Trang Chính

Trang Các Bản Dịch Mới

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT tập 01

 

PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU tập I

ẤN BẢN 2013

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5. 2. PHẨM TƠ TẰM

 

 

5. 2. 1. ĐIỀU HỌC VỀ TƠ TẰM

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Āḷavī, nơi tháp thờ Aggāḷava. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đi đến gặp những người làm tơ tằm rồi nói như vầy: - “Này các đạo hữu, hăy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm.” Những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử này sau khi đi đến gặp chúng tôi lại nói như vầy: ‘Này các đạo hữu, hăy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm.’ Chúng tôi không có lợi nhuận, chúng tôi thu nhập khó khăn, chúng tôi v́ lư do nuôi mạng, v́ nguyên nhân vợ con mà gây nên việc giết chóc nhiều sinh vật nhỏ bé.” Các tỳ khưu đă nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi đi đến gặp những người làm tơ tằm lại nói như vầy: ‘Này các đạo hữu, hăy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm’?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi đi đến gặp những người làm tơ tằm rồi nói như vầy: ‘Này các đạo hữu, hăy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm,’ có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này những kẻ rồ dại, v́ sao các ngươi sau khi đi đến gặp những người làm tơ tằm lại nói như vầy: ‘Này các đạo hữu, hăy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm’? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào bảo làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

2. Vị nào: là bất cứ vị nào ―(như trên)―

 

Tỳ khưu ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ư nghĩa này.

 

Tấm trải nằm nghĩa là đă được trải ra c̣n chưa được dệt.

 

Bảo làm: vị (tự) làm hoặc bảo làm sau khi đă trộn lẫn vào cho dầu chỉ một sợi tơ tằm. Trong khi tiến hành th́ (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được th́ phạm vào nissaggiya, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm này của tôi đă được bảo làm, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

3. Vị tự ḿnh hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị tự ḿnh hoàn tất phần những người khác chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị (tự) làm hoặc bảo làm v́ nhu cầu của vị khác th́ phạm tội dukkaṭa. Sau khi thọ lănh vật đă được làm bởi người khác, vị thọ dụng th́ phạm tội dukkaṭa.

 

4. Vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc tấm vách chắn, hoặc nệm, hoặc gối, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về tơ tằm.

 

--ooOoo--

 

 

5. 2. 2. ĐIỀU HỌC VỀ THUẦN MÀU ĐEN

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nh́n thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử này lại bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen giống như những kẻ tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu đă nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này những kẻ rồ dại, v́ sao các ngươi lại bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

2. Vị nào: là bất cứ vị nào ―(như trên)―

 

Tỳ khưu ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ư nghĩa này.

 

Màu đen nghĩa là có hai loại màu đen: màu đen do tự nhiên hoặc là màu đen nhuộm.

 

Tấm trải nằm nghĩa là đă được trải ra c̣n chưa được dệt.

 

Bảo làm: vị (tự) làm hoặc bảo làm. Trong khi tiến hành th́ (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được th́ phạm vào nissaggiya, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen của tôi đă được bảo làm, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

3. Vị tự ḿnh hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị tự ḿnh hoàn tất phần những người khác chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị (tự) làm hoặc bảo làm v́ nhu cầu của vị khác th́ phạm tội dukkaṭa. Sau khi thọ lănh vật đă được làm bởi người khác, vị thọ dụng th́ phạm tội dukkaṭa.

 

4. Vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc tấm vách chắn, hoặc nệm, hoặc gối, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về thuần màu đen.

 

--ooOoo--

 

 

5. 2. 3. ĐIỀU HỌC VỀ HAI PHẦN

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đă cấm không được bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen” nên sau khi đă lấy chỉ chút ít màu trắng ở đường biên rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen y như thế. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại lấy chỉ một chút ít màu trắng ở đường biên rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen y như thế?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi lấy chỉ một chút ít màu trắng ở đường biên rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen y như thế, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này những kẻ rồ dại, v́ sao các ngươi lại lấy chỉ một chút ít màu trắng ở đường biên rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen y như thế vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

 “Trong khi bảo làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu nên lấy hai phần lông cừu thuần màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu nâu đỏ. Nếu vị tỳ khưu không lấy hai phần lông cừu thuần màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu nâu đỏ rồi bảo làm tấm trải nằm mới th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

2. Mới nghĩa là liên quan việc làm (tấm trải nằm) được đề cập đến.

 

Tấm trải nằm nghĩa là đă được trải ra c̣n chưa được dệt.

 

Trong khi bảo làm: trong khi (tự) làm hoặc trong khi bảo làm.

 

Nên lấy hai phần lông cừu thuần màu đen: sau khi đă được mang lại, th́ nên lấy hai cân[1] lông cừu thuần màu đen.

 

Phần thứ ba màu trắng: một cân của màu trắng.

 

Phần thứ tư màu nâu đỏ: một cân của màu nâu đỏ.

 

Nếu vị tỳ khưu không lấy hai phần lông cừu thuần màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu nâu đỏ: sau khi không lấy hai cân lông cừu thuần màu đen, một cân màu trắng, một cân màu nâu đỏ rồi (tự) làm hoặc bảo làm tấm trải nằm mới. Trong khi tiến hành th́ (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được th́ phạm vào nissaggiya, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, tấm trải nằm của tôi đă được bảo làm sau khi đă không lấy [hai cân lông cừu thuần màu đen] một cân màu trắng và một cân màu nâu đỏ, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

3. Vị tự ḿnh hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị tự ḿnh hoàn tất phần những người khác chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị (tự) làm hoặc bảo làm v́ nhu cầu của vị khác th́ phạm tội dukkaṭa. Sau khi thọ lănh vật đă được làm bởi người khác, vị thọ dụng th́ phạm tội dukkaṭa.

 

4. Sau khi lấy một cân màu trắng và một cân màu nâu đỏ rồi làm, sau khi lấy màu trắng nhiều hơn (hoặc) màu nâu đỏ nhiều hơn rồi làm, sau khi lấy thuần màu trắng (hoặc) thuần màu nâu đỏ rồi làm, vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc tấm vách chắn, hoặc nệm, hoặc gối, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về hai phần.

 

--ooOoo--

 

 

5. 2. 4. ĐIỀU HỌC VỀ SÁU NĂM

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu bảo làm tấm trải nằm hàng năm. Các vị ấy sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: “Các người hăy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hăy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu’? Các tấm trải nằm của chúng tôi bị con cái của chúng tôi tiêu tiểu và bị các con chuột gặm nhấm c̣n được làm năm sáu năm một lần. Thế mà các Sa-môn Thích tử này lại bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hăy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu.’”

 

2. Các tỳ khưu đă nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu lại bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hăy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu’?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hăy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu,’ có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này các tỳ khưu, v́ sao những kẻ rồ dại ấy lại bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hăy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu’ vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Sau khi bảo làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu nên sử dụng sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm mà cho đi hoặc không cho đi tấm trải nằm ấy rồi bảo làm tấm trải nằm mới khác th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

Và điều học này đă được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.

 

[Sự quy định căn bản]

 

3. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ở thành Kosambī bị bệnh. Các thân quyến đă phái người đưa tin đến gặp vị tỳ khưu ấy nói rằng: - “Ngài đại đức hăy đi đến. Chúng tôi sẽ hộ độ.” Các tỳ khưu cũng đă nói như vầy: - “Này đại đức, hăy đi. Các thân quyến sẽ hộ độ đại đức.” Vị ấy đă nói như vầy: - “Này các đại đức, điều học đă được đức Thế Tôn quy định rằng: ‘Sau khi bảo làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu nên sử dụng sáu năm.’ Và tôi th́ bị bệnh nên không thể mang theo tấm trải nằm mà ra đi được. Tôi không được thoải mái khi không có tấm trải nằm. Tôi sẽ không đi.” Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

4. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ban cho sự đồng ư về tấm trải nằm đối với vị tỳ khưu bị bệnh. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: - “Bạch các ngài, tôi bị bệnh không thể mang theo tấm trải nằm mà ra đi được. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng sự đồng ư về tấm trải nằm.” Nên được thỉnh cầu lần thứ nh́. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

 

Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) bị bệnh không thể mang theo tấm trải nằm mà ra đi được. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ư về tấm trải nằm. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự đồng ư về tấm trải nằm đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.

 

Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) bị bệnh không thể mang theo tấm trải nằm mà ra đi được. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ư về tấm trải nằm. Hội chúng ban cho sự đồng ư về tấm trải nằm đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ư việc ban cho sự đồng ư về tấm trải nằm đến vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ư có thể nói lên.

 

Sự đồng ư về tấm trải nằm đă được hội chúng ban cho đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ư nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

 

5. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Sau khi bảo làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu nên sử dụng sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm mà cho đi hoặc không cho đi tấm trải nằm ấy rồi bảo làm tấm trải nằm mới khác th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya, ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu.

 

[Sự quy định lần hai]

 

6. Mới nghĩa là có liên quan việc làm (tấm trải nằm) được đề cập đến.

 

Tấm trải nằm nghĩa là đă được trải ra c̣n chưa được dệt.

 

Sau khi bảo làm: sau khi (tự) làm hoặc sau khi bảo (người khác) làm.

 

Nên sử dụng sáu năm: nên sử dụng tối đa là sáu năm.

 

Nếu chưa đủ sáu năm: c̣n ít hơn sáu năm.

 

Cho đi tấm trải nằm ấy: sau khi cho đến những người khác.

 

Hoặc không cho đi: sau khi không cho đến bất cứ ai.

 

Ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu: Trừ ra có sự đồng ư của các tỳ khưu.

 

7. Vị (tự) làm hoặc bảo làm tấm trải nằm mới khác. Trong khi tiến hành th́ (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được th́ phạm vào nissaggiya, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, tấm trải nằm của tôi đă được bảo làm chưa đủ sáu năm giờ cần được xả bỏ, ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

8. Vị tự ḿnh hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị tự ḿnh hoàn tất phần những người khác chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

9. Vị làm khi được sáu năm, vị làm khi đă quá sáu năm, vị làm hoặc bảo làm v́ nhu cầu của vị khác, vị nhận được (tấm trải nằm) đă được làm bởi người khác rồi sử dụng, vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc tấm vách chắn, hoặc nệm, hoặc gối, với sự đồng ư của các tỳ khưu, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về sáu năm.

 

--ooOoo--

 

 

5. 2. 5. ĐIỀU HỌC VỀ TẤM LÓT NGỒI VÀ TẤM TRẢI NẰM

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, đức Thế Tôn đă bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, Ta muốn thiền tịnh trong ba tháng. Không ai đi đến gặp Ta ngoại trừ một vị mang lại vật thực. - “Bạch ngài, xin vâng.” Các vị tỳ khưu ấy đă trả lời đức Thế Tôn. Và quả thật không có vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Vào lúc bấy giờ, hội chúng ở Sāvatthī đă thực hiện quy định là: “Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn thiền tịnh trong ba tháng. Không ai được đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn nên bị buộc sám hối tội pācittiya.”

 

2. Khi ấy, đại đức Upasena con trai của Vaṅganta cùng tập thể đă đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đă đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đại đức Upasena con trai của Vaṅganta đă ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đă nói điều này: - “Này Upasena, sức khỏe có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đi đường xa có được ít mệt nhọc không?” - “Bạch Thế Tôn, sức khỏe khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc tốt đẹp. Bạch ngài, chúng con đi đường xa được ít mệt nhọc.”

 

3. Vào lúc bấy giờ, vị tỳ khưu đệ tử của đại đức Upasena con trai của Vaṅganta ngồi xuống không xa đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đă nói với vị tỳ khưu ấy điều này: - “Này tỳ khưu, đối với ngươi các y paṃsukūla có dễ chịu không?” - “Bạch ngài, đối với con các y paṃsukūla không có dễ chịu.” - “Này tỳ khưu, vậy tại sao ngươi lại là vị hành pháp sử dụng y paṃsukūla?” - “Bạch ngài, thầy tế độ của con là vị hành pháp sử dụng y paṃsukūla; như thế con cũng là vị hành pháp sử dụng y paṃsukūla.” Khi ấy, đức Thế Tôn đă nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này:

 

- “Này Upasena, tập thể này quả là có niềm tin đối với ngươi. Này Upasena, ngươi hướng dẫn tập thể thế nào?” - “Bạch ngài, ai cầu xin con sự tu lên bậc trên th́ con nói với người ấy như vầy: ‘Này đạo hữu, ta là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla, nếu ngươi cũng sẽ là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla như thế th́ ta sẽ cho ngươi tu lên bậc trên.’ Nếu đồng ư với con th́ con cho tu lên bậc trên, nếu không đồng ư với con th́ con không cho tu lên bậc trên. Vị nào cầu xin con pháp nương nhờ th́ con nói với vị ấy như vầy: ‘Này đại đức, ta là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla, nếu ngươi cũng sẽ là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla như thế th́ ta sẽ ban cho ngươi pháp nương nhờ.’ Nếu đồng ư với con th́ con ban cho pháp nương nhờ, nếu không đồng ư với con th́ con không ban cho pháp nương nhờ. Bạch ngài, con hướng dẫn tập thể như thế.” - “Này Upasena, tốt lắm, tốt lắm! Này Upasena, ngươi hướng dẫn tập thể tốt lắm. Này Upasena, ngươi có biết về quy định của hội chúng ở Sāvatthī không?” - “Bạch ngài, con quả thật không biết về quy định của hội chúng ở Sāvatthī.” - “Này Upasena, hội chúng ở Sāvatthī đă thực hiện quy định là: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn thiền tịnh trong ba tháng. Không ai được đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn nên bị buộc sám hối tội pācittiya.’” - “Bạch ngài, hội chúng ở Sāvatthī sẽ được biết tiếng bởi quy định của chính họ. Chúng con sẽ không quy định điều không được quy định hoặc sẽ không hủy bỏ điều đă được quy định. Chúng con sẽ thọ tŕ và thực hành các điều học theo như đă được quy định.” - “Này Upasena, tốt lắm, tốt lắm! Không nên quy định điều không được quy định hoặc không nên hủy bỏ điều đă được quy định. Nên thọ tŕ và thực hành các điều học theo như đă được quy định. Này Upasena, Ta cho phép các vị tỳ khưu nào là những vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla, hăy để các vị ấy đi đến diện kiến Ta một cách thoải mái.”

 

4. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đứng bên ngoài cổng ra vào (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ buộc đại đức Upasena con trai của Vaṅganta sám hối tội pācittiya.” Sau đó, đại đức Upasena con trai của Vaṅganta cùng tập thể đă từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đă nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này: - “Này đại đức Upasena, đại đức có biết quy định của hội chúng ở Sāvatthī không?” - “Này các đại đức, đức Thế Tôn đă nói với tôi như vầy: ‘Này Upasena, ngươi có biết về quy định của hội chúng ở Sāvatthī không?’ ‘Bạch ngài, con quả không biết về quy định của hội chúng ở thành Sāvatthī.’ ‘Này Upasena, hội chúng ở Sāvatthī đă thực hiện quy định là: Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn thiền tịnh trong ba tháng. Không ai được đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn nên bị buộc sám hối tội pācittiya.’ ‘Bạch ngài, hội chúng ở Sāvatthī sẽ được biết tiếng bởi quy định của chính họ. Chúng con sẽ không quy định điều không được quy định hoặc sẽ không hủy bỏ điều đă được quy định. Chúng con sẽ thọ tŕ và thực hành các điều học theo như đă được quy định.’ Này các đại đức, đức Thế Tôn đă cho phép rằng: ‘Các vị tỳ khưu nào là những vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla, hăy để các vị ấy đi đến diện kiến Ta một cách thoải mái.’”

 

5. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy (bàn bạc rằng): “Đại đức Upasena đă nói rằng: ‘Không nên quy định điều không được quy định hoặc không nên hủy bỏ điều đă được quy định. Nên thọ tŕ và thực hành các điều học theo như đă được quy định’ có phải là sự thật không vậy?” Các tỳ khưu đă nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đă cho phép rằng: ‘Các vị tỳ khưu nào là những vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla, hăy để các vị ấy đi đến diện kiến Ta một cách thoải mái.’” Các vị ấy ao ước được diện kiến đức Thế Tôn nên đă quăng bỏ các tấm trải nằm và thọ tŕ pháp của vị ở trong rừng, pháp của vị đi khất thực, pháp của vị sử dụng y paṃsukūla. Sau đó, đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ cùng với nhiều vị tỳ khưu đă nh́n thấy các tấm trải nằm bị quăng bỏ chỗ này chỗ nọ, sau khi nh́n thấy đă hỏi các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, những tấm trải nằm bị quăng bỏ chỗ này chỗ nọ là của vị nào vậy?” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy Ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu v́ mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội chúng, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Trong khi bảo thực hiện tấm lót ngồi, vị tỳ khưu nên lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ để hoại vẻ đẹp. Nếu vị tỳ khưu không lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ mà bảo làm tấm lót ngồi mới th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

6. Tấm lót ngồi nghĩa là có đường viền quanh được nói đến.

 

Tấm trải nằm nghĩa là đă được trải ra c̣n chưa được dệt.

 

Sau khi bảo làm: sau khi (tự) làm hoặc sau khi bảo (người khác) làm.

 

Tấm lót cũ nghĩa là đă được ngồi dầu chỉ một lần, đă được nằm dầu chỉ một lần.

 

Nên lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh để hoại vẻ đẹp: sau khi cắt ṿng tṛn hoặc vuông vức rồi nên trải ra ở một góc, hoặc sau khi tháo rời rồi nên trải ra.

 

Nếu vị tỳ khưu không lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ: sau khi không lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ rồi (tự) làm hoặc bảo làm tấm lót ngồi mới, trong khi tiến hành th́ (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được th́ phạm vào nissaggiya, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, tấm lót ngồi này của tôi đă được bảo làm sau khi không lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

7. Vị tự ḿnh hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị tự ḿnh hoàn tất phần những người khác chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vị (tự làm) hoặc bảo làm v́ nhu cầu của vị khác th́ phạm tội dukkaṭa.

 

8. Sau khi đă lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ rồi làm; trong khi không có, đă lấy ít hơn rồi làm; trong khi không có, đă không lấy rồi làm; vị nhận được (tấm lót ngồi) đă được làm bởi người khác rồi sử dụng; vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc tấm vách chắn, hoặc nệm, hoặc gối; vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về tấm lót ngồi và tấm trải nằm.

 

--ooOoo--

 

 

5. 2. 6. ĐIỀU HỌC VỀ CÁC LÔNG CỪU

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khi đang đi đến thành Sāvatthī trong xứ Kosala, ở giữa đường có các lông cừu đă được phát sanh. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đă dùng thượng y gói các lông cừu ấy lại thành gói rồi đi. Dân chúng sau khi nh́n thấy vị tỳ khưu ấy đă chế giễu rằng: - “Thưa ngài, chúng được mua bao nhiêu? Lợi nhuận sẽ là bao nhiêu?” Trong khi bị những người ấy chế giễu, vị tỳ khưu ấy đă trở nên xấu hổ. Sau đó, khi đến thành Sāvatthī vị tỳ khưu ấy đă đứng thẳng người ném các lông cừu ấy xuống. Các tỳ khưu đă nói với vị tỳ khưu ấy như vầy: - “Này đại đức, v́ sao đại đức lại đứng thẳng người ném các lông cừu này xuống vậy?” - “Này các đại đức, như thế là v́ nguyên nhân các lông cừu này mà tôi đă bị dân chúng chế giễu.” - “Này đại đức, thế đại đức đă mang những lông cừu này khoảng bao xa vậy?” - “Này các đại đức, hơn ba do-tuần.”[2] Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao vị tỳ khưu lại mang các lông cừu hơn ba do-tuần?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này tỳ khưu, nghe nói ngươi mang các lông cừu hơn ba do-tuần, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này kẻ rồ dại, v́ sao ngươi lại mang các lông cừu hơn ba do-tuần vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu trong khi đi đường xa có các lông cừu được phát sanh, vị tỳ khưu mong muốn th́ nên thọ lănh. Sau khi thọ lănh, nên dùng tay mang tối đa ba do-tuần khi không có người mang. Nếu mang vượt quá khoảng cách ấy cho dầu không có người mang vác th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

2. Vị tỳ khưu trong khi đi đường xa: là vị đang đi đường.

 

Các lông cừu được phát sanh: là được phát sanh từ hội chúng, hoặc từ nhóm, hoặc từ thân quyến, hoặc từ bạn bè, hoặc từ vật quăng bỏ, hoặc từ vật sở hữu của bản thân.

 

Mong muốn: với vị đang ước muốn.

 

Th́ nên thọ lănh, sau khi thọ lănh th́ nên dùng tay mang tối đa ba do-tuần: Nên dùng tay mang nhiều nhất ba do-tuần.

 

Khi không có người mang vác: không có người nào khác khuân vác: hoặc là người nữ, hoặc là người nam, hoặc là người tại gia, hoặc là vị xuất gia.

 

Nếu mang vượt quá khoảng cách ấy cho dầu không có người mang vác: Vượt quá ba do-tuần bước thứ nhất th́ phạm tội dukkaṭa. Vượt quá ba do-tuần bước thứ nh́ th́ phạm vào nissaggiya pācittiya. Đứng trong khoảng ba do-tuần và làm rơi ngoài ba do-tuần th́ phạm vào nissaggiya pācittiya. Sau khi để ở trên xe hoặc trong gói đồ của người khác mà họ không hay biết, vị vượt quá ba do-tuần th́ (các lông cừu ấy) phạm vào nissaggiya, cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, các lông cừu này của tôi đă vượt quá ba do-tuần, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ các vật này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

3. Hơn ba do-tuần, nhận biết là đă hơn, vị vượt qua th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Hơn ba do-tuần, có sự hoài nghi, vị vượt qua th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Hơn ba do-tuần, (lầm) tưởng là chưa hơn, vị vượt qua th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa hơn ba do-tuần, (lầm) tưởng là đă hơn, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa hơn ba do-tuần, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa hơn ba do-tuần, nhận biết là chưa hơn th́ vô tội.

 

4. Vị mang đi ba do-tuần, vị mang đi kém ba do-tuần, vị mang đi ba do-tuần rồi mang lui lại, sau khi đi ba do-tuần vị có ư định t́m trú xứ rồi mang hơn khoảng cách đó, vị nhận lại vật bị cướp rồi mang đi, vị nhận lại vật đă sám hối ưng xả (và được cho lại) rồi mang đi, vị bảo người khác mang, vị mang vật đă là thành phẩm, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về các lông cừu.

 

--ooOoo--

 

 

5. 2. 7. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC BẢO GIẶT LÔNG CỪU

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự giữa dân chúng ḍng Sakya, trong thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo các tỳ khưu ni giặt, bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu. Trong khi giặt, trong khi nhuộm, và trong khi chải các lông cừu, các tỳ khưu ni xao lăng việc đọc tụng, việc vấn hỏi, (việc tu tập) tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ. Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī đă đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đă đảnh lễ đức Thế Tôn, rồi đứng ở một bên. Đức Thế Tôn đă nói với bà Mahāpajāpatī Gotamī đang đứng một bên điều này: - “Này Gotamī, chắc hẳn các tỳ khưu ni sống không có xao lăng, tinh cần, và bản thân có nỗ lực?” - “Bạch ngài, sự không xao lăng của các tỳ khưu ni từ đâu có được khi các ngài đại đức nhóm Lục Sư bảo các tỳ khưu ni giặt, bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu? Trong khi giặt, trong khi nhuộm, và trong khi chải các lông cừu, các tỳ khưu ni xao lăng việc đọc tụng, việc vấn hỏi, (việc tu tập) tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ.

 

2. Khi ấy, đức Thế Tôn đă chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Mahāpajāpatī Gotamī bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đă được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Mahāpajāpatī Gotamī đă đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đă hỏi các tỳ khưu nhóm Lục Sư rằng: - “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi bảo các tỳ khưu ni giặt, bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” - “Này các tỳ khưu, là các nữ thân quyến của các ngươi hay không phải là các nữ thân quyến?” - “Bạch Thế Tôn, không phải là các nữ thân quyến.” - “Này những kẻ rồ dại, những người nam không phải là thân quyến không biết điều ǵ thích hợp hay không thích hợp, điều ǵ làm hài ḷng hay không làm hài ḷng những người nữ không phải là thân quyến. Này những kẻ rồ dại, trong trường hợp ấy sao các ngươi lại bảo các tỳ khưu ni không phải là thân quyến giặt, bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào bảo tỳ khưu ni không phải là thân quyến giặt, hoặc bảo nhuộm, hoặc bảo chải các lông cừu th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

3. Vị nào: là bất cứ vị nào ―(như trên)―

 

Tỳ khưu ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ư nghĩa này.

 

(Người nữ) Không phải là thân quyến nghĩa là người nữ không có sự liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ ḍng bên mẹ hoặc từ ḍng bên cha.

 

Tỳ khưu ni nghĩa là người nữ đă được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

 

4. Vị chỉ thị rằng: “Hăy giặt” th́ phạm tội dukkaṭa, (các lông cừu) đă được giặt th́ phạm vào nissaggiya. Vị chỉ thị rằng: “Hăy nhuộm” th́ phạm tội dukkaṭa, (các lông cừu) đă được nhuộm th́ phạm vào nissaggiya. Vị chỉ thị rằng: “Hăy chải” th́ phạm tội dukkaṭa, (các lông cừu) đă được chải th́ phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: “Bạch các ngài, các lông cừu này của tôi đă được bảo tỳ khưu ni không phải là thân quyến giặt, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (các lông cừu) này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

5. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo giặt các lông cừu th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo giặt, bảo nhuộm các lông cừu th́ phạm tội dukkaṭa với tội nissaggiya. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo giặt, bảo chải các lông cừu th́ phạm tội dukkaṭa với tội nissaggiya. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo giặt, bảo nhuộm, bảo chải các lông cừu th́ phạm hai tội dukkaṭa với tội nissaggiya.

 

6. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo nhuộm các lông cừu th́ phạm tội nissaggiya. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo nhuộm, bảo chải ―(như trên)― vị bảo nhuộm, bảo giặt các lông cừu th́ phạm tội dukkaṭa với tội nissaggiya. ―(như trên)― vị bảo nhuộm, bảo chải, bảo giặt các lông cừu th́ phạm hai tội dukkaṭa với tội nissaggiya.

 

7. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo chải các lông cừu th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo chải, bảo giặt ―(như trên)― vị bảo chải, bảo nhuộm các lông cừu th́ phạm tội dukkaṭa với tội nissaggiya. ―(như trên)― vị bảo chải, bảo giặt, bảo nhuộm các lông cừu th́ phạm hai tội dukkaṭa với tội nissaggiya.

 

8. Không phải là thân quyến, có sự hoài nghi, ―(như trên)― Không phải là thân quyến, (lầm) tưởng là thân quyến, ―(như trên)― Vị bảo giặt các lông cừu của vị khác th́ phạm tội dukkaṭa. Vị bảo cô ni tu lên bậc trên từ một hội chúng giặt th́ phạm tội dukkaṭa. Là thân quyến, (lầm) tưởng không phải là thân quyến, phạm tội dukkaṭa. Là thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Là thân quyến, nhận biết là thân quyến th́ vô tội.

 

9. Khi vị (tỳ khưu ni) là thân quyến đang giặt có vị (tỳ khưu ni) thứ nh́ không phải là thân quyến (phụ giúp), vị (tỳ khưu ni) giặt khi chưa được nói, vị bảo giặt vật đă là thành phẩm chưa được sử dụng, (vị bảo) cô ni tu tập sự, (vị bảo) sa di ni, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về việc bảo giặt lông cừu.

 

--ooOoo--

 

 

5. 2. 8. ĐIỀU HỌC VỀ VÀNG BẠC

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai ḍng Sakya là vị thường tới lui với gia đ́nh nọ và là vị nhận bữa ăn thường kỳ. Khi nào gia đ́nh ấy có được vật thực loại cứng hoặc loại mềm, phần chia trong số đó được để dành cho đại đức Upananda con trai ḍng Sakya. Vào lúc bấy giờ, gia đ́nh ấy có được miếng thịt nhằm lúc chiều tối. Trong số đó, phần chia của đại đức Upananda con trai ḍng Sakya được để dành lại. Đến canh cuối của đêm, đứa bé trai của gia đ́nh ấy thức dậy khóc lóc rằng: - “Hăy cho con thịt.” Khi ấy, người đàn ông ấy đă nói với người vợ điều này: - “Hăy cho đứa bé phần chia của ngài đại đức. Sau khi mua phần khác tôi sẽ dâng ngài.” Rồi đă cho đứa bé phần thịt ấy.

 

2. Sau đó vào buổi sáng, đại đức Upananda con trai ḍng Sakya đă mặc y, cầm y bát đi đến gia đ́nh ấy, sau khi đến đă ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người đàn ông ấy đă đi đến gặp đại đức Upananda con trai ḍng Sakya, sau khi đến đă đảnh lễ đại đức Upananda con trai ḍng Sakya rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đă ngồi xuống một bên, người đàn ông ấy đă nói với đại đức Upananda con trai ḍng Sakya điều này: - “Thưa ngài, hôm qua lúc chiều tối có được miếng thịt. Trong số đó, phần chia của ngài đại đức đă được để dành. Thưa ngài, vào canh cuối của đêm, đứa bé trai này đă thức dậy khóc lóc rằng: ‘Hăy cho con thịt.’ Phần chia của ngài đại đức đă được cho đến đứa bé. Thưa ngài, với một đồng tiền th́ vật ǵ hăy được mang lại?”[3] - “Này đạo hữu, đồng tiền đă được ta từ bỏ.” - “Thưa ngài, đúng vậy. Đă được từ bỏ.” - “Này đạo hữu, hăy trao cho ta chính đồng tiền ấy.”

 

3. Khi ấy, người đàn ông ấy đă trao đồng tiền cho đại đức Upananda con trai ḍng Sakya rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Chúng tôi nhận lănh vàng bạc như thế nào th́ các Sa-môn Thích tử này thọ lănh vàng bạc y như thế.” Các tỳ khưu đă nghe được người đàn ông ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao đại đức Upananda con trai ḍng Sakya lại thọ lănh vàng bạc?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này Upananda, nghe nói ngươi thọ lănh vàng bạc, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này kẻ rồ dại, v́ sao ngươi lại thọ lănh vàng bạc vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào nhận lấy hoặc bảo nhận lấy hoặc ưng thuận vàng bạc đă được mang đến th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

4. Vị nào: là bất cứ vị nào ―(như trên)―

 

Tỳ khưu ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ư nghĩa này.

 

Vàng nghĩa là màu da của bậc Đạo Sư được nói đến.

 

Bạc nghĩa là đồng tiền kahāpaṇa, tiền māsaka bằng đồng, tiền māsaka bằng gỗ, tiền māsaka bằng nhựa cánh kiến, những vật nào dùng trong việc buôn bán.

 

Nhận lấy: bản thân cầm lấy th́ phạm vào nissaggiya pācittiya.

 

Bảo nhận lấy: bảo người khác cầm lấy th́ phạm vào nissaggiya pācittiya.

 

Hoặc ưng thuận (vàng bạc) đă được mang đến: Đối với (vàng bạc) đă được mang đến (nói rằng): “Vật này hăy là của ngài,” vị ưng thuận th́ phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ ở giữa hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, tôi đă thọ lănh vàng bạc, vật này nên được tôi xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực. Nếu có người phụ việc chùa hoặc nam cư sĩ đi đến nơi ấy th́ nên nói với người ấy rằng: “Này đạo hữu, hăy nhận biết vật này.” Nếu người ấy nói rằng: “Với vật này, hăy để cho vật ǵ được mang lại?” Không nên nói rằng: “Hăy mang lại vật này hoặc vật này.” Nên đề cập đến vật được phép là bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc mật ong, hoặc đường mía. Nếu người ấy sau khi dùng (vàng bạc) ấy trao đổi và đem lại vật được phép th́ tất cả nên thọ dụng trừ ra vị đă thọ lănh vàng bạc. Nếu điều ấy có thể đạt được như vậy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không thể đạt được th́ nên nói với người ấy rằng: “Này đạo hữu, hăy quăng bỏ vật này.” Nếu người ấy quăng bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu (người ấy) không quăng bỏ th́ nên chỉ định vị quăng bỏ vàng bạc là vị tỳ khưu hội đủ năm điều kiện: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hăi, là vị biết vật đă được quăng bỏ hoặc chưa được quăng bỏ. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu nên được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

 

Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc. Đây là lời đề nghị.

 

Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc. Đại đức nào đồng ư việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc xin im lặng; vị nào không đồng ư có thể nói lên.

 

Vị tỳ khưu tên (như vầy) đă được hội chúng chỉ định là vị quăng bỏ vàng bạc. Sự việc được hội chúng đồng ư nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

 

5. Vị tỳ khưu đă được chỉ định ấy sau khi đă không làm dấu hiệu rồi nên ném đi. Nếu sau khi đă làm dấu hiệu rồi ném đi th́ phạm tội dukkaṭa. Vàng bạc, nhận biết là vàng bạc, vị thọ lănh vàng bạc th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vàng bạc, có sự hoài nghi, vị thọ lănh vàng bạc th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vàng bạc, (lầm) tưởng không phải là vàng bạc, vị thọ lănh vàng bạc th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Không phải là vàng bạc, (lầm) tưởng là vàng bạc, phạm tội dukkaṭa. Không phải là vàng bạc, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Không phải là vàng bạc, nhận biết không phải là vàng bạc th́ vô tội.

 

6. Sau khi nhặt lấy hoặc bảo nhặt lấy ở trong khuôn viên tu viện hoặc ở trong chỗ ngụ, vị giữ lại (nghĩ rằng): “Là của ai, người ấy sẽ mang đi,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về vàng bạc.

 

--ooOoo--

 

 

5. 2. 9. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC TRAO ĐỔI BẰNG VÀNG BẠC

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều h́nh thức. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các Sa-môn Thích tử lại tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều h́nh thức, giống như những kẻ tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu đă nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều h́nh thức?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều h́nh thức, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này những kẻ rồ dại, v́ sao các ngươi lại tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều h́nh thức? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều h́nh thức th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

2. Vị nào: là bất cứ vị nào ―(như trên)―

 

Tỳ khưu ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ư nghĩa này.

 

Dưới nhiều h́nh thức nghĩa là vật đă chế biến, vật chưa chế biến, vật đă chế biến và chưa chế biến. Đă chế biến nghĩa là làm thành vật (trang sức) ở đầu, làm thành vật (trang sức) ở cổ, làm thành vật (trang sức) ở tay, làm thành vật (trang sức) ở bàn chân, làm thành vật (trang sức) ở hông. Chưa chế biến nghĩa là việc làm thành khối được nói đến. Đă chế biến và chưa chế biến nghĩa là cả hai điều ấy.

 

Vàng bạc nghĩa là có màu sắc của bậc Đạo Sư, là đồng tiền kahāpaṇa, tiền māsaka bằng đồng, tiền māsaka bằng gỗ, tiền māsaka bằng nhựa cánh kiến, những vật nào dùng trong việc buôn bán.

 

Tiến hành: vị trao đổi vật đă chế biến với vật đă chế biến th́ phạm nissaggiya pācittiya. Vị trao đổi vật chưa chế biến với vật đă chế biến th́ phạm nissaggiya pācittiya. Vị trao đổi vật đă chế biến và chưa chế biến với vật đă chế biến th́ phạm nissaggiya pācittiya. Vị trao đổi vật đă chế biến với vật chưa chế biến th́ phạm nissaggiya pācittiya. Vị trao đổi vật chưa chế biến với vật chưa chế biến th́ phạm nissaggiya pācittiya. Vị trao đổi vật đă chế biến và chưa chế biến với vật chưa chế biến th́ phạm nissaggiya pācittiya. Vị trao đổi vật đă chế biến với vật đă chế biến và chưa chế biến th́ phạm nissaggiya pācittiya. Vị trao đổi vật chưa chế biến với vật đă chế biến và chưa chế biến th́ phạm nissaggiya pācittiya. Vị trao đổi vật đă chế biến và chưa chế biến với vật đă chế biến và chưa chế biến th́ phạm nissaggiya pācittiya. Nên được xả bỏ ở giữa hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:

 

Bạch các ngài, tôi đă tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều h́nh thức, vật này nên được tôi xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực. Nếu có người phụ việc chùa hoặc nam cư sĩ đi đến nơi ấy th́ nên nói với người ấy rằng: “Này đạo hữu, hăy nhận biết vật này.” Nếu người ấy nói rằng: “Với vật này, hăy để cho vật ǵ được mang lại?” Không nên nói rằng: “Hăy mang lại vật này hoặc vật này.” Nên đề cập đến vật được phép là bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc mật ong, hoặc đường mía. Nếu người ấy sau khi dùng (vàng bạc) ấy trao đổi và đem lại vật được phép th́ tất cả nên thọ dụng trừ ra vị đă thọ lănh vàng bạc. Nếu điều ấy có thể đạt được như vậy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không thể đạt được th́ nên nói với người ấy rằng: “Này đạo hữu, hăy quăng bỏ vật này.” Nếu người ấy quăng bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu (người ấy) không quăng bỏ th́ nên chỉ định vị quăng bỏ vàng bạc là vị tỳ khưu hội đủ năm điều kiện: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hăi, là vị biết vật đă được quăng bỏ hoặc chưa được quăng bỏ. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu nên được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

 

Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc. Đây là lời đề nghị.

 

Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc. Đại đức nào đồng ư việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc xin im lặng; vị nào không đồng ư có thể nói lên.

 

Vị tỳ khưu tên (như vầy) đă được hội chúng chỉ định là vị quăng bỏ vàng bạc. Sự việc được hội chúng đồng ư nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

 

3. Vị tỳ khưu đă được chỉ định ấy sau khi đă không làm dấu hiệu rồi nên ném đi. Nếu sau khi đă làm dấu hiệu rồi ném đi th́ phạm tội dukkaṭa.

 

4. Vàng bạc, nhận biết là vàng bạc, vị trao đổi vàng bạc th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vàng bạc, có sự hoài nghi, vị trao đổi vàng bạc th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Vàng bạc, (lầm) tưởng không phải là vàng bạc, vị trao đổi vàng bạc th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Không phải là vàng bạc, (lầm) tưởng là vàng bạc, vị trao đổi vàng bạc th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Không phải là vàng bạc, có sự hoài nghi, vị trao đổi vàng bạc th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Không phải là vàng bạc, nhận biết không phải là vàng bạc, vị trao đổi vàng bạc th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Không phải là vàng bạc, (lầm) tưởng là vàng bạc, phạm tội dukkaṭa. Không phải là vàng bạc, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Không phải là vàng bạc, nhận biết không phải là vàng bạc th́ vô tội.

 

5. Vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về việc trao đổi bằng vàng bạc.

 

--ooOoo--

 

 

5. 2. 10. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC MUA BÁN

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai ḍng Sakya là rành rẽ về việc may y. Vị ấy đă làm y hai lớp được nhuộm khéo léo và được sửa soạn khéo léo từ các loại vải cũ, sau khi làm xong đă khoác vào. Khi ấy, có vị du sĩ ngoại đạo nọ mặc tấm choàng trị giá cao đă đi đến gặp đại đức Upananda con trai ḍng Sakya, sau khi đến đă nói với đại đức Upananda con trai ḍng Sakya điều này: - “Này đại đức, y hai lớp này của ngài đẹp thật. Hăy đổi cho tôi với tấm choàng này.” - “Này đạo hữu, hăy biết lấy.” - “Này đại đức, được rồi. Tôi biết mà.” - “Này đạo hữu, tốt thôi,” rồi đă trao đổi. Sau đó, vị du sĩ ngoại đạo ấy đă khoác lên y hai lớp ấy rồi đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo. Các du sĩ ngoại đạo đă nói với vị du sĩ ngoại đạo ấy điều này: - “Này huynh đệ, y hai lớp này của ngươi đẹp thật. Ngươi nhận được từ đâu vậy?” - “Này các huynh đệ, đă được trao đổi bằng tấm choàng kia của tôi.” - “Này huynh đệ, y hai lớp này của ngươi sẽ được bao nhiêu ngày? Chính tấm choàng kia của ngươi mới giá trị.”

 

2. Khi ấy, vị du sĩ ngoại đạo ấy (nghĩ rằng): ‘Các du sĩ ngoại đạo đă nói sự thật. Y hai lớp này của ta sẽ được bao nhiêu ngày? Chính tấm choàng kia của ta mới giá trị’ rồi đă đi đến gặp đại đức Upananda con trai ḍng Sakya, sau khi đến đă nói với đại đức Upananda con trai ḍng Sakya điều này: - “Này đại đức, đây là y hai lớp của đại đức. Hăy cho lại tôi tấm choàng.” - “Này đạo hữu, không phải ta đă nói với đạo hữu rằng: ‘Này đạo hữu, hăy biết lấy.’ Ta sẽ không cho lại.”

 

3. Khi ấy, vị du sĩ ngoại đạo ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Ngay cả người tại gia c̣n cho lại vật ấy đến người tại gia có sự luyến tiếc. Sao vị xuất gia lại không cho lại vị xuất gia?” Các tỳ khưu đă nghe được vị du sĩ ngoại đạo ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- “V́ sao đại đức Upananda con trai ḍng Sakya lại tiến hành việc mua bán với du sĩ ngoại đạo?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này Upananda, nghe nói ngươi tiến hành việc mua bán với du sĩ ngoại đạo, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này kẻ rồ dại, v́ sao ngươi lại tiến hành việc mua bán với du sĩ ngoại đạo vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào tiến hành việc mua bán dưới nhiều h́nh thức th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

4. Vị nào: là bất cứ vị nào ―(như trên)―

 

Tỳ khưu ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ư nghĩa này.

 

Dưới nhiều h́nh thức nghĩa là các vật dụng như là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, thuốc men chữa bệnh, thậm chí cục bột tắm, gỗ chà răng, nắm chỉ rời.

 

Tiến hành việc mua bán: (Nói rằng): “Hăy cho vật này với vật này, hăy mang lại vật này với vật này, hăy trao đổi vật này với vật này, hăy mua vật này với vật này,” vị tiến hành th́ phạm tội dukkaṭa. Khi nào có vật được mua và vật được bán, (tức là) vật của bản thân được đến tay người kia và vật của người kia được đến tay của bản thân th́ phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, tôi đă tiến hành việc mua bán dưới nhiều h́nh thức, vật này nên được tôi xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

5. Việc mua bán, nhận biết là việc mua bán, phạm tội nissaggiya pācittiya. Việc mua bán, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya. Việc mua bán, (lầm) tưởng không phải là việc mua bán, phạm tội nissaggiya pācittiya. Không phải là việc mua bán, (lầm) tưởng là việc mua bán, phạm tội dukkaṭa. Không phải là việc mua bán, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Không phải là việc mua bán, nhận biết không phải là việc mua bán th́ vô tội.

 

6. Vị hỏi trị giá (của vật), vị chỉ bảo người làm cho đúng phép, vị nói rằng: “Chúng ta có vật này, chúng ta cần vật này và vật này,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về việc mua bán.

 

Phẩm Tơ Tằm là thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

 

TÓM LƯỢC PHẦN NÀY

 

 Tơ tằm, thuần (màu đen), hai phần, sáu năm, tấm lót ngồi, hai điều về lông cừu, về việc nhận lấy, cả hai dưới nhiều h́nh thức.

 

--ooOoo--

 

 

5. 3. PHẨM B̀NH BÁT

 

 

5. 3. 1. ĐIỀU HỌC VỀ B̀NH BÁT

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực hiện việc tích trữ nhiều b́nh bát. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nh́n thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại tích trữ nhiều b́nh bát? Các Sa-môn Thích tử sẽ làm việc buôn bán b́nh bát hay sẽ lập nên gian hàng gốm sứ?” Các tỳ khưu đă nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại cất giữ b́nh bát phụ trội?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi cất giữ b́nh bát phụ trội, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này những kẻ rồ dại, v́ sao các ngươi lại cất giữ b́nh bát phụ trội vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào cất giữ b́nh bát phụ trội th́ (b́nh bát ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

Và điều học này đă được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.

 

[Sự quy định căn bản]

 

2. Vào lúc bấy giờ, có b́nh bát phụ trội được phát sanh đến đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda có ư định dâng b́nh bát ấy đến đại đức Sāriputta. Và đại đức Sāriputta ngụ tại Sāketa. Khi ấy, đại đức Ānanda đă khởi ư điều nảy: “Điều học đă được đức Thế Tôn quy định là: ‘Không được cất giữ b́nh bát phụ trội,’ và b́nh bát phụ trội này đă được phát sanh đến ta. Và ta có ư định dâng b́nh bát này đến đại đức Sāriputta mà đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa; vậy ta nên thực hành như thế nào?” Sau đó, đại đức Ānanda đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

3. - “Này Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi đến đây?” - “Bạch Thế Tôn, ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cất giữ b́nh bát phụ trội tối đa mười ngày. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

B́nh bát phụ trội nên được cất giữ tối đa mười ngày. Vượt quá hạn ấy th́ (b́nh bát ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

[Sự quy định lần hai]

 

4. Tối đa mười ngày: là nên được cất giữ (hoặc sử dụng) nhiều nhất mười ngày.

 

B́nh bát phụ trội nghĩa là chưa được chú nguyện để dùng riêng, chưa được chú nguyện để dùng chung.

 

B́nh bát nghĩa là có hai loại b́nh bát: b́nh bát sắt và b́nh bát đất. B́nh bát có ba dạng: b́nh bát cỡ lớn, b́nh bát cỡ vừa, b́nh bát cỡ nhỏ. B́nh bát cỡ lớn nghĩa là chứa được một nửa āḷhaka cơm,[4] một phần tư vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. B́nh bát cỡ vừa nghĩa là chứa được một nāḷika cơm, một phần tư vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. B́nh bát cỡ nhỏ nghĩa là chứa được một pattha[5] cơm, một phần tư vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Lớn hơn các cỡ ấy không phải là b́nh bát, nhỏ hơn không phải là b́nh bát.

 

Vượt quá hạn ấy th́ (b́nh bát ấy) nên được xả bỏ:[Đến lúc hừng đông ngày thứ mười một th́ phạm vào nissaggiya] (b́nh bát ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: - “Bạch các ngài, b́nh bát này của tôi đă quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ b́nh bát này đến hội chúng. Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực và b́nh bát đă xả bỏ nên được cho lại.

 

Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. B́nh bát này thuộc về vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đă được xả bỏ đến hội chúng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho lại b́nh bát này đến vị tỳ khưu tên (như vầy).”

 

Vị tỳ khưu ấy nên đi đến nhiều vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: - “Thưa các ngài, b́nh bát này của tôi đă quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến các đại đức.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực và b́nh bát đă xả bỏ nên được cho lại.

 

Xin chư đại đức hăy lắng nghe tôi. B́nh bát này thuộc về vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đă được xả bỏ đến chư đại đức. Nếu là thời điểm thích hợp cho chư đại đức, chư đại đức nên cho lại b́nh bát này đến vị tỳ khưu tên (như vầy).

 

5. Vị tỳ khưu ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: - “Thưa đại đức, b́nh bát này của tôi đă quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ b́nh bát này đến đại đức.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu ấy và b́nh bát đă xả bỏ nên được cho lại: “Tôi cho lại đại đức b́nh bát này.”

 

6. Khi quá hạn mười ngày, nhận biết là đă quá hạn, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa được chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đă được chú nguyện để dùng riêng, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa được chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đă được chú nguyện để dùng chung, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đă được phân phát, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đă bị mất trộm, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đă bị hư hỏng, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị bể, (lầm) tưởng là đă bị bể, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đă bị cướp, phạm tội nissaggiya pācittiya. B́nh bát phạm vào nissaggiya, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là đă quá hạn, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn mười ngày, nhận biết là chưa quá hạn th́ vô tội.

 

7. Trong thời hạn mười ngày, vị chú nguyện để dùng riêng, vị chú nguyện để dùng chung, vị phân phát, (b́nh bát) bị mất trộm, (b́nh bát) bị hư hỏng, (b́nh bát) bị bể, (những người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy đi do sự thân thiết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

8. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không cho lại b́nh bát đă được xả bỏ. Các tỳ khưu đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, không nên không cho lại b́nh bát đă được xả bỏ; vị nào không cho lại th́ phạm tội dukkaṭa.”

 

Dứt điều học về b́nh bát.

 

--ooOoo--

 

 

5. 3. 2. ĐIỀU HỌC VỀ CHƯA ĐỦ NĂM MIẾNG VÁ

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự giữa dân chúng ḍng Sakya, trong thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Vào lúc bấy giờ, có người thợ làm đồ gốm nọ đă thỉnh cầu các tỳ khưu rằng : - “Các ngài đại đức nào có nhu cầu về b́nh bát, tôi sẽ dâng b́nh bát.” Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không biết chừng mực và yêu cầu nhiều b́nh bát. Những vị có các b́nh bát nhỏ th́ yêu cầu các b́nh bát lớn. Những vị có các b́nh bát lớn th́ yêu cầu các b́nh bát nhỏ. Khi ấy, trong lúc làm nhiều b́nh bát cho các tỳ khưu, người thợ làm đồ gốm ấy không thể làm hàng khác để bán nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải chịu khổ sở. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử này lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều b́nh bát? Người này trong lúc làm nhiều b́nh bát cho các vị này không thể làm hàng khác để bán nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải chịu khổ sở.” Các tỳ khưu đă nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều b́nh bát?”

 

2. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi không biết chừng mực và yêu cầu nhiều b́nh bát, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này các tỳ khưu, v́ sao những kẻ rồ dại ấy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều b́nh bát vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, không nên yêu cầu b́nh bát, vị nào yêu cầu th́ phạm tội dukkaṭa.”

 

3. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có b́nh bát bị bể. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn đă cấm đoán yêu cầu b́nh bát,’ trong lúc ngần ngại không yêu cầu rồi đi khất thực bằng hai bàn tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại đi khất thực bằng hai bàn tay giống như là các ngoại đạo vậy?” Các tỳ khưu đă nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị có b́nh bát bị hư hỏng hoặc b́nh bát bị bể được yêu cầu về b́nh bát.”

 

4. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Phật đă cho phép vị có b́nh bát bị hư hỏng hoặc b́nh bát bị bể được yêu cầu về b́nh bát,” các vị ấy với (b́nh bát) bị bể chỉ chút ít, bị lủng chỉ chút ít, chỉ với chút ít bị trầy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều b́nh bát. Khi ấy, trong lúc làm nhiều b́nh bát cho các tỳ khưu, người thợ làm đồ gốm ấy giống như trước đây không thể làm hàng khác để bán nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải chịu khổ sở. Tương tợ y như thế, dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều b́nh bát? Người này trong lúc làm nhiều b́nh bát cho các vị này không thể làm hàng khác để bán nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải chịu khổ sở.”

 

5. Các tỳ khưu đă nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư với (b́nh bát) bị bể chỉ chút ít, bị lủng chỉ chút ít, chỉ với chút ít bị trầy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều b́nh bát?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi với (b́nh bát) bị bể chỉ chút ít, bị lủng chỉ chút ít, bị nứt chỉ chút ít, chỉ với chút ít bị trầy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều b́nh bát, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này những kẻ rồ dại, v́ sao các ngươi với (b́nh bát) bị bể chỉ chút ít, bị lủng chỉ chút ít, bị nứt chỉ chút ít, chỉ với chút ít bị trầy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều b́nh bát vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào với b́nh bát chưa đủ năm miếng vá mà kiếm thêm b́nh bát mới khác th́ (b́nh bát mới ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya. Vị tỳ khưu ấy nên xả bỏ b́nh bát ấy đến tập thể các tỳ khưu. Và cái nào là b́nh bát cuối cùng của tập thể các tỳ khưu ấy, cái ấy nên trao đến vị tỳ khưu ấy: ‘Này tỳ khưu, đây là b́nh bát của ngươi, nên giữ lấy cho đến khi bể.’ Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy.

 

6. Vị nào: là bất cứ vị nào ―(như trên)―

 

Tỳ khưu ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ư nghĩa này.

 

Chưa đủ năm miếng vá nghĩa là b́nh bát không có miếng vá, hoặc một miếng vá, hoặc hai miếng vá, hoặc ba miếng vá, hoặc bốn miếng vá. B́nh bát không chỗ đắp vá nghĩa là b́nh bát không có lỗ thủng rộng hai ngón tay.[6] B́nh bát có chỗ đắp vá nghĩa là b́nh bát có lỗ thủng rộng hai ngón tay.

 

B́nh bát mới nghĩa là liên quan việc yêu cầu được đề cập đến.

 

Kiếm thêm: vị yêu cầu, trong khi tiến hành th́ phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được th́ phạm vào nissaggiya, (b́nh bát ấy) cần được xả bỏ ở giữa hội chúng. Tất cả các tỳ khưu nên mang theo b́nh bát đă chú nguyện và tụ hội lại. Không nên chú nguyện b́nh bát kém cỏi (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy b́nh bát cao giá.” Nếu vị chú nguyện b́nh bát kém cỏi (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy b́nh bát cao giá” th́ phạm tội dukkaṭa.

 

Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: - “Bạch các ngài, b́nh bát này của tôi đă được kiếm thêm khi b́nh bát chưa đủ năm miếng vá, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ b́nh bát này đến hội chúng. Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực.

 

Nên chỉ định vị chuyển đổi b́nh bát là vị tỳ khưu hội đủ năm điều kiện: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hăi, là vị biết vật đă được lấy hay chưa được lấy. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

 

Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chuyển đổi b́nh bát. Đây là lời đề nghị.

 

Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chuyển đổi b́nh bát. Đại đức nào đồng ư việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chuyển đổi b́nh bát xin im lặng; vị nào không đồng ư có thể nói lên.

 

Vị tỳ khưu tên (như vầy) đă được hội chúng chỉ định là vị chuyển đổi b́nh bát. Sự việc được hội chúng đồng ư nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

 

B́nh bát nên được chuyển đổi bởi vị tỳ khưu đă được chỉ định ấy. Nên nói với vị trưởng lăo rằng: “Thưa ngài, xin trưởng lăo nhận lấy b́nh bát.” Nếu vị trưởng lăo nhận lấy, b́nh bát của vị trưởng lăo nên được chuyển đổi đến vị thứ nh́. Và không nên v́ ḷng thương hại vị ấy mà không nhận lấy, vị nào không nhận lấy[7] th́ phạm tội dukkaṭa. Vị không có b́nh bát không được chuyển đổi. Nên được chuyển đổi cho đến vị mới tu của hội chúng theo đúng phương thức ấy. Và cái nào là b́nh bát cuối cùng của tập thể các tỳ khưu ấy, cái ấy nên trao đến vị tỳ khưu ấy: “Này tỳ khưu, đây là b́nh bát của ngươi, nên giữ lấy cho đến khi bể.” Vị tỳ khưu ấy không nên để xuống b́nh bát ấy không đúng chỗ, không nên sử dụng sái với cách thức dùng,[8] không nên phân phát đi (nghĩ rằng): “Làm thế nào b́nh bát này bị trộm, hoặc bị hư hỏng, hoặc bị bể?” Nếu để xuống không đúng chỗ, hoặc sử dụng sái với cách thức dùng, hoặc phân phát th́ phạm tội dukkaṭa.

 

Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy: Đây là điều hợp lư trong trường hợp ấy.

 

7. Với b́nh bát không miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát không miếng vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Với b́nh bát không miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát một miếng vá ... b́nh bát hai miếng vá ... b́nh bát ba miếng vá ... b́nh bát bốn miếng vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

8. Với b́nh bát một miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát không miếng vá ... b́nh bát một miếng vá ... b́nh bát hai miếng vá ... b́nh bát ba miếng vá ... b́nh bát bốn miếng vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

9. Với b́nh bát hai miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát không miếng vá ... b́nh bát một miếng vá ... b́nh bát hai miếng vá ... b́nh bát ba miếng vá ... b́nh bát bốn miếng vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

10. Với b́nh bát ba miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát không miếng vá ... b́nh bát một miếng vá ... b́nh bát hai miếng vá ... b́nh bát ba miếng vá ... b́nh bát bốn miếng vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

11. Với b́nh bát bốn miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát không miếng vá ... b́nh bát một miếng vá ... b́nh bát hai miếng vá ... b́nh bát ba miếng vá ... b́nh bát bốn miếng vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

12. Với b́nh bát không miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát không chỗ đắp vá. Với b́nh bát không miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát một chỗ đắp vá ... b́nh bát hai chỗ đắp vá ... b́nh bát ba chỗ đắp vá ... b́nh bát bốn chỗ đắp vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

13. Với b́nh bát một miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát không chỗ đắp vá ... b́nh bát một chỗ đắp vá ... b́nh bát hai chỗ đắp vá ... b́nh bát ba chỗ đắp vá ... b́nh bát bốn chỗ đắp vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

14. Với b́nh bát hai miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát không chỗ đắp vá ... b́nh bát một chỗ đắp vá ... b́nh bát hai chỗ đắp vá ... b́nh bát ba chỗ đắp vá ... b́nh bát bốn chỗ đắp vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

15. Với b́nh bát ba miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát không chỗ đắp vá ... b́nh bát một chỗ đắp vá ... b́nh bát hai chỗ đắp vá ... b́nh bát ba chỗ đắp vá ... b́nh bát bốn chỗ đắp vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

16. Với b́nh bát bốn miếng vá, vị kiếm thêm b́nh bát không chỗ đắp vá ... b́nh bát một chỗ đắp vá ... b́nh bát hai chỗ đắp vá ... b́nh bát ba chỗ đắp vá ... b́nh bát bốn chỗ đắp vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

17. Với b́nh bát không chỗ đắp vá, vị kiếm thêm b́nh bát không miếng vá ... b́nh bát một miếng vá ... b́nh bát hai miếng vá ... b́nh bát ba miếng vá ... b́nh bát bốn miếng vá ... Với b́nh bát một chỗ đắp vá, ... Với b́nh bát hai chỗ đắp vá, ... Với b́nh bát ba chỗ đắp vá, ... Với b́nh bát bốn chỗ đắp vá, vị kiếm thêm b́nh bát không miếng vá ... b́nh bát một miếng vá ... b́nh bát hai miếng vá ... b́nh bát ba miếng vá ... b́nh bát bốn miếng vá ... Với b́nh bát không chỗ đắp vá, vị kiếm thêm b́nh bát không chỗ đắp vá ... b́nh bát một chỗ đắp vá ... b́nh bát hai chỗ đắp vá ... b́nh bát ba chỗ đắp vá ... b́nh bát bốn chỗ đắp vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

18. Với b́nh bát một chỗ đắp vá, vị kiếm thêm b́nh bát không chỗ đắp vá ... b́nh bát một chỗ đắp vá ... b́nh bát hai chỗ đắp vá ... b́nh bát ba chỗ đắp vá ... b́nh bát bốn chỗ đắp vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

19. Với b́nh bát hai chỗ đắp vá, ... Với b́nh bát ba chỗ đắp vá, vị kiếm thêm b́nh bát không chỗ đắp vá ... b́nh bát một chỗ đắp vá ... b́nh bát hai chỗ đắp vá ... b́nh bát ba chỗ đắp vá ... b́nh bát bốn chỗ đắp vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

20. Với b́nh bát bốn chỗ đắp vá, vị kiếm thêm b́nh bát không chỗ đắp vá ... b́nh bát một chỗ đắp vá ... b́nh bát hai chỗ đắp vá ... b́nh bát ba chỗ đắp vá ... b́nh bát bốn chỗ đắp vá th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

21. Vị có b́nh bát bị hư hỏng, vị có b́nh bát bị bể, đối với các thân quyến, đối với những người đă nói lời thỉnh cầu, v́ nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về chưa đủ năm miếng vá.

 

--ooOoo--

 

 

5. 3. 3. ĐIỀU HỌC VỀ DƯỢC PHẨM

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha ở thành Rājagaha có ư muốn làm chỗ trú ngụ nên cho người dọn sạch sẽ hang núi. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đă đi đến gặp đại đức Pilindivaccha, sau khi đến đă đảnh lễ đại đức Pilindivaccha rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đă ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đă nói với đại đức Pilindivaccha điều này: - “Thưa ngài, ngài trưởng lăo cho làm cái ǵ vậy?” - “Tâu đại vương, tôi có ư muốn làm chỗ trú ngụ nên cho người dọn sạch sẽ hang núi.” - “Thưa ngài, ngài có nhu cầu về người giúp việc tu viện không?” - “Tâu đại vương, đức Thế Tôn chưa có cho phép về người giúp việc tu viện.” - “Thưa ngài, như thế th́ ngài hăy hỏi đức Thế Tôn rồi báo cho trẫm biết.” - “Tâu đại vương, xin vâng.” Đại đức Pilindivaccha đă đáp lời đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.” Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đă chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đă được đại đức Pilindivaccha chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đă từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đại đức Pilindivaccha, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

 

2. Sau đó, đại đức Pilindivaccha đă phái sứ giả đi đến gặp đức Thế Tôn (thưa rằng): - “Bạch ngài, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có ư muốn ban cho người giúp việc tu viện. Bạch ngài, vậy nên thực hành như thế nào?” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă triệu tập hội chúng tỳ khưu lại, đă nói Pháp thoại, rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, Ta cho phép người giúp việc tu viện.” Đến lần thứ nh́, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đă đi đến gặp đại đức Pilindivaccha, sau khi đến đă đảnh lễ đại đức Pilindivaccha rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đă ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đă nói với đại đức Pilindivaccha điều này: - “Thưa ngài, người giúp việc tu viện có được đức Thế Tôn cho phép không?” - “Tâu đại vương, đă được rồi.” - “Thưa ngài, như vậy th́ trẫm ban cho ngài đại đức người giúp việc tu viện.” Rồi sau khi hứa với đại đức Pilindivaccha về người giúp việc tu viện, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đă không ghi nhớ. Sau một thời gian dài, đức vua khi phục hồi lại kư ức đă bảo viên quan đại thần nọ là vị tổng quản rằng: - “Này khanh, người giúp việc tu viện đă được trẫm hứa với ngài đại đức, người giúp việc tu viện ấy đă được ban cho chưa?” - “Tâu bệ hạ, người giúp việc tu viện chưa được ban đến ngài đại đức.” - “Này khanh, tính đến đêm nay là đă bao lâu rồi vậy?” Khi ấy, viên quan đại thần ấy sau khi tính đếm số lượng đêm rồi đă tâu với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này: - “Tâu bệ hạ, năm trăm đêm.” - “Này khanh, như vậy th́ hăy ban cho ngài đại đức năm trăm người giúp việc tu viện.” - “Tâu bệ hạ, xin vâng.” Rồi vị quan đại thần đă vâng lệnh đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha dâng đến đại đức Pilindivaccha năm trăm người giúp việc tu viện. Một ngôi làng riêng biệt đă được thiết lập. Họ đă gọi nơi ấy là “Ngôi làng của những người giúp việc tu viện.” Họ đă gọi nơi làng ấy là “Ngôi làng Pilinda.”

 

3. Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha là vị thường hay lui tới ngôi làng ấy. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Pilindivaccha đă mặc y, cầm y bát, rồi đi vào ngôi làng Pilinda để khất thực. Vào lúc bấy giờ, trong ngôi làng ấy có lễ hội. Những đứa trẻ được trang điểm, đeo ṿng hoa, và đùa giỡn.

 

4. Khi ấy, đại đức Pilindivaccha trong lúc đi khất thực theo từng nhà ở làng Pilinda đă đi đến căn nhà của người giúp việc tu viện nọ, sau khi đến đă ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Vào lúc bấy giờ, cô bé gái con của người đàn bà giúp việc tu viện ấy nh́n thấy những đứa trẻ khác được trang điểm, đeo ṿng hoa, nên đă oà khóc: - “Cho con ṿng hoa, cho con đồ trang sức.” Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đă nói với người đàn bà giúp việc tu viện ấy điều này: - “V́ sao bé gái này khóc vậy?” - “Thưa ngài, bé gái này nh́n thấy những đứa trẻ khác được trang điểm, đeo ṿng hoa, nên đă oà khóc: ‘Cho con ṿng hoa, cho con đồ trang sức.’ Chúng tôi lâm cảnh khó khăn, lấy đâu ra ṿng hoa, lấy đâu ra đồ trang sức?” Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đă cầm lấy ṿng cỏ nọ rồi nói với người đàn bà giúp việc tu viện ấy điều này: - “Vậy th́ hăy đội ṿng cỏ này lên đầu của bé gái ấy đi.” Khi ấy, người đàn bà giúp việc tu viện ấy đă cầm lấy ṿng cỏ ấy rồi đội lên đầu của đứa bé gái ấy. Ṿng cỏ ấy đă trở thành ṿng hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; trong nội cung của đức vua cũng không có được ṿng hoa bằng vàng như thế ấy. Dân chúng đă tŕnh báo lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha rằng: - “Tâu bệ hạ, trong nhà của người giúp việc tu viện kia có ṿng hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; trong nội cung của đức vua cũng không có được ṿng hoa bằng vàng như thế ấy. Đối với kẻ lâm cảnh khó khăn ấy th́ lấy đâu ra? Chắc chắn là có được do trộm cắp.” Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đă ra lệnh bắt giữ gia đ́nh của người giúp việc tu viện ấy.

 

5. Đến lần thứ nh́ vào buổi sáng, đại đức Pilindivaccha đă mặc y, cầm y bát, rồi đi vào ngôi làng Pilinda để khất thực. Trong khi đi khất thực tuần tự từng nhà ở ngôi làng Pilinda, đại đức Pilindivaccha đă đi đến căn nhà của người giúp việc tu viện ấy, sau khi đến đă hỏi những người hàng xóm rằng: - “Gia đ́nh của người giúp việc tu viện này đă đi đâu?” - “Thưa ngài, họ đă bị đức vua ra lệnh bắt giữ v́ nguyên nhân ṿng hoa bằng vàng ấy.”

 

6. Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đă đi đến ngự viện của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đă ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đă đi đến gặp đại đức Pilindivaccha, sau khi đến đă đảnh lễ đại đức Pilindivaccha rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức Pilindivaccha đă nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đang ngồi một bên điều này: - “Tâu đại vương, v́ sao gia đ́nh của người giúp việc tu viện lại bị ra lệnh bắt giữ?” - “Thưa ngài, trong nhà của người giúp việc tu viện ấy có ṿng hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; trong nội cung của trẫm cũng không có được ṿng hoa bằng vàng như thế ấy. Đối với kẻ lâm cảnh khó khăn ấy th́ lấy đâu ra? Chắc chắn là có được do trộm cắp.” Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đă chú nguyện rằng: “Cung điện của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha là vàng;” cung điện ấy đă trở thành hoàn toàn làm bằng vàng. - “Tâu đại vương, do đâu đại vương lại có nhiều vàng đến thế này?” - “Thưa ngài, trẫm đă hiểu rồi. Việc ấy là năng lực thần thông của chính ngài đại đức.” Rồi đức vua đă ra lệnh thả gia đ́nh người giúp việc tu viện ấy.

 

7. Dân chúng (đồn rằng): “Nghe nói ngài đại đức Pilindivaccha đă phô bày điều kỳ diệu của thần thông là pháp thượng nhân trước triều thần có cả đức vua nữa!” nên đă hoan hỷ, có niềm tin cao độ, rồi đă đem đến dâng đại đức Pilindivaccha năm loại dược phẩm như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía. Và theo lẽ tự nhiên, đại đức Pilindivaccha trở thành vị thọ lănh năm loại dược phẩm và phân phát cho hội chúng mỗi khi được thọ lănh. Và hội chúng của vị ấy trở nên dư dă. Rồi tiếp tục được thọ lănh, các vị chứa đầy các hũ và các chum rồi để riêng ra; các vị chứa đầy các túi lọc nước và các túi xách rồi treo lên ở các cửa sổ. Các loại dược phẩm ấy đă bị rỉ xuống chảy ra và vẫn ở nguyên chỗ. Các trú xá đă có chuột xuất hiện rải rác rồi tràn ngập. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nh́n thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Các Sa-môn Thích tử này là những người tích trữ đồ đạc trong nhà giống như là đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha vậy!” Các tỳ khưu đă nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu lại chấp nhận sự thặng dư như thế này?”

 

8. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu chấp nhận sự thặng dư như thế ấy, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này các tỳ khưu, v́ sao những kẻ rồ dại ấy lại chấp nhận sự thặng dư như thế ấy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Các loại dược phẩm nào được dùng cho các tỳ khưu bị bệnh như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía. Các thứ ấy sau khi thọ lănh nên được thọ dụng với sự cất giữ tối đa là bảy ngày. Vượt quá hạn ấy th́ nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.”

 

9. Các loại dược phẩm nào được dùng cho các tỳ khưu bị bệnh: Bơ lỏng nghĩa là bơ lỏng từ loài ḅ, hoặc là bơ lỏng từ loài dê, hoặc là bơ lỏng từ loài trâu, hoặc là bơ lỏng của các loài thú nào có thịt được phép (thọ dụng).[9]

 

Bơ đặc nghĩa là bơ đặc của chính các loài thú ấy.

 

Dầu ăn nghĩa là dầu mè, dầu hạt mù tạt, dầu có chứa mật ong, dầu cây eraṇḍa, dầu từ mỡ thú.

 

Mật ong nghĩa là mật của loài ong.

 

Đường mía nghĩa là được sản xuất từ cây mía.

 

Các thứ ấy sau khi thọ lănh nên được thọ dụng với sự cất giữ tối đa là bảy ngày: nên được thọ dụng nhiều nhất là bảy ngày.

 

Vượt quá hạn ấy th́ nên được xả bỏ: Đến lúc hừng đông vào ngày thứ tám th́ phạm vào nissaggiya, (dược phẩm ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, dược phẩm này của tôi đă vượt quá hạn bảy ngày, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

10. Khi quá hạn bảy ngày, nhận biết là đă quá hạn, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi quá hạn bảy ngày, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi quá hạn bảy ngày, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa quyết định, (lầm) tưởng là đă quyết định, phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

11. Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đă phân phát, ... Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đă bị mất trộm, ... Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đă bị hư hỏng, ... Khi không bị cháy, (lầm) tưởng là đă bị cháy, ... Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đă bị cướp, phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

12. Sau khi nhận lại vật đă xả bỏ, không nên sử dụng bằng cách dùng ở trên cơ thể, không nên nuốt vào. Nên sử dụng cho đèn hoặc sơn màu đen. Vị tỳ khưu khác có thể sử dụng bằng cách dùng ở trên cơ thể, (nhưng) không nên nuốt vào.

 

13. Khi chưa quá hạn bảy ngày, (lầm) tưởng là đă quá hạn, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn bảy ngày, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn bảy ngày, nhận biết là chưa quá hạn th́ vô tội.

 

14. Trong thời hạn bảy ngày; vị quyết định;[10] vị phân phát; (dược phẩm) bị mất trộm; (dược phẩm) bị hư hỏng; (dược phẩm) bị cháy; (những người khác) cướp rồi lấy đi; (các vị khác) lấy đi do sự thân thiết; vị không mong mỏi với vật đă được hy sinh, đă được từ bỏ, đă được dứt bỏ đến người chưa tu lên bậc trên, sau khi cho rồi được lại và thọ dụng; vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về dược phẩm.

 

--ooOoo--

 

 

 

5. 3. 4. ĐIỀU HỌC VỀ VẢI CHOÀNG TẮM MƯA

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, vải choàng tắm mưa đă được đức Thế Tôn cho phép đến các tỳ khưu. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Vải choàng tắm mưa đă được đức Thế Tôn cho phép” nên đă t́m kiếm y choàng tắm mưa trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi mặc vào, đến khi vải choàng tắm mưa đă cũ th́ (các vị) lơa thể và để mưa làm ướt thân h́nh. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại t́m kiếm y choàng tắm mưa trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi mặc vào, đến khi vải choàng tắm mưa đă cũ th́ (các vị) lơa thể và để mưa làm ướt thân h́nh?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi t́m kiếm y choàng tắm mưa trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi mặc vào, đến khi vải choàng tắm mưa đă cũ th́ (các ngươi) lơa thể và để mưa làm ướt thân h́nh, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này những kẻ rồ dại, v́ sao các ngươi lại t́m kiếm y choàng tắm mưa trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi mặc vào, đến khi vải choàng tắm mưa đă cũ th́ (các ngươi) lại lơa thể và để mưa làm ướt thân h́nh vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

(Biết rằng): ‘Mùa nóng c̣n lại là một tháng’ vị tỳ khưu nên t́m kiếm y choàng tắm mưa. (Biết rằng): ‘Mùa nóng c̣n lại là nửa tháng’ vị làm xong th́ nên mặc. Nếu (biết rằng): ‘Mùa nóng c̣n lại là hơn một tháng’ rồi t́m kiếm y choàng tắm mưa, (nếu biết rằng): ‘Mùa nóng c̣n lại là hơn nửa tháng’ sau khi làm xong rồi mặc vào th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

2. (Biết rằng): “Mùa nóng c̣n lại là một tháng” vị tỳ khưu nên t́m kiếm y choàng tắm mưa: Nên đi đến gặp những người nào trước đây dâng y choàng tắm mưa và nên nói như vầy: “Là thời điểm của vải choàng tắm mưa, là lúc của vải choàng tắm mưa, những người khác cũng dâng y choàng tắm mưa.” Không nên nói rằng: “Hăy dâng y choàng tắm mưa cho tôi, hăy mang lại y choàng tắm mưa cho tôi, hăy sắm y choàng tắm mưa cho tôi, hăy mua y choàng tắm mưa cho tôi.”

 

(Biết rằng): “Mùa nóng c̣n lại là nửa tháng” vị làm xong th́ nên mặc: Khi mùa nóng c̣n lại là nửa tháng, sau khi làm xong th́ nên mặc.

 

Nếu (biết rằng): “Mùa nóng c̣n lại là hơn một tháng”: Khi mùa nóng c̣n lại là trội hơn một tháng, vị t́m kiếm y choàng tắm mưa th́ phạm vào nissaggiya.

 

(Nếu biết rằng): “Mùa nóng c̣n lại là hơn nửa tháng”: Khi mùa nóng c̣n lại là trội hơn nửa tháng, vị làm xong và mặc vào th́ phạm vào nissaggiya. (Y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, y choàng tắm mưa này của tôi đă được t́m kiếm khi mùa nóng c̣n lại là hơn một tháng, sau khi làm xong đă được mặc khi mùa nóng c̣n lại là hơn nửa tháng, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

3. Khi mùa nóng c̣n lại là hơn một tháng, nhận biết là c̣n hơn (một tháng), vị t́m kiếm y choàng tắm mưa th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi mùa nóng c̣n lại là hơn một tháng, có sự hoài nghi, vị t́m kiếm y choàng tắm mưa th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi mùa nóng c̣n lại là hơn một tháng, (lầm) tưởng là ít hơn (một tháng), vị t́m kiếm y choàng tắm mưa th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

4. Khi mùa nóng c̣n lại là hơn nửa tháng, nhận biết là c̣n hơn (nửa tháng), vị làm xong rồi mặc vào th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi mùa nóng c̣n lại là hơn nửa tháng, có sự hoài nghi, vị làm xong rồi mặc vào th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi mùa nóng c̣n lại là hơn nửa tháng, (lầm) tưởng là ít hơn (nửa tháng), vị làm xong rồi mặc vào th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

5. Nếu có y choàng tắm mưa mà lơa thể và để mưa làm ướt thân h́nh th́ phạm tội dukkaṭa. Khi mùa nóng c̣n lại là ít hơn một tháng, (lầm) tưởng là nhiều hơn (một tháng), phạm tội dukkaṭa. Khi mùa nóng c̣n lại là ít hơn một tháng, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi mùa nóng c̣n lại là ít hơn một tháng, nhận biết là ít hơn (một tháng) th́ vô tội.

 

6. Khi mùa nóng c̣n lại là ít hơn nửa tháng, (lầm) tưởng là nhiều hơn (nửa tháng), phạm tội dukkaṭa. Khi mùa nóng c̣n lại là ít hơn nửa tháng, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi mùa nóng c̣n lại là ít hơn nửa tháng, nhận biết là ít hơn (nửa tháng) th́ vô tội.

 

7. Vị t́m kiếm y choàng tắm mưa khi (biết rằng): ‘Mùa nóng c̣n lại là một tháng;’ vị làm xong và mặc vào khi (biết rằng): ‘Mùa nóng c̣n lại là nửa tháng;’ vị t́m kiếm y choàng tắm mưa khi (biết rằng): ‘Mùa nóng c̣n lại là ít hơn một tháng;’ vị làm xong và mặc vào khi (biết rằng): ‘Mùa nóng c̣n lại là ít hơn nửa tháng;’ khi y choàng tắm mưa đă được t́m kiếm th́ mùa mưa bị trễ, khi y choàng tắm mưa đă được mặc vào th́ mùa mưa bị trễ, nên giặt rồi cất lại và nên mặc lúc đúng thời; vị có y bị cướp đoạt; vị có y bị mất trộm; khi có sự cố;[11] vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về vải choảng tắm mưa.

 

--ooOoo--

 

 

 

5. 3. 5. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC GIẬT LẠI Y

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai ḍng Sakya nói với vị tỳ khưu là đệ tử của người anh điều này: - “Này đại đức, hăy đến. Chúng ta sẽ ra đi du hành trong xứ sở.” - “Thưa ngài, tôi sẽ không đi. Y của tôi th́ mảnh mai.” - “Này đại đức, hăy đến. Ta sẽ cho ngươi y,” rồi đă cho y đến vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đă nghe được rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn sẽ ra đi du hành trong xứ sở.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đă khởi ư điều này: “Giờ đây ta sẽ không ra đi du hành trong xứ sở với đại đức Upananda con trai ḍng Sakya nữa, ta sẽ ra đi du hành trong xứ sở với đức Thế Tôn.” Sau đó, đại đức Upananda con trai ḍng Sakya đă nói với vị tỳ khưu ấy điều này: - “Này đại đức, hăy đến. Giờ đây, chúng ta sẽ ra đi du hành trong xứ sở.” - “Thưa ngài, tôi sẽ không ra đi du hành trong xứ sở với ngài. Tôi sẽ ra đi du hành trong xứ sở với đức Thế Tôn.” - “Này đại đức, y mà ta đă cho ngươi là sẽ ra đi du hành trong xứ sở với ta.” Rồi nổi giận, bất b́nh, đă giật lại y.

 

2. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đă kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao đại đức Upananda con trai ḍng Sakya sau khi tự ḿnh cho y đến vị tỳ khưu lại nổi giận, bất b́nh rồi giật lại?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này Upananda, nghe nói ngươi sau khi tự ḿnh cho y đến vị tỳ khưu lại nổi giận, bất b́nh rồi giật lại, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này kẻ rồ dại, v́ sao ngươi sau khi tự ḿnh cho y đến vị tỳ khưu lại nổi giận, bất b́nh rồi giật lại vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào sau khi tự ḿnh cho y đến vị tỳ khưu lại nổi giận, bất b́nh, rồi giật lại, hoặc bảo giật lại th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

3. Vị nào: là bất cứ vị nào ―(như trên)―

 

Tỳ khưu ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ư nghĩa này.

 

Đến vị tỳ khưu: là đến vị tỳ khưu khác.

 

Tự ḿnh: sau khi đích thân cho.

 

Y nghĩa là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước) tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.

 

Nổi giận, bất b́nh: không được hài ḷng, có tâm bực bội, nảy sanh ḷng cay cú.

 

Giật lại: tự ḿnh giật lại th́ phạm vào nissaggiya.

 

Bảo giật lại: ra lệnh người khác th́ phạm tội dukkaṭa. Được ra lệnh một lần, (vị nghe lệnh) dầu giật lại nhiều lần (vị ra lệnh) phạm (chỉ một) nissaggiya. (Y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, y này của tôi sau khi tự ḿnh cho đến vị tỳ khưu rồi đă giật lại, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

4. Người đă tu lên bậc trên, nhận biết là đă tu lên bậc trên, sau khi tự ḿnh cho y lại nổi giận, bất b́nh rồi giật lại hoặc bảo giật lại th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Người đă tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, ―(như trên)― Người đă tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc trên, sau khi tự ḿnh cho y lại nổi giận, bất b́nh rồi giật lại hoặc bảo giật lại th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

5. Sau khi cho vật dụng khác lại nổi giận, bất b́nh rồi giật lại hoặc bảo giật lại th́ phạm tội dukkaṭa. Sau khi cho y hoặc vật dụng khác đến người chưa tu lên bậc trên lại nổi giận, bất b́nh rồi giật lại hoặc bảo giật lại th́ phạm tội dukkaṭa. Người chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đă tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa. Người chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Người chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa.

 

6. Vị kia cho lại, hoặc lấy trong khi thân thiết với vị kia, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về việc giật lại y.

 

--ooOoo--

 

 

 

5. 3. 6. ĐIỀU HỌC VỀ YÊU CẦU CHỈ SỢI

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trong thời hạn làm y đă yêu cầu nhiều chỉ sợi. Thậm chí khi y đă làm xong vẫn c̣n lại nhiều chỉ sợi. Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đă khởi ư điều này: “Này các đại đức, chúng ta hăy yêu cầu thêm chỉ sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y.” Sau đó, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đă yêu cầu thêm chỉ sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y. Thậm chí khi y đă được dệt xong, vẫn c̣n lại nhiều chỉ sợi. Đến lần thứ nh́, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đă yêu cầu thêm chỉ sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y. Thậm chí khi y đă được dệt xong, vẫn c̣n lại nhiều chỉ sợi. Đến lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đă yêu cầu thêm chỉ sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại tự ḿnh yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y?”

 

2. Các tỳ khưu đă nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại tự ḿnh yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tự ḿnh yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này những kẻ rồ dại, v́ sao các ngươi lại tự ḿnh yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào tự ḿnh yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

3. Vị nào: là bất cứ vị nào ―(như trên)―

 

Tỳ khưu ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ư nghĩa này.

 

Tự ḿnh: sau khi đích thân yêu cầu.

 

Chỉ sợi nghĩa là sáu loại chỉ sợi: loại bằng sợi lanh, loại bằng bông vải, loại bằng tơ lụa, loại bằng sợi len, loại bằng gai thô, loại bằng chỉ bố.

 

(Bởi) các thợ dệt: vị bảo các người làm công việc dệt vải (ra công) dệt, trong lúc thực hiện, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được th́ phạm vào nissaggiya, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, y này của tôi đă được tự ḿnh yêu cầu chỉ sợi rồi đă bảo các thợ dệt dệt thành, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

4. Khi đă bảo dệt, nhận biết là đă bảo dệt, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi đă bảo dệt, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi đă bảo dệt, (lầm) tưởng là chưa bảo dệt, phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

5. Khi chưa bảo dệt, (lầm) tưởng là đă bảo dệt, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa bảo dệt, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa bảo dệt, nhận biết là chưa bảo dệt th́ vô tội.

 

6. (Yêu cầu chỉ sợi) để may y, trong trường hợp mạng vá, trường hợp dây thắt lưng, dây buộc ở vai, túi mang b́nh bát, đồ lược nước, của các thân quyến, của những người đă nói lời thỉnh cầu, v́ nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về yêu cầu chỉ sợi.

 

--ooOoo--

 

 

 

5. 3. 7. ĐIỀU HỌC QUAN TRỌNG VỀ THỢ DỆT

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ sắp sửa đi vắng nhà đă nói với người vợ điều này: - “Hăy cân chỉ sợi rồi giao cho người thợ dệt kia, bảo dệt y rồi cất lấy, khi nào về tôi sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.” Trong khi người đàn ông ấy đang nói lời này, có vị tỳ khưu nọ là vị hành pháp khất thực đă nghe được. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đă đi đến gặp đại đức Upananda con trai ḍng Sakya, sau khi đến đă nói với đại đức Upananda con trai ḍng Sakya điều này: - “Này đại đức Upananda, ngài có phước báu lớn lao. Ở chỗ kia, có người đàn ông nọ sắp sửa đi vắng nhà đă nói với người vợ điều này: ‘Hăy cân chỉ sợi rồi giao cho người thợ dệt kia, bảo dệt y rồi cất lấy, khi nào về tôi sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.’” - “Này đại đức, đúng vậy. Ông ấy là người hộ độ cho tôi.” Người thợ dệt ấy cũng là người hộ độ cho đại đức Upananda con trai ḍng Sakya.

 

2. Sau đó, đại đức Upananda con trai ḍng Sakya đă đi đến gặp người thợ dệt ấy, sau khi đến đă nói với người thợ dệt ấy điều này: - “Này đạo hữu, y này được dệt dành riêng cho tôi. Hăy làm (y ấy) dài, rộng, chặt chẽ, hăy dệt cho khéo, dệt cho đều đặn, khéo cào, khéo chải.” - “Thưa ngài, những người này đă cân chỉ sợi rồi giao cho tôi (nói rằng): ‘Hăy dệt y với số chỉ sợi này.’ Thưa ngài, không thể làm dài, hay rộng, hay chặt chẽ. Thưa ngài, có thể làm là dệt cho khéo, dệt cho đều đặn, khéo cào, và khéo chải.” - “Này đạo hữu, ngươi hăy làm dài, rộng, và chặt chẽ. Sẽ không bị thiếu hụt về chỉ sợi cho ngươi.”

 

3. Sau đó, người thợ dệt ấy sau khi đưa vào máy dệt số chỉ sợi đă được mang lại rồi đă đi đến gặp người đàn bà ấy, sau khi đến đă nói với người đàn bà ấy điều này: - “Thưa bà, có nhu cầu về chỉ sợi.” - “Này ông, không phải tôi đă nói với ông rằng: ‘Hăy dệt y với số chỉ sợi này.’” - “Thưa bà, sự thật là tôi đă được bà nói rằng: ‘Hăy dệt y với số chỉ sợi này;’ tuy nhiên, ngài đại đức Upananda đă nói với tôi như vầy: ‘Này đạo hữu, ngươi hăy làm dài, rộng, và chặt chẽ. Sẽ không bị thiếu hụt về chỉ sợi cho ngươi.’” Khi ấy, người đàn bà ấy đă cho số lượng chỉ sợi lần sau y như số lượng lần thứ nhất.

 

4. Rồi đại đức Upananda con trai ḍng Sakya đă nghe được rằng: “Nghe nói người đàn ông ấy đi vắng nhà vừa mới trở về.” Sau đó, đại đức Upananda con trai ḍng Sakya đă đi đến tư gia của người đàn ông ấy, sau khi đến đă ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người đàn ông ấy đă đi đến gặp đại đức Upananda con trai ḍng Sakya, sau khi đến đă đảnh lễ đại đức Upananda con trai ḍng Sakya rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đă ngồi xuống một bên, người đàn ông ấy đă nói với người vợ điều này: - “Có phải y ấy đă được dệt?” - “Ông à, đúng vậy. Y ấy đă được dệt.” - “Hăy đem lại. Tôi sẽ dâng y cho ngài đại đức Upananda.” Sau đó, người đàn bà ấy đă đem y ấy đến đưa cho chồng và đă kể lại sự việc ấy. Khi ấy, người đàn ông ấy sau khi dâng y đến đại đức Upananda con trai ḍng Sakya rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Các Sa-môn Thích tử này thật ham muốn quá độ, không tự biết đủ. Không dễ ǵ mà dâng y cho những người này! V́ sao ngài đại đức Upananda khi chưa được tôi thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các thợ dệt và đưa ra sự căn dặn về y?”

 

5. Các tỳ khưu đă nghe được người đàn ông ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao đại đức Upananda con trai ḍng Sakya khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các thợ dệt của gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này Upananda, nghe nói ngươi khi chưa được thỉnh cầu trước đă đi đến gặp các thợ dệt của gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” - “Này Upananda, là thân quyến của ngươi hay không phải là thân quyến?” - “Bạch Thế Tôn, không phải là thân quyến.” - “Này kẻ rồ dại, người không phải là thân quyến không biết điều ǵ thích hợp hay không thích hợp, điều ǵ đúng hay không đúng đối với người không phải là thân quyến. Này kẻ rồ dại, trong trường hợp ấy sao ngươi khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các thợ dệt của gia chủ không phải là thân quyến và đưa ra sự căn dặn về y? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Trường hợp có nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến bảo các thợ dệt dệt thành y dành riêng cho vị tỳ khưu. Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ấy khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các thợ dệt và đưa ra sự căn dặn về y: ‘Này đạo hữu, y này được dệt dành riêng cho tôi. Hăy làm (y ấy) dài, rộng, chắc chắn, hăy dệt cho khéo, dệt cho đều đặn, khéo cào, khéo chải. Có lẽ chúng tôi có thể biếu xén các ông vật ǵ đó.’ Và sau khi nói như vậy, nếu vị tỳ khưu ấy biếu xén vật ǵ dó dầu chỉ là đồ ăn khất thực th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

6. Dành riêng cho vị tỳ khưu: v́ nhu cầu của vị tỳ khưu, lấy vị tỳ khưu làm đối tượng rồi có ư định dâng đến vị tỳ khưu.

 

Không phải là thân quyến nghĩa là người không có sự liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ ḍng bên mẹ hoặc từ ḍng bên cha.

 

Nam gia chủ nghĩa là bất cứ người nam nào sống trong căn nhà.

 

Nữ gia chủ nghĩa là bất cứ người nữ nào sống trong căn nhà.

 

(Bởi) các thợ dệt: (bởi) các người làm công việc dệt vải.

 

Y nghĩa là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước) tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.

 

Bảo dệt: bảo đan lại.

 

Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ấy: vị tỳ khưu ấy là vị tỳ khưu mà y được dệt dành riêng cho.

 

Khi chưa được thỉnh cầu trước: Chưa được nói trước rằng: “’Thưa ngài, ngài có nhu cầu với loại y như thế nào?” “Tôi sẽ dệt cho ngài y như thế nào?”

 

Đi đến gặp các thợ dệt: sau khi đi đến nhà, sau khi đi đến gặp ở bất cứ nơi nào.

 

Đưa ra sự căn dặn về y: (Nói rằng): “Này đạo hữu, y này được dệt dành riêng cho tôi. Hăy làm (y ấy) dài, rộng, dày, hăy dệt cho khéo, dệt cho đều đặn, khéo cào, khéo chải.”

 

Có lẽ chúng tôi có thể biếu xén các ông vật ǵ đó.” Và sau khi nói như vậy, nếu vị tỳ khưu ấy biếu xén vật ǵ dó dầu chỉ là đồ ăn khất thực: ― Đồ ăn khất thực nghĩa là cháo, bữa ăn, vật thực cứng, cục bột tắm, gỗ chà răng, nắm chỉ rời, ngay cả nói Pháp.

 

7. (Người thợ dệt) làm (y) dài, hoặc rộng, hoặc chặt chẽ theo lời nói của vị ấy; trong khi tiến hành th́ (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được th́ phạm vào nissaggiya, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, y này của tôi khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các thợ dệt của gia chủ không phải là thân quyến và đă đưa ra sự căn dặn về y, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

8. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các thợ dệt của gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Không phải là thân quyến, có sự hoài nghi, ―(như trên)― Không phải là thân quyến, (lầm) tưởng là thân quyến, vị khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các thợ dệt của gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

9. Là thân quyến, (lầm) tưởng không phải là thân quyến, phạm tội dukkaṭa. Là thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Là thân quyến, nhận biết là thân quyến th́ vô tội.

 

10. Của các thân quyến, của những người đă nói lời thỉnh cầu, v́ nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị bảo dệt (y) có giá trị thấp đối với người có ư định dệt (y) có giá trị cao, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học quan trọng về thợ dệt.

 

--ooOoo--

 

 

 

5. 3. 8. ĐIỀU HỌC VỀ Y ĐẶC BIỆT

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị quan đại thần nọ sắp sửa đi xa đă phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nhắn rằng): - “Các đại đức hăy đi đến. Tôi sẽ dâng y của mùa (an cư) mưa.” Các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Y của mùa (an cư) mưa đă được đức Thế Tôn cho phép đến các vị đă trải qua mùa (an cư) mưa” rồi trong lúc ngần ngại đă không đi đến. Khi ấy, vị quan đại thần ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các đại đức khi được tôi phái sứ giả đến mời lại không đi đến? Bởi v́ tôi đi việc quân đội, việc sống khó biết, việc chết khó hay.” Các tỳ khưu đă nghe được vị quan đại thần ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, Ta cho phép thọ lănh y đặc biệt rồi để riêng.”

 

2. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Y đặc biệt đă được đức Thế Tôn cho phép thọ lănh rồi để riêng.” Các vị ấy sau khi thọ lănh y đặc biệt rồi đă để vượt quá thời hạn về y. Các y ấy được buộc thành đống treo ở sào máng y. Đại đức Ānanda trong khi đi dạo quanh các trú xá đă nh́n thấy các y ấy được buộc thành đống treo ở sào máng y, sau khi nh́n thấy đă nói với các tỳ khưu rằng: - “Này các đại đức, các y đă được buộc thành đống treo ở sào máng y là của vị nào vậy?” - “Này đại đức, là các y đặc biệt của chúng tôi.” - “Này các đại đức, vậy các y này đă được để riêng bao lâu rồi?” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đă kể lại cho đại đức Ānanda về việc (y) đă được để riêng như thế nào. Đại đức Ānanda phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các tỳ khưu sau khi thọ lănh y đặc biệt lại để vượt quá thời hạn về y?” Sau đó, đại đức Ānanda đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)―

 

3. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu sau khi thọ lănh y đặc biệt lại để vượt quá thời hạn về y, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này các tỳ khưu, v́ sao những kẻ rồ dại ấy sau khi thọ lănh y đặc biệt lại để vượt quá thời hạn về y vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Khi c̣n mười ngày là đến ngày rằm Kattika của ba tháng,[12] trường hợp vị tỳ khưu có y đặc biệt phát sanh, vị tỳ khưu nghĩ rằng là (y) đặc biệt rồi nên thọ lănh, sau khi thọ lănh nên để riêng cho đến hết thời hạn về y. Nếu để riêng vượt quá hạn ấy th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

4. Khi c̣n mười ngày là đến: mười ngày là sẽ đến lễ Pavāraṇā.

 

Ngày rằm Kattika của ba tháng: lễ PavāraṇāKattika được nói đến.

 

Y đặc biệt nghĩa là người có ư định đi vào quân đội, hoặc có ư định đi xa, hoặc là bị bệnh, hoặc là mang thai, hoặc là người không có niềm tin đă được sanh khởi niềm tin, hoặc là người không mộ đạo đă được sanh khởi ḷng mộ đạo. Nếu người ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Các đại đức hăy đi đến. Tôi sẽ dâng y của mùa (an cư) mưa.” Y này gọi là y đặc biệt.

 

Vị tỳ khưu nghĩ rằng là (y) đặc biệt rồi nên thọ lănh, sau khi thọ lănh nên để riêng cho đến hết thời hạn về y: Sau khi ghi nhận rằng: “Đây là y đặc biệt.” rồi nên để riêng.

 

Thời hạn về y nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu th́ một tháng cuối của mùa mưa. Khi Kaṭhina được thành tựu th́ năm tháng.[13]

 

Nếu để riêng vượt quá hạn ấy: khi Kaṭhina không được thành tựu, vị vượt qua ngày cuối cùng của mùa mưa th́ phạm vào nissaggiya. Khi Kaṭhina được thành tựu, vị vượt qua ngày hết hiệu lực Kaṭhina th́ phạm vào nissaggiya, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, y đặc biệt này của tôi đă vượt quá thời hạn về y, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

5. Y đặc biệt, nhận biết là y đặc biệt, vị để vượt quá thời hạn về y th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Y đặc biệt, có sự hoài nghi, vị để vượt quá thời hạn về y th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Y đặc biệt, (lầm) tưởng không phải là y đặc biệt, vị để vượt quá thời hạn về y th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đă chú nguyện để dùng riêng, ... Khi chưa chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đă chú nguyện để dùng chung, ... Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đă phân phát, ... Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đă bị mất trộm, ... Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đă bị hư hỏng, ... Khi không bị cháy, (lầm) tưởng là đă bị cháy, ... Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đă bị cướp, vị để vượt quá thời hạn về y th́ phạm tội nissaggiya pācittiya.

 

6. Y phạm vào nissaggiya, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội dukkaṭa. Không phải là y đặc biệt, (lầm) tưởng là y đặc biệt, phạm tội dukkaṭa. Không phải là y đặc biệt, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Không phải là y đặc biệt, nhận biết không phải là y đặc biệt th́ vô tội.

 

7. Trong thời hạn (về y), vị chú nguyện để dùng riêng, vị chú nguyện để dùng chung, vị phân phát, (y) bị mất trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (những người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy đi do sự thân thiết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về y đặc biệt.

 

--ooOoo--

 

 

 

5. 3. 9. ĐIỀU HỌC VỀ (CHỖ NGỤ) NGUY HIỂM

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đă trải qua mùa (an cư) mưa sống ở những chỗ trú ngụ trong các khu rừng. Bọn trộm cướp tháng Kattika (nghĩ rằng): “Các tỳ khưu đạt được lợi lộc” nên đă quấy nhiễu. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị sống ở những chỗ trú ngụ trong các khu rừng được để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà.”

 

2. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đă cho phép vị sống ở những chỗ trú ngụ trong các khu rừng được để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà” rồi để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà và xa ĺa hơn sáu đêm. Các y ấy bị mất, bị hư hỏng, bị cháy, bị các con chuột gặm nhấm. Các tỳ khưu trở nên mặc vải tàn tạ và y phục thô xấu. Các tỳ khưu đă nói như vầy: - “Này các đại đức, tại sao các vị lại trở nên mặc vải tàn tạ và y phục thô xấu?” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đă kể lại sự việc cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các tỳ khưu sau khi để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà lại xa ĺa hơn sáu đêm?”

 

3. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu sau khi để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà lại xa ĺa hơn sáu đêm, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này các tỳ khưu, v́ sao những kẻ rồ dại ấy sau khi để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà lại xa ĺa hơn sáu đêm vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Khi mùa (an cư) mưa đă qua ngày rằm Kattika, trường hợp có những chỗ trú ngụ ở trong rừng được xác định là có sự nguy hiểm, có sự kinh hoàng, và vị tỳ khưu đang sống ở các chỗ trú ngụ có h́nh thức như thế, khi mong mỏi có thể để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà. Nếu vị tỳ khưu ấy có lư do nào đó đưa đến việc xa ĺa y ấy, vị tỳ khưu ấy nên xa ĺa y ấy tối đa là sáu đêm. Nếu xa ĺa vượt quá hạn ấy, ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu, th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.

 

4. Khi mùa (an cư) mưa đă qua: là mùa mưa đă đuợc trải qua.

 

Ngày rằm Kattika: ngày rằm Kattika của bốn tháng được đề cập đến.[14]

 

Những chỗ trú ngụ ở trong rừng: Chỗ trú ngụ ở trong rừng nghĩa là cách (căn nhà) cuối cùng khoảng cách 500 cây cung.[15]

 

Có sự nguy hiểm nghĩa là trong tu viện hoặc trong vùng phụ cận tu viện, chỗ cắm trại của bọn cướp được thấy, chỗ ăn được thấy, chỗ đứng được thấy, chỗ ngồi được thấy, chỗ nằm được thấy.

 

Có sự kinh hoàng nghĩa là trong tu viện hoặc trong vùng phụ cận tu viện, dân chúng bị giết bởi bọn cướp được thấy, bị cướp giật được thấy, bị đánh đập được thấy.

 

Vị tỳ khưu đang sống ở các chỗ trú ngụ có h́nh thức như thế: là vị tỳ khưu đang sống ở các chỗ trú ngụ có h́nh thức như vậy.

 

Khi mong mỏi: khi ước muốn.

 

Một y nào đó của ba y: hoặc là y hai lớp, hoặc là thượng y, hoặc là y nội.

 

Có thể để lại ở trong xóm nhà: có thể để lại ở vùng xung quanh ngôi làng là khu vực đi khất thực.

 

Nếu vị tỳ khưu ấy có lư do nào đó đưa đến việc xa ĺa y ấy: nếu có lư do, nếu có nguyên nhân.

 

Vị tỳ khưu ấy nên xa ĺa y ấy tối đa là sáu đêm: nên xa ĺa nhiều nhất là sáu đêm.

 

Ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu: Trừ ra có sự đồng ư của các tỳ khưu

 

Nếu xa ĺa vượt quá hạn ấy: Khi hừng đông ngày thứ bảy mọc lên th́ phạm vào nissaggiya, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, y này của tôi đă bị xa ĺa quá sáu đêm, giờ cần được xả bỏ, ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

5. Khi quá hạn sáu đêm, nhận biết là đă quá hạn, vị xa ĺa th́ phạm tội nissaggiya pācittiya ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu. Khi quá hạn sáu đêm, có sự hoài nghi, vị xa ĺa th́ phạm tội nissaggiya pācittiya ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu. Khi quá hạn sáu đêm, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, vị xa ĺa th́ phạm tội nissaggiya pācittiya ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu. Khi chưa nguyện xả, (lầm) tưởng là đă nguyện xả, ... Khi chưa phân phát, (lầm) tưởng là đă phân phát, ... Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đă bị mất trộm, ... Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đă bị hư hỏng, ... Khi không bị cháy, (lầm) tưởng là đă bị cháy, ... Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đă bị cướp, vị xa ĺa th́ phạm tội nissaggiya pācittiya ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu.

 

6. Y phạm vào nissaggiya, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn sáu đêm, (lầm) tưởng là đă quá hạn, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn sáu đêm, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn sáu đêm, nhận biết là chưa quá hạn th́ vô tội.

 

7. Vị xa ĺa sáu đêm, vị xa ĺa kém sáu đêm, sau khi xa ĺa sáu đêm vị ấy đi vào lại trong ranh giới của làng cư ngụ rồi ra đi, vị nguyện xả trong đêm thứ sáu, vị phân phát, (y) bị mất trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (những người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy đi do sự thân thiết, với sự đồng ư của các tỳ khưu, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về (chỗ ngụ) nguy hiểm.

 

--ooOoo--

 

 

 

5. 3. 10. ĐIỀU HỌC VỀ ‘ĐĂ ĐƯỢC KHẲNG ĐỊNH’

 

 

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, trong thành Sāvatthī có bữa trai phạn có dâng y đến hội chúng của phường hội nọ được chuẩn bị (thông báo rằng): “Sau khi mời thọ thực, chúng tôi sẽ dâng y.” Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Lục sư đă đi đến gặp phường hội ấy, sau khi đến đă nói với phường hội ấy điều này: - “Này các đạo hữu, hăy dâng các y này cho chúng tôi.” - “Thưa các ngài, chúng tôi sẽ không dâng, bữa trai phạn có dâng y đến hội chúng hàng năm của chúng tôi đă được thông báo.” - “Này các đạo hữu, hội chúng có nhiều thí chủ, hội chúng có nhiều cơ hội. Chúng tôi sống ở đây nương nhờ vào quư vị, trông ngóng nơi quư vị. Nếu quư vị sẽ không bố thí đến chúng tôi, giờ c̣n ai sẽ bố thí cho chúng tôi? Này các đạo hữu, hăy dâng các y này cho chúng tôi.” Khi ấy, trong lúc bị các tỳ khưu nhóm Lục Sư ép buộc phường hội ấy đă dâng y được chuẩn bị như thế đến các tỳ khưu nhóm Lục Sư rồi dâng vật thực đến hội chúng. Những vị tỳ khưu nào biết được bữa trai phạn có dâng y đến hội chúng đă được chuẩn bị mà không biết được là: ‘(Y) đă được dâng đến các tỳ khưu nhóm Lục Sư,’ những vị ấy đă nói như vầy:

 

2. - “Này các đạo hữu, hăy dâng y đến hội chúng.” - “Thưa các ngài, không có y như đă chuẩn bị, các ngài đại đức nhóm Lục Sư đă thuyết phục dâng cho bản thân.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- “V́ sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư dầu biết lợi lộc đă được khẳng định là dâng đến hội chúng lại thuyết phục dâng cho bản thân?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi dầu biết lợi lộc đă được khẳng định là dâng đến hội chúng vẫn thuyết phục dâng cho bản thân, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này những kẻ rồ dại, v́ sao các ngươi dầu biết lợi lộc đă được khẳng định là dâng đến hội chúng lại thuyết phục dâng cho bản thân vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

 

Vị tỳ khưu nào dầu biết lợi lộc đă được khẳng định là dâng đến hội chúng vẫn thuyết phục dâng cho bản thân th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.”

 

3. Vị nào: là bất cứ vị nào ―(như trên)―

 

Tỳ khưu ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ư nghĩa này.

 

Biết nghĩa là tự ḿnh biết, hoặc những người khác nói cho vị ấy, hoặc người ấy nói.

 

(Dâng đến) hội chúng nghĩa là đă được dâng đến, đă được giao hẳn cho hội chúng.

 

Lợi lộc nghĩa là các vật dụng như là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh ngay cả cục bột tắm, gỗ chà răng, nắm chỉ rời.

 

Đă được khẳng định là dâng đến nghĩa là lời nói đă được phát ra rằng: “Chúng tôi sẽ dâng, chúng tôi sẽ làm.”

 

4. Vị thuyết phục dâng cho bản thân, trong khi tiến hành th́ phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được th́ phạm vào nissaggiya, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “Bạch các ngài, vật này của tôi đă được thuyết phục dâng cho bản thân dầu biết lợi lộc đă được khẳng định là dâng đến hội chúng, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” ―(như trên)― hội chúng nên cho lại ―(như trên)― chư đại đức nên cho lại ―(như trên)― “Tôi cho lại đại đức.”

 

5. Khi đă được khẳng định, nhận biết là đă được khẳng định, vị thuyết phục dâng cho bản thân th́ phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi đă được khẳng định, có sự hoài nghi, vị thuyết phục dâng cho bản thân th́ phạm tội dukkaṭa. Khi đă được khẳng định, (lầm) tưởng là chưa được khẳng định, vị thuyết phục dâng cho bản thân th́ vô tội. Khi đă được khẳng định là dâng đến hội chúng, vị thuyết phục dâng đến hội chúng khác hoặc bảo tháp th́ phạm tội dukkaṭa. Khi đă được khẳng định là dâng đến bảo tháp, vị thuyết phục dâng đến bảo tháp khác, hoặc hội chúng, hoặc nhóm, hoặc cá nhân th́ phạm tội dukkaṭa. Khi đă được khẳng định là dâng cho cá nhân, vị thuyết phục dâng cho cá nhân khác, hoặc hội chúng, hoặc nhóm, hoặc bảo tháp th́ phạm tội dukkaṭa. Khi chưa được khẳng định, (lầm) tưởng là đă được khẳng định, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa được khẳng định, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa được khẳng định, nhận biết là chưa được khẳng định th́ vô tội.

 

6. Khi được hỏi rằng: “Chúng tôi dâng nơi nào?” vị nói rằng: “Nơi nào mà pháp bố thí của quư vị có thể đạt được sự hữu dụng, hoặc có thể được làm vật sửa chữa, hoặc có thể tồn tại lâu dài, hoặc nơi nào tâm của quư vị hoan hỷ th́ hăy dâng nơi đó,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên th́ vô tội.”

 

Dứt điều học về ‘đă được khẳng định.’

 

Phẩm B́nh Bát là thứ ba.

 

--ooOoo--

 

 

TÓM LƯỢC PHẦN NÀY

 

 

Hai điều về b́nh bát, dược phẩm, thuộc mùa mưa, việc lấy lại (y) là thứ năm. Tự ḿnh, việc bảo dệt, (y) đặc biệt, sự nguy hiểm, và thuộc về hội chúng.

 

--ooOoo--

 

 

Bạch chư đại đức, ba mươi điều nissaggiya pācittiya đă được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nh́, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

 

[(Y) phụ trội, chỉ một đêm, (y) ngoài hạn kỳ, việc giặt y cũ, và việc nhận lănh ấy nữa, việc yêu cầu, và vượt quá số y ấy, luôn cả hai điều về chưa được thỉnh cầu, và về việc nhắc nhở đến lần thứ ba.

 

Được trộn lẫn, luôn cả thuần (màu đen), có cân lượng, và hàng năm, tấm trải lót cũ, và việc mang đi các lông cừu, việc giặt (lông cừu), luôn cả vàng bạc, và hai việc (trao đổi với mua bán) dưới nhiều h́nh thức.

 

B́nh bát phụ trội, và chưa đủ (năm) miếng vá, dược phẩm, vải choàng (tắm mưa), việc giật lại (y) v́ bị nổi giận, hai điều về thợ dệt, và với y đặc biệt, với việc xa ĺa sáu đêm, và sự thuyết phục dâng cho bản thân.”][16]

 

 

Dứt ba mươi điều.

 

DỨT BỘ PĀRĀJIKAPĀḶI.

 

--ooOoo--

 


 

[1] Cân (tulā) là đơn vị đo trọng lượng. Theo cách tính của ngài Mahāsamaṇa Chao ở trong Vinayamukha th́ 1 tulā có trọng lượng của 160.000 hạt gạo.

[2] Từ điển của Childers ghi rằng 1 yojana là vào khoảng 12 miles, c̣n từ điển của Pali Text Society lại ghi là khoảng 7 miles. Trong khi đó The Buddhist Monastic Code của Thanissaro bhikkhu cho biết 1 yojana = 10 miles = 16 km.

[3] Nếu dựa vào câu chuyện này th́ giá trị của 1 pāda hoặc 5 māsaka (= ¼ kahāpaṇa) vào thời bấy giờ không cao lắm, xin xem lại pārājika điều hai (ND).

[4] Aḍḍhāḷhakodanaṃ (aḍḍha-āḷhaka-odanaṃ). Aḍḍha là một nửa, āḷhaka là đơn vị đo thể tích, odanaṃ là cơm đă được nấu. Tuy nhiên, nên hiểu là “cơm đă được nấu từ ½ āḷhaka gạo” (VinA. iii, 703), chứ không phải “lượng cơm là ½ āḷhaka.” Người Việt chúng ta cũng nói ăn hết 1 lon là ăn hết 1 lon gạo chứ không phải 1 lon cơm, Ngài Mahāsamaṇa Chao cũng giải thích tương tợ; trong khi đó dịch giả I.B. Horner dịch theo ư sau, nghĩa là “lượng cơm là ½ āḷhaka.

[5] Theo ngài Mahāsamaṇa Chao giải thích ở Vinayamukha th́ 1 āḷhaka = 4 nāḷi/nāḷika = 8 pattha (1 nāli = 2 pattha). Pattha là lượng chứa do hai tay bụm lại. Khi dùng các lượng ½ āḷhaka, 1 nāli, 1 pattha gạo rồi nấu lên thành cơm th́ các lượng cơm ấy theo thứ tự là sức chứa đựng của ba loại b́nh bát cỡ lớn, cỡ vừa, và cỡ nhỏ.

[6] Dvaṅgula (hai ngón tay): aṅgula là chiều dài của ngón tay tương đương độ dài của 7 hạt gạo (VibhA. 343). The Buddhist Monastic Code cho biết độ dài của hai ngón tay dvaṅgula khoảng 2 inches = 5,08 cm.

[7] Theo lời giải thích của Ngài Buddhaghosa th́ vị nào v́ ḷng thương hại mà không nhận lấy th́ mới phạm tội dukkaṭa, c̣n vị tự biết đủ (nghĩ rằng): “B́nh bát khác cho tôi làm ǵ?” rồi không nhận lấy th́ vô tội (VinA. iii, 708).

[8] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Không nên sử dụng sái với cách thức dùng ví dụ như nấu cơm, nấu cháo, nấu thuốc nhuộm, v.v... Tuy nhiên, khi đi đường xa nếu bị bệnh và không có vật ǵ để nấu th́ nên bôi đất sét ở bên ngoài rồi nấu cháo hoặc nấu nước (VinA. iii, 709).

[9] Vị tỳ khưu không được dùng mười loại thịt: thịt người, thịt voi, thịt ngựa, thịt chó, thịt rắn, thịt sư tử, thịt hổ, thịt beo, thịt gấu, thịt chó sói (Mahāvagga - Đại Phẩm, TTPV tập 5, chương VI, trang 557-561).

[10] Ví dụ như khi được phát sanh dầu ăn th́ được cất giữ trong thời hạn bảy ngày, trường hợp quyết định làm dầu bôi ở đầu, thuốc thoa tay chân và vết thương th́ không phạm tội. Lư do là v́ khi sử dụng làm thuốc thoa nên trở thành vật có thể cất giữ đến hết đời (VinA. iii, 718).

[11] Chú giải cho một ví dụ là vị mặc y choàng tắm trị giá cao trong khi tắm sẽ có sự nguy hiểm về trộm cướp (Vin.A. iii, 723).

[12] Kattikatemāsipuṇṇamā (ngày rằm Kattika của ba tháng): Tương đương rằm tháng 9 âm lịch Việt Nam là ngày cuối cùng của mùa (an cư) mưa thời kỳ đầu, ngày này c̣n là ngày làm lễ Pavāraṇā của các vị tỳ khưu đă trải qua mùa (an cư) mưa thời kỳ đầu. C̣n Kattikacatumāsipuṇṇamā (ngày rằm Kattika của bốn tháng) tương đương rằm tháng 10 âm lịch (ND).

[13] Thời hạn về y: nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu th́ một tháng cuối của mùa mưa tương đương 16 tháng chín âm lịch đến hết rằm tháng mười âm lịch; thời gian này c̣n là thời kỳ dâng y Kaṭhina. Nếu Kaṭhina được thành tựu th́ thời hạn về y được kéo dài đến khi nào Kaṭhina c̣n hiệu lực, hoặc đến hết rằm tháng 2 năm sau tức là thời hạn 5 tháng (ND).

[14] Theo âm lịch của Việt Nam là rằm tháng 10.

[15] The Buddhist Monastic Code cho biết khoảng cách của 500 cây cung độ chừng 1 km.

[16] Những câu kệ phụ trội này chỉ được thấy ở Tạng Tích Lan.

                                

 

 

   
 

| 00 | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 |

 
 

<Mục Lục><Đầu Trang>