi không suy xét, và vội vă, xa, gần, lâu, mau, sự đụng đến, cái muỗng.

 

33. Hoặc cái đĩa, và thỉnh đứng lại, sau khi vén y lên, sau khi mở ra, nên thọ lănh, không nên nh́n, về các món xúp, điều ấy cũng tương tợ y như thế.

 

34. Vị tỳ khưu, nên che đậy bằng y saṅghāṭi, được che kín rồi mới nên đi, khéo thu thúc, với mắt nh́n xuống, bị vén hở ra, và tiếng cười vang.

 

35. Với giọng nói nhỏ nhẹ, ba sự đung đưa, chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, (về) trước tiên, chỗ ngồi, chậu đựng đồ thừa, nước uống, nước rửa, (vị) về sau, (nếu) muốn, có thể ăn, có thể đổ xuống, nên xếp lại cất đi.

 

36. Có thể dọn dẹp, nên quét, hết nước, trống trơn, nên đem (nước) lại, về dấu hiệu bằng tay, (không) nên nói ra lời, và phận sự về việc khất thực.

 

37. Nước uống, nước rửa, ngọn lửa, vật tạo lửa, sao, phương hướng, và bọn trộm cướp, ‘tất cả đều không có,’ sau khi đánh đập, vai mang b́nh bát, y, từ nơi ấy.

 

38. Giờ đây, sau khi mang ở vai, đều đặn ba ṿng tṛn, giống như phận sự của vị đi khất thực, phương thức cho các vị sống ở rừng cũng thế.

 

39. Vai mang b́nh bát, y (đội) ở đầu, sau khi mang (dép) vào, và nước uống, nước rửa, ngọn lửa, vật tạo lửa, và luôn cả gậy chống.

 

40. Ngôi sao, hoặc toàn bộ khu vực, nên rành rẽ về các phương hướng, các điều này là phận sự cho các vị ngụ ở rừng đă được quy định bởi bậc Tối Thượng của Chúng Sanh.

 

41. Ở ngoài trời, các vị đă bị lấm bụi, và các vị hiền thiện phàn nàn, nếu trú xá có rác bẩn, trước tiên là y và b́nh bát.

 

42. Nệm gối, giường, ghế, và ống nhổ, tấm ván kê đầu, lỗ thông gió và các hốc kẹt, màu đỏ, màu đen, và (nền) chưa được thực hiện.

 

43. Rác rến, gần các vị tỳ khưu, (gần) sàng tọa, (gần) trú xá và nước uống, gần nước rửa, ngược chiều gió, và ở mái hiên.

 

44. Phía dưới gió, thảm trải nền, khung giường, và giường, ghế, nệm, vật lót ngồi, ống nhổ, và tấm ván kê đầu.

 

45. Y và b́nh bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này, từ hướng đông, và từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam.

 

46. Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, và căn pḥng, cổng ra vào, và pḥng hội họp, nhà đốt lửa, nhà vệ sinh, và nước uống.

 

47. Hũ nước súc miệng, và vị thâm niên, việc đọc tụng, các câu hỏi, việc học bài, (việc giảng) Pháp, nên thổi tắt ngọn đèn, không nên mở ra, cũng không nên đóng lại.

 

48. Khi đối đầu với vị thâm niên th́ nên xoay lại, không nên va chạm dù là bằng chéo y, đấng Đại Hùng đă quy định điều ấy là phận sự ở các nơi cư ngụ.

 

49. Các vị trong khi bị cản trở, (đóng) cửa ra vào, đă bị ngất xỉu, các vị hiền thiện phàn nàn, nên đổ tro, nhà tắm hơi, và bục nền xung quanh tương tợ y như thế.

 

50. Căn pḥng, cổng, gian pḥng lớn, bột tắm, đất sét, máng nước, khuôn mặt, ở phía trước, không (chen vào) các vị trưởng lăo, không nên (xua đuổi) các vị mới tu, nếu có nỗ lực.

 

51. (Tắm) ở phía trước, ở phía trên, đường đi, bị lầy lội, (máng) đất sét, ghế ngồi, sau khi tắt lửa, nên đi ra, các điều này là phận sự ở các nhà tắm hơi.

 

52. Vị không rửa sạch, theo thâm niên, theo thứ tự, và với sự vội vă, đă vén y lên, việc rặn, gỗ (chà răng), việc đại tiện, việc tiểu tiện, việc khạc nhổ.

 

53. Bị sần sùi, hố phân, với sự vội vă, đă vén y lên, tiếng chép chép, với (nước) chừa lại, vị ở bên ngoài, và ở bên trong, nên tằng hắng, giây phơi, và sự không hấp tấp.

 

54. Với sự vội vă, sau khi vén y lên, về việc rặn, gỗ (chà răng), việc đại tiện, việc tiểu tiện, việc khạc nhổ, (khúc cây chùi) bị sần sùi, hố phân, bệ nhà vệ sinh.

 

55. Với sự không vội vă, đă vén y lên, ở sàn rửa, tiếng chép chép, không nên chừa lại (nước), nên che kín, bị dơ, với thùng đựng.

 

56. Nhà vệ sinh, bục nền xung quanh, và căn pḥng, cổng, và nước để rửa ráy, các điều này là phận sự ở nhà vệ sinh.

 

57. Đôi dép, gỗ chà răng, và nước súc miệng, chỗ ngồi, cháo, nước, sau khi rửa, nên thu xếp, rác bẩn, và vào làng.

 

58. Y lót trong, dây thắt lưng, có nếp gấp, b́nh bát c̣n đẫm nước, vị thị giả, và luôn cả ba ṿng, (mặc y nội) tṛn đều, dây thắt lưng.

 

59. Có nếp gấp, sau khi rửa, vị (Sa-môn) hầu cận, không quá xa, nên nhận lấy, khi đang nói, tội vi phạm, sau khi đi về trước tiên, chỗ ngồi.

 

60. Nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sau khi đi ra đón, y lót trong, nên phơi nắng, để luôn, vết gấp, ở phần đă gấp lại, để thọ thực, nên đem lại.

 

61. Nước uống, nước rửa, chỗ thấp, trong chốc lát, và không nên để luôn, y và b́nh bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này.

 

62. Nên thu xếp, và nên dọn dẹp, rác bẩn, và (có ư muốn) tắm, (nước) lạnh, (nước) nóng, nhà tắm hơi, bột tắm, đất sét, từ phía sau lưng.

 

63. Và ghế ngồi, y, bột tắm, đất sét, nếu có nỗ lực, khuôn mặt, phía trước, (chen vào) các vị trưởng lăo, và (xua đuổi) các vị mới tu, và việc kỳ cọ, nên rời khỏi.

 

64. Ở phía trước, lúc ở trong nước, khi đă tắm, sau khi quấn y lại, (lau khô) thầy tế độ, và y lót trong, y hai lớp, ghế (nhà tắm hơi), và với chỗ ngồi.

 

65. Nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ lau chân, nước uống, việc đọc tụng, việc hỏi đạo, rác bẩn, nên khéo làm sạch sẽ, trước tiên là y và b́nh bát.

 

66. Vật lót ngồi, tấm trải nằm, nệm và các gối, giường, ghế, khung giường, ống nhổ, và tấm ván kê đầu.

 

67. (Tấm trải) nền nhà, mạng nhện, lỗ thông gió, màu đỏ, màu đen, không được thực hiện, tấm trải nền, khung giường, giường, ghế, gối.

 

68. Vật lót ngồi và tấm trải nằm, ống nhổ, tấm ván kê đầu, y và b́nh bát, từ hướng đông, và luôn cả từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam.

 

69. Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, và căn pḥng, cổng ra vào, pḥng hội họp, và nhà đốt lửa, nhà vệ sinh, nước uống, nước rửa.

 

70. Việc súc miệng, sự bực bội, nỗi nghi hoặc, tà kiến, và tội nặng, từ đầu, h́nh phạt mànatta, việc giải tội, (hành sự) khiển trách, chỉ dạy.

 

71. (Hành sự) xua đuổi, ḥa giải, và treo tội, nếu đă được thực hiện, nên giặt, nên thể hiện, và việc nhuộm, nên nhuộm, việc trộn đều.

 

72. Và b́nh bát, và luôn cả y nữa, và vật dụng, việc cạo (tóc), việc kỳ cọ, việc hầu hạ, Sa-môn hầu cận, đồ khất thực, sự đi vào.

 

73. Không mộ địa, và luôn cả hướng (khác), cho đến trọn đời nên phục vụ, việc này (nên được thực hành) bởi người đệ tử, các điều này là phận sự đối với các vị thầy tế độ.

 

74. Sự giáo huấn, giảng dạy, đọc tụng, vấn hỏi, b́nh bát, và y, vật dụng, và vị bị bệnh, không nên là vị Sa-môn hầu cận.

 

75. Các phận sự nào đối với các vị thầy tế độ th́ cũng như vậy đối với các vị thầy dạy học, các phận sự đối với các người đệ tử th́ tương tợ y như thế đối với người học tṛ.

 

76. Các phận sự dành cho các vị văng lai, và dành cho các vị thường trú nữa, các vị xuất hành, các vị nói lời tùy hỷ ở nơi thọ thực, và về vị đi khất thực.

 

77. Phận sự dành cho các vị ngụ ở rừng, và luôn cả ở các nơi cư ngụ, ở nhà tắm hơi, các nhà vệ sinh, các vị thầy tế độ, đối với người đệ tử.

 

78. Phận sự đối với các vị thầy dạy học, tương tợ y như thế đối với người học tṛ, có mười chín sự việc đă được nói đến ở mười sáu phần.

 

79. Trong khi không làm tṛn phận sự th́ không đầy đủ về giới, vị có giới không trong sạch, có tuệ kém, không có được nhất tâm.

 

80. Với tâm bị xáo trộn, không trụ một điểm, không nh́n thấy Pháp một cách đúng đắn, trong khi không nh́n thấy Chánh Pháp, không hoàn toàn thoát khỏi khổ đau.

 

81. Trong khi làm đầy đủ phận sự, th́ cũng làm đầy đủ về giới, là vị có giới thanh tịnh, có tuệ, đạt được luôn cả nhất tâm.

 

82. Tâm không bị xáo trộn, trụ một điểm, nh́n thấy rơ Pháp một cách đúng đắn, trong khi bản thân nh́n thấy Chánh Pháp, vị ấy hoàn toàn thoát khỏi khổ đau.

 

83. Chính v́ điều ấy, người con trai sáng suốt của đấng Chiến Thắng, nên làm đầy đủ phận sự, lời giáo huấn của đức Phật tối thượng, từ đó hăy đi đến Niết Bàn.”

 

--ooOoo--

 

 

 


[1] Là ṿng bụng ở lỗ rún và hai đầu gối. Xem điều học sekhiya thứ nhất (TTPV 02, trang 488-489).

[2] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Dầu là người nữ hay người nam, không nên nh́n vào mặt ở thời điểm của sự bố thí vật thực” (VinA. vi, 1285).

 

 

 

 

 

   
 

| 00 | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 |

 
 

<Mục Lục><Đầu Trang>