Trang Chính

Trang Văn Chương Phật Giáo

Font VU-Times

 

 

BHIKKHUNIPĀTIMOKKHA
(GIỚI BỔN PĀTIMOKKHA CỦA TỲ KHƯU NI)

 

Dịch Việt: Tỳ khưu Indacanda (Trương đ́nh Dũng)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC:


PHẦN GIỚI THIỆU

[ I ]


I. PUBBAKARAṆAṂ (CÔNG VIỆC CHUẨN BỊ)


II. NIDĀNUDDESO
(PHẦN ĐỌC TỤNG MỞ ĐẦU)


III. PĀRĀJIKUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI PĀRĀJIKA)


IV. SAṄGHĀDISESUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI SAṄGHĀDISESA)


V. NISSAGGIYE VITTHĀRUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG CHI TIẾT VỀ GIỚI ƯNG XẢ)

[ II ]


VI. PĀCITTIYE VITTHĀRUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG CHI TIẾT VỀ GIỚI ƯNG ĐỐI TRỊ)


VII. PĀṬIDESANĪYE VITTHĀRUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI ƯNG PHÁT LỘ)


VIII. SEKHIYĀ DHAMMUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ ƯNG HỌC PHÁP)


IX. ADHIKARAṆASAMATHE VITTHĀRUDDESO (PHẦN ĐỌC TỤNG CHI TIẾT VỀ PHÁP DÀN XẾP TRANH TỤNG)

 

 

*****

PHẦN GIỚI THIỆU

Trong Tạng Luật (Vinayapiṭaka), các điều học của tỳ khưu ni được xếp vào phần cuối của Bộ Phân Tích Giới Bổn (Suttavibhaṅga) và có tên là Bhikkhunīvibhaṅga - Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu Ni. Tuy nhiên, để tránh sự trùng lặp nên các điều học được quy định chung cho tỳ khưu và tỳ khưu ni đă không được đề cập đến v́ đă có tŕnh bày ở Bhikkhuvibhaṅga - Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu ở phần trước. Do đó, khi nghiên cứu và ghi lại phần tiếng Việt của Tạng Luật vào thời gian trước đây, chúng tôi cũng đă có thắc mắc về những điều học được quy định chung ấy là các điều nào; vấn đề ấy đă được giải quyết nhờ vào chú giải Tạng Luật Samantapāsādikā của ngài Buddhaghosa. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn không xác định được các điều học ấy của tỳ khưu ni được sắp xếp theo thứ tự như thế nào.

Thời gian gần đây, chúng tôi đă t́m ra được một số tài liệu liên quan đến vấn đề trên nên sắp xếp chút ít thời gian để ghi lại đầy đủ giới bổn Pātimokkha của tỳ khưu ni và tŕnh bày song ngữ để quư vị tiện học tập và tham khảo. Các tài liệu có văn bản Bhikkhunipātimokkha nguyên tác Pāli hoặc bản dịch Anh ngữ mà chúng tôi có được nguồn trích dẫn cũng xin ghi lại để quư vị có thể kiểm chứng trong trường hợp cần thiết.

  • Bhikkhunīpātimokkha (in Singhalese characters). Ed. N. M. Vimalasara Thera with Singhalese paraphrase. Revised M. Dharmaratna. Colombo: 1914.
  • Bhikkhunīpātimokkha (in Devanāgarī characters). Ed. R. D. Vadekar, Poona: Bhandarkar Institute, 1939.
  • The Pātimokkha, ed. William Pruitt, trans. K. R. Norman. Oxford: The Pali Text Society, 2001.
  • Dvemātikāpāḷī. CD Rom Chaṭṭhasaṅgāyana. Vipassanā Research Institute.
  • The Bhikkhunī Pātimokkha of the Six Schools. Trans. Kabilsingh Chatsumarn. Bangkok: Thammasat Universit Press, 1991.
  • Ubhato-pātimokkha (in Thai characters). Kabilsingh Chatsumarn đề cập đến ở The Bhikkhunī Pātimokkha of the Six Schools.
  • Wijayaratna, Mohan. Buddhist Nuns: The Birth and Development of a Women’s Monastic Order. Colombo: Wisdom, 2001.
  • The Bhikkhuni Patimokkha: The Bhikkhunis' Code of Discipline, Thanissaro Bhikkhu, trans. A concise summary of the bhikkhuni Patimokkha rules. Websites: http://www.accesstoinsight.org (Access to Insight/Theravada Text Archives/Thanissaro Bhikkhu/Vinaya Pitaka).
  • Quư độc giả t́m hiểu về các điều học của tỳ khưu ni nên xem thêm các phần Luật tương ứng ở Chánh Tạng để có sự hiểu biết rơ hơn cho mỗi trường hợp (chi tiết được ghi trong ngoặc đơn ở cuối phần tiếng Việt của mỗi điều học). Đối với các vị nghiên cứu về ngôn ngữ, khi so sánh văn bản Pāli hai phần giới bổn Pātimokkha của tỳ khưu và tỳ khưu ni sẽ hiểu rơ hơn về sự chuyển tánh (liṅga) của một số từ và khẳng định được một số cấu trúc văn phạm trong giới bổn của tỳ khưu nữa.

    Tài liệu này được thực hiện ngoài dự tính và thời gian đầu tư cho công việc này cũng rất hạn chế nên không thể tránh khỏi nhiều điều sai sót. Ngưỡng mong quư độc giả hỷ xả. Mọi sự góp ư phê b́nh xin email về: indacanda@gmail.com

    Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân thành tán dương công đức ủng hộ của các vị: Sư Cô Diệu Linh, Sư Cô Hạnh Bửu, Dr. Binh Anson, Chú Nguyễn Hữu Danh, Anh Phạm Trọng Độ, Bà Nguyễn văn Chuân, Bà Ba Diệu Đài, Bà Diệu Giới, gia đ́nh Cô Sáu Dép, Cô Tư Khánh Huy, Cô Lê Thị Huế, gia đ́nh Trương Tuyết Anh, Phật tử Ngọc Ngân, v.v... Thành tâm cầu chúc quư vị luôn đạt được nhiều hạnh phúc trong cuộc sống thế gian và thể nhập niềm an lạc vô biên trên bước đường tu tập giải thoát.

    Công đức này xin dâng đến Ḥa Thượng trụ tŕ và chư Tăng chùa Sri Jayawardhanaramaya, Colombo, Tích Lan, đă bảo bọc và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong công việc tu học và nghiên cứu Phật Pháp trong thời gian qua.

    Mong sao hết thảy chúng sanh đều được tiến hóa trong ánh hào quang của Chánh Pháp.

    Colombo, ngày 17 tháng 02 năm 2005
    Bhikkhu Indacanda
    (Trương đ́nh Dũng)

    -ooOoo-

     

    Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa!
    Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!

    BHIKKHUNIPĀTIMOKKHA
    (GIỚI BỔN PĀTIMOKKHA CỦA TỲ KHƯU NI)

    *****

    [ I ]

    I. PUBBAKARAṆAṂ
    (CÔNG VIỆC CHUẨN BỊ)

    Sammajjanī  padīpo  ca - udakaṃ  āsanena  ca,  uposathassa  etāni - pubbakaraṇanti  vuccati. 

    Việc quét tước, thắp sáng đèn, nước (uống nước rửa), và chỗ ngồi, các việc này gọi là công việc chuẩn bị cho lễ Uposatha (Bố Tát).

    Chandapārisuddhi  utukkhānaṃ - bhikkhunigaṇanā  ca  ovādo,  uposathassa  etāni - pubbakiccanti  vuccati. 

    (Việc bày tỏ) sự tùy thuận và sự trong sạch, việc tính mùa tiết, việc đếm số tỳ khưu ni (hiện diện), và (việc thỉnh cầu) sự giáo giới, các việc này gọi là phận sự trước tiên của lễ Uposatha (Bố Tát).

    Uposatho  yāvatikā  ca  bhikkhunī  kammappattā,  sabhāgāpattiyo  ca  na  vijjanti,  vajjanīyā  ca  puggalā  tasmiṃ  na  honti,  pattakallanti  vuccati. 

    (Hôm nay) là ngày lễ Uposatha, các vị tỳ khưu ni với số lượng cần thiết đă có đủ, (trường hợp) các vị ni vi phạm tội giống nhau không xảy ra, ở đây không có những nhân vật cần phải tách ly, như thế gọi là “thời điểm thích hợp.”

    Pubbakaraṇapubbakiccāni  samāpetvā  desitāpattikassa  samaggassa  bhikkhunisaṅghassa  anumatiyā  pātimokkhaṃ  uddisituṃ  ārādhanaṃ  karomi.

    Các công việc chuẩn bị và các phận sự trước tiên đă được hoàn tất, hội chúng tỳ khưu ni đă sám hối tội lỗi và có sự hợp nhất, với sự đồng ư của hội chúng tỳ khưu ni tôi xin thỉnh đọc tụng giới bổn Pātimokkha.

    --ooOoo--

     

    II. NIDĀNUDDESO
    (PHẦN ĐỌC TỤNG MỞ ĐẦU)
    [1]

    Suṇātu  me  ayye  saṅgho  ajjuposatho  pannaraso.  Yadi  saṅghassa  pattakallaṃ  saṅgho  uposathaṃ  kareyya,  pātimokkhaṃ  uddiseyya.  Kiṃ  saṅghassa  pubbakiccaṃ?  Pārisuddhiṃ  ayyāyo  ārocetha,  pātimokkhaṃ  uddisissāmi.  Taṃ  sabbāva  santā  sādhukaṃ  suṇoma  manasi  karoma.  Yassā  siyā  āpatti  sā  āvikareyya,  asantiyā  āpattiyā  tuṇhī  bhavitabbaṃ  tuṇhībhāvena  kho  panāyyāyo  parisuddhāti  vedissāmi.  Yathā  kho  pana  paccekapuṭṭhāya  veyyākaraṇaṃ  hoti,  evamevaṃ  evarūpāya  parisāya  yāvatatiyaṃ  anusāvitaṃ  hoti.  Yā  pana  bhikkhunī  yāvatatiyaṃ  anusāviyamāne  saramānā  santiṃ  āpattiṃ  nāvikareyya,  sampajānamusāvādassā  hoti.  Sampajānamusāvādo  kho  panāyyāyo  antarāyiko  dhammo  vutto  bhagavatā  tasmā  saramānāya  bhikkhuniyā  āpannāya  visuddhāpekkhāya  santī  āpatti  āvikātabbā,  āvikatā  hissā  phāsu  hoti.

    Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Hôm nay ngày mười lăm là ngày lễ Uposatha (Bố Tát). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên tiến hành lễ Uposatha, nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Phận sự trước tiên của hội chúng là ǵ? Các đại đức ni hăy tuyên bố sự trong sạch rồi tôi sẽ đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Hết thảy tất cả các vị hiện diện (chúng ta) hăy nghiêm chỉnh lắng nghe và hăy chú tâm đến điều ấy. Nếu vị ni nào có phạm tội, vị ni ấy nên bày tỏ; vị ni không có phạm tội th́ nên im lặng. Do thái độ im lặng, tôi sẽ nhận biết về các đại đức ni rằng: “(Các ni sư) được trong sạch.” Giống như đối với mỗi lần được hỏi đến th́ có câu trả lời; tương tợ như thế, trong hội chúng như thế này (câu hỏi) được thông báo đến lần thứ ba. Trong khi đang được thông báo đến lần thứ ba, vị tỳ khưu ni nào nhớ ra mà không bày tỏ tội đang có th́ vị ni ấy cố t́nh nói dối. Bạch chư đại đức ni, việc cố t́nh nói dối là pháp chướng ngại đă được đức Thế Tôn đề cập đến; do đó, vị tỳ khưu ni bị phạm tội mà nhớ ra và có ư muốn được trong sạch th́ nên bày tỏ ra tội đang có. Bởi v́ khi (tội) đă được bày tỏ th́ vị ni ấy sẽ được thoải mái.

    Uddiṭṭhaṃ  kho  ayyāyo  nidānaṃ.  Tatthāyyāyo  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  dutiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  tatiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā.  Parisuddhetthāyyāyo  tasmā  tuṇhī  evametaṃ  dhārayāmīti. 

    Bạch chư đại đức ni, phần mở đầu đă được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi chư đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ nh́, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

    Nidānuddeso  niṭṭhito.
    (Phần đọc tụng mở đầu được chấm dứt).

    --ooOoo--

     

    III. PĀRĀJIKUDDESO
    (PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI PĀRĀJIKA)

    Tatrime  aṭṭha - pārājikā  dhammā  uddesaṃ  āgacchanti. 

    Ở đây, tám điều pārājikā (bất cộng trụ) được đưa ra đọc tụng.

    1.  Yā  pana  bhikkhunī  chandaso  methunaṃ  dhammaṃ  paṭiseveyya  antamaso  tiracchānagatenapi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā. 

    1.  Vị tỳ khưu ni nào thuận t́nh thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú đực là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú. (bct.1, tk.)[2]

    2.  Yā  pana  bhikkhunī  gāmā  vā  araññā  vā  adinnaṃ  theyyasaṅkhātaṃ  ādiyeyya,  yathārūpe  adinnādāne  rājāno  coraṃ  gahetvā  haneyyuṃ  vā  bandheyyuṃ  vā  pabbājeyyuṃ  vā,  corāsi  bālāsi  mūḷhāsi  thenāsīti,  tathārūpaṃ  bhikkhunī  adinnaṃ  ādiyamānā  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā. 

    2.  Vị tỳ khưu ni nào lấy vật không được cho từ làng hoặc từ rừng theo lối trộm cướp; tương tợ như trong vụ đánh cắp, các vị vua sau khi bắt được nữ đạo tặc th́ có thể hành hạ, hoặc có thể giam giữ, hoặc có thể trục xuất (phán rằng): “Cô là kẻ trộm, cô là kẻ ngu, cô là kẻ khờ, cô là kẻ cướp;” tương tợ như thế, vị tỳ khưu ni khi lấy vật không được cho, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú. (bct.2, tk.)

    3.  Yā  pana  bhikkhunī  sañcicca  manussaviggahaṃ  jīvitā  voropeyya  satthahārakaṃ  vāssa  pariyeseyya  maraṇavaṇṇaṃ  vā  saṃvaṇṇeyya  maraṇāya  vā  samādapeyya,  ambho  purisa  kiṃ  tuyhiminā  pāpakena  dujjīvitena  mataṃ  te  jīvitā  seyyoti  iti  cittamanā  cittasaṅkappā  anekapariyāyena  maraṇavaṇṇaṃ  vā  saṃvaṇṇeyya  maraṇāya  vā  samādapeyya,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā. 

    3.  Vị tỳ khưu ni nào cố ư đoạt lấy mạng sống con người, hoặc t́m cách đem lại vũ khí cho người ấy, hoặc ca ngợi lợi ích của sự chết, hoặc xúi giục đưa đến sự chết: “Này người ơi, c̣n ǵ cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ngươi c̣n tốt hơn sự sống!” Vị ni có tâm ư và có tâm tư như thế rồi bằng nhiều phương thức ca ngợi lợi ích của sự chết hoặc xúi giục đưa đến sự chết, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú. (bct.3, tk.)

    4.  Yā  pana  bhikkhunī  anabhijānaṃ  uttarimanussadhammaṃ  attūpanāyikaṃ  alamariyañāṇadassanaṃ  samudācareyya  iti  jānāmi  iti  passāmīti,  tato  aparena  samayena  samanuggāhiyamānā  vā  asamanuggāhiyamānā  vā  āpannā  visuddhāpekkhā  evaṃ  vadeyya,  ajānamevaṃ  ayye  avacaṃ  jānāmi  apassaṃ  passāmi  tucchaṃ  musā  vilapinti  aññatra  adhimānā,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā. 

    4.  Vị tỳ khưu ni nào tuyên bố về pháp thượng nhân chưa được thắng tri, là pháp thể nhập của bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết của bậc thánh rằng: “Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.” Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được hỏi, (vị ni ấy) có ước muốn được trong sạch tội đă vi phạm lại nói như vầy: “Này các đại đức ni, tôi đă không biết như vầy lại nói biết, đă không thấy lại nói thấy, tôi đă nói điều phù phiếm, điều dối trá,” ngoại trừ v́ sự tự tin thái quá; vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú. (bct.4, tk.)

    5.  Yā  pana  bhikkhunī  avassutā  avassutassa  purisapuggalassa  adhakkhakaṃ  ubbhajānumaṇḍalaṃ  āmasanaṃ  vā  parāmasanaṃ  vā  gahaṇaṃ  vā  chupanaṃ  vā  paṭipīḷanaṃ  vā  sādiyeyya,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā  ubbhajānumaṇḍalikā. 

    5.  Vị tỳ khưu ni nào nhiễm dục vọng ưng thuận sự sờ vào hoặc sự vuốt ve hoặc sự nắm lấy hoặc sự chạm vào hoặc sự ôm chặt từ xương đ̣n (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên của người nam nhiễm dục vọng, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ sờ phần trên đầu gối. (bct.1, tkni.)[3]

    6.  Yā  pana  bhikkhunī  jānaṃ  pārājikaṃ  dhammaṃ  ajjhāpannaṃ  bhikkhuniṃ  nevattanā  paṭicodeyya  na  gaṇassa  āroceyya  yadā  ca  sā  ṭhitā  vā  assa  cutā  vā  nāsitā  vā  avassatā  vā,  sā  pacchā  evaṃ  vadeyya  pubbevāhaṃ  ayye  aññāsiṃ  etaṃ  bhikkhuniṃ  evarūpā  ca  evarūpā  ca  sā  bhaginīti  no  ca  kho  attanā  paṭicodessaṃ  na  gaṇassa  ārocessanti,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃ  vāsā  vajjappaṭicchādikā. 

    6.  Vị tỳ khưu ni nào dầu biết vị tỳ khưu ni đă vi phạm tội pārājika vẫn không tự chính ḿnh khiển trách cũng không thông báo cho nhóm khi vị ni kia hăy c̣n tồn tại, hoặc bị chết đi, hoặc bị trục xuất, hoặc bỏ đi. Sau này, vị ni ấy nói như vầy: “Này các ni sư, chính trước đây tôi đă biết rơ tỳ khưu ni kia rằng: ‘Sư tỷ ấy là như thế và như thế’ mà tôi không tự chính ḿnh khiển trách cũng không thông báo cho nhóm;” vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ che giấu tội. (bct.2, tkni.)

    7.  Yā  pana  bhikkhunī  samaggena  saṅghena  ukkhittaṃ  bhikkhuṃ  dhammena  vinayena  satthusāsanena  anādaraṃ  appaṭikāraṃ  akatasahāyaṃ  tamanuvatteyya,  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  evamassa  vacanīyā  eso  kho  ayye  bhikkhu  samaggena  saṅghena  ukkhitto  dhammena  vinayena  satthusāsanena  anādaro  appaṭikāro  akatasahāyo  māyye  etaṃ  bhikkhuṃ  anuvattīti,  evañca  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  vuccamānā  tatheva  paggaṇheyya  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  yāvatatiyaṃ  samanubhāsitabbā  tassa  paṭinissaggāya  yāvatatiyaṃ  ce  samanubhāsiyamānā  taṃ  paṭinissajjeyya  iccetaṃ  kusalaṃ  no  ce  paṭinissajjeyya,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā  ukkhittānuvattikā. 

    7.  Vị tỳ khưu ni nào xu hướng theo vị tỳ khưu đă bị hội chúng hợp nhất phạt án treo là vị (tỳ khưu) không tôn trọng, không hối cải, không thể hiện t́nh đồng đạo theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: “Này ni sư, vị tỳ khưu ấy đă bị hội chúng hợp nhất phạt án treo là vị (tỳ khưu) không tôn trọng, không hối cải, không thể hiện t́nh đồng đạo theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Này ni sư, chớ có xu hướng theo vị tỳ khưu ấy.” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, th́ vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ xu hướng theo kẻ bị phạt án treo. (bct.3, tkni.)

    8.  Yā  pana  bhikkhunī  avassutā  avassutassa  purisapuggalassa  hatthaggahaṇaṃ  vā  sādiyeyya  saṅghāṭikaṇṇaggahaṇaṃ  vā  sādiyeyya  santiṭṭheyya  vā  sallapeyya  vā  saṅketaṃ  vā  gaccheyya  purisassa  vā  abbhāgamanaṃ  sādiyeyya  channaṃ  vā  anupaviseyya  kāyaṃ  vā  tadatthāya  upasaṃhareyya  etassa  asaddhammassa  paṭisevanatthāya,  ayampi  pārājikā  hoti  asaṃvāsā  aṭṭhavatthukā. 

    8.  Vị tỳ khưu ni nào nhiễm dục vọng thích thú sự nắm lấy cánh tay của người nam nhiễm dục vọng, hoặc thích thú sự nắm lấy chéo áo choàng (của người nam), hoặc đứng chung, hoặc tṛ chuyện, hoặc đi đến nơi hẹn ḥ, hoặc thích thú sự viếng thăm của người nam, hoặc đi vào nơi che khuất, hoặc kề sát cơ thể nhằm mục đích ấy là nhằm mục đích của việc thực hiện điều không tốt đẹp ấy, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ liên quan tám sự việc. (bct.4, tkni.)

    Uddiṭṭhā  kho  ayyāyo  aṭṭha  pārājikā  dhammā.  Yesaṃ  bhikkhunī  aññataraṃ  vā  aññataraṃ  vā  āpajjitvā  na  labhati  bhikkhunīhi  saddhiṃ  saṃvāsaṃ  yathā  pure  tathā  pacchā  pārājikā  hoti  asaṃvāsā.  Tatthāyyāyo  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  dutiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  tatiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā.  Parisuddhetthāyyāyo  tasmā  tuṇhī  evametaṃ  dhārayāmīti.

    Bạch chư đại đức ni, tám điều pārājika đă được đọc tụng xong. Vị tỳ khưu ni vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này th́ không có được sự cộng trú cùng với các tỳ khưu ni, trước đây như thế nào th́ sau này là như vậy; (vị ni ấy) là vị ni phạm tội pārājika không được cộng trú. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ nh́, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

    Pārājikuddeso  niṭṭhito.
    (Phần Đọc Tụng Giới Pārājika được chấm dứt).

    --ooOoo--

     

    IV. SAṄGHĀDISESUDDESO
    (PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI SAṄGHĀDISESA)

    Ime  kho  panāyyāyo  sattarasa  saṅghādisesā  dhammā  uddesaṃ  āgacchanti.

    Bạch chư đại đức ni, mười bảy điều saṅghādisesa (tăng tàng) này được đưa ra đọc tụng.

    1.  Yā  pana  bhikkhunī  ussayavādikā  vihareyya  gahapatinā  vā  gahapatiputtena  vā  dāsena  vā  kammakārena  vā  antamaso  samaṇaparibbājakenāpi,  ayampi  bhikkhunī  paṭhamāpattikaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    1.  Vị tỳ khưu ni nào sống làm người thưa kiện với nam gia chủ, hoặc với con trai của nam gia chủ, hoặc với người nô tỳ, hoặc với người làm công, hoặc ngay cả với sa-môn du sĩ, vị tỳ khưu ni này phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) ngay lúc vừa mới vi phạm, cần được tách riêng. (ttg.1, tkni.)[4]

    2.  Yā  pana  bhikkhunī  jānaṃ  coriṃ  vajjhaṃ  viditaṃ  anapaloketvā  rājānaṃ  vā  saṅghaṃ  vā  gaṇaṃ  vā  pūgaṃ  vā  seṇiṃ  vā  aññatra  kappā  vuṭṭhāpeyya,  ayampi  bhikkhunī  paṭhamāpattikaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    2.  Vị tỳ khưu ni nào biết được nữ đạo tặc có tội tử h́nh được loan báo mà vẫn nhận vào cho tu khi chưa xin phép đức vua, hoặc hội chúng, hoặc nhóm, hoặc phường hội, hoặc phường thợ, ngoại trừ có sự được phép; vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.2, tkni.)

    3.  Yā  pana  bhikkhunī  ekā  vā  gāmantaraṃ  gaccheyya,  ekā  vā  nadīpāraṃ  gaccheyya,  ekā  vā  rattiṃ  vippavaseyya,  ekā  vā  gaṇamhā  ohiyeyya,  ayampi  bhikkhunī  paṭhamāpattikaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    3.  Vị tỳ khưu ni nào đi vào trong làng một ḿnh, hoặc đi sang bờ bên kia sông một ḿnh, hoặc ban đêm trú ngụ riêng một ḿnh, hoặc một ḿnh tách rời ra khỏi nhóm; vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.3, tkni.)

    4.  Yā  pana  bhikkhunī  samaggena  saṅghena  ukkhittaṃ  bhikkhuniṃ  dhammena  vinayena  satthusāsanena  anapaloketvā  kārakasaṅghaṃ  anaññāya  gaṇassa  chandaṃ  osāreyya,  ayampi  bhikkhunī  paṭhamāpattikaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    ­­4.  Vị tỳ khưu ni nào khi chưa xin phép hội chúng thực hiện hành sự và không quan tâm đến ước muốn của nhóm lại phục hồi cho vị tỳ khưu ni đă bị hội chúng hợp nhất phạt án treo theo Pháp theo Luật theo lời dạy của bậc Đạo Sư; vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.4, tkni.)

    5.  Yā  pana  bhikkhunī  avassutā  avassutassa  purisapuggalassa  hatthato  khādanīyaṃ  vā  bhojanīyaṃ  vā  sahatthā  paṭiggahetvā  khādeyya  vā  bhuñjeyya  vā,  ayampi  bhikkhunī  paṭhamāpattikaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    5.  Vị tỳ khưu ni nào nhiễm dục vọng tự tay thọ nhận vật thực loại cứng hoặc loại mềm từ tay của người nam nhiễm dục vọng rồi nhai hoặc ăn; vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.5, tkni.)

    6.  Yā  pana  bhikkhunī  evaṃ  vadeyya  kiṃ  te  ayye  eso  purisapuggalo  karissati  avassuto  vā  anavassuto  vā  yato  tvaṃ  anavassutā  iṅgha  ayye  yaṃ  te  eso  purisapuggalo  deti  khādanīyaṃ  vā  bhojanīyaṃ  vā  taṃ  tvaṃ  sahatthā  paṭiggahetvā  khāda  vā  bhuñja  vāti,  ayampi  bhikkhunī  paṭhamāpattikaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    6.  Vị tỳ khưu ni nào nói như vầy: “Này ni sư, cá nhân người đàn ông ấy nhiễm dục vọng hay không nhiễm dục vọng th́ sẽ làm ǵ ni sư khi ni sư không nhiễm dục vọng? Này ni sư, cá nhân người đàn ông ấy dâng vật thực loại cứng hoặc loại mềm nào đến ni sư, ni sư cứ tự tay thọ nhận vật ấy rồi nhai hoặc ăn đi;” vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.6, tkni.)

    7.  Yā  pana  bhikkhunī  sañcarittaṃ  samāpajjeyya  itthiyā  vā  purisamatiṃ  purisassa  vā  itthimatiṃ  jāyattane  vā  jārattane  vā  antamaso  taṅkhaṇikāyapi,  ayampi  bhikkhunī  paṭhamāpattikaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    7.  Vị tỳ khưu ni nào tiến hành việc mai mối ư định của người nam đến người nữ, hoặc là ư định của người nữ đến người nam trong việc trở thành vợ chồng, hoặc trong việc trở thành nhân t́nh, thậm chí chỉ là cuộc t́nh trong chốt lát, vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.5, tk.)

    8.  Yā  pana  bhikkhunī  bhikkhuniṃ  duṭṭhā  dosā  appatītā  amūlakena  pārājikena  dhammena  anuddhaṃseyya  appeva  nāma  naṃ  imamhā  brahmacariyā  cāveyyanti,  tato  aparena  samayena  samanuggāhiyamānā  vā  asa  manuggāhiyamānā  vā  amūlakañceva  taṃ  adhikaraṇaṃ  hoti  bhikkhunī  ca  dosaṃ  patiṭṭhāti,  ayampi  bhikkhunī  paṭhamāpattikaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    8.  Vị tỳ khưu ni nào xấu xa, sân hận, bất b́nh vị tỳ khưu ni (khác) rồi bôi nhọ về tội pārājika không có nguyên cớ (nghĩ rằng): “Chắc là ta có thể loại cô ấy ra khỏi Phạm hạnh này.” Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được hỏi và sự tranh tụng ấy thật sự không có nguyên cớ, và vị tỳ khưu ni (dầu có) thú nhận lỗi lầm, vị ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.8, tk.)

    9.  Yā  pana  bhikkhunī  bhikkhuniṃ  duṭṭhā  dosā  appatītā  aññabhāgiyassa  adhikaraṇassa  kiñcidesaṃ  lesamattaṃ  upādāya  pārājikena  dhammena  anuddhaṃseyya  appeva  nāma  naṃ  imamhā  brahmacariyā  cāveyyanti,  tato  aparena  samayena  samanuggāhiyamānā  vā  asamanuggāhiyamānā  vā  aññabhāgiyañceva  taṃ  adhikaraṇaṃ  hoti,  kocideso  lesamatto  upādinno  bhikkhunī  ca  dosaṃ  patiṭṭhāti,  ayampi  bhikkhunī  paṭhamāpattikaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    9.  Vị tỳ khưu ni nào xấu xa, sân hận, bất b́nh vị tỳ khưu ni (khác) rồi nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt và bôi nhọ về tội pārājika (nghĩ rằng): “Chắc là ta có thể loại cô ấy ra khỏi Phạm hạnh này.” Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được hỏi, và cuộc tranh tụng ấy là có quan hệ khác biệt hẳn, sự kiện nhỏ nhặt nào đó đă được nắm lấy, và vị tỳ khưu ni (dầu có) thú nhận lỗi lầm; vị ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.9, tk.)

    10.  Yā  pana  bhikkhunī  kupitā  anattamanā  evaṃ  vadeyya  buddhaṃ  paccācikkhāmi  dhammaṃ  paccācikkhāmi  saṅghaṃ  paccācikkhāmi  sikkhaṃ  paccācikkhāmi  kinnumāva  samaṇiyo  yā  samaṇiyo  sakyadhītaro  santaññāpi  samaṇiyo  lajjiniyo  kukkuccikā  sikkhākāmā  tāsāhaṃ  santike  brahmacariyaṃ  carissāmīti.  Sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  evamassa  vacanīyā  māyye  kupitā  anattamanā  evaṃ  avaca  buddhaṃ  paccācikkhāmi  dhammaṃ  paccācikkhāmi  saṅghaṃ  paccācikkhāmi  sikkhaṃ  paccācikkhāmi  kinnumāva  samaṇiyo  yā  samaṇiyo  sakyadhītaro  santaññāpi  samaṇiyo  lajjiniyo  kukkuccikā  sikkhākāmā  tāsāhaṃ  santike  brahmacariyaṃ  carissāmīti  abhiramāyye  svākkhāto  dhammo  cara  brahmacariyaṃ  sammā  dukkhassa  antakiriyāyāti.  Evañca  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  vuccamānā  tatheva  paggaṇheyya  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  yāvatatiyaṃ  samanubhāsitabbā  tassa  paṭinissaggāya,  yāvatatiyañce  samanubhāsiyamānā  taṃ  paṭinissajjeyya  iccetaṃ  kusalaṃ  no  ce  paṭinissajjeyya,  ayampi  bhikkhunī  yāvatatiyakaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    10.  Vị tỳ khưu ni nào nổi giận, bất b́nh rồi nói như vầy: “Tôi ĺa bỏ đức Phật, tôi ĺa bỏ đức Pháp, tôi ĺa bỏ hội chúng, tôi ĺa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn Thích nữ này là các nữ sa-môn hạng ǵ? Cũng có những nữ sa-môn khác thanh tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, tôi sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện diện của các nữ sa-môn ấy.” Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: “Này ni sư, khi nổi giận, bất b́nh chớ nói như vầy: ‘Tôi ĺa bỏ đức Phật, tôi ĺa bỏ đức Pháp, tôi ĺa bỏ hội chúng, tôi ĺa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn Thích nữ này là các nữ sa-môn hạng ǵ? Cũng có những nữ sa-môn khác thanh tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, tôi sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện diện của các nữ sa-môn ấy.’ Này ni sư, hăy hoan hỷ, Pháp đă được khéo thuyết giảng, hăy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ, vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.7, tkni.)

    11.  Yā  pana  bhikkhunī  kismiñcideva  adhikaraṇe  paccākatā  kupitā  anattamanā  evaṃ  vadeyya  chandagāminiyo  ca  bhikkhuniyo  dosagāminiyo  ca  bhikkhuniyo  mohagāminiyo  ca  bhikkhuniyo  bhayagāminiyo  ca  bhikkhuniyoti,  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  evamassa  vacanīyā  māyye  kismiñcideva  adhikaraṇe  paccākatā  kupitā  anattamanā  evaṃ  avaca  chandagāminiyo  ca  bhikkhuniyo  dosagāminiyo  ca  bhikkhuniyo  mohagāminiyo  ca  bhikkhuniyo  bhayagāminiyo  ca  bhikkhuniyoti,  ayyā  kho  chandāpi  gaccheyya  dosāpi  gaccheyya  mohāpi  gaccheyya  bhayāpi  gaccheyyāti.  Evañca  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  vuccamānā  tatheva  paggaṇheyya  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  yāvatatiyaṃ  samanubhāsitabbā  tassa  paṭinissaggāya,  yāvatatiyañce  samanubhāsiyamānā  taṃ  paṭinissajjeyya  iccetaṃ  kusalaṃ  no  ce  paṭinissajjeyya,  ayampi  bhikkhunī  yāvatatiyakaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    11.  Vị tỳ khưu ni nào bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào đó nên nổi giận, bất b́nh rồi nói như vầy: “Các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ thương, các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ ghét, các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ si mê, các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ sợ hăi.” Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: “Này ni sư, khi bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào đó rồi nổi giận, bất b́nh chớ nên nói như vầy: ‘Các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ thương, các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ ghét, các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ si mê, các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ sợ hăi.’ Chính ni sư mới thiên vị v́ thương, mới thiên vị v́ ghét, mới thiên vị v́ si mê, mới thiên vị v́ sợ hăi.” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ, vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.8, tkni.)

    12.  Bhikkhuniyo  paneva  saṃsaṭṭhā  viharanti  pāpācārā  pāpasaddā  pāpasilokā  bhikkhunisaṅghassa  vihesikā  aññamaññissā  vajjappaṭicchādikā,  tā  bhikkhuniyo  bhikkhunīhi  evamassu  vacanīyā  bhaginiyo  kho  saṃsaṭṭhā  viharanti  pāpācārā  pāpasaddā  pāpasilokā  bhikkhunisaṅghassa  vihesikā  aññamaññissā  vajjappaṭicchādikā  viviccathāyye  vivekaññeva  bhaginīnaṃ  saṅgho  vaṇṇetīti.  Evañca  tā  bhikkhuniyo  bhikkhunīhi  vuccamānā  tatheva  paggaṇheyyuṃ,  tā  bhikkhuniyo  bhikkhunīhi  yāvatatiyaṃ  samanubhāsitabbā  tassa  paṭinissaggāya,  yāvatatiyañce  samanubhāsiyamānā  taṃ  paṭinissajjeyyuṃ  iccetaṃ  kusalaṃ  no  ce  paṭinissajjeyyuṃ,  imāpi  bhikkhuniyo  yāvatatiyakaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    12.  Hơn nữa, các tỳ khưu ni sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Các tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: “Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Này các ni sư, hăy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà các tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, các tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ các vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.9, tkni.)

    13.  Yā  pana  bhikkhunī  evaṃ  vadeyya  saṃsaṭṭhāva  ayye  tumhe  viharatha  mā  tumhe  nānā  viharittha  santi  saṅghe  aññāpi  bhikkhuniyo  evācārā  evaṃsaddā  evaṃsilokā  bhikkhunisaṅghassa  vihesikā  aññamaññissā  vajjappaṭicchādikā  tā  saṅgho  na  kiñci  āha  tumhaññeva  saṅgho  uññāya  paribhavena  akkhantiyā  vebhassiyā  dubbalyā  evamāha  bhaginiyo  kho  saṃsaṭṭhā  viharanti  pāpācārā  pāpasaddā  pāpasilokā  bhikkhunisaṅghassa  vihesikā  aññamaññissā  vajjappaṭicchādikā  viviccathāyye  vivekaññeva  bhaginīnaṃ  saṅgho  vaṇṇetīti.  Sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  evamassa  vacanīyā  māyye  evaṃ  avaca  saṃsaṭṭhāva  ayye  tumhe  viharatha  mā  tumhe  nānā  viharittha  santi  saṅghe  aññāpi  bhikkhuniyo  evācārā  evaṃsaddā  evaṃsilokā  bhikkhunisaṅghassa  vihesikā  aññamaññissā  vajjappaṭicchādikā  tā  saṅgho  na  kiñci  āha  tumhaññeva  saṅgho  uññāya  paribhavena  akkhantiyā  vebhassiyā  dubbalyā  evamāha  bhaginiyo  kho  saṃsaṭṭhā  viharanti  pāpācārā  pāpasaddā  pāpasilokā  bhikkhunisaṅghassa  vihesikā  aññamaññissā  vajjappaṭicchādikā  viviccathāyye  vivekaññeva  bhaginīnaṃ  saṅgho  vaṇṇetīti.  Evañca  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  vuccamānā  tatheva  paggaṇheyya  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  yāvatatiyaṃ  samanubhāsitabbā  tassa  paṭinissaggāya,  yāvatatiyañce  samanubhāsiyamānā  taṃ  paṭinissajjeyya  iccetaṃ  kusalaṃ  no  ce  paṭinissajjeyya,  ayampi  bhikkhunī  yāvatatiyakaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    13.  Vị tỳ khưu ni nào nói như vầy: “Này các ni sư, các vị hăy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, có sự nuôi mạng như vậy, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau; hội chúng đă không nói các cô ấy bất cứ điều ǵ. Nhưng với chính các cô, hội chúng đă nói với sự không tôn trọng, với sự xem thường, không ḷng nhẫn nại, theo lối nói tầm phào, có tính chất yếu nhược như vầy: ‘Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Này các ni sư, hăy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.’” Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: “Này ni sư, chớ nói như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hăy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, có sự nuôi mạng như vậy, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau; hội chúng đă không nói các cô ấy bất cứ điều ǵ. Nhưng với chính các cô, hội chúng đă nói với sự không tôn trọng, với sự xem thường, không ḷng nhẫn nại, theo lối nói tầm phào, có tính chất yếu nhược như vầy: Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Này các ni sư, hăy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.’” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.10, tkni.)

    14.  Yā  pana  bhikkhunī  samaggassa  saṅghassa  bhedāya  parakkameyya  bhedanasaṃvattanikaṃ  vā  adhikaraṇaṃ  samādāya  paggayha  tiṭṭheyya,  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  evamassa  vacanīyā  māyyā  samaggassa  saṅghassa  bhedāya  parakkami  bhedanasaṃvattanikaṃ  vā  adhikaraṇaṃ  samādāya  paggayha  aṭṭhāsi,  sametāyyā  saṅghena  samaggo  hi  saṅgho  sammodamāno  avivadamāno  ekuddeso  phāsu  viharatīti.  Evañca  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  vuccamānā  tatheva  paggaṇheyya,  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  yāvatatiyaṃ  samanubhāsitabbā  tassa  paṭinissaggāya,  yāvatatiyañce  samanubhāsiyamānā  taṃ  paṭinissajjeyya  iccetaṃ  kusalaṃ.  No  ce  paṭinissajjeyya,  ayampi  bhikkhunī  yāvatatiyakaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ.

    14.  Vị tỳ khưu ni nào ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như vầy: “Ni sư chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Ni sư hăy ḥa nhập cùng hội chúng v́ hội chúng hợp nhất, thân thiện, không căi cọ, chung một nguyên tắc th́ sống được an lạc.” Và khi được các tỳ khưu ni nói như vậy mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, th́ vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.10, tk.)

    15.  Tassāyeva  kho  pana  bhikkhuniyā  bhikkhuniyo  honti  anuvattikā  vaggavādikā  ekā  vā  dve  vā  tisso  vā  tā  evaṃ  vadeyyuṃ  māyyāyo  etaṃ  bhikkhuniṃ  kiñci  avacuttha  dhammavādinī  cesā  bhikkhunī  vinayavādinī  cesā  bhikkhunī  amhākañcesā  bhikkhunī  chandañca  ruciñca  ādāya  voharati  jānāti  no  bhāsati  amhākampetaṃ  khamatīti.  Tā  bhikkhuniyo  bhikkhunīhi  evamassu  vacanīyā  māyyāyo  evaṃ  avacuttha  na  cesā  bhikkhunī  dhammavādinī  na  cesā  bhikkhunī  vinayavādinī  māyyānampi  saṅghabhedo  ruccittha  sametāyyānaṃ  saṅghena  samaggo  hi  saṅgho  sammodamāno  avivadamāno  ekuddeso  phāsu  viharatīti.  Evañca  tā  bhikkhuniyo  bhikkhunīhi  vuccamānā  tatheva  paggaṇheyyuṃ  tā  bhikkhuniyo  bhikkhunīhi  yāvatatiyaṃ  samanubhāsitabbā  tassa  paṭinissaggāya,  yāvatatiyañce  samanubhāsiyamānā  taṃ  paṭinissajjeyyuṃ  iccetaṃ  kusalaṃ  no  ce  paṭinissajjeyyuṃ,  imāpi  bhikkhuniyo  yāvatatiyakaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    15.  Các tỳ khưu ni là những kẻ ủng hộ của chính vị tỳ khưu ni ấy tức là những kẻ tuyên bố ly khai dầu là một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị, và các vị ni ấy nói như vầy: “Các ni sư chớ có nói bất cứ điều ǵ về vị tỳ khưu ni này. Vị tỳ khưu ni này là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu ni này là người nói đúng Luật. Vị tỳ khưu ni này nắm được rồi phát biểu về ước muốn và điều thích ư của chúng tôi, vị ni ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ư chúng tôi.” Các vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như vầy: “Các ni sư chớ có nói như thế. Vị tỳ khưu ni này không phải là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu ni này không phải là người nói đúng Luật. Các ni sư chớ có thích ư về việc chia rẽ hội chúng. Các ni sư hăy ḥa nhập cùng hội chúng v́ hội chúng hợp nhất, thân thiện, không căi cọ, chung một nguyên tắc, th́ sống được an lạc.” Và khi được các tỳ khưu ni nói như vậy mà các vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, th́ các vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.11, tk.)

    16.  Bhikkhunī  paneva  dubbacajātikā  hoti  uddesapariyāpannesu  sikkhāpadesu  bhikkhunīhi  sahadhammikaṃ  vuccamānā  attānaṃ  avacanīyaṃ  karoti  mā  maṃ  ayyāyo  kiñci  avacuttha  kalyāṇaṃ  vā  pāpakaṃ  vā  ahampāyyāyo  na  kiñci  vakkhāmi  kalyāṇaṃ  vā  pāpakaṃ  vā  viramathāyyāyo  mama  vacanāyāti.  Sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  evamassa  vacanīyā  māyyā  attānaṃ  avacanīyaṃ  akāsi,  vacanīyameva  ayyā  attānaṃ  karotu,  ayyāpi  bhikkhuniyo  vadatu  sahadhammena  bhikkhuniyopi  ayyaṃ  vakkhanti  sahadhammena,  evaṃ  saṃvaddhā  hi  tassa  bhagavato  parisā  yadidaṃ  aññamaññavacanena  aññamaññavuṭṭhāpanenāti.  Evañca  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  vuccamānā  tatheva  paggaṇheyya  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  yāvatatiyaṃ  samanubhāsitabbā  tassa  paṭinissaggāya,  yāvatatiyañce  samanubhāsiyamānā  taṃ  paṭinissajjeyya  iccetaṃ  kusalaṃ  no  ce  paṭinissajjeyya,  ayampi  bhikkhunī  yāvatatiyakaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    16.  Ngay cả vị tỳ khưu ni có bản tánh khó dạy, trong khi được dạy bảo bởi các tỳ khưu ni về các điều học thuộc về giới bổn lại tỏ ra ương ngạnh: “Các ni sư chớ có nói bất cứ điều ǵ đến tôi dầu là tốt hay là xấu; tôi cũng sẽ không nói bất cứ điều ǵ đến các ni sư dầu là tốt hay là xấu. Các ni sư hăy kềm chế lại việc đề cập đến tôi.” Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như vầy: “Ni sư chớ tỏ ra ương ngạnh, ni sư hăy tỏ ra là người dễ dạy. Ni sư hăy dạy bảo các tỳ khưu ni đúng theo Pháp, các tỳ khưu ni cũng sẽ dạy bảo ni sư đúng theo Pháp; bởi v́ như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, th́ vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.12, tk.)

    17.  Bhikkhunī  paneva  aññataraṃ  gāmaṃ  vā  nigamaṃ  vā  upanissāya  viharati  kuladūsikā  pāpasamācārā  tassā  kho  pāpakā  samācārā  dissanti  ceva  suyyanti  ca  kulāni  ca  tāya  duṭṭhāni  dissanti  ceva  suyyanti  ca.  Sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  evamassa  vacanīyā  ayyā  kho  kuladūsikā  pāpasamācārā  ayyāya  kho  pāpakā  samācārā  dissanti  ceva  suyyanti  ca  kulāni  cāyyāya  duṭṭhāni  dissanti  ceva  suyyanti  ca,  pakkamatāyyā  imamhā  āvāsā  alaṃ  te  idha  vāsenāti.  Evañca  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  vuccamānā  tā  bhikkhuniyo  evaṃ  vadeyya  chandagāminiyo  ca  bhikkhuniyo  dosagāminiyo  ca  bhikkhuniyo  mohagāminiyo  ca  bhikkhuniyo  bhayagāminiyo  ca  bhikkhuniyo,  tādisikāya  āpattiyā  ekaccaṃ  pabbājenti  ekaccaṃ  na  pabbājentīti.  Sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  evamassa  vacanīyā  māyyā  evaṃ  avaca  na  ca  bhikkhuniyo  chandagāminiyo  na  ca  bhikkhuniyo  dosagāminiyo  na  ca  bhikkhuniyo  mohagāminiyo  na  ca  bhikkhuniyo  bhayagāminiyo,  ayyā  kho  kuladūsikā  pāpasamācārā  ayyāya  kho  pāpakā  samācārā  dissanti  ceva  suyyanti  ca  kulāni  cāyyāya  duṭṭhāni  dissanti  ceva  suyyanti  ca  pakkamatāyyā  imamhā  āvāsā  alaṃ  te  idha  vāsenāti.  Evañca  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  vuccamānā  tatheva  paggaṇheyya  sā  bhikkhunī  bhikkhunīhi  yāvatatiyaṃ  samanubhāsitabbā  tassa  paṭinissaggāya,  yāvatatiyañce  samanubhāsiyamānā  taṃ  paṭinissajjeyya  iccetaṃ  kusalaṃ  no  ce  paṭinissajjeyya,  ayampi  bhikkhunī  yāvatatiyakaṃ  dhammaṃ  āpannā  nissāraṇīyaṃ  saṅghādisesaṃ. 

    17.  Vị tỳ khưu ni sống nương tựa vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ là kẻ làm hư hỏng các gia đ́nh và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của vị ni ấy không những được nh́n thấy mà c̣n được nghe đồn nữa. Các gia đ́nh bị hư hỏng v́ vị ni ấy không những được nh́n thấy mà c̣n được nghe đồn nữa. Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như vầy: “Chính ni sư là kẻ làm hư hỏng các gia đ́nh và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của ni sư không những được nh́n thấy mà c̣n được nghe đồn nữa. Các gia đ́nh bị hư hỏng v́ ni sư không những được nh́n thấy mà c̣n được nghe đồn nữa. Ni sư hăy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với ni sư đă đủ rồi!” Và khi được nói như thế bởi các tỳ khưu ni, vị tỳ khưu ni ấy lại nói với các tỳ khưu ni ấy như vầy: “Các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ thương, các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ ghét, các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ si mê, các tỳ khưu ni có sự thiên vị v́ sợ hăi, cùng với tội như nhau họ lại xua đuổi vị ni này, họ lại không xua đuổi vị ni kia.” Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như vầy: “Ni sư chớ có nói như thế. Các tỳ khưu ni không có sự thiên vị v́ thương, các tỳ khưu ni không có sự thiên vị v́ ghét, các tỳ khưu ni không có sự thiên vị v́ si mê, các tỳ khưu ni không có sự thiên vị v́ sợ hăi. Chính ni sư là kẻ làm hư hỏng các gia đ́nh và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của ni sư không những được nh́n thấy mà c̣n được nghe đồn nữa. Các gia đ́nh bị hư hỏng v́ ni sư không những được nh́n thấy mà c̣n được nghe đồn nữa. Ni sư hăy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với ni sư đă đủ rồi!” Và khi được các tỳ khưu ni nói như vậy mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, th́ vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.13, tk.)

    Uddiṭṭhā  kho  ayyāyo  sattarasa  saṅghādisesā  dhammā  nava  paṭhamāpattikā  aṭṭha  yāvatatiyakā,  Yesaṃ  bhikkhunī  aññataraṃ  vā  aññataraṃ  vā  āpajjati  tāya  bhikkhuniyā  ubhatosaṅghe  pakkhamānattaṃ  caritabbaṃ.  Ciṇṇamānattā  bhikkhunī  yattha  siyā  vīsatigaṇo  bhikkhunisaṅgho  tattha  sā  bhikkhunī  abbhetabbā.  Ekāyapi  ce  ūno  vīsatigaṇo  bhikkhunisaṅgho  taṃ  bhikkhuniṃ  abbheyya,  sā  ca  bhikkhunī  anabbhitā  tā  ca  bhikkhuniyo  gārayhā  ayaṃ  tattha  sāmīci.  Tatthāyyāyo  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  dutiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  tatiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā.  Parisuddhetthāyyāyo  tasmā  tuṇhī  evametaṃ  dhārayāmīti.

    Bạch chư đại đức ni, mười bảy điều saṅghādisesa (tăng tàng) đă được đọc tụng xong, chín điều bị phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, tám điều (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu ni vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này th́ vị tỳ khưu ni ấy nên thực hành nửa tháng mānatta nơi có cả hai hội chúng. Vị tỳ khưu ni có hành phạt mānatta đă được hoàn tất th́ vị tỳ khưu ni ấy nên được giải tội tại nơi nào có hội chúng tỳ khưu ni nhóm hai mươi vị. Nếu hội chúng tỳ khưu ni nhóm hai mươi vị chỉ thiếu đi một mà giải tội cho vị tỳ khưu ni ấy th́ vị tỳ khưu ni ấy chưa được giải tội và các tỳ khưu ni ấy bị khiển trách. Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ nh́, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

    Saṅghādisesuddeso  niṭṭhito.
    (Phần Đọc Tụng Giới Saṅghādisesa được chấm dứt).

    --ooOoo--

     

    V. NISSAGGIYE  VITTHĀRUDDESO
    (PHẦN ĐỌC TỤNG CHI TIẾT VỀ GIỚI ƯNG XẢ)

    Ime  kho  panāyyāyo  tiṃsa  nissaggiyā  pācittiyā  dhammā  uddesaṃ  āgacchanti.

    Bạch chư đại đức ni, ba mươi điều nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) này được đưa ra đọc tụng.

    1.  Yā  pana  bhikkhunī  pattasannicayaṃ  kareyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ.

    1.  Vị tỳ khưu ni nào thực hiện việc tích trữ b́nh bát th́ (b́nh bát ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.1, tkni.)[5]

    2.  Yā  pana  bhikkhunī  akālacīvaraṃ  kālacīvaranti  adhiṭṭhahitvā  bhājāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    2.  Vị tỳ khưu ni nào xác định y ngoài hạn kỳ là: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.2, tkni.)

    3.  Yā  pana  bhikkhunī  bhikkhuniyā  saddhiṃ  cīvaraṃ  parivattetvā  sā  pacchā  evaṃ  vadeyya  handāyye  tuyhaṃ  cīvaraṃ  āhara  metaṃ  cīvaraṃ  yaṃ  tuyhaṃ  tuyhamevetaṃ  yaṃ  mayhaṃ  mayhamevetaṃ  āhara  metaṃ  cīvaraṃ  sakaṃ  paccāharāti  acchindeyya  vā  acchindāpeyya  vā  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    3.  Vị tỳ khưu ni nào khi đă trao đổi y với tỳ khưu ni sau đó lại nói như vầy: “Này ni sư, hăy nhận lấy y của cô. Y này là của tôi. Y nào của cô là của chính cô, y nào của tôi là của chính tôi. Hăy đưa đây, y này là của tôi. Hăy mang đi y của ḿnh” rồi giật lại hoặc bảo giật lại th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.3, tkni.)

    4.  Yā  pana  bhikkhunī  aññaṃ  viññāpetvā  aññaṃ  viññāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    4.  Vị tỳ khưu ni nào sau khi yêu cầu vật khác lại yêu cầu vật khác nữa th́ (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.4, tkni.)

    5.  Yā  pana  bhikkhunī  aññaṃ  cetāpetvā  aññaṃ  cetāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    5.  Vị tỳ khưu ni nào sau khi bảo sắm vật khác lại bảo sắm vật khác nữa th́ (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.5, tkni.)

    6.  Yā  pana  bhikkhunī  aññadatthikena  parikkhārena  aññuddisikena  saṅghikena  aññaṃ  cetāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    6.  Vị tỳ khưu ni nào bảo sắm vật khác nữa bằng phần tài vật thuộc về hội chúng đă được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác th́ (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.6, tkni.)

    7.  Yā  pana  bhikkhunī  aññadatthikena  parikkhārena  aññuddisikena  saṅghikena  saññācikena  aññaṃ  cetāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    7.  Vị tỳ khưu ni nào bảo sắm vật khác nữa do tự ḿnh yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về hội chúng đă được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác th́ (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.7, tkni.)

    8.  Yā  pana  bhikkhunī  aññadatthikena  parikkhārena  aññuddisikena  mahājanikena  aññaṃ  cetāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    8.  Vị tỳ khưu ni nào bảo sắm vật khác nữa bằng phần tài vật thuộc về nhóm đă được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác th́ (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.8, tkni.)

    9.  Yā  pana  bhikkhunī  aññadatthikena  parikkhārena  aññuddisikena  mahājanikena  saññācikena  aññaṃ  cetāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    9.  Vị tỳ khưu ni nào bảo sắm vật khác nữa do tự ḿnh yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về nhóm đă được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác th́ (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.9, tkni.)

    10.  Yā  pana  bhikkhunī  aññadatthikena  parikkhārena  aññuddisikena  puggalikena  saññācikena  aññaṃ  cetāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    10.  Vị tỳ khưu ni nào bảo sắm vật khác nữa do tự ḿnh yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về cá nhân đă được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác th́ (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.10, tkni.)

    Pattavaggo  paṭhamo.
    (Phần B́nh Bát là phần thứ nhất).

    11.  Garupāvuraṇaṃ  pana  bhikkhuniyā  cetāpentiyā  catukkaṃsaparamaṃ  cetāpetabbaṃ.  Tato  ce  uttari  cetāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    11.  Vị tỳ khưu ni, trong khi bảo sắm tấm choàng loại dày, nên bảo sắm tối đa là bốn kaṃsa. Nếu bảo sắm vượt quá trị giá ấy th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.1-yphục, tkni.)[6]

    12.  Lahupāvuraṇaṃ  pana  bhikkhuniyā  cetāpentiyā  aḍḍhateyyakaṃsaparamaṃ  cetāpetabbaṃ.  Tato  ce  uttari  cetāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    12.  Vị tỳ khưu ni, trong khi bảo sắm tấm choàng loại nhẹ, nên bảo sắm tối đa là hai kaṃsa rưỡi. Nếu bảo sắm vượt quá trị giá ấy th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.2-yphục, tkni.)

    13.  Niṭṭhitacīvarasmiṃ  bhikkhuniyā  ubbhatasmiṃ  kathine  dasāhaparamaṃ  atirekacīvaraṃ  dhāretabbaṃ.  Taṃ  atikkāmentiyā  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    13.  Khi vấn đề y đă được dứt điểm đối với vị tỳ khưu ni tức là khi Kaṭhina đă hết hiệu lực, y phụ trội được cất giữ tối đa mười ngày. Vượt quá hạn ấy th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” (ưxđt.1-y, tk.)

    14.  Niṭṭhitacīvarasmiṃ  bhikkhuniyā  ubbhatasmiṃ  kathine  ekarattampi  ce  bhikkhunī  pañcahi  cīvarehi  vippavaseyya  aññatra  bhikkhunisammutiyā  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    14.  Khi vấn đề y đă được dứt điểm đối với vị tỳ khưu ni tức là khi Kaṭhina đă hết hiệu lực, nếu vị tỳ khưu ni xa ĺa năm y dầu chỉ một đêm th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị), ngoại trừ có sự đồng ư của các tỳ khưu ni. (ưxđt.2-y, tk.)

    15.  Niṭṭhitacīvarasmiṃ  bhikkhuniyā  ubbhatasmiṃ  kathine  bhikkhuniyā  paneva  akālacīvaraṃ  uppajjeyya  ākaṅkhamānāya  bhikkhuniyā  paṭiggahetabbaṃ,  paṭiggahetvā  khippameva  kāretabbaṃ  no  cassa  pāripūri  māsaparamaṃ  tāya  bhikkhuniyā  taṃ  cīvaraṃ  nikkhipitabbaṃ  ūnassa  pāripūriyā  satiyā  paccāsāya.  Tato  ce  uttari  nikkhipeyya  satiyāpi  paccāsāya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    15.  Khi vấn đề y đă được dứt điểm đối với vị tỳ khưu ni tức là khi Kaṭhina đă hết hiệu lực, lại có y ngoài hạn kỳ phát sanh đến vị tỳ khưu ni, vị tỳ khưu ni đang mong muốn th́ nên thọ lănh. Sau khi thọ lănh nên bảo thực hiện ngay lập tức, và nếu không đủ th́ vị tỳ khưu ni ấy nên giữ lại y ấy tối đa một tháng khi có sự mong mỏi làm cho đủ phần thiếu hụt; nếu giữ lại quá hạn ấy mặc dầu có sự mong mỏi, (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.3-y, tk.)

    16.  Yā  pana  bhikkhunī  aññātakaṃ  gahapatiṃ  vā  gahapatāniṃ  vā  cīvaraṃ  viññāpeyya  aññatra  samayā  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ.  Tatthāyaṃ  samayo  acchinnacīvarā  vā  hoti  bhikkhunī  naṭṭhacīvarā  vā  ayaṃ  tattha  samayo. 

    16.  Vị tỳ khưu ni nào yêu cầu nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến về y th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp này là vị tỳ khưu ni có y bị cướp đoạt hoặc là có y bị hư hỏng. Đây là duyên cớ trong trường hợp này. (ưxđt.6-y, tk.)

    17.  Tañce  aññātako  gahapati  vā  gahapatānī  vā  bahūhi  cīvarehi  abhihaṭṭhuṃ  pavāreyya  santaruttaraparamaṃ  tāya  bhikkhuniyā  tato  cīvaraṃ  sāditabbaṃ.  Tato  ce  uttari  sādiyeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ.

    17.  Nếu có nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến thỉnh cầu vị ni ấy để đem lại với nhiều y, vị tỳ khưu ni ấy nên chấp nhận y trong số ấy với mức tối đa là y nội và thượng y, nếu chấp nhận vượt quá số ấy th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.7-y, tk.)

    18.  Bhikkhuniṃ  paneva  uddissa  aññātakassa  gahapatissa  vā  gahapatāniyā  vā  cīvaracetāpanaṃ  upakkhaṭaṃ  hoti  iminā  cīvaracetāpanena  cīvaraṃ  cetāpetvā  itthannāmaṃ  bhikkhuniṃ  cīvarena  acchādessāmīti.  Tatra  cesā  bhikkhunī  pubbe  appavāritā  upasaṅkamitvā  cīvare  vikappaṃ  āpajjeyya  sādhu  vata  maṃ  āyasmā  iminā  cīvaracetāpanena  evarūpaṃ  vā  evarūpaṃ  vā  cīvaraṃ  cetāpetvā  acchādehīti  kalyāṇakamyataṃ  upādāya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    18.  Trường hợp có số tiền mua y của nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến đă được chuẩn bị dành riêng cho vị tỳ khưu ni: “Với số tiền mua y này sau khi mua y tôi sẽ dâng y đến vị tỳ khưu ni tên (như vầy).” Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ni ấy khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến và đưa ra sự căn dặn về y: “Quả thật là tốt, với số tiền mua y này ông hăy mua y có h́nh thức như vầy và như vầy rồi dâng cho tôi;” v́ sự mong muốn y tốt đẹp, (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.8-y, tk.)

    19.  Bhikkhuniṃ  paneva  uddissa  ubhinnaṃ  aññātakānaṃ  gahapatīnaṃ  vā  gahapatānīnaṃ  vā  paccekacīvaracetāpanāni  upakkhaṭāni  honti  imehi  mayaṃ  paccekacīvaracetāpanehi  paccekacīvarāni  cetāpetvā  itthannāmaṃ  bhikkhuniṃ  cīvarehi  acchādessāmāti.  Tatra  cesā  bhikkhūnī  pubbe  appavāritā  upasaṅkamitvā  cīvare  vikappaṃ  āpajjeyya  sādhu  vata  maṃ  āyasmanto  imehi  paccekacīvaracetāpanehi  evarūpaṃ  vā  evarūpaṃ  vā  cīvaraṃ  cetāpetvā  acchādetha  ubhova  santā  ekenāti  kalyāṇakamyataṃ  upādāya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ.

    19.  Trường hợp có các số tiền mua y khác nhau của hai nam gia chủ hoặc (của hai) nữ gia chủ không phải là các thân quyến đă được chuẩn bị dành riêng cho vị tỳ khưu ni: “Với các số tiền mua y khác nhau này sau khi mua các y khác nhau chúng tôi sẽ dâng các y đến vị tỳ khưu ni tên (như vầy).” Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ni ấy khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến và đưa ra sự căn dặn về y: “Quả thật là tốt, với các số tiền mua y này quư ông cả hai nhập thành một rồi hăy mua y có h́nh thức như vầy và như vầy rồi hăy dâng cho tôi;” v́ sự mong muốn y tốt đẹp, (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.9-y, tk.)

    20.  Bhikkhuniṃ  paneva  uddissa  rājā  vā  rājabhoggo  vā  brāhmaṇo  vā  gahapatiko  vā  dūtena  cīvaracetāpanaṃ  pahiṇeyya  iminā  cīvaracetāpanena  cīvaraṃ  cetāpetvā  itthannāmaṃ  bhikkhuniṃ  cīvarena  acchādehīti.  So  ce  dūto  taṃ  bhikkhuniṃ  upasaṅkamitvā  evaṃ  vadeyya  idaṃ  kho  ayye  ayyaṃ  uddissa  cīvaracetāpanaṃ  ābhataṃ  paṭiggaṇhātāyyā  cīvaracetāpananti.  Tāya  bhikkhuniyā  so  dūto  evamassa  vacanīyo  na  kho  mayaṃ  āvuso  cīvaracetāpanaṃ  paṭiggaṇhāma  cīvarañca  kho  mayaṃ  paṭiggaṇhāma  kālena  kappiyanti.  So  ce  dūto  taṃ  bhikkhuniṃ  evaṃ  vadeyya  atthi  panāyyāya  koci  veyyāvaccakaroti.  Cīvaratthikāya  bhikkhave  bhikkhuniyā  veyyāvaccakaro  niddisitabbo  ārāmiko  vā  upāsako  vā  eso  kho  āvuso  bhikkhunīnaṃ  veyyāvaccakaroti.  So  ce  dūto  taṃ  veyyāvaccakaraṃ  saññāpetvā  taṃ  bhikkhuniṃ  upasaṅkamitvā  evaṃ  vadeyya  yaṃ  kho  ayye  ayyā  veyyāvaccakaraṃ  niddisi  saññatto  so  mayā  upasaṅkamatāyyā  kālena  cīvarena  taṃ  acchādessatīti.  Cīvaratthikāya  bhikkhave  bhikkhuniyā  veyyāvaccakaro  upasaṅkamitvā  dvattikkhattuṃ  codetabbo  sāretabbo  attho  me  āvuso  cīvarenāti  dvattikkhattuṃ  codayamānā  sārayamānā  taṃ  cīvaraṃ  abhinipphādeyya  iccetaṃ  kusalaṃ,  no  ce  abhinipphādeyya  catukkhattuṃ  pañcakkhattuṃ  chakkhattuparamaṃ  tuṇhībhūtāya  uddissa  ṭhātabbaṃ  catukkhattuṃ  pañcakkhattuṃ  chakkhattuparamaṃ  tuṇhībhūtā  uddissa  tiṭṭhamānā  taṃ  cīvaraṃ  abhinipphādeyya  iccetaṃ  kusalaṃ.  Tato  ce  uttari  vāyamamānā  taṃ  cīvaraṃ  abhinipphādeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ.  No  ce  abhinipphādeyya  yatassā  cīvaracetāpanaṃ  ābhataṃ,  tattha  sāmaṃ  vā  gantabbaṃ  dūto  vā  pāhetabbo  yaṃ  kho  tumhe  āyasmanto  bhikkhuniṃ  uddissa  cīvaracetāpanaṃ  pahiṇittha  na  taṃ  tassā  bhikkhuniyā  kiñci  atthaṃ  anubhoti  yuñjantāyasmantosakaṃ  mā  vo  sakaṃ  vinassāti  ayaṃ  tattha  sāmīci. 

    20.  Trường hợp đức vua, hoặc quan triều đ́nh, hoặc bà-la-môn, hoặc gia chủ phái sứ giả đem số tiền mua y dành riêng cho vị tỳ khưu ni (nói rằng): “Hăy mua y với số tiền mua y này rồi hăy dâng đến vị tỳ khưu ni tên (như vầy).” Nếu người sứ giả ấy đi đến gặp vị tỳ khưu ni ấy và nói như vầy: “Thưa ni sư, số tiền mua y này được dành riêng cho ni sư đă được mang lại. Xin ni sư hăy nhận lănh tiền mua y.” Người sứ giả ấy nên được vị tỳ khưu ni ấy nói như vầy: “Này đạo hữu, chúng tôi không nhận lănh tiền mua y và chúng tôi chỉ nhận lănh y đúng phép vào lúc hợp thời.” Nếu người sứ giả ấy nói với vị tỳ khưu ni ấy như vầy: “Vậy có ai là người phục vụ cho ni sư không?” Này các tỳ khưu ni, vị tỳ khưu ni có sự cần dùng y nên chỉ ra người phục vụ là người phụ việc chùa hoặc là nam cư sĩ: “Này đạo hữu, đây chính là người phục vụ cho các tỳ khưu ni.” Nếu người sứ giả ấy sau khi đă dặn ḍ người phục vụ ấy rồi đă đi đến gặp vị tỳ khưu ni ấy nói như vầy: “Thưa ni sư, người phục vụ mà ni sư đă chỉ ra đă được tôi dặn ḍ. Ni sư hăy đi đến lúc đúng thời, người ấy sẽ dâng y cho ni sư.” Này các tỳ khưu ni, vị tỳ khưu ni có sự cần dùng y sau khi đi đến gặp người phục vụ ấy rồi nên thông báo nên nhắc nhở hai hoặc ba lần: “Này đạo hữu, tôi có nhu cầu về y.” Trong khi thông báo nhắc nhở hai hoặc ba lần, nếu đạt được y ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không đạt được th́ nên đứng với trạng thái im lặng bốn lần, năm lần, tối đa là sáu lần. Trong khi đứng với trạng thái im lặng bốn lần, năm lần, tối đa là sáu lần, nếu đạt được y ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không đạt được rồi ra sức vượt quá số lần ấy và đạt được y ấy th́ (y ấy) phạm vào nissaggiya và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Nếu không đạt được th́ tiền mua y đă được mang lại là của nơi nào th́ nên đích thân đi đến nơi ấy, hoặc nên phái sứ giả đi đến (nói rằng): “Này quư vị, các người đă gởi đến số tiền mua y dành riêng cho vị tỳ khưu ni nào, số tiền ấy không có được chút ǵ lợi ích cho vị tỳ khưu ni ấy. Quư vị hăy thâu hồi lại vật của ḿnh, chớ để vật của quư vị bị mất mát.” Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy. (ưxđt.10-y, tk.)

    Cīvaravaggo  dutiyo.
    (Phần Y Phục là phần thứ nh́).

    21.  Yā  pana  bhikkhunī  jātarūparajataṃ  uggaṇheyya  vā  uggaṇhāpeyya  vā  upanikkhittaṃ  vā  sādiyeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    21.  Vị tỳ khưu ni nào nhận lấy hoặc bảo nhận lấy vàng bạc hoặc ưng thuận (vàng bạc) đă được mang đến th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.8-ttằm, tk.)[7]

    22.  Yā  pana  bhikkhunī  nānappakārakaṃ  rūpiyasaṃvohāraṃ  samāpajjeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    22.  Vị tỳ khưu ni nào tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều h́nh thức th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.9-ttằm, tk.)

    23.  Yā  pana  bhikkhunī  nānappakārakaṃ  kayavikkayaṃ  samāpajjeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    23.  Vị tỳ khưu ni nào tiến hành việc mua bán dưới nhiều h́nh thức th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.10-ttằm, tk.)

    24.  Yā  pana  bhikkhunī  ūnapañcabandhanena  pattena  aññaṃ  navaṃ  pattaṃ  cetāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ.  Tāya  bhikkhuniyā  so  patto  bhikkhuniparisāya  nissajjitabbo  yo  ca  tassā  bhikkhuniparisāya  pattapariyanto  so  tassā  bhikkhuniyā  padātabbo  ayaṃ  te  bhikkhuni  patto  yāvabhedanāya  dhāretabboti  ayaṃ  tattha  sāmīci. 

    24.  Vị tỳ khưu ni nào với b́nh bát chưa đủ năm miếng vá mà kiếm thêm b́nh bát mới khác th́ (b́nh bát mới ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Vị tỳ khưu ni ấy nên xả bỏ b́nh bát ấy đến tập thể các tỳ khưu ni. Và cái nào là b́nh bát cuối cùng của tập thể các tỳ khưu ni ấy, cái ấy nên trao đến vị tỳ khưu ni ấy: “Này tỳ khưu ni, đây là b́nh bát của cô, nên giữ lấy cho đến khi bể.” Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy. (ưxđt.2-bbát, tk.)[8]

    25.  Yāni  kho  pana  tāni  gilānānaṃ  bhikkhunīnaṃ  paṭisāyanīyāni  bhesajjāni  seyyathīdaṃ  sappi  navanītaṃ  telaṃ  madhu  phāṇitaṃ,  tāni  paṭiggahetvā  sattāhaparamaṃ  sannidhikārakaṃ  paribhuñjitabbāni.  Taṃ  atikkāmentiyā  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    25.  Các loại dược phẩm nào được dùng cho các tỳ khưu ni bị bệnh như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía. Các thứ ấy sau khi thọ lănh nên được thọ dụng với sự cất giữ tối đa là bảy ngày. Vượt quá hạn ấy th́ nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.3-bbát, tk.)

    26.  Yā  pana  bhikkhunī  bhikkhuniyā  sāmaṃ  cīvaraṃ  datvā  kupitā  anattamanā  acchindeyya  vā  acchindāpeyya  vā  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    26.  Vị tỳ khưu ni nào sau khi tự ḿnh cho y đến vị tỳ khưu ni lại nổi giận, bất b́nh, rồi giật lại, hoặc bảo giật lại th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.5-bbát, tk.)

    27.  Yā  pana  bhikkhunī  sāmaṃ  suttaṃ  viññāpetvā  tantavāyehi  cīvaraṃ  vāyāpeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    27.  Vị tỳ khưu ni nào tự ḿnh yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.6-bbát, tk.)

    28.  Bhikkhuniṃ  paneva  uddissa  aññātako  gahapati  vā  gahapatānī  vā  tantavāyehi  cīvaraṃ  vāyāpeyya,  tatra  cesā  bhikkhunī  pubbe  appavāritā  tantavāye  upasaṅkamitvā  cīvare  vikappaṃ  āpajjeyya  idaṃ  kho  āvuso  cīvaraṃ  maṃ  uddissa  vīyyati  āyatañca  karotha  vitthatañca  appitañca  suvītañca  suppavāyitañca  suvilekhitañca  suvitacchitañca  karotha  appeva  nāma  mayampi  āyasmantānaṃ  kiñcimattaṃ  anupadajjeyyāmāti  evañca  sā  bhikkhunī  vatvā  kiñcimattaṃ  anupadajjeyya  antamaso  piṇḍapātamattampi  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    28.  Trường hợp có nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến bảo các thợ dệt dệt thành y dành riêng cho vị tỳ khưu ni. Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ni ấy khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các thợ dệt và đưa ra sự căn dặn về y: “Này đạo hữu, y này được dệt dành riêng cho tôi. Hăy làm (y ấy) dài, rộng, chắc chắn, hăy dệt cho khéo, dệt cho đều đặn, khéo cào, khéo chải. Có lẽ chúng tôi có thể biếu xén các ông vật ǵ đó.” Và sau khi nói như vậy, nếu vị tỳ khưu ni ấy biếu xén vật ǵ dó dầu chỉ là đồ ăn khất thực th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.7-bbát, tk.)

    29.  Dasāhānāgataṃ  kattikatemāsikapuṇṇamaṃ  bhikkhuniyā  paneva  accekacīvaraṃ  uppajjeyya  accekaṃ  maññamānāya  bhikkhuniyā  paṭiggahetabbaṃ,  paṭiggahetvā  yāva  cīvarakālasamayaṃ  nikkhipitabbaṃ.  Tato  ce  uttari  nikkhipeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ. 

    29.  Khi c̣n mười ngày là đến ngày rằm Kattika của ba tháng,[9] trường hợp vị tỳ khưu ni có y đặc biệt phát sanh, vị tỳ khưu ni nghĩ rằng là (y) đặc biệt rồi nên thọ lănh, sau khi thọ lănh nên để riêng cho đến hết thời hạn về y. Nếu để riêng vượt quá hạn ấy th́ (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.8-bbát, tk.)

    30.  Yā  pana  bhikkhunī  jānaṃ  saṅghikaṃ  lābhaṃ  pariṇataṃ  attano  pariṇāmeyya  nissaggiyaṃ  pācittiyaṃ.

    30.  Vị tỳ khưu ni nào dầu biết lợi lộc đă được khẳng định là dâng đến hội chúng vẫn thuyết phục dâng cho bản thân th́ (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.10-bbát, tk.)

    Pattavaggo  tatiyo.
    (Phần về B́nh Bát là phần thứ ba).

    Uddiṭṭhā  kho  ayyāyo  tiṃsa  nissaggiyā  pācittiyā  dhammā.  Tatthāyyāyo  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  dutiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā,  tatiyampi  pucchāmi  kaccittha  parisuddhā.  Parisuddhetthāyyāyo  tasmā  tuṇhī  evametaṃ  dhārayāmīti.

    Bạch chư đại đức ni, ba mươi điều nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) đă được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nh́, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

    Nissaggiyā pācittiyā  niṭṭhitā.
    (Các Giới Ưng Xả Đối Trị được chấm dứt).

    --ooOoo--

     


    [1] Xem Đại Phẩm – Mahāvagga, chương II, [149].

    [2] Điều 1 của tội pārājika (bất cộng trụ) ở cuốn Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu thuộc Tạng Luật.

    [3] Điều 1 của tội pārājika (bất cộng trụ) ở cuốn Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu Ni thuộc Tạng Luật.

    [4] Điều 1 của tội saghādisesa (tăng tàng) ở cuốn Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu Ni thuộc Tạng Luật.

    [5] Điều 1 của tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) ở cuốn Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu Ni thuộc Tạng Luật.

    [6] Tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) 1 thuộc về Phần Y Phục ở cuốn Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu Ni thuộc Tạng Luật.

    [7] Tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) 8 thuộc về Phần Tơ Tằm ở cuốn Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu thuộc Tạng Luật.

    [8] Tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) 2 thuộc về Phần B́nh Bát ở cuốn Phân Tích Giới Bổn Tỳ Khưu thuộc Tạng Luật.

    [9] Kattikatemāsipuṇṇamā (ngày rằm Kattika của ba tháng): Tương đương rằm tháng 9 âm lịch Việt Nam là ngày cuối cùng của mùa (an cư) mưa thời kỳ đầu, ngày này c̣n là ngày làm lễ Pavāraṇā của các vị tỳ khưu đă trải qua mùa (an cư) mưa thời kỳ đầu. C̣n Kattikacatumāsipuṇṇamā (ngày rằm Kattika của bốn tháng) tương đương rằm tháng 10 âm lịch.

    -ooOoo-

     

    Nguồn: Buddha Sasana - A Buddhist Page by Binh Anson

     

    | 01 | 02 |

     

       
     

    <Đầu Trang>